sinh đẻ lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn như Streptococcus, E.coli… xâmnhập và gây nhiễm trùng và dễ mắc các bệnh như viêm tử cung, hội chứngmất sữa, bại liệt đây là các loại bệnh ảnh hư
Trang 1LÊ THỊ THÚY NGA
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI CHU BÁ THƠ, VIỆT YÊN,
BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên - 2021
Trang 2LÊ THỊ THÚY NGA
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI CHU BÁ THƠ, VIỆT YÊN,
BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô, gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tớiBan Giám hiệu trường, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôiThú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo
TS Ngô Nhật Thắng đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để em hoàn thành báocáo chuyên đề tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo UBND xã Việt Tiến cùng gia đìnhbác Chu Bá Thơ (chủ trại) và các cô chú, anh chị công nhân nơi cơ sở em thựctập đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt 6 tháng thực hiện chuyên đề
Cuối cùng em xin được cảm ơn sự động viên, khích lệ của các thầy cô,gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ em hoàn thành tốt việc học tập,nghiên cứu của mình trong suốt chặng đường 5 năm vừa qua
Trong thời gian thực tập em luôn cố gắng hết sức mình để hoàn thành tốtcác yêu cầu của đợt thực tập nhưng do kinh nghiệm và kiến thức còn nhiềuhạn chế nên bản khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót và khiếmkhuyết Em rất mong được các thầy cô giáo và các bạn sinh viên đóng góp ýkiến bổ sung để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Lê Thị Thúy Nga
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đánh giá chung 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 5
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 5
2.2.2 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản 11
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước 22
2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 22
2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 24
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 26 3.1 Đối tượng 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.3 Nội dung thực hiện 26
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 26
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 26
Trang 53.4.2 Phương pháp thực hiện
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Chu Bá Thơ qua 3 năm từ 2018 - 11/ 2020
4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản
4.2.1 Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng qua 6 tháng thực tập
4.2.2 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản tại trại
4.3 Kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Chu Bá Thơ
4.3.1 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng
4.3.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái
4.4 Tình hình sinh sản của lợn nái tại trại lợn Chu Bá Thơ
4.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại
4.5.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản
4.5.2 Kết quả điều trị bệnh/can thiệp ở đàn lợn nái sinh sản tại trại Chu Bá Thơ 39
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1 Kết luận
5.2 Đề nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch sát trùng tại trại lợn nái 28
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Chu Bá Thơ qua 3 năm 2018 -11/2020
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua từng tháng
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh sản
Bảng 4.4 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản
Bảng 4.5 Tình hình sinh sản của lợn nái đẻ nuôi tại trại
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại
Bảng 4.7 Kết quả trực tiếp điều trị bệnh/can thiệp trên đàn nái sinh sản tại trại 39
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
PGF 2∝ : prostaglandin F 2∝
MMA: Hội chứng viên tử cung (Metritis),
viêm vú (Mastitis), mất sữa (Agalactia)ME: Năng lượng trao đổi
UI: International Unit
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đang phát triển mạnh
mẽ theo hướng trang trại vừa và lớn Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm một vị tríquan trọng trong nền nông nghiệp Việt Nam Nó đã góp phần rất lớn vào tăngtrưởng kinh tế nông thôn nước ta Chăn nuôi lợn không chỉ để phục vụ cho tiêudùng, nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày mà còn phải tiến tới xuất khẩu với
số lượng lớn, là nguồn cung cấp thực phẩm với tỉ trọng cao và chất lượng tốt chocon người, là nguồn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và là nguồn cungcấp các sản phẩm phụ như: da, mỡ, cho ngành công nghiệp chế biến
Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp một lượng thực phẩmlớn cho người tiêu dùng, nên chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêngđang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc phát triển Nhờvậy, công tác lai tạo giống cũng được triển khai và thu được nhiều kết quả tolớn như: tạo ra các giống lợn có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỉ lệ nạc cao.Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp,quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kĩ thuật chăm sóc, nuôi dưỡngtiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổsung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng Trong đó, côngtác thú y đã được đặc biệt chú ý đến
Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn là dịchbệnh hiện nay phức tạp gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trangtrại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình Việc tái đàn hiện nay hết sức qauntrọng, vừa đảm bảo an toàn dịch bệnh vừa đảm bảo chất lượng con giống Đểgiải quyết vấn đề đó, chăn nuôi lợn nái sinh sản đang đứng trước thách thức lớn.Hơn nữa tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ngày càng nhiều hơn do trong quá trình
Trang 9sinh đẻ lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn như Streptococcus, E.coli… xâm
nhập và gây nhiễm trùng và dễ mắc các bệnh như viêm tử cung, hội chứngmất sữa, bại liệt đây là các loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinhsản của lợn mẹ Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt nhưng gây thiệt hại lớn cho lợnnái: gây chết thai, lưu thai, sẩy thai… nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầmlàm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởngđến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn
Với mục đích góp phần nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn, nângcao hiệu quả điều trị bệnh và xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng
ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập,
em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Chu Bá Thơ ở Việt Yên, Bắc Giang”
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích của chuyên đề
-Thực hiện được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản tại trại
-Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại
-Đánh giá tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại
- Củng cố kiến thức đã học, ứng dụng và thực tiễn, học tập, nâng cao tay nghề và kinh nghiệm thực tế
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Nắm vững quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
- Nắm vững quy trình phòng trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
-Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định của trại
-Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
2.1.1.1 Vài nét về trang trại Chu Bá Thơ
Trại lợn Chu Bá Thơ là trại lợn tư nhân, thuộc thôn Năm, làng Chàng, xãViệt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang
Vị trí địa lí tiếp giáp của trại :
-Phía Bắc giáp xóm 7, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang
-Phía Nam giáp xóm 4, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang
-Phía Đông giáp xóm 3, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang
-Phía Tây giáp xóm 9, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, Bắc Giang
Trại lợn Chu Bá Thơ nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn, có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi, với diện tích là khoảng5000m2 Trong đó:
-Đất trồng cây ăn quả: 1000m2
-Đất xây dựng: 2000m2
-Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 1500m2
Khu chăn nuôi được quy hoạch, bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho
320 nái cơ bản bao gồm: 2 chuồng đẻ 720m2 (1 chuồng có 40 ô đẻ và 1chuồng 30 ô đẻ), 1 chuồng nái chửa 690m2 (chuồng có 270 ô nái chửa và chờphối, 3 ô đực, 1 ô thử lợn), 1 chuồng hậu bị 300m2, 1 chuồng thịt 300m2, cùngmột số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sáttrùng, kho thuốc
Đội ngũ cán bộ, công nhân của trại gồm có:
Chủ trại : 01
Trang 11 Kĩ sư tại trại: 01
Công nhân: 01
Sinh viên thực tập: 04
Với việc chăn nuôi theo quy mô lớn, trang trại đã áp dụng hình thức sảnxuất, chăn nuôi từ khâu chọn giống đến quá trình chăn nuôi, chăm sóc bằng kĩthuật cao Các biện pháp phòng chống dịch bệnh được thực hiện đầy đủ vàchủ động Để đảm bảo việc phòng chống dịch bệnh công tác vệ sinh và sáttrùng được thực hiện nghiêm ngặt Công nhân được trang bị quần áo bảo hộ,ủng và một số vật dụng khác
2.1.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn của trang trại
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,3 - 2,4 lứa/năm Sốcon sơ sinh là 12,68 con/đàn, số con cai sữa: 10,08 con/đàn Trại hoạt độngvào mức khá Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất
là 26 ngày thì tiến hành cai sữa để bán hoặc chuyển xuống chuồng thịt nuôi.Trong trại có 5 con lợn đực giống, lợn đực giống này được nuôi nhằm mụcđích khai thác tinh và làm đực thí tình Lợn nái được phối 2 lần (3 lần đối vớinhững con bị trào ngược tinh ra ngoài) Dùng tinh giống Landrace và Duroc
Trang 122.1.2 Đánh giá chung
2.1.2.1 Thuận lợi
Được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân xã Việt Tiến tạo điều kiện cho
sự phát triển của trang trại
Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiệnđường giao thông
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luônquan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình
và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất Con giống tốt, thức ăn, thuốcchất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và áp dụng các thành tựu, khoahọc, kỹ thuật tiên tiến
2.1.2.2 Khó khăn
Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnhlớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lýnước thải của trại còn nhiều khó khăn
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục vàkhả năng sinh sản Khi gia súc đã hoàn thiện về tính, bộ máy sinh dục đã pháttriển hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh và nội tiết con vật bắt đầu cónhững phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản
xạ giao phối
Trang 13Tuy nhiên lần động dục này chỉ là báo hiệu cho khả năng có thể sinh sản của lợn cái.
* Biểu hiện của lợn cái khi thành thục về tính:
- Cơ thể đã phát triển đầy đủ, bộ máy sinh dục tương đối hoàn thiện, concái xuất hiện chu kỳ động dục lần đầu, con đực sinh tinh Lúc này, tinh trùng
và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai
- Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp: bẹ vú phát triển và lộ rõ hai hàng vú, âm hộ to lên hồng hào
-Xuất hiện các phản xạ sinh dục: lợn có biểu hiện nhảy lên nhau, con cái
động dục, con đực có phản xạ giao phối
-Thời điểm thành thục về tính: lợn cái bắt đầu khoảng 6 tháng tuổi (từ 4
- 8 tháng tuổi)
- Đối với các giống gia súc khác nhau thời gian thành thục về tính làkhác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng (120 - 150 ngày), lợn ngoại 6 - 7tháng (180 - 210 ngày)
Sự thành thục về tính của lợn nái sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20
- 25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần, ở lợnlai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thểđạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục
6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn
Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày
Trang 15Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổiđộng dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông,điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mứctăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thìxuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày(mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngàythấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thànhthục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo
12 giờ mỗi ngày
Chế độ dinh dưỡng: ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính củalợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thànhthục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém,lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trungbình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80kg và nếu hạn chếthức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 thángtuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thànhthục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục,nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tíchluỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năngbình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hoocmon
oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của hoocmon trong
cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
Mật độ nuôi nhốt: mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốtthời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi lợn cái hậu
bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu của Hughes vàJames (1996) [23], cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽlàm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên
Trang 16cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnhhưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu lợn cái hậu bị thường xuyêntiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn cái hậu bị không tiếp xúcvới lợn đực giống Theo Hughes và James (1996) [23], lợn cái hậu bị ngoài90kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lầntiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu.
-Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc,nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớnlên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh vàLưu Kỷ (2003) [4] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầutiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chấtdinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệuquả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dụclần đầu rồi mới cho phối giống
Trang 17ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg mới nên cho phối.
2.2.1.3 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể
đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiệntượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao,noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20], lợn nái sau khi thành thục vềtính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cáchsau đó 15 - 16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó
đi vào quy luật mang tính chu kỳ
Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [18]: Chu kỳ động dục của gia súc chialàm 4 giai đoạn:
-Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơnbình thường Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, sốlượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tửcung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Giai đoạn này tính hưng phấnchưa cao Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bópmạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiềulúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
-Giai đoạn động dục:
Gồm 3 thời kì liên tiếp: hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực
Đây là thời kì xuất hiện cảm thụ sinh dục ở con cái do lượng estrogen tiết ra
đạt cực đại, biểu hiện điển hình bằng phản xạ đứng yên khi tiếp xúc với con đựchoặc người dẫn tinh Cuối giai đoạn này trứng rụng, những thay đổi của đườngsinh dục cái ở giai đoạn trước càng thêm sâu sắc hơn để chuẩn bị tích cực choviệc đón trứng Những biểu hiện về hành vi sinh dục là: đứng yên cho
Trang 18con khác nhảy, kêu rống, thần kinh nhạy cảm, bồn chồn, thích nhảy lên lưngcon khác, ăn ít hoặc bỏ ăn, úm đực một cách vội vã, âm hộ ướt và đỏ, dịchnhầy tiết nhiều Càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết ranhiều keo đặc lại, mắt đờ đẫn.
-Giai đoạn sau động dục:
Là giai đoạn phát triển sớm của thể vàng, bắt đầu sau khi kết thúc độngdục và kéo dài một vài ngày Thời kì này ở buồng trứng đã xuất hiện thể vàng
tiết progesteron để ức chế động dục Sự tăng sinh và tiết dịch của tử cung
ngựng lại, biểu mô nhày tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạohóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện về hành vi sinh dục là không muốn gần conđực, không cho con khác nhảy Con vật dần ở trạng thái bình thường
-Giai đoạn yên tĩnh: Là giai đoạn thể vàng hoạt động, thường khởi đầuvào ngày thứ tư sau khi rụng trứng và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy Cơ quansinh dục không biểu hiện rõ những hoạt động chức năng Những biểu hiện vềhành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để hồi phụclại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng hoạt động của chu kì tiếp theo.Chu kì động dục, thời gian động dục cũng như những biểu hiện về hành visinh dục ở các loài có sự khác nhau rõ rệt
2.2.1.4 Sinh lý quá trình mang thai và đẻ
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãnhoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung,tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ
thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa
tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút ở
3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động
dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời
kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần
Trang 19thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợnnái bình quân là 114 ngày (Jose Bentos và cs, 2013) [24].
2.2.2 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản
2.2.2.1 Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợnnái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắcbệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng Khi gia súc sinh đẻnhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêmmạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gâyviêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phóthương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung
* Nguyên nhân
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], viêm tử cung là một quá trìnhbệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷcác tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở giasúc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường
do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫntinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn náigây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âmđạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung.
Trang 20- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm.
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻkhông sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện đểxâm nhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5], nguyên nhân gây viêm tử
cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết
(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli….
Theo Lê Văn Năm và cs (1999) [15], có rất nhiều nguyên nhân từ ngoạicảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằngdụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến các cơ quan sinh dục bị pháhủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếuvận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện caisữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuầnsau đẻ) Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh.Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thờigian động dục (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật.Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếuhay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung.Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát.Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
* Triệu chứng
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệttới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sangvàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màuđen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu
Theo Lê Minh và cs (2017) [14 ], tùy theo mức độ tổn thương, loại vi khuẩn,
Trang 21mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết tử cung mà có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau.
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: con vật sốt 41 - 42oC trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ.+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịchnhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quảhoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo
tử cung lan sang thai làm chết thai
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinhdục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnhhưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triểncủa lợn con
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3], khi lợnnái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
-Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có
thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung
tiết nhiều prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồngtrứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây comạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến
thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng
progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung
Trang 22tăng, nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai.
-Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt
của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết
kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa.Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêuchảy, còi cọc
-Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể vàng
vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone.
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự
phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dụctrở lại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khisinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau
là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong cácnguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sốngthấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởng tới hoạt động của buồng trứng
* Chẩn đoán lâm sàng
Trang 23Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiệnvào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nêndịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới200ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màutrắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá.Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính,viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ
ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi cónhững mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kếttinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợnnái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy
ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì cóthể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Vớimột trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kếthợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nênkết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác.Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểuhậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Trang 242.2.2.2 Sảy thai
Các trường hợp thai bị đẩy ra ngoài trước ngày đẻ dự kiến được gọi làsảy thai Sảy thai do sức sống của thai yếu, bộ phận sinh dục hoặc cơ thể củacon mẹ bị bệnh Có biểu hiện đẻ dù chưa tới ngày đẻ dự kiến, con sơ sinh khi
đẻ rathường bị chết, con ít, con sinh non có sức sống rất yếu
* Nguyên nhân
Sảy thai có thể do các nguyên nhân sau:
+ Nguyên nhân truyền nhiễm: Lợn mẹ mắc các bệnh truyền nhiễm nhưBrucellosis, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus…Chuồng trại chật hẹp,thời tiết nắng nóng làm khả năng sảy thai tăng cao hơn
+ Nguyên nhân không do truyền nhiễm:
Do cơ thể lợn nái mẹ bị các bệnh lý như nhiễm trùng đường sinh dục:viêm niêm mạc tử cung, viêm âm đạo do vi khuẩn có sẵn trong chuồng nuôihoặc bị nhiễm khi thụ tinh, sảy thai do thói quen hoặc do vận động mạnh,hoặc bị đánh đập gây sảy thai
Chế độ dinh dưỡng chăm sóc trong thời kỳ mang thai kém, thiếu protein,khoáng chất cần thiết cho cơ thể mẹ và sự phát triển của bào thai Thức ăn bịnấm mốc làm cho lợn bị ngộ độc gây sảy thai
Lợn nái bị mắc các bệnh lý ở nhau thai hay bào thai: Nhau thai phát triểnkhông bình thường, bào thai có sức sống quá yếu
* Triệu chứng
-Sẩy thai thường có hình hài hoặc không có hình hài bào thai
-Ra nhiều dịch, máu ở âm đạo
-Heo mẹ bị ốm hoặc cũng có khi bình thường
-Mắc bệnh một số loại bệnh nhất định
- Tỷ lệ sẩy thai thông thường là 2%, tuy nhiên, nếu mắc tai xanh nặng cóthể gây ra tỷ lệ sẩy thai là 20%
Trang 25* Phòng bệnh
Khi chọn lợn làm giống không được chọn những con bị mắc các bệnhtruyền nhiễm như Leptospilosis, Brucellosis…
Tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin trong quá trình mang thai như dịch
tả, tai xanh, lở mồm long móng…
Những con nái thường bị sảy thai, chết thai ở lứa trước (nguyên nhânkhông do truyền nhiềm) thì có thể tiêm thuốc an thai Progesterone sau khiphối giống
Trong thời gian mang thai phải có chế độ dinh dưỡng đầy đủ, khẩuphần
ăn phải có đủ protein, khoáng chất, có thể bổ sung một số vitamin ADE đểtăng sức đề kháng cho cơ thể
2.2.2.3 Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân
Christensen R.V và cs (2007) [22] khi nghiên cứu về môn học và vikhuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy: vi khuẩn chính gây viêm vú là
Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes.
Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn
Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú.
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn
không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trướckhi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày
đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập
Trang 26Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng
vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bịbệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm
Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn,sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú,thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
* Triệu chứng
Theo White R.B và cs (2013) [28], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặcđiểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa,nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có
mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC
Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [17], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vúnhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấynóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợpnặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượngsữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếusữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ
lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [12] Vắt sữa ở những vú bị viêmthấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện nhữngmảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [11], bệnh viêm tửcung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợnnái nuôi con
Trang 27Nguyễn Xuân Bình (2000) [1] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ là do
kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốtcao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởngđến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trongđường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năngtiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khóchữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
- Thực hiện phòng bệnh: vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày
bằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợncon bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống
đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chếnguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở nhữngvùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹlên vùng vú bị sưng (Duy Hùng, 2011) [9]
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [8] cho biết: trước khi đẻ cần lau vú, xoa
vú, tắm cho lợn nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêmkháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liêntục trong 3 ngày
Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [16], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ mộttuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước
Trang 28thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú.Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm Tiêm thuốc chống viêm như
prednizolon, hydro - cortizone (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2004) [13].Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phầnsườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin… liềuđạt trên 200.000 - 500.000UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngàytrong 3 - 5 ngày
2.2.2.4 Hiện tượng đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy rangoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó khôngnhững gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vôsinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết
* Nguyên nhân
Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt,thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thaidẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn đẻcủa lợn yếu, thậm trí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai
ra được Khi quá trình rặn đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con bị chết
Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép
Trang 29tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dụctrở nên không bình thường cũng gây đẻ khó.
Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: kích tố nhau thai relaxin lúc đẻ
tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dây chằng
xương chậu (không sụt mông) hoặc prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp
tử cung nên không tống thai ra ngoài được
Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá tokhông phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ.Thai bị dị hình hay quái thai
Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân
và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bàothai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bìnhthường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được
* Triệu chứng
Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưngkhông thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợnnái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thaivẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ra làm cholợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt mà chết Khiđưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc
ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu
Trang 30đẻ, sức co bóp của tử cung giảm, gây ra hiện tượng sót nhau, sót con dẫn đếnviêm đường sinh dục.
Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc tửcung, hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một sốbệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ cónhững vết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến xảythai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm trí là vô sinh
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước
Nước ta ngành chăn nuôi rất được nhà nước quan tâm và phát triển,ngành chăn nuôi lợn đã được nhà nước đầu tư kinh phí cho rất nhiều dự án đểnghiên cứu về công tác chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nóichung và lợn nái nói riêng
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4], trước khi đẻ lau, xoa vú
và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1h đẻ, cắt răng nanh lợn con.Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt Tiêm kháng sinh:penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú
bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20ml nước cất, tiêm xung quanh các
vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục
Theo Trần Tiến Dũng và cs ( 2002) [6], bệnh viêm đường sinh dục ở lợnchiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ20%, còn lại 80% là viêm tử cung
Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sảnsau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cunggây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khảnăng sinh sản ở gia súc cái Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinhdưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn
Trang 31khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số
bệnh truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻnon, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và NguyễnHữu Vũ 2004 [11])
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [19], kết quả khảo sát tình hình mắc bệnhviêm tử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ chothấy: tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới61,07% Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8
Theo Trần Ngọc Bích và cs (2016) [2], khảo sát tình hình viêm nhiễmđường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại khángsinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêmđường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%
Chữa bệnh viêm tử cung bằng cách: sử dụng phương pháp tiêm khángsinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, điều trị viêm tử cung đạt hiệu quảcao: streptomycin 0,25g, penicillin 500.000UI, dung dịch KMnO4 1% 40ml
và bổ sung vitamin C (Smith và cs, 1995) [25]
Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [7], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trịbằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày.Tiêm amoxi 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm
có kết quả điều trị khỏi bệnh cao
Khi gây bệnh thực nghiệm trên chuột và lợn vi khuẩn Actinobacillus
pleuropneumoniae và vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được có độc
lực cao đối với chuột bạch và lợn, đồng thời khẳng định vi khuẩn là một trongnhững nguyên nhân chính gây bệnh đường hô hấp ở lợn Tác giả đã sử dụngkết quả này làm cơ sở cho việc lựa chọn chủng để chế tạo vắc xin phòng bệnhđường hô hấp cho lợn do các vi khuẩn nêu trên gây ra Mặt khác, còn cho biết
vi khuẩn mẫn cảm cao với các loại kháng sinh rifampicin, ceftazidin,