1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ng du

10 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 31,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 tổng quan1.1 cuộc đời của đại thi hào nguyễn du Đại thi hào Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới, là một trong những tác giả tiêu biểu nhất trên văn đàn Việt Nam.. Với khối l

Trang 1

Chương 1 tổng quan

1.1 cuộc đời của đại thi hào nguyễn du

Đại thi hào Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới, là một trong những tác giả tiêu

biểu nhất trên văn đàn Việt Nam Với khối lượng tác phẩm đồ sộ, Nguyễn Du đã trở thành lịch sử và một huyền thoại, đặc biệt với tác phẩm Truyện Kiều đã đưa văn học Việt

Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế Sau đây là chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của đại thi hào Nguyễn Du:

Nguyễn Du (sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766? –1820[1]) tự là Tố Như (素素), hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ, là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là "Đại thi

hào dân tộc" và được UNESCO vinh danh là "Danh nhân văn hóa thế giới" Ông có một

cuộc đời vô cùng gian truân và cực khổ

Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – XIX Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật là chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng và phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn Yếu tố thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc tới ngòi bút của Nguyễn Du khi viết về hiện thực đời sống cuộc đời từng trải, phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du vốn sống phong phú và

niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân Nguyễn Du là một thiên tài văn

học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn

Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài không quá mười năm Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản (khi ấy ông Khản đã hơn

Nguyễn Du 31 tuổi)

Năm 1780 , khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra “Vụ mật án Canh Tý”: Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng là Trịnh Tông Ông Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam Đến khi Trịnh Tông lên ngôi, ông Khản được cử lên làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng Quân lính khác phe (sử gọi là “kiêu binh”)

Trang 2

không phục, kéo đến phá nhà, khiến ông Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tây sống với

em là Nguyễn Điều rồi về quê ở Hà Tĩnh Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngã

Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài), sau đó không rõ vì lẽ gì không

đi thi nữa Trước đây, một võ quan họ Hà (không rõ tên) ở Thái Nguyên , không có con nên đã nhận ông làm con nuôi Vì thế, khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên

1.2 sự nghiệp văn học và các tác phẩm

Xét về nội dung, qua các sáng tác của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao “tình” Điều quan trọng hàng đầu, là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh (xem: Văn tế thập loại chúng sinh, Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả v.v.)

Cái nhìn nhân đạo này khiến ông được đánh giá là “tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19” Riêng với Truyện Kiều, kiệt tác này còn “thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của tình yêu lứa đôi.”

Tác phẩm bằng chữ Hán:

Những tác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959 mới được ba nhà nho là: Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch, chú thích và giới thiệu tập: Thơ chữ Hán Nguyễn Du (NXB Văn hóa, 1959) chỉ gồm có 102 bài Đến năm 1965 NXB Văn học đã ra Thơ chữ Hán Nguyễn Du tập mới

do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp, gồm 249 bài như sau:

Thanh Hiên thi tập còn gọi là Thanh Hiền tiền hậu tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài thơ trong giai đoạn 1786-1804, gồm 10 năm gió bụi, ông sống ở Thái Bình quê vợ, 6

Trang 3

năm trở lại nhà dưới chân núi Hồng, và 2 năm làm chi huyện ở huyện Bắc Hà Tập thơ là các bài viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn

Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, giai đoạn

1805-1812, ông được thăng hàm Đông các đại học sĩ, làm quan ở Kinh Đô 5 năm và làm cai bạ

ở Quảng Bình 3 năm

Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, giai đoạn 1813-1814, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc

• các tác phẩm bằng chữ nôm

Những tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Du gồm có:

Đoạn trường tân thanh còn có tên gọi khác là Kim Vân Kiều truyện,(Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột Tên phổ biến là Truyện Kiều), được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thúy Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học (bộ mới) ghi: "Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc (1814-1820), có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809) Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn” Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh), còn có tên gọi khác là Văn chiêu hồn, Văn tế chiêu hồn

Vài nét về tác phẩm truyện Kiều – tác phẩm tiêu biểu nhất của đại thi hào Nguyễn Du

Đoạn trường tân thanh, thường được biết đến với cái tên đơn giản là Truyện Kiều là một

truyện thơ của đại thi hào Nguyễn Du Đây được xem là truyện thơ nổi tiếng nhất và xét

Trang 4

vào hàng kinh điển trong văn học Việt Nam, tác phẩm được viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát, gồm 3254 câu

Câu chuyện dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một thi

sĩ thời nhà Minh, Trung Quốc

Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình Để cứu cha và em trai khỏi

tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng anh ta là một

kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh

Tác phẩm Truyện Kiều có thể nói là đỉnh cao của ngôn từ Việt, sự kết tinh từ những tinh hoa nhất của văn học Việt Nam Người ta vẫn thường nói truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn Bởi vậy Nguyễn Du là đại diện xuất sắc cho nên văn học nước nhà

Nguyễn Du xứng đáng là đại thi hào, danh nhân văn hóa thế giới, là vì sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam.

Chương 2 những cống hiến sâu sắc của nguyễn du (1766-1820) cho văn hóa việt nam 2.2 nội dung bài làm

Nguyễn Du là nhà văn vĩ đại nhất trong lịch sử văn học Việt Nam và cũng là nhà văn có tầm vóc thế giới của chúng ta Đối với nhà văn như thế, vấn đề quan trọng nhất của giới nghiên cứu là xác định được những đóng góp lớn lao, không thể thay thế được của nhà văn đối với văn học dân tộc Vấn đề này đã được nhiều học giả nghiên cứu đề cập đến và

có rât nhiều thành tựu, nhưng còn để phân tán Nhân dịp giỗ lần thứ hai trăm năm của Nguyễn Du, chúng tôi xin phép được nhắc lại, hệ thống hóa vào một số điểm quan trọng nhất, nổi bật nhất, để thành kính tưởng nhớ tới Người

Văn học Việt Nam tuy khởi đầu sớm từ thế kỉ X sau khi xây nền độc lập, nhưng do nhiều

lí do mà văn học Việt Nam phát triển muộn, chữ viết phát triển muộn, văn học chữ Nôm cũng xuất hiện muộn sau chứ Hán năm thế kỉ, cho nên phải đến thời Lê văn học tiếng Việt mới trỗi dậy Văn học Lí Trần, do ảnh hưởng Phật giáo, Nho giáo, cảm hứng thu hẹp, khuynh hướng giáo huấn đậm cho nên văn học đã nảy sinh nhưng chưa phát triển Văn học Lí Trần về cơ bản là văn học cung đình, quý tộc, chỉ tồn tại và phát huy trong phạm

vi nhỏ hẹp Thời Lê, một mặt, kế thừa văn học quý tộc yêu nước thời Lí Trần, đã phát triển rực rỡ cùng với khuynh hướng ca công tụng đức Từ Lê Mạc trở đi đến Lê trung hưng, chiến tranh liên miên, sinh linh đồ thán, văn học từ cung đình chuyển xuống văn học văn nhân và bình dân, khuynh hướng văn học hướng đến khát vọng công bằng, hạnh phúc, thể hiện ở sự xuất hiện hàng loạt truyện Nôm vào thế kỉ XVII Trước thế kỉ XVIII

Trang 5

văn học tiếng Việt Việt Nam ở vào trạng thái phôi thai Bước sang đầu thế kỉ XVIII đã xuất hiện các khúc ngâm tuyệt vời, nhưng chủ yếu vẫn ở thể loại thơ trữ tình, ngôn ngữ

văn học chưa được phát triển nhiều mặt Lúc này cũng xuất hiện truyện Nôm Hoa Tiên,

nhưng ngôn ngữ kể chuyện thiên về miêu tả, khó cho người tiếp nhận sự kiện Phải đến

Nguyễn Du với Truyện Kiều văn học Việt Nam mới có cột mốc đỉnh cao mang tầm vóc

nhân loại Tất nhiên trước Nguyễn Du, vào thời Lê, Nguyễn Trãi cũng là nhà văn vĩ đại, người sáng tạo ra tập thơ Nôm đầu tiên của dân tộc, nhưng do hoàn cảnh lịch sử, tiếng

Việt trong Quốc âm thi tập còn ít nhiều gượng ép, chưa hoàn trở thành mẫu mực của

tiếng Việt Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là nhà văn vĩ đại, nhưng trước hết ông là lãnh tụ của dân tộc, sáng tác của ông chủ yếu là văn chính trị, cổ động, tuyên truyền, chưa thật đại diện cho ngôn ngữ văn học nghệ thuật

Nguyễn Du là người có vị trí đặc biệt Vốn xuất thân từ cung đình, nhưng dông tố thời cuộc đã thổi bật gốc quý tộc của ông, đẩy ông về phía những cùng dân nghèo khổ để ông thể nghiệm cuộc sống thiếu thốn, bệnh tật, anh em chia lìa, vợ con không đủ ăn, biến ông thành nhà văn của tất cả mọi người khổ nạn Ông không chỉ am hiểu mọi cung bậc đời sống, mà còn hiểu biết thấm thía nhất ngôn ngữ của toàn dân Địa vị ấy kết hợp với tài năng siêu quần khiến ông trở thành nhà văn vĩ đại

Đóng góp lớn nhất của Nguyễn Du là sáng tác ra một Truyện Kiều, kết tinh mọi truyền

thống giá trị tư tưởng và nghệ thuật của văn hóa dân tộc Mặc dù về câu chữ, do nguyên bản không còn cho nên vẫn còn xuất nhập, nhưng theo thống kê của Nguyễn Tài Cẩn thì nói chung trên 90% nguyên bản vẫn còn được bảo lưu, và chúng ta có cơ sở để tìm hiểu giá trị của nó Với nghệ thuật siêu việt, tác phẩm đã vươn lên tầm cỡ thế giới, làm vẻ vang cho văn học dân tộc với tư tưởng nhân đạo cảm thương sâu sắc nhất Tác phẩm của ông đã vượt lên trên mọi sự vay mượn để trở thành một giá trị độc lập, mà nguyên tác

không bao giờ có được và sánh nổi Truyện Kiều được sáng tạo bởi một một thứ tiếng

Việt nghệ thuật vừa đẹp đẽ vừa gợi cảm, vừa trong sáng vừa Việt Nam trong một truyền thống quá nhiều từ Hán Việt, một thứ tiếng mà mọi người Việt đều lấy làm tự hào, coi là quốc hồn, quốc hoa, quốc túy của dân tộc, trở thành bắng chứng cho sức sống mãnh liệt của người Việt Bên cạnh đó ba tập thơ chữ Hán với 249 bài thơ của ông cũng là một thành quả vô giá trong thi ca Việt Nam và thế giới Trong dịp ngày giỗ long trọng này, chúng tôi xin nêu lại lần lượt những đóng góp quan trọng nhất của Nguyễn Du cho văn học nước nhà

Xét về nội dung Truyện Kiều từ trước tới nay đã có nhiều cách lí giải: tâm sự hoài Lê, tài

mệnh tương đố, tư tưởng trung dung, tùy thời, quyền sống con người, thân mệnh tương đố… Ta phải tìm cái tư tưởng đã đưa tác phẩm lên tầm nhân loại Tư tưởng ấy phải là chủ nghĩa nhân đạo, thương người lớn lao Xét ra trong văn học Việt Nam thời Lí Trần chưa

có bóng dáng chủ nghĩa nhân đạo Thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi tuy có chút tình nhi nữ cũng chưa có chủ nghĩa nhân đạo Thơ Hồng Đức Quốc âm thi tập cũng chưa

có Lĩnh Nam chích quái, Truyền kì mạn lục tuy có yếu tố dục tình, cũng chưa có chủ nghĩa nhân đạo Tư tưởng này phải bắt đầu từ thế kỉ XVIII, mà Truyện Kiều là kết tinh

Trang 6

sâu sắc nhất Đặc sắc của nhân đạo Việt Nam thể hiện ở lòng thương người, mà ở Truyện Kiều đó là tư tưởng thương thân, tạo thành cái mà chúng tôi gọi là chủ nghĩa cảm thương

Việt Nam Chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam là sản phẩm lịch sử của thế kỉ XVIII mới có dưới dạng thức thương người Muốn hiểu sâu nội dung tác phẩm bắt buộc phải đi sâu thể nghiệm về cách hiểu của nhà văn về con người, một các hiểu khác hẳn với giáo lí phong kiến Tách khỏi thể nghiệm về con người trong tác phẩm thì khó lòng mà hiểu sâu nội dung của tác phẩm

Xét về mặt tiếng Việt thuần túy, tức là xét từ ngữ tiếng Việt được dùng trong tác phẩm, thì

theo nhà nghiên cứu Đào Thản, tiếng Việt trong Truyện Kiều là 3.412 từ, trong khi

đó Quốc âm thi tập là 2.215 từ, Lục Vân Tiên là 2.499 từ, có thể nói từ ngữ Truyện

Kiều phong phú hơn nhiều Từ Hán Việt trong Truyện Kiều là 1.310 từ, chiếm 35% tổng

số từ được dùng Như vậy là thấp hơn số phần trăm từ Hán Việt trong tiếng Việt thường được nói đến là 60% Theo thống kê của nhóm học giả Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam mới đây qua số từ có trong từ điển Tiếng Việt của Viện thì số phần trăm từ Hán Việt là trên 30% hoặc 35,15% Xét qua như vậy thì số phần trăm Hán Việt

của Truyện Kiều tương đương với tiếng Việt hiện đại, nếu không nói là hơn một chút.

Về giá trị văn chương của Truyện Kiều, thế hệ nghiên cứu đầu thế kỉ XX như Phạm

Quỳnh, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, Tản Đà, Bùi Kỷ, Lê Văn Hòe, Hoài Thanh,

đã chỉ ra bao nhiêu là từ hay, từ đắt, như các từ lẻn, cậy, thoắt, ngây, tót, nhờn nhợt…

mỗi từ như vẻ ra thần thái, tính cách của nhân vật Nhưng đó là những giá trị thể hiện tài dùng chữ của nhà thơ vào từng trường hợp cụ thể Nghiên cứu cần khái quát các biểu hiện có tính quy luật của tác phẩm

Xét về quy luật nghệ thuật thì Truyện Kiều giàu có hơn các thành phần ngôn ngữ nghệ

thuật Nếu trong các tập thơ, bao gồm cả khúc ngâm, chỉ có ngôn từ trữ tình, thì

trong Truyện Kiều có người kể chuyện với ngôn ngữ người kể chuyện, lời văn tả cảnh, tả

tình, lời bình luận cảm xúc, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, ngôn ngữ độc thoại nội tâm, gồm lời nửa trực tiếp, lời trực tiếp tự do, lời gián tiếp Không có một truyện Nôm nào giàu có hơn về các thành phần như vậy Về nghệ thuật tự sự thì Nguyễn Du đã biết sử dụng thành thạo và đạt nghệ thuật cao mô hình tự sự ngôi thứ ba hạn tri với điểm nhìn của nhân vật, biến tác phẩm thành một tiểu thuyết tâm lí hiện đại, tạo cửa sổ cho người đọc nhìn trực tiếp vào thế giới nội tâm của nhân vật Đó là nghệ thuật tự sự hiện đại nhất

mà truyện Nôm Việt Nam có được từ đầu thế kỉ XIX Mặc dù thời đó Việt Nam chưa có văn xuôi nghệ thuật, nhưng nghệ thuật kể chuyện bằng thơ đã đạt đến tính hiện đại

Về nhân vật, qua nhân vật Thúy Kiều là chính Nguyễn Du đã sáng tạo ra con người tâm

lí, không còn là nhân vật nghĩa lí Nói như Phan Ngọc là đã kết thúc kiểu con người nguyên phiến của văn học cổ để hình thành con người tâm trạng Theo tôi, nhân

vật Truyện Kiều có 5 đặc điểm: bao giờ cũng mang một phức hợp tâm lí phức tạp; mang

tình cảm đối nghịch; tâm lí có một giới hạn rộng rãi nhất, từ cao cả đến mức tầm thường

Trang 7

nhất; con người bị tha hóa; trải nghiệm nhiều cung bậc nhân sinh nhất Chính vì vậy mà người ta cảm thấy Kiều không phải là kẻ nêu gương, mà là người cùng số phận gần gũi

Về cú pháp (syntax) câu thơ Truyện Kiều, tức là phép đặt câu, kết hợp từ của câu thơ, nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong sách Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985) đã thống kê cho thấy câu thơ Truyện Kiều không chỉ đạt được quy phạm gieo vần

và nhịp điệu bằng trắc mẫu mực, mà còn đã vượt lên câu thơ sáu tám thông thường chuẩn mực để tạo nên câu lục bát đối xứng, nó làm cho câu thơ sáu tám thoát khỏi hình thức của

vè để trở thành câu thơ cổ điển Bởi vì cấu trúc đối xứng, tức là đối trong câu dưới mọi hình thức, đã tạo nên cú pháp độc lập, câu thơ danh ngữ, hạn chế câu thơ phân tích, tạo khả năng sản sinh ý ở ngoài lời, tạo nên chất thơ Về mặt tự sự, câu thơ đối ngẫu cũng tạo nên những câu thơ cô đúc, kể về sự vật, sự việc Phan Ngọc thống kê có 312 câu 3/3, 80 câu 4/4 Ngoài ra còn có nhiều hình thức đối khác, nhất là đối chọi và đối cân, mà

Nguyễn Du có lẽ không thích đối chọi, vì nó cứng nhắc, kiểu cách Ông thích nhất là đối cân, vì nó vừa có đối, vừa không chặt chẽ, chan chát, có độ lỏng lẻo cho sự biểu đạt uyển chuyển, mềm mại, vừa đảm bảo nhịp điệu Về các kiểu đối này dã được Phan Ngọc thống

kê cụ thể, xác thực Theo tôi, phép đối ngẫu này, như Jakobson cho thấy, là sự vi phạm

trật tự cú pháp thông thường, nhưng là vi phạm nhằm để kiến tạo cấu trúc thơ Trong Thi pháp Truyện Kiều tôi chỉ ra 12 kiểu đối ngẫu, với 862 câu trên 3254 câu chiếm 27% Trong đó có kiểu đối ngẫu hai đầu câu, mở ra như đôi cánh bướm rất đẹp, ví như Ba sinh đã phỉ mười nguyền, Tình sâu mong trả nghĩa dày, Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài, Tình nhân lại gặp tình nhân… Kiểu đối này không vi phạm cú pháp Mặt khác câu thơ Truyện Kiều là câu thơ tự sự, nó sử dụng thành thạo rất nhiều hư từ

như thì, mà, là, lại, đã, đâu, càng, … khiến câu thơ nhịp nhàng, uyển chuyển, thanh

thoát, thể hiện được ngữ điệu nói của các nhân vật và lời kể chuyện Do nhu cầu đối mà khá nhiều trường hợp Nguyễn Du đã tách từ đôi là hai nửa để tạo thảnh một cụm đối mới,

chưa từng có Ví dụ: bướm lả ong lơi, ăn gió nằm sương, bướm chán ong chường, cười phấn cợt son, dày gió dạn sương, gìn vàng giữ ngọc, gió gác trăng sân, gió thảm mưa sầu, gió trúc mưa mai, hoa thải hương thừa, hồn rụng phách rời, lá gió cành chim, tô lục chuốt hồng, liễu ép hoa nài, liễu chán hoa chê, ngày gió đêm trăng, nắng giữ mưa gìn…

Đó là sự phá vỡ cấu trúc cũ để tạo ra cấu trúc ngữ mới, chưa từng có trong tiếng Việt, làm cho chữ nghĩa như nhảy múa khiến cho ngôn từ thơ thêm đẹp đẽ và nhịp nhàng

Nguyễn Du đã có ý thức sử dụng từ ngữ Việt vào sáng tác thơ Bất đắc dĩ vì phong cách

kể chuyện mà ông sử dụng từ Hán Vì thế Nguyễn Du có xu hướng thích dịch từ Hán

sang Việt làm phong phú cho từ Việt Ví dụ như cơ trời, cửa thiền, cửa không, chày sương, chín suối, duyên trời, đào non, ông còn dịch các điển tích ra tiếng Việt như chim xanh, chắp cánh liền cành, chén hà, đêm đêm Hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu, giấc hòe, duyên Đằng thuận nẻo gió đưa, chàng Tiêu, … Trong tài liệu của ông Đào Thản đã

nhắc trên kia đã cung cấp kết quả nghiên cứu của nhóm tư liệu Tổ Ngôn ngữ học cho biết

thêm, trong Truyện Kiều có 30 câu dịch thơ Đường, 27 lần mượn ý, mượn chữ trong thơ

cổ Trung Quốc, 46 lần mượn chữ Kinh Thi, 50 lần mượn chữ, ý trong sách thần tiên

Trang 8

truyện, tình sử, 21 lần mượn chữ, điển tích trong sách Phật Lão Hiện tượng này cho thấy khả năng Việt hóa, đồng hóa rất mạnh của nhà thơ

Nhưng ngôn ngữ Truyện Kiều không chỉ là ngôn ngữ biểu đạt, mà còn là một ngôn ngữ

đẹp, mĩ thuật Ông học được cách phối màu, đối lập màu vốn có trong thơ Lí Bạch, Đỗ

Phủ để tạo những cặp màu lung linh trong thơ mình Ví dụ: Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia, Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng, Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh, Đào vừa phai thắm, sen vừa nảy

xanh, Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua, Dường gần rừng tía, dường xa bụi

hồng, Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha, Cạn dòng lá thắm, đứt đường chim

xanh, Hoa trôi dạt thắm, liễu xơ xác vàng, Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh… Các

màu xanh, hồng, vàng, thắm, đen, bạc cứ đan xen nhau, đối chọi nhau tạo thành một vẻ đẹp long lanh của lời thơ Khi miêu tả sự vật Nguyễn Du dùng phương thức định ngữ để

tạo ra một không gian đẹp có tính chất hư ảo cho truyện Nói tới nước mắt thì giọt

ngọc, giọt châu, giọt tương, giọt hồng, giọt lệ, giọt tủi, giọt riêng Nói tới giấc ngủ

thì giấc xuân, giấc mai, giấc hoè, giấc tiên Nói tới mái tóc, không chỉ là tóc mây, tóc sương, tóc rối, tóc thề, mà còn là mái sầu Nói tới đường xa ông nói tới dặm hồng, dặm xanh, dặm băng, dặm khách, dặm phần Nói đến chén rượu ông gọi là chén xuân, chén

hà, chén mồi, chén quỳnh, chén thề, chén đưa, chén mời, chén khuyên, chén đồng, chén mừng, chén vàng, chén cúc, mang đầy sắc thái khác nhau của tình huống Nói tới cửa sổ ông cũng nói bằng những từ của riêng ông: song sa, song mai, song hồ, song mây, song trăng, song đào, song phi, song thu; nói tới sân thì sân hoa, sân rêu, sân hoè, sân

thu, sân ngô, sân Lai, sân mai, sân mây…; nói tới tường thì tường gấm, tường hoa, tường đông, tường vôi…; bóng trăng thì là bóng nga, bóng nguyệt, gương nga; mây thì mây trắng, mây bạc, mây Tần, mây vàng, gắn với cảm xúc khi nhìn thấy Nói tới tấm lòng thì ông gọi là tấm riêng, tấm yêu, tấm son, tấm thành, tấm thương, tấm lòng, tấm trăng, hoặc nói theo cách Trung Hoa đã dịch ra Việt: tấc cỏ, tấc riêng, tấc son, tấc thành, tấc lòng…

Bảo rằng nhà thơ dùng nhiều từ đồng nghĩa thì đúng rồi, nhưng hoàn toàn không phải là

từ đồng nghĩa hàng ngày, thông thường, mà những từ đồng nghĩa được tạo ra lâm thời theo cảm xúc cụ thế sáng tạo của nhà thơ, mà là sáng tạo theo quy tắc mĩ học, chứ không theo cách phối ghép thông thường Những ý tượng như thế thuần túy chỉ có ý nghĩa thẩm

mĩ, nó làm cho lời văn thêm đẹp và chỉ có trong ngôn ngữ Truyện Kiều.

Cú pháp thơ của Nguyễn Du còn nhiều điều đặc sắc quan trọng nữa như hiện tượng thiếu vắng chủ thể trực tiếp và tính chất đảo trang, tính tự do nội tại trong kết hợp, khiến cho câu thơ linh hoạt, nhẹ nhàng, giàu tính thẩm mĩ Nguyễn Du cũng là người sử dụng các phép tu từ của văn học trung đại như phép đối ngẫu, ẩn dụ, phép sóng đôi, điển cố, … rất thành công và có bản sắc Chúng ta còn phải nghiên cứu kĩ về ngôn ngữ nghệ thuật

trong Văn tế thập loại chúng sinh, một áng thơ song thất lục bát bất hủ Tuy nhiên không

thể nói quá nhiều về ngôn ngữ trong bài chỉ thiên về khái quát Chỉ với những điều đã nói cũng đủ để chứng tỏ đóng góp hoàn toàn mới mẻ làm thay đổi hẳn trạng thái và chất lượng của ngôn từ nghệ thuật tiếng Việt trong văn học

Trang 9

Một số bia mộ, dấu tích văn hóa trở thành hiện vật mỉa mai, giả dối Nguyễn Du đã thể hiện một tư duy phản biện sâu sắc, mạnh mẽ, sắc bén Đúng như lời ông đã nói trong

bài Giữa đường Lạng Sơn: “Trong giỏ có bút sắc như dao” đó là cây bút của nhà làm sử cùng loại với Đỗ Phủ Qua Mộ Kì Lân, di tích dùng để mĩ hóa cho Minh Thành Tổ, tên

vua đã xâm lược Việt Nam, ông kêu lên: “Ôi kì lân, nếu mày vì kẻ ấy mà hiện ra, Thì mày chỉ là đồ yêu quái, có gì đáng quý?” Ông phát hiện xã hội Trung Quốc là xã hội ăn

thịt người, như Lỗ Tấn nêu lên trong thời Ngũ Tứ 1919 trong Nhật kí người điên, và ông

đã viết bài Phản chiêu hồn đầy bi phẫn, lời thơ thét lên: “Hồn chớ về”, bởi vì “Hậu thế

đều là bọn Thượng quan, Mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La Ngư long không ăn thịt thì cũng sài lang thịt, Hồn ơi, hồn ơi về làm chi” Ông thấy chế độ quan liêu hủ bại, quan

lại vô trách nhiệm (Trở binh hành), dân gặp tai họa thì phủi tay: “Dân chết tại thiên tai,

không tại ta” Thứ ba là, qua những di tích của những danh nhân văn hóa lại nổi lên vấn

đề tiêu vong và trường tồn Bắc hành tạp lục là tập thơ viết về mộ địa nhiều nhất, mộ là

không gian của tâm linh, của những gì đã mất, là nơi con người có thể suy nghĩ về thế giới bên kia của kiếp người Có mộ địa của hai hạng người Những danh nhân như Liễu Tông Nguyên, Thôi Hiệu, Đỗ Phủ, Lí Bạch, Âu Dương Tu, ông đồng cảm sâu sắc với số phận bi thương của họ Ông nhận ra các nhà thơ Trung Quốc dù vĩ đại, nhưng văn

chương không cứu được cuộc đời Trong bài Lỗi Dương Đỗ Thiếu lăng mộ, ông kêu lên

“Văn chương quang diễm thành hà dụng?” Nguyễn Du rất hiểu Lí Bạch, Lí Bạch tài cao

và chí lớn, nhưng vua Đường chỉ muốn biến ông thành nhà thơ ngự dụng để mua vui, và nhà thơ đã chán ngán, thích rượu, vua lại biến ông thành thi tiên suốt ngày say nhè Một nhà thơ say không hại gì cho chế độ Đỗ Phủ là nhà thơ được Nguyễn Du yêu thích và tôn làm thầy, đồng thời nhìn thấy số phận bi kịch bất công của những người tài giỏi “Ai cũng khen danh ông muôn thuở, Ta đau đất lạ gửi cô phần” Đối với mộ của những võ tướng, nhà chính trị Nguyễn Du không khỏi có thái độ kính trọng những phẩm cách cao đẹp như Khuất Nguyên, Tấn Văn Công, Nhạc Phi, Văn Thiên Tường, Kinh Kha, nhưng ông mỉa mai chiến công của các võ tướng ham công danh như Mã Viện, Phạm Tăng Khi qua Đồng Tước đài của Tào Tháo, ông nhìn thấy sự bất lực của quyền lực, sự vô nghĩa của phú quý, tiền tài, sự hư ảo của những niềm tin Qua mộ địa ông chiêm nghiệm về giá trị cuộc sống Ở đâu thơ ông cũng thấp thoáng nhiều vấn đề triết học Trong một năm đi sứ Nguyễn Du đã đi qua 29 thành và trọng trấn, đề cập đến gần 60 nhân vật lịch sử của Trung Quốc, đối với mỗi người đều có bày tỏ thái độ và nhận định đã thể hiện một trí tuệ siêu việt Việt Nam vốn có truyền thống đi sứ và làm thơ, gọi là thơ đi sứ, nhưng có lẽ cho đến lúc ấy chưa có tập thơ đi sứ nào có quy mô hơn của Nguyễn Du, chưa có sách nào thể hiện một tầm vóc tư duy sâu rộng như Nguyễn Du Đó là chưa đi sâu vào phương diện nghệ thuật của thơ chữ Hán của ông Về phương diên thẩm mĩ, Nguyễn Du tuy thích nhiều hình ảnh đẹp, nhưng ông thiên về biểu hiện cái buồn, cái bi, cái đau đớn Từ xa xưa người ta đã nhận ra tiếng bi là tiếng đẹp Trương Tửu đã có lần nói đến “cảm hứng bị

thua” trong Truyện Kiều, có thể mở đầu cho một khám phá thẩm mĩ của Nguyễn Du

Nhưng ông lại xem đó là sản phẩm của sự suy đồi về cá tính cho nên vấn đề bị bỏ lỡ Một

số nhà nghiên cứu Trung Quốc đại lục như Lí Tu Chương chỉ viết qua loa về mấy tập thơ,

nhiều học giả khác như Mạnh Chiêu Nghị, Vu Tại Chiếu chỉ nói về hai tập thơ Thanh

Trang 10

Hiên thi tập và Nam trung tạp ngâm, mà không một lời nói tới nội dung và nghệ thuật của Bắc hành tạp lục Họ ngại ngòi bút sắc bén của nhà thơ Việt Nam chăng.

Xét theo con mắt của Văn học so sánh, thì Bắc hành tạp lục là tác phẩm thể hiện trọn vẹn

cái nhìn của nhà thơ Việt Nam đối với con người và văn hóa Trung Quốc, là tập thơ xây dựng hình tượng người Trung Quốc theo góc độ “hình tượng học” (imagologie) Nghiên cứu ở góc độ địa lí văn hóa cũng cho thấy nhiều ý nghĩa chưa được khai thác Cái khó của thơ chữ Hán là ở chỗ khó có những bài dịch hay và điều đó trở ngại cho người đọc thưởng thức chúng

Nghiên cứu khẳng định các đóng góp của Nguyễn Du là khuynh hướng chủ yếu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Biết bao thế hệ nhà nghiên cứu đã dốc sức nghiền ngẫm, phiên dịch, đối chiếu để khám phá những đóng góp vĩ đại của nhà thơ Nghiên cứu khoa học về Nguyễn Du mà không hướng tới giải đáp câu hỏi nêu trên thì nghiên cứu làm gì? Di sản của Nguyễn Du chắc chắn không đứng yên, mà phong phú và lớn lao thêm theo thời gian, cùng với sự gia tăng sức hiểu biết của chúng ta

Vấn đề khái quát những đóng góp của Nguyễn Du cần được đúc kết càng chính xác, súc tích, càng ngắn gọn càng quý, bởi chỉ dưới hình thức như thế nó mới dễ được phổ cập, nhất là đưa vào nhà trường Học sinh của chúng ta cần biết rõ, Nguyễn Du vĩ đại như thế nào, đã có những đóng góp thế nào cho văn học dân tộc Đây cũng là câu hỏi nêu ra cho mỗi người yêu mến và hâm mộ Nguyễn Du, cho mỗi du khách nước ngoài khi nói về nhà văn vĩ đại của dân tộc Việt Đấy cũng sẽ là những câu hỏi trong đề thi trung học phổ thông cần phải có sau này, chứ không thể chỉ là thi với các đề thi về tác gia hiện đại, đương đại

TLTK

23/12/2020, nhungconghiencuanguyendu [online], văn việt đọc từ

http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/nguyen-du-nhung-dng-gp-bat-hu-cho-van-hoc-viet-nam/ ngày 29/3/2022

“không ngày tháng”, cuocdoicuanguyendu [ online], sách hay 24h.com đọc từ

https://sachhay24h.com/cuoc-doi-va-su-nghiep-van-chuong-dai-thi-hao-nguyen-du-a863.html ngày 29/3/2022

https://www.slideshare.net/trongthuy3/luan-van-net-dep-nhan-van-trong-tho-nguyen-du-hay-9d tiến sĩ

Ngày đăng: 18/04/2022, 12:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w