Việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm giải phóng sức sản xuất, khơi dậy tiềm năng của đất nước được xem là sự sáng tạo, là một trong những nhân tố mới trong công cuộc đổi mới
Trang 1HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: LÝ LUẬN CƠ SỞ
***
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC TÊN MÔN HỌC: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA
CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
Đề tài:
Phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam là tất yếu khách quan
Họ và tên học viên: BÙI THỊ NGỌC CHÂU Lớp: H889
Niên khoá: 2021 – 2022
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 01 NĂM 2022
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam đã trải qua hơn
67 năm, đây là khoảng thời gian lâu dài đối với một giai đoạn phát triển kinh tế
xã hội, nhưng đối với thời kỳ quá độ - một giai đoạn chuyển tiếp từ một hình thái kinh tế xã hội cũ sang một hình thái kinh tế xã hội mới thì chỉ là một chặng đường của thời kỳ quá độ (TKQĐ) lên CNXH và tiến lên CSCN Các Mác cho
rằng: “Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ
nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa”; Lênin kế thừa quan điểm của Các Mác và khẳng định, xã hội mới mới lọt lòng từ xã hội cũ sau
“những cơn đau đẻ kéo dài”; Hồ Chí Minh cho rằng, TKQĐ đây là một thời kỳ lâu dài và gian khổ, vì một chế độ này biến thành một chế độ khác là cuộc đấu tranh gay ro và kịch liệt, giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới; đồng thời, Bác cho rằng cần phải có những bước đi trong TKQĐ lên CNXH “bước ngắn, bước dài, tuỳ theo hoàn cảnh” nhưng “chớ ham làm mau, ham rầm rộ… đi bước nào vững chắc bước ấy, cứ tiến dần dần.” Tựu chung lại, TKQĐ là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện trên tất các các lĩnh vực, nhằm biến một cái cũ thành cái mới tiến bộ hơn Để thực hiện thành công TKQĐ tiến lên CNXH phải giải quyết những nhiệm vụ về kinh tế, chính trị… Trong đó trọng tâm là những nhiệm vụ về kinh tế mà đặc biệt là vấn đề phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
Việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm giải phóng sức sản xuất, khơi dậy tiềm năng của đất nước được xem là sự sáng tạo, là một trong những nhân tố mới trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Trang 3NỘI DUNG
I QUAN ĐIỂM MÁC – LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, QUAN ĐIỂM ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
1 Quan điểm Mác – Lênin:
Ngay Đại hội X Đảng cộng sản bolshevik (bôn-sê-vích) Nga, Lênin đã yêu cầu chính quyền Xô viết phải nhanh chóng phát triển nền sản xuất tiểu nông bằng cách khuyết khích nền kinh tế nông dân cá thể với những biện pháp “quá độ”, những hình thức “trung gian” có khả năng cải tạo nông dân, đổi mới nông thôn và chuyển đổi nền kinh tế tiểu nông của những người nông dân cá thể thành nền sản xuất tập thể có tính xã hội chủ nghĩa, diễn ra một cách tuần tự, có tính kế thừa, thận trọng Về kinh tế tư bản tư nhân, khi chính sách kinh tế mới được áp dụng trong thực tiễn nước Nga, Lênin hiểu rõ có thể chủ nghĩa tư bản sống lại, nhưng ông cho rằng không sợ nó, mà kiêu gọi Chính quyền Xô viết cần sử dụng
tư nhân nông dân, thợ thủ công, thương nhân…để phát triển kinh tế đất nước, bởi
vì tư bản tư nhân sẽ tạo ra nhiều hàng hóa tiêu dùng cho xã hội - cơ sở ổn định chính trị Kinh tế chủ nghĩa xã hội, Lênin đánh giá rất cao vị trí, vai trò của thành phần kinh tế này, đây là xương sống của nền kinh tế -những mạch máu kinh tế cơ bản như công nghiệp, ngân hàng, tài chính tín dụng luôn nằm trong tay chính quyền Xô viết, thuộc sở hữu nhà nước
Về thứ tự các thành phần kinh tế, Lênin đã cố tình sắp xếp các thành phần kinh tế theo thứ tự, cấp độ tăng lên về tính chất xã hội chủ nghĩa của mỗi thành phần kinh tế; tỷ trọng của các thành phần kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử; sự biến đổi tỷ trọng các thành phần kinh tế phải theo hướng xã hội chủ nghĩa; tính
Trang 4đan xen, mâu thuẫn, đấu tranh và thống nhất giữa các thành phần kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế bền vững, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế của đất nước và tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh:
Hồ Chí Minh đã kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của Các Mác -Ăngghen, Lênin về những vấn đề kinh tế - chính trị trong thời kỳ quá độ lê CNXH, trong đó Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế của nước nhà trong thời kỳ quá độ lên CNXH Từ quan điểm của Lênin về kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH, phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Hồ Chí Minh đã vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Người đã chỉ ra những thành phần kinh tế trong vùng tự do trước năm 1954 ở nước ta bao gồm: Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô; kinh tế quốc doanh; các hợp tác xã; kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản quốc gia Khi miền bắc hoàn toàn giải phóng đi lên CNXH, Hồ Chí minh đã chỉ
ra những hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế cụ thể tương ứng Sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân; tương ứng với ba loại hình sử hữu
đó là năm thành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh; các hợp tác xã; kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước
3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam:
+ Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tháng 12 năm 1986 - Đại hội đổi mới, Đảng xác định 05 thành phần kinh tế chủ yếu: Kinh tế XHCN (Quốc doanh, tập thể, gia đình), Kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, Kinh tế tự túc, tự
cấp, Kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tư bản tư nhân
+ Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) Đảng ta tiếp tục xác định 05 thành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh, Kinh tế tập thể, Kinh tế cá thể, Kinh tế tư nhân, và Kinh tế tư bản nhà nước
Trang 5+ Đại hội VIII (năm 1996) có 05 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, Kinh tế hợp tác xã, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế tư bản tư nhân và Kinh tế tư bản nhà nước
+ Tại Đại hội IX (năm 2001), gồm có 06 thành phần kinh tế: Thành phần
kinh tế nhà nước, Thành phần kinh tế hợp tác xã, Thành phần kinh tế cá thể tiểu
chủ, Thành phần kinh tế tư bản tư nhân, Thành phần kinh tế tư bản nhà nước, và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; Kinh tế hỗn hợp (thuộc sở hữu cổ phần)
+ Tại Đại hội X (năm 2006), gồm có 05 thành phần kinh tế: Thành phần
kinh tế nhà nước, Thành phần kinh tế tập thể, Thành phần kinh tế tư nhân (bao
gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư bản tư nhân ), Thành phần kinh tế tư bản nhà nước, và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy Đại hội X chỉ khác Đại hội IX ở chỗ đã sát nhập hai thành phần kinh tế kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư bản tư nhân thành một thành phần đó là kinh tế tư nhân
+ Tại Đại hội XI (năm 2011), gồm có 04 thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế nhà nước; Thành phần kinh tế tập thể; Thành phần kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
+ Tại Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta chủ yếu nhấn mạnh đến 04 thành phần kinh tế sau: Thành phần kinh tế nhà nước; Thành phần kinh tế tập thể; Thành phần kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
+ Báo cáo chính trị Đại hội XIII (năm 2021) nhấn mạnh đến 04 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
Trang 6II KHÁI NIỆM THÀNH PHẦN KINH TẾ:
1 Khái niệm:
Thành phần kinh tế (TPKT) là khu vực kinh tế, gồm những đơn vị kinh tế cùng dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất và do đó có hình
thức tổ chức quản lý và phân phối tương ứng Các thành phần kinh tế không tồn
tại biệt lập mà có liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
là cơ cấu kinh tế trong đó các thành thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển như một tổng thể, giữa chúng có quan hệ vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau
2.Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần:
- Do đặc điểm của thời kỳ quá độ
- Do LLSX phát triển không đều
- Do yêu cầu hội nhập
- Thực tiễn nền kinh tế nhiều thành phần trong công cuộc đổi mới
IV CƠ CẤU THÀNH PHẦN KINH TẾ THEO QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI XII
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định nền kinh tế Việt Nam có nhiều thành phần kinh tế, trong đó có 04 thành phần kinh tế cơ bản:
1 Kinh tế Nhà nước:
- Gồm doanh nghiệp nhà nước; các tổ chức kinh tế khác của Nhà nước và tài
sản thuộc sở hữu nhà nước
- Dựa trên hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước về TLSX
- Giữ vai trò chủ đạo:
+ Phát triển trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu
+ Là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
+ Nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp
Trang 7hành pháp luật.
+ Đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
+ Hỗ trợ, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác hoạt động có hiệu quả theo
định hướng XHCN
2 Kinh tế tập thể:
- Dựa trên hình thức sở hữu tập thể về TLSX, với loại hình phổ biến là hợp tác xã
- Là hình thức liên kết tự nguyện giữa những người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ; không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn
- Được khuyến khích phát triển bền vững
3 Kinh tế tư nhân:
- Gồm các cơ sở kinh doanh dựa trên sở hữu tư nhân về TLSX, sử dụng lao động của gia đình hoặc thuê mướn lao động
- Là một động lực quan trọng của nền kinh tế
4 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:
- Thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường
và tăng cường sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước
- Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp cảu nước ngoài vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển đất nước, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao
III LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM
1 Đặc điểm thời kỳ quá độ:
Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ ở nước ta được phân thành ba thành phần: kinh tế công, kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp:
Trang 8- Thành phần kinh tế công bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, giữ vị trí, vai
trò then chốt trong nền kinh tế Chủ thể của thành phần kinh tế này là Nhà nước (được Nhân dân ủy quyền) Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh của DNNN trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực tiên tiến của quốc tế, thực sự hoạt động theo cơ chế thị trường, nhằm huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp
- Thành phần kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Chủ thể của thành phần kinh tế này là các chủ sở hữu tư nhân như: các hộ kinh doanh cá thể, các hộ tiểu chủ, các chủ tư nhân, các nhà tư bản, các tập đoàn tư bản với các loại hình kinh doanh tương ứng như hộ sản xuất, kinh doanh cá thể (hộ nông dân, hộ tiểu - thủ công nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ ), chủ trang trại,
hộ tiểu chủ, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân tư bản (tư bản trong nước và tư bản ngoài nước), tập đoàn tư bản Hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi phát triển kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Thúc đẩy hình thành, phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại, năng lực quản trị tiên tiến của thế giới Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Thành phần kinh tế hỗn hợp bao gồm các công ty, các doanh nghiệp, các
hợp tác xã, các tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở liên kết các chủ sở hữu khác nhau với nhau: giữa chủ thể kinh tế công và chủ thể kinh tế tư nhân trong nước; giữa chủ thể kinh tế công và chủ thể kinh tế tư nhân nước ngoài; giữa các chủ thể kinh tế tư nhân trong nước với nhau; giữa chủ thể kinh tế tư nhân trong nước và chủ thể kinh tế tư nhân nước ngoài để thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo mạng sản xuất và chuỗi giá trị thị trường nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan tỏa về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và mở
Trang 9rộng thị trường tiêu thụ Loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh thường là công
ty liên doanh, công ty hợp doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
có từ hai chủ sở hữu trở lên, các loại hình hợp tác xã
2 LLSX phát triển không đều:
- Thực trạng ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại vào phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam:
Theo Báo cáo chỉ số đổi mới toàn cầu năm 2014 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), chỉ số đổi mới công nghệ của Việt Nam đứng thứ 71/143 nước, đứng thứ 4 trong số các nước thuộc khối ASEAN Trình độ cơ khí hóa, tự động hóa và tin học hóa của nhiều ngành kinh tế nhìn chung còn nhiều hạn chế Theo điều tra các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, chế tạo năm 2015, khoảng 57% doanh nghiệp có công nghệ thấp, 31% doanh nghiệp có công nghệ trung bình, 12% doanh nghiệp có công nghệ cao Trong khi các nước trong khu vực đều có tỷ trọng đầu tư cao cho khoa học, công nghệ trong sản xuất thì mức đầu
tư của Việt Nam còn khá khiêm tốn: từ năm 2006 - 2016, tỷ lệ đầu tư cho khoa học, công nghệ mới chỉ chiếm khoảng 0,6% GDP Trong vòng 10 năm, tỷ lệ này chỉ tăng từ 0,48% GDP lên 0,51% GDP Bởi vậy, qua hơn 30 năm đổi mới, nền công nghiệp Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở trình độ gia công
- Thực trạng kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam:
+ Nhiều tuyến đường cao tốc từ các tỉnh, thành phố trung tâm đã được xây dựng: Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Hải Phòng, Tp Hồ Chí Minh - Vũng Tàu, Đà Nẵng - Dung Quất làm giảm đáng kể thời gian vận chuyển, lưu thông hàng hóa
từ 30-50% Nhiều cây cầu đã được xây dựng như cầu Cần Thơ, cầu Nhật Tân, cầu Thanh Trì góp phần quan trọng trong việc hiện đại hóa nền kinh tế đất nước
Trang 10+ Nước ta có 49 cảng biển, 166 bến cảng, 350 cầu cảng, năng lực thông quan khoảng 350-370 triệu tấn/năm
+ Việt Nam đang đưa vào khai thác 21 sân bay, trong đó có 10 cảng hàng không quốc tế, số lượng hành khách tăng mạnh từ 4,9 triệu khách năm 2000 lên đến 56,8 triệu khách năm 2014 Như vậy, chỉ chưa đến 15 năm, số lượng hành khách đã tăng lên hơn 10 lần
+ Mạng lưới đường sắt của nước ta có tổng chiều dài là 3.143 km, trong
đó có 2.531 km tuyến chính, 612 km đường nhánh và đường ga
Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng việc xây dựng kết cấu
hạ tầng phục vụ sản xuất ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém như hệ thống kết cấu hạ tầng thiếu tính đồng bộ và mất cân đối đáng kể giữa các vùng miền Hệ thống kết cấu hạ tầng ở các thành phố lớn như thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khá hiện đại nhưng ở các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo còn lạc hậu, yếu kém, chất lượng hạn chế; công tác quản lý, khai thác và sử dụng dịch vụ hạ tầng còn nhiều bất cập
- Thực trạng đội ngũ người lao động trong LLSX ở Việt Nam:
+ Trong cơ cấu dân số Việt Nam, cư dân nông thôn chiếm khoảng 68% dân số Trong số trên 93 triệu người, cả nước có 69,3 triệu người từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 53,7 triệu người tham gia vào lực lượng lao động, chiếm 77,7% dân số, trong đó 70,2% tập trung ở nông thôn
+ Hiện nay, Việt Nam là nước có cơ cấu dân số trẻ, đang ở thời kỳ dân số vàng Trong số 53,7 triệu lao động có đến 50,2% số người có độ tuổi từ 15 đến 39
+ Trong những năm gần đây, tỉ lệ lao động có trình độ đại học của lực lượng lao động trực tiếp không ngừng tăng lên Năm 2012, trung bình cả nước
có 4,7%, năm 2013 là 5,8%, đến năm 2014, tỷ lệ này là 6,2% đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại trong việc ứng dụng