1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống nhtm việt nam hiện nay

26 486 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống nhtm việt nam hiện nay
Tác giả Phạm Thị Phong Lan
Trường học Học viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Lý thuyết tiền tệ ngân hàng
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 121,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, đổi mới hoạt động NH đợc gắn liền với đổi mới hoạt động cho vay và đầu t, hoạt động tín dụng NH gắn liền với việc phục vụ các chơng trình kinh tế và chiến lợc phát t

Trang 1

Lời nói đầu Ngân hàng(NH) đợc hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâudài gắn với nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau Vào khoảng thế kỷ thứ

V NH sơ khai ra đời với 3 nghiệp vụ nguyên thuỷ của NH là nhận tiền gửi,thanh toán và cho vay NH sơ khai ban đầu thực hiện cho vay nặng lãi vì ban

đầu nhu cầu vốn rất lớn Sau này khi nền kinh tế phát triển (từ thế kỷ XV)hoạt động nhận tiền gửi rồi cho vay đợc mở rộng, số lợng các NH ra đờingày càng nhiều dẫn đến tính tất uếu của cạnh tranh, do đó các NH phảigiảm lãi suất và các NH đó chuyển thành các Ngân hàng thơngmại( NHTM) sau này gọi là các Ngân hàng trung gian (NHTG) CácNHTM ra đời hầu hết vào đầu thế kỷ XVII, NH lớn nhất ra đời là NH HàLan ở Việt nam mãi tới thế kỷ XIX hệ thống NH mới ra đời và đi vào hoạt

động Song khi có pháp lệnh Nhà nớc về NH( 5 / 1990) thì hệ thống NH đợctách làm hai cấp, tách bạch rõ chức năng quản lý Nhà nớc và chức năngkinh doanh Tức là Ngân hàng Nhà nớc và hệ thống Ngân hàng trunggian(NHTG) Trong hệ thống NHTG đợc tách ra gồm NHTM, Ngân hàng

đặc biệt và các tổ chức trung gian(TCTG) phi NH Có thể nói NHTM nóiriêng và hệ thống NH nói chung đã có vai trò vô cùng quan trọng trong việcthúc đẩy nền kinh tế nớc ta phát triển Ngày nay ở nớc ta khi nền kinh tế thịtrờng đang phát triển, tất cả mọi hoạt động đều hớng tới mục tiêu CNH –HĐH đất nớc thì ngời ta khó có thể hình dung nổi sự vắng bóng của cácTCTCTG làm chức năng “cầu nối” giữa ngời có vốn và ngời cần vốn Trong

số các TCTCTG hệ thống các NHTM chiếm vị trí quan trọng nhất về cả quymô và về thành phần các nghiệp vụ

ở nớc ta thời gian qua cũng nh cho đến hiện nay, tín dụng vẫn là trungtâm hoạt động của một NHTM Trong những năm qua, đổi mới hoạt động

NH đợc gắn liền với đổi mới hoạt động cho vay và đầu t, hoạt động tín dụng

NH gắn liền với việc phục vụ các chơng trình kinh tế và chiến lợc phát triểnkinh tế của đất nớc, nh cho vay vốn để phát triển kinh tế đa thành phần, tíndụng NH phục vụ chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vốn cho thực hiện công nghiệphoá và hiện đại hoá đất nớc

Vậy để có thể khai thác tốt nhất các tiềm năng kinh tế trong nớc cũng

nh nớc ngoài thì việc huy động vốn qua NHTM là rất cần thiết Đặc biệt làtrong giai đoạn nớc ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vựcthế giới và tập trung mọi nguồn lực cho quá trình CNH –HĐH đất nớc thìvấn đề nguồn vốn có vai trò quan trọng và đây cũng là nhiệm vụ nặng nề,cấp bách của hệ thống NHTM với t cách là “kênh dẫn vốn” nhằm thu hútcác nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để từ đó sử dụng nguồn vốn mộtcách hợp lý nhằm phát triển nền kinh tế một cách hiệu quả nhất

Trang 2

Tóm lại, ở nớc ta thời gian qua và cũng nh cho đến hiện nay NHTM

có một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là tín dụng vẫn là trung tâm hoạt

động với chức năng cơ bản là huy động vốn và sử dụng vốn để có hiệu quả

lớn nhất Đề tài: "Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt nam hiện nay" xuất phát từ vai trò của NHTM Qua nhu cầu

thực tiễn và sự kết hợp với kiến thức em đã tiếp thu đợc thông qua môn học,

em chọn đề tài trên để làm tiểu luận Qua tiểu luận này phần nào em đã cốgắng đa ra những thực trạng và nhận xét chung nhất về hoạt động tín dụngcủa NHTM ở nớc ta, trên cơ sở đó em có một số kiến nghị, giải pháp trongthời gian tới Do vấn đề trên có tính chất và quy mô nghiên cứu lớn nên em

sẽ đi sâu vào một số nội dung sau:

Phần I: Khái luận chung về NHTM

Phần II: Thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt nam Phần III: Giải pháp và kiến nghị

Những hiểu biết của em còn hạn chế do vậy mà trong quá trình trìnhbày và đa ra những ý kiến, kiến nghị của em sẽ không tránh khỏi những saisót Em mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo của thày, cô về vấn

Trang 3

Phần I: Khái luận chung về NHTM

I Sự ra đời của NHTM

Các hoạt động mang tính chất ngân hàng ra đời từ rất lâu Vào khoảng

3500 trớc công nguyên đến 1800 trớc công nguyên nghiệp vụ sơ khai củahoạt động ngân hàng là nhận giữ tiền, vàng và tài sản có giá trị khác.Những ngời đợc tin tởng để cho họ gửi gắm tài sản của mình là nhà thờ, thợvàng và những ngời quyền quý, ngời gửi tiền nhận lại một tờ biên lai làmcăn cứ để xác định quyền sở hữu Một cách tự phát, một số nhà thờ, ngờiquyền thế và các thợ vàng trở thành những ngời giữ của cải và tài sản chocông chúng và đợc trả phí vì đã bảo quản và trông coi tài sản Hoạt động củacác đối tợng này mang hình thức nh những tiệm cầm đồ

Tuy nhiên những ngời giữ tài sản họ nhận ra rằng trong cùng mộtkhoảng thời gian có một số ngời đến lấy tiền và một số ngời lại đến gửi tiền

Nh vậy luôn có khối lợng tiền nhàn rỗi trong kho, đồng thời sự phát triển củathơng mại trong thời gian này, những ngời đi buôn họ rất cần tiền để làmvốn, điều này khiến họ nghĩ tới việc giờ đây chỉ cần giữ lại dự trữ tiền mặtvới một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi, phần còn lại có thể sử dụngcho vay lấy lãi Đây chính là sự đánh dấu của ngân hàng sơ khai ra đời

Từ thế kỷ V đến thế kỷ VII là giai đoạn phát triển của các nghiệp vụcủa một ngân hàng Các nghiệp vụ ghi sổ sách, chi tiết đến đối tợng cho vay,mục đích vay cũng nh nguồn vốn cho vay Từ khoảng đầu thế kỷ XV đếnXVIII các ngân hàng này phát triển cả về số lợng và quy mô hoạt động vớicác nghiệp vụ của một ngân hàng kinh doanh gồm nhận tiền gửi, cho vay,phát hành tiền, chiết khấu thơng phiếu, thanh toán bù trừ và bảo lãnh

Vào đầu thế kỷ XVII hầu hết các NHTM ra đời, ngân hàng lớn nhất là ngânhàng Hà lan1609, ngân hàng Thuỵ Điển năm 1856, hệ thống ngân hàng Anhnăm1694, ngân hàng Pháp năm 1800 Sau đó hệ thống ngân hàng đợc pháttriển rộng sang các nớc thuộc địa và phơng Đông

Từ thế kỷ XVIII các ngân hàng đã thực sự là những doanh nghiệpkinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và phát hành tiền dới dạng các chứng th hay

kỳ phiếu thay cho vàng Vì khả năng chuyển đổi của kỳ phiếu ra vàng rất dễdàng do đó nó đợc chấp nhận rộng rãi trong lu thông nh một hình thức tiền

tệ Do đó nhiều ngân hàng đã phát hành nhiều loại kỳ phiếu này gây khókhăn cho lu thông hàng hoá và vì có nhiều ngân hàng phát hành ra nên Nhànớc không thể kiểm soát đợc tiền trong lu thông Trớc tình trạng này Nhà n-

ớc phải can thiệp và tách các ngân hàng làm 2: một là ngân hàng phát hành

có quyền phát hành tiền và kinh doanh tiền tệ và các trung gian tài chínhhoạt động kinh doanh tiền tệ

Đến thế kỷ XX tiền giấy đợc phát hành ra với khối lợng lớn gây nênlạm phát khủng khiếp, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng làm co lĩnh vực tiền

Trang 4

tệ ngân hàng cũng rối loạn.Vì vậy Nhà nớc một lần nữa phải can thiệp: Ngânhàng phát hành có thêm chức năng quản lý tiền tệ và đổi tên thành Ngânhàng Trung ơng, hệ thống các trung gian tài chính lại đợc tách ra làm 2 gồm

hệ thống ngân hàng và hệ thống trung gian tài chính phi ngân hàng

ở Việt nam mãi đến thời Pháp thuộc mới hình thành ngân hàng để hỗtrợ cho các hoạt động kinh doanh thơng mại

6/5/1951 Ngân hàng Nhà nớc Việt nam ra đời và là ngân hàng một cấp hoạt

động trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung Đến năm 1986 nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc

5/1990 Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nớc Việt nam ra đời chia hệ thống ngânhàng làm 2 cấp: một là NHTW là cơ quan quản lý Nhà nớc trên lĩnh vực tiền

tệ, tín dụng và ngân hàng, độc quyền phát hành tiền và đóng vai trò là ngânhàng của các ngân hàng, là ngân hàng của Chính phủ; một là NHTM cóchức năng kinh doanh tiền tệ trực tiếp với nền kinh tế

Hơn 10 năm qua NHTM nói riêng và hệ thống các NH nói chung đã

có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế

II Chức năng của NHTM

NHTM là loại hình NH hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông quaviệc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu.Tầm quan trọng củaNHTM đợc thể hiện qua các chức năng của nó NHTM có 3 chức năng cơbản là chức năng làm thủ quỹ, chức năng làm trung gian tín dụng, chức nănglàm trung gian thanh toán

1 Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội

Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, cácdoanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứngnhu cầu rút tiền và chi tiền của họ

Chức năng này đã có ngay trong thời kỳ sơ khai của hoạt động NH xuất phát

từ nh cầu muốn đảm bảo an toàn cho tài sản và mong muốn tích luỹ giá trịcủa công chúng và các doanh nghiệp trong xã hội.Ban đầu NH đơn giản làngời giữ hộ tài sản và khách hàng phải trả cho NH một khoản phí Về sau

NH đã sử dụng khoản tiền gửi của khách hàng để cho vay, và thay cho việckhách hàng phải trả thù lao cho NH, NH lại trả cho khách hàng lợi tức tiềngửi Tuy nhiêm với các khoản tiền, vàng bạc, đá quý, chứng từ có giá .khách hàng gỉ vào NH với yêu cầu giữ hộ, khách hàng vẫn phải trả cho NHmột khoản phí nhất định

Ngày nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập ngày càngcao, tích luỹ của doanh nghiệp và cá nhân ngày càng lớn cộng thêm nhu cầubảo vệ tài sản và mong muốn sinh lời từ khoản tiền có đợc của các chủ thể

Trang 5

kinh tế làm cho các chức năng này càng đợc thể hiện rõ Nó đem lại lợi íchcho cả khách hàng và NH.

Đối với NH, chức năng này là cơ sở để NH thực hiện chức năng trunggian thanh toán, đồng thời tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho NHTM để thựchiện chức năng trung gian tín dụng

2 Chức năng trung gian thanh toán

NH làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêucầu của khách hàng NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trêncơ sở nó thực hiện chức năng thủ quỹ cho xã hội Việc nhận tiền gửi và theodõi các khoản thu, chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để

NH thực hiện vai trò trung gian thanh toán.Mặt khác, việc thanh toán trựctiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế nh rủi ro, chiphí lớn

Việc hệ thống NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ýnghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế trong việc góp phần tăng nhanhtốc độ lu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trìnhtái sản xuất xã hội.Đồng thời làm tăng uy tín cho NH và do đó tạo điều kiện

để thu hút nguồn vốn tiền gửi

3 Chức năng làm trung gian tín dụng

NH làm trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối” giữa ngời có vốn dthừa và ngời có nhu cầu về vốn Thông qua việc huy động các khoản vốntiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NH hình thành nên quỹ cho vaycủa nó rồi đem cho vay đối với nền kinh tế, mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn.Với chức năng này NH vừa đóng vai trò là ngời đi vay, vừa đóng vai trò làngời cho vay

Sở dĩ NH làm đợc chức năng này vì nó là một tổ chức chuyên kinhdoanh về tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết đợc tình hình cung cầu vềtín dụng Thông qua việc thu hút tiền gửi với khối lợng lớn, NH có thể giảiquyết mối quan hệ giữa cung và cầu tín dụng cả về khối lợng vốn vay và thờigian cho vay

Thông qua chức năng trung gian tín dụng,NHTM đã góp phần tạo lợiích cho tất cả các bên trong quan hệ là ngời gửi tiền, NH và ngời đi vay và

đảm bảo lợi ích của nền kinh tế

Chức năng là trung gian tín dụng của NHTM có tác dụng tập trungvốn cho quá trình sản xuất Mặt khác sự kết hợp giữa chức năng trung giantín dụng và chức năng trung gian thanh toán làm cho hệ thống NHTM cókhả năng tạo tiền gửi thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng,

NH sử dụng số vốn huy động đợc để cho vay, số tiền cho vay ra lại đợckhách hàng sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số d trêntài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đợc coi là bộ phận của tiềngiao dịch, đợc họ sử dụng để mua hàng hoá, dịch vụ… Khi NH chỉ thực hiện Khi NH chỉ thực hiện

Trang 6

chức năng nhận tiền gửi mà cha cho vay, NH cha hề tạo tiền, chỉ khi thựchiện nghiệp vụ cho vay, NH mới bắt đầu tạo tiền.

Tóm lại, các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung,

hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bảnnhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời khi thựchiện tốt chức năng thủ quỹ và chức năng trung gian thanh toán lại góp phầnlàm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng quy mô hoạt động của NH

III Nghiệp vụ của NHTM

Việc nghiên cứu các nghiệp vụ một của NHTM thực chất là việc xác

định nội dung các khoản mục thuộc bảng tổng kết tài sản Đó là bản báo cáotài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình sử dụng vốn và nguồn vốnhoạt động của một NHTM tại một thời điểm nhất định Bảng tổng kết tài sảncủa NHTM bao gồm 2 phần là tài sản Nợ và tài sản Có Đây cũng chính là 2nghiệp vụ cơ bản của một NHTM

1 Nghiệp vụ thuộc tài sản Nợ

Nghiệp vụ thuộc tài sản Nợ phản ánh nguồn vốn của NH Kết cấu tàisản Nợ của NHTM bao gồm: vốn tiền gửi, vốn đi vay và vốn của NH

1.1 Vốn tiền gửi

Vốn tiền gửi là bộ phận quan trọng của NHTM, bao gồm:

 Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứlúc nào Đối với khoản này, mục đích chính của ngời gửi tiền là nhằm đảmbảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua NH và do vậy

nó thờng đợc gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán

 Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng đợc rút ra sau một thờihạn nhất định từ một vài tháng đến một vài năm Mục đích của ngời gửi tiền

là lấy lãi và NH có thể chủ động kế hoạch hoá việc sử dụng vốn này vì tính

có thời hạn của nguồn vốn Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửitiền và sự thoả thuận giữa NH và khách hàng trên cơ sở xem xét đến mức độ

an toàn của NH cũng nh quan hệ cung cầu vốn tại thời điểm đó

 Tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của dân c đợc gửi vào NH nhằm mục

đích hởng lãi

Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốncủa NHTM, là nguồn vốn chủ yếu để NH kinh doanh Chính vì vậy ngời tagọi NHTM là NH ký thác hay NH tiền gửi

Trang 7

- Phát hành dới hình thức chiết khấu.

 Vay NHTW chỉ đợc vay ngắn hạn vì cho vay dài hạn NHTW không điềutiết đợc Bất kỳ NHTM nào khi đợc NHTW cho phép thành lập hoạt động

đều đợc hởng quyền vay tiền tại NHTW trong trờng hợp cần bổ sung nhucầu vốn khả dụng dới 2 hình thức chủ yếu là tái chiết khấu các giấy tờ cógiá và cho vay thế chấp hay ứng trớc

Ngân hàng Trung ơng cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dới hai hìnhthức là:

- Tái cấp vốn mà chủ yếu dới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá

- Cho vay thế chấp hay ứng trớc

 Ngoài ra, NHTM có thể vay các NH và tổ chức tài chính khác Mục đíchquan trọng của loại này là nhằm đảm bảo nhu cầu vốn khả dụng trong thờihạn ngắn

 NHTM cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động từ việc phát hànhphiếu nợ để vay nớc ngoài

Vốn vay đã trở thành một nguồn vốn quan trọng của NH khi nó làm cho các

NH chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh Việc áp dụng một chính sáchlãi suất linh hoạt kèm theo các điều kiện phi lãi suất thích hợp đối với cáccông cụ nợ khi đi vay NH có thể chủ động đạt đợc nguồn vốn phù hợp vớinhu cầu

1.3 Vốn của NH

Khoản mục cuối cùng trong phần tài sản Nợ của bảng quyết toán tàisản NH là vốn thuộc sở hữu của NH Nó bằng hiệu số giữa tổng tài sản Cóvới tài sản Nợ Vốn của NHTM mang tính chất ổn định, nó thờng chiếm một

tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH( khoảng dới 10%), nhng có một

vị trí quan trọng, quyết định quy mô hoạt động của NH, là cơ sở để NH tiếnhành kinh doanh, huy động vốn và cho vay Ngời ta ví nó nh một cái đệm

để chống đỡ sự giảm giá trị của những tài sản Có của NH mà có thể đẩy

NH đến tình trạng thiếu khả năng chi trả và phá sản

2 Nghiệp vụ thuộc tài sản Có.

Nghiệp vụ thuộc tài sản Có phản ánh việc sử dụng vốn của NHTM.Xuất phát từ đặc điểm nguồn vốn của NH, cơ cấu sử dụng vốn phải đảm bảo

an toàn và sinh lời Tài sản Có bao gồm: nghiệp vụ ngân quỹ, nghiệp vụ chovay và nghiệp vụ đầu t

 Nghiệp vụ ngân quỹ là một khoản dự phòng để đáp ứng nhu cầu thanhtoán, chi tiêu của NH Khoản mục này bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ởcác NH khác, tiền gửi ở NHTW

Trang 8

Các bộ phận này hình thành nên phần dự trữ của NHTM Mặc dù dự trữcủa NH không tạo nên lợi nhuận nhng nó đảm bảo khả năng thanh toán vàcác nghĩa vụ tài chính khác cho NH Vì thế mà nó hạn chế rủi ro thanhkhoản, nâng cao uy tín cho NH, tạo nền tảng vững chắc cho khả năng sinhlời của NH.

 Nghiệp vụ cho vay: là nghiệp vụ cung ứng vốn của NH trực tiếp cho cácnhu cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn của

NH Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, NH có thể kiểm soát trực tiếp và ờng xuyên mục đích sử dụng tiền vay Đối với các NH truyền thống, chovay là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu và đợc thực hiện thông qua các hình thứcphổ biến nh chiết khấu thơng phiếu, cho vay ứng trớc, tín dụng uỷ thác thuhay bao thanh toán, tín dụng bằng chữ ký

th-Nghiệp vụ cho vay đợc thực hiện thông qua các hình thức phổ biến sau:

- Chiết khấu thơng phiếu

- Cho vay ứng trớc

- Cho vay vợt chi

- Tín dụng uỷ thác hay thu bao thanh toán

- Cho vay thuê mua

- Tín dụng bằng chữ ký gồm tín dụng chấp nhận và tín dụng bảo lãnh

- Tín dụng tiêu dùng

 Nghiệp vụ đầu t: đầu t vào chứng khoán là hình thức phổ biến trongnghiệp vụ tài sản Có của các NHTM và các tổ chức tín dụng NH có thể đầu

t vào trái khoán Chính phủ hoặc trái khoán công ty để thu lợi tức đầu t, do

đó mang lại thu nhập cho NH, bảo tồn ngân quỹ Đồng thời nó còn làm đadạng hoá các hoạt động kinh doanh của NH nhằm phân tán rủi ro và nângcao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NH

 Những tài sản Có khác là những vốn hiện vật nh nhà làm việc, máy tính

và những trang thiết bị khác do NH sở hữu

Ngoài ra NH sử dụng các nghiệp vụ bổ trợ cho nghiệp vụ kinh doanhchính nh kinh doanh vàng bạc, thanh toán chuyển tiền cho khách hàng, thựchiện các bảo lãnh, t vấn đầu t, các nghiệp vụ đại lý, các dịch vụ bảo quản

IV Vai trò của NHTM

Vai trò của NHTM nói riêng và của các NHTG nói chung đợc thểhiện trong việc vận dụng các chức năng của nó và cụ thể hoá trong các hoạt

động của NH Khái quát lại, có thể nêu lên hai vai trò lớn của NHTM sau:

1 Là công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất l u thông hàng hoá.

Với chức năng trung gian tín dụng, thông qua các nghiệp vụ huy độngvốn, cho vay và đầu t NHđã huy động đợc nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội,

Trang 9

cho vay đối với các ngành, các thành phần kinh tế Nó trở thành chất dầu

“bôi trơn” cho bộ máy kinh tế hoạt động thông qua việc di chuyển nguồn lựccủa xã hội từ nơi cha sử dụng, còn tiềm tàng vào quá trình sử dụng phục vụcho sản xuất kinh doanh nâng cao mức sống xã hội

Bên cạnh đó, với chức năng trung gian thanh toán, NH đã thực hiệncác dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế từ đó thúc đẩy nhanh quá trình luânchuyển hàng hoá, luân chuyển vốn trong xã hội, tiết kiệm chi phí thanh toáncho từng cá nhân, doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế

Đồng thời NH cùng giám sát đợc các hoạt động kinh tế góp phần tạo ra mộtmôi trờng kinh doanh lành mạnh, tạo ra sự ổn định trong đời sống kinh tế xãhội

Ngày nay, có thể nói mọi quan hệ kinh tế đến thực hiện thông quaquan hệ tiền tệ và chủ yếu là thông qua hoạt động của hệ thống NH bên cạnhcác tổ chức tài chính phi NH

2 NHTLM và các NHTG khác là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW

Với các chức năng của mình, NHTM là một trong các chủ thể thamgia vào quá trình cung ứng tiền, tạo ra một khối lợng phơng tiện thanh toánrất lớn trong nền kinh tế

Để thực hiện chính sách tiền tệ, NHTW phải sử dụng các công cụ để

điều tiết lợng tiền trong lu thông, nhằm đạt đợc các mục tiêu của nền kinh tế

vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ Phần lớn các công cụ của chínhsách tiền tệ chỉ đợc thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và có

hiệu quả của các NHTM, các NHTG khác nh việc chấp hành quy định dự trữbắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt và việc nâng cao hiệu quảcho vay và đầu t

Tóm lại, cùng với sự tăng trởng kinh tế NHTM càng có một vị trí vàvai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy sản xuất, lu thông hàng hoá, đẩynhanh tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế góp phần ổn định tiền tệcũng nh ổn định và phát triển nền kinh tế của quốc gia

Trang 10

Phần II: thực trạng của hoạt động tín dụng của

hệ thống NHTM việt nam hiện nay

I Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống NHTM Việt nam.

Trớc năm 1945 nớc ta phải đứng trớc tình trạng bị các đế quốc, thựcdân đô hộ Đặc biệt là khi thực dân Pháp xâm lợc thì trên lãnh thổ Việt nam

đã xuất hiện hệ thống NH đầu tiên bao gồm NH Đông Dơng với t cách là

NH phát hành tiền lúc bấy giờ là giấy bạc Đông Dơng và một số NH t nhâncủa ngời nớc ngoài để hoạt động kinh doanh thơng mại

Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công Nhà nớc Việt nam dânchủ cộng hoà ra đời thì hệ thống NH mới từng bớc xây dựng và trởng thành.6/5/1951 Ngân hàng Quốc gia Việt nam ra đời Từ 1951 đến năm 1987 hệthống NH ở Việt nam vẫn là hệ thống NH 1 cấp, NHNN vừa đóng vai trò làNHTW vừa đóng vai trò là NHTG Hoạt động của NH đợc tiến hành trên cơ

sở kế hoạch tập trung bằng Pháp lệnh từ khâu phát hành, tín dụng cho đếncung ứng tiền mặt hay nói cách khác NHNN có hai chức năng vừa là ngờiphát hành, vừa là ngời kinh doanh tiền tệ cho nên không thể quản lý đợc l-ợng tiền cung ứng Do đó mà làm tăng hơn nữa tỷ lệ lạm phát cao trongnhững năm thập kỷ 80, nhất là năm 1986 khi đó mức lạm phát lên tới xấp xỉ700%

Ngày 26 tháng 3 năm 1988 theo quyết định của Hội đồng bộ ởng(HĐBT), hệ thống NH đợc tổ chức lại thành hai cấp với mục tiêu là tăngcờng chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ của NHNN, chức năng kinh doanhtiền tệ của các NHTM

tr-Cho đến 5/1990 với việc ban hành 2 Pháp lệnh về NH - đánh dấu bớcchuyển đổi căn bản và toàn diện hoạt động NH ở Việt nam Hệ thống NH 2cấp chính thức ra đời: NHNN là NHTW thực hiện chức năng độc quyềnphát hành tiền, quản lý Nhà nớc về tiền tệ, tín dụng, thanh toán ngoại hối vàNH; các NH chuyên doanh thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ trực tiếpvới nền kinh tế Cho đến hiện nay, ngành NH đã trở thành một hệ thống vớinhiều loại hình tổ chức tín dụng(TCTD), đa dạng về hình thức sở hữu vớimạng lới trải khắp các tỉnh, thành phố từ thành thị đến nông thôn Đó là 6NHTM quốc doanh, 47 NHTM cổ phần, 4 NH liên doanh, 31 chi nhánh của

26 NHTM nớc ngoài và hàng trăm quỹ tín dụng nhân dân

NHTM quốc doanh đợc thành lập băng 100% vốn của Ngân sách Nhànớc và giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh doanh tiền tệ nớc ta, NHTM

cổ phần đợc thành lập dới hình thức công ty cổ phần

Nhìn chung NHTM với t cách là một doanh nghiệp chuyên kinhdoanh tiền tệ hoạt động trên cơ sở “đi vay” để “ cho vay” thông qua nghiệp

vụ tín dụng của mình nhằm đẩy nhanh quá trình sản xuất và lu thông tiền tệ

Do đó các NHTM ra đời là một tất yếu khách quan và có ý nghĩa đặc biệt

Trang 11

quan trọng trong nền kinh tế nớc ta hiện nay đó là nền kinh tế hàng hoá theocơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc.

II Hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt nam.

1 Tình hình kinh tế n ớc ta trong những năm vừa qua.

Trong thời kỳ nền kinh tế nớc ta thực hiện chính sách kinh tế đóng thìtình trạng trì trệ, kém phát triển của một cơ chế quan liêu bao cấp đã ảnh h-ởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế của đất nớc

Cho đến 1987 nớc ta xoá bỏ bao cấp, thực hiện nền kinh tế mở, nềnkinh tế nớc ta đã có những bớc chuyển mình đáng kể Cùng với sự phát triểncủa nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ theo cơ chế thị trờng dới sự quản lý củaNhà nớc tốc độ tăng trởng kinh tế nớc ta đạt đợc những chỉ số quan trọng

Đó là đỉnh cao tăng trởng năm 1995 là 9,5%, năm 1996 là 9,34%, năm 1997

là 8,8% Tuy nhiên trong những năm gần đây tốc độ tăng trởng nền kinh tếnớc ta giảm hẳn do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đầutháng 7/1997 tại Thái lan năm 1998 là 5,8%, năm 1999 là 4,8%, năm 2000

là 6,75% và năm 2001 là 6,8% Với những biến đổi của nền kinh tế hệ thống

NH nớc ta cũng có nhiều biến đổi đặc biệt là hoạt động tín dụng của cácTCTD kinh doanh tiền tệ trong đó vai trò chính là các NHTM Với nhữngchính sách lãi suất huy động và cho vay phù hợp kết hợp với những chuyểnbiến lớn trong các dịch vụ ngân hàng nhằm thu hút vốn đầu t trong và ngoàinớc, đồng thời ổn định tiền tệ, hạn chế lạm phát Tuy nhiên nền kinh tế Thếgiới cũng có những ảnh hởng nhất định đến nền kinh tế Việt nam Tính đếnnăm 2001 tổng đầu t toàn xã hội năm 2001 = 30% GDP tăng gần 16,8% sovới năm 2000, vốn đầu t nớc ngoài chiếm 20% tổng số và tăng 4,2% so vớinăm 2000

Hiện nay, Nhà nớc ta đang có những cải tiến đáng kể trong việc tạo ramôi trờng pháp lý ổn định cho hoạt động NH nói riêng và nền kinh tế nóichung nhằm phát triển kinh tế đa nền kinh tế nớc ta hội nhập với nền kinh tếkhu vực và thế giới

2 Hoạt động tín dụng của các NHTM Việt nam trong thời gian qua.

Hệ thống các NHTM Việt nam ra đời khi thời kỳ Pháp lệnh 5/1990.Sau hơn 10 năm xây dựng và trởng thành cùng với tăng trởng của hoạt độngdịch vụ ngân hàng, hệ thống các NHTM từng bớc đã đợc kiện toàn lànhmạnh Đó là 6 NHTM quốc doanh với 100% vốn sở hữu Nhà nớc, 47NHTM cổ phần trong đó NHTM quốc doanh chiếm thị phần hơn cả Về vốnhuy động NHTM quốc doanh chiếm tới 75%, NHTM cổ phần chiếm gần10%, chi nhánh NH nớc ngoài và liên doanh chiếm khoảng trên 11% Về

đầu t vốn cho vay vốn NHTM quốc doanh chiếm gần 80%, NHTM cổ phầnchiếm gần 9%, chi nhánh NH nớc ngoài và liên doanh chiếm khoảng 10%.Qua thực trạng trên cho thấy hệ thống NHTM nói chung và NHTM quốcdoanh nói riêng cùng với việc mở rộng hoạt động tín dụng từ thành thị đến

Trang 12

nông thôn, đối với các thành phần kinh tế, nâng cao chất lợng sản phẩm tíndụng, phơng tiện thanh toán hay các dịch vụ NH khác, nhiều NH có d nợhàng năm cao đã, đang và sẽ góp phần không nhỏ vào việc huy động vốn đểphát triển kinh tế đất nớc.

Hơn nữa, nớc ta đang trên con đờng hớng tới CNH – HĐH đất nớc Để

đa đất nớc hoà nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới thì vấn đề nguồn vốn

là vấn đề đợc đặt ra cấp bách đặc biệt ở nớc ta thị trờng chứng khoán chaphát triển mạnh, do đó vị trí của NHTM trong nền kinh tế với chức năng vàvai trò vô cùng quan trọng trong việc huy động vốn và sử dụng vốn nh thếnào có hiệu quả, phát huy tốt vai trò “ là kênh dẫn vốn” từ ngời thừa vốn đếnngời thiếu vốn Trong tất cả các nghiệp vụ của các NHTM thì nghiệp vụ tíndụng giữ vai trò quan trọng nhất Đây chính là một trong những cơ sở để

đánh giá sự phát triển của một NHTM Việc huy động vốn và sử dụng vốncủa các NHTM này thông qua những cơ chế thích hợp nhằm tạo ra sự cân

đối cho nền kinh tế Bên cạnh những thành tựu đạt đợc của hệ thống NHTMViệt nam còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục Thông qua thực trạnghoạt động tín dụng của các NHTM Việt nam phần nào thấy đợc nhữngthành tựu và những hạn chế trên các mặt huy động vốn và sử dụng vốn.1.1 Huy động vốn

Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng của các NHTM, thông quanghiệp vụ này mà các NHTM có thể phát huy đợc tác dụng của lợng vốnnhàn rỗi trong nền kinh tế với t cách là TGTD Việc huy động vốn của cácNHTM Việt nam cũng nh hệ thống các NHTM nói chung đó là việc nhậntiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng kể cả việc đi vay mợn từ nớc ngoài, các TCTDkhác

Thực tế việc huy động vốn thông qua hệ thống NHTM ở nớc ta trongnhững năm qua đang ngày càng đợc mở rộng, số tiền gửi vào ngân hàng caohơn các tổ chức t nhân làm cho lòng tin của ngời có tiền gửi vào ngân hàng

đợc tăng lên.Từ đó ngân hàng đã giải quyết tơng đối tốt vốn đầu t cho nềnkinh tế nớc ta Sau khi hệ thống ngân hàng đợc tách làm 2 cấp thì chức năngkinh doanh tiền tệ của NHTM Việt nam đợc thể hiện rõ nét hơn Cụ thể là:tổng nguồn vốn huy động của các NHTM năm 1993 đạt hơn 15.000 tỷ đồng,tăng 8% so với năm 1992 trong đó nguồn vốn huy động kỳ phiếu tăng 281%

= 688 tỷ Số d tiết kiệm và kỳ phiếu đạt 3.918 tỷ đồng chiếm 26% tổngnguồn huy động Tiền gửi ngoại tệ chiếm khoảng 47% tổng nguồn huy

Trang 13

trên cơ sở thực hiện đúng nh tinh thần của luật NHNN và luật các TCTD vừamới ban hành Kết quả là cơ cấu tổng phơng tiện thanh toán có sự thay đổitích cực.Tỷ trọng tiền gửi tại các NHTM tăng cao trong đó tỷ trọng tiền gửi

có kỳ hạn đang ở mức 41% năm 1997 đã tăng lên mức 50,6% năm 1998.Mặc dù lãi suất tiền gửi và lãi suất huy động vốn liên tục giảm xuống tớimức rất thấp trong năm 1999( lãi suất không kỳ hạn là 0,1 đến 0,15%/tháng, tiền gửi 3 tháng là 0,3%/tháng, tiền gửi 6 tháng là 0,4 đến0,45%/tháng Tuy vậy nguồn vốn huy động vào các NHTM vẫn tăngnhanh, tổng nguồn vốn huy động đến 9/1999 tăng 19% trong đó vốn huy

động bằng ngoại tệ tăng 17,5%, vốn huy động bằng nội tệ tăng 23,5% sovới năm 1998 Năm 2000 tổng số d nguồn vốn huy động tăng gấp 1.250 lần

so 1986, gấp 21 lần so năm1990

Cho đến năm 2001 thì tốc độ huy động vốn giảm, tính đến cuối năm

2001 huy động vốn đạt 24,43%( năm 2000 là 33,2%) đặc biệt tốc độ tănghuy động bằng ngoại tệ là do tác dụng của diễn biến lãi suất ngoại tệ trên thịtrờng liên tục giảm trong năm 2001

Có thể thấy tiền gửi tại NHTM( nghìn tỷ VND) qua bảng sau:

Năm 1999 2000 2000 2000 2000 2001 2001 2001 Tháng 12 3 6 9 12 3 6 8 1.Tiền gửi của

khối DN

- Bằng VND

37,8 41,8 45,5 49,7 59,4 58,0 59,8 62,3

- Bằng ngoại tệ 21,2 23,1 24,3 25,3 25,2 30,1 32,8 35,1 Trong đó tiền gửi

ngoại tệ thanh toán

ngoại tệ thanh toán

0,6 0,7 0,7 0,8 3,3 1,4 1,3 2,1 Nguồn IMF-Vietnm

Có thể thấy rằng từ sau khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nềnkinh tế Việt nam tăng trởng chậm lại, cầu về tín dụng giảm sút, Chính phủViệt nam đã thực hiện giảm lãi suất để kích cầu, trong khi đó các NHTMphải giảm lãi suất VND để giảm tình trạng vốn chảy vào quá mức gây nêntình trạng ứ đọng vốn tại các NH, các doanh nghiệp rất cần vốn mà e ngại

đầu t

Ngày đăng: 19/02/2014, 10:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w