Dựa trên kết quả của các đợt nghiên cứu từ năm 2003 đến năm 2007, sử dụng kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu chim truyền thống và các phương pháp hiện đại, chúng tôi đã đưa ra những
Trang 1Dẫn liệu mới về thành phần loài chim ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Nguyễn Lân Hùng Sơn*, Nguyễn Thanh Vân
Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 136 Xuân Thủy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 26 tháng 04 năm 2010
Tóm tắt Đa dạng loài có tầm quan trọng đặc biệt vì nó tạo ra khả năng phản ứng và thích nghi tốt
hơn cho cả quần xã sinh vật đối với những thay đổi của điều kiện ngoại cảnh Chức năng sinh thái của một số loài có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc của cả hệ sinh thái Qua thời gian nghiên cứu lâu dài đã xác định ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ có 257 loài chim thuộc 158 giống,
55 họ và 18 bộ Trong đó, có 17 loài chim quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gien Nhiều dẫn liệu mới về phân loại và sắp xếp hệ thống danh lục chim đã được bàn luận Khu hệ chim có tính đặc trưng của hệ sinh thái núi đá vôi xen kẽ núi đất ở vùng phân bố chim Tây Bắc nhưng có sự giao thoa với vùng Đông Bắc Cần tiếp tục ứng dụng phương pháp bắt thả chim bằng lưới mờ để theo dõi quản lý các loài chim hoang dã ở đây trong thời gian dài và liên tục Vườn Quốc gia Xuân Sơn
có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái và là nơi học tập nghiên cứu ngoài thiên nhiên tốt cho học sinh, sinh viên các trường
Từ khóa: khu hệ chim, lưới mờ, quý hiếm.
1 Mở đầu∗
Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Sơn có tổng
diện tích 15.048 ha, nằm ở phía tây của huyện
Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Nơi đây có hệ sinh thái
rừng núi đá vôi xen núi đất gần như nguyên
sinh ở vùng Tây Bắc Việt Nam và là điểm kết
thúc của dãy Hoàng Liên Sơn Chính vì vậy,
khu hệ chim ở đây khá đặc biệt và mang tính
đặc trưng cho một khu vực ở vùng Tây Bắc, trải
rộng trên nhiều dạng sinh cảnh khác nhau
Dựa trên kết quả của các đợt nghiên cứu từ
năm 2003 đến năm 2007, sử dụng kết hợp giữa
các phương pháp nghiên cứu chim truyền thống
và các phương pháp hiện đại, chúng tôi đã đưa
ra những kết quả đầy đủ nhất nhất về thành
phần loài chim ở VQG Xuân Sơn và một số
bàn luận về phân loại học, đặc điểm cấu trúc
Tác giả liên hệ ĐT: 3.7549530
E-mail: sonnlh@yahoo.com
thành phần loài và tính độc đáo của khu hệ chim ở đây
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Chúng tôi thực hiện
nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ với tọa độ địa lý: 21030’ đến
21000’ vĩ độ Bắc và 104052’ đến 105012’ kinh
độ Đông Việc điều tra được tiến hành trên năm tuyến nghiên cứu chính: Tuyến 1 (3,7 km): từ xóm Dù đến xóm Lấp và đến xóm Cỏi Tuyến 2 (5,3 km): từ xóm Dù đến xóm Lạng và đến xóm Lùng Mằng Tuyến 3 (3,5 km): từ xóm Dù lên đỉnh núi Ten Tuyến 4 (4 km): từ xóm Cỏi lên khu vực núi Cẩn Tuyến 5 (7,3 km): từ xóm Cỏi đến bến Thân, xã Đồng Sơn
1
Trang 2Bên cạnh đó, chúng tôi đã tiến hành đặt 3 trại
tại khu vực núi Ten và 1 trại tại khu vực núi Cẩn
để dựng 10 lưới mờ bắt thả chim Tại mỗi khu
vực các lưới được dựng ở các khoảng độ cao
khác nhau
- Thời gian nghiên cứu: Trong suốt thời gian
từ năm 2003 đến 2007 chúng tôi đã tiến hành 12
đợt khảo sát, tổng số thời gian nghiên cứu ngoài
thực địa là 130 ngày Việc phân tích mẫu vật và
thông tin thực địa được tiến hành tại Bảo tàng
Sinh vật, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Bảo
tàng Sinh vật, trường Đại học Khoa học Tự nhiên
- ĐHQGHN và đối chiếu mẫu vật lưu giữ tại Bảo
tàng Lịch sử Tự nhiên ở Paris và Toulouse của
Pháp, ở London và Tring của Anh, ở Bruxel của
Bỉ Phân tích tiếng chim tại Trung tâm âm sinh
học (CEBA) ở Pháp
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính được sử dụng nghiên
cứu chim tại VQG Xuân Sơn là quan sát chim
ngoài thiên nhiên với sự hỗ trợ của các phương
tiện nghiên cứu như ống nhóm Swarovski SLC
7x42, Scopes Vortex Stokes Sandpiper 20x60,
máy ảnh Nikon gắn tele 300 có ống nối Bên
cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng một số băng
tiếng chim để dụ chim đến gần dễ quan sát hoặc
nhằm khẳng định sự tồn tại hay không tồn tại của
một số loài chim quan tâm ở khu vực
Sử dụng 10 lưới mờ (mist-nets) loại 4 tay
lưới, dài 12 m, cao 2,6 m, mắt lưới 15x15mm của
Italia sản xuất (do Bảo tàng LSTN quốc gia Paris,
Pháp cung cấp) để bắt thả chim Các lưới được
đặt ở các độ cao khác nhau thuộc khu vực núi
Ten, núi Cẩn và cắt ngang qua các sinh cảnh rừng
đặc trưng Thời gian mở lưới trong ngày tùy
thuộc vào mùa và điều kiện thời tiết cho phép
Sau 30-40 phút lưới được kiểm tra một lần Chim
được gỡ ra khỏi lưới một cách nhẹ nhàng đúng
kỹ thuật để hạn chế tối đa việc làm tổn thương
chim
Để xác định nhanh các loài chim ngoài thực
địa chúng tôi có tham khảo một số sách hướng
dẫn về nhận dạng chim khu vực Đông Nam Á và
Việt Nam có hình vẽ màu được chỉ dẫn chi tiết [1,2]
Đối với các loài chim cần phân tích định loại
kỹ, chúng tôi tiến hành chụp hình, thu mẫu và đối chiếu với mẫu vật tại bảo tàng và các sách tra cứu
Danh lục chim sắp xếp theo hệ thống phân loại được đề xuất bởi Monroe-Ahlquist-Monroe (SAM) [3] và sử dụng trong Danh lục chim thế giới (Dickinson ed., 2003) [4] Vị trí phân loại và danh pháp của các loài tùy từng trường hợp chúng tôi sẽ có bàn luận thêm
Tên phổ thông của các loài được lấy theo tài liệu Danh lục chim Việt Nam [5]
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Cấu trúc thành phần loài chim
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu chim ở VQG Xuân Sơn trước đây
và sau một quá trình điều tra lâu dài, áp dụng các phương pháp truyền thống và hiện đại, có
đủ độ tin cậy, đã xác định được ở VQG Xuân Sơn có 257 loài chim thuộc 158 giống, 55 họ,
18 bộ Trong đó, sử dụng lưới mờ, chúng tôi đã bắt thả được 82 loài chim thuộc 15 họ, 5 bộ Cấu trúc thành phần loài chim được thể hiện trong bảng 1
So sánh với danh lục chim chúng tôi công bố lần đầu vào cuối năm 2005 [6], danh lục mới đã
Trang 3bổ sung thêm 74 loài chim.
Trên cơ sở tham khảo các tài liệu mô tả
những đặc trưng của khu hệ động vật ở các
vùng địa lý sinh vật trên thế giới, chúng tôi cho
rằng khu hệ chim ở VQG Xuân Sơn mang ít
nhiều yếu tố địa động vật của phân miền Trung
Quốc - Mãn Châu chuyển tiếp sang vùng Ấn
Độ - Malayxia Một số loài chim điển hình của
khu vực nằm trong các họ như Trĩ
(Phasianidae), Vành khuyên (Zosteropidae),
Khướu (Timaliidae), Bồng chanh (Alcedinidae)
Tuy nhiên, yếu tố địa lý động vật của miền Ấn
Độ - Malayxia hay Phương Đông (Oriental)
được thể hiện rõ nét hơn ở đây với các dạng
chung với Ethiopia như họ Hồng hoàng
(Bucerotidae), họ Hút mật (Nectariniidae)
Những yếu tố của phân miền Ấn Độ trong miền
Phương Đông được thể hiện với sự xuất hiện
của nhiều loài chim thuộc họ Gõ kiến (Picidae),
họ Sáo (Sturnidae)
Bảng 1 Cấu trúc thành phần loài chim ở VQG
Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
TT Tên bộ Số họ giống Số loài Số
1 Bộ Gà
2 Bộ Ngỗng
3 Bộ Hạc
4 Bộ Cắt
5 Bộ Sếu
6 Bộ Cun cút
7 Bộ Rẽ
8 Bộ Bồ câu
9 Bộ Vẹt
10 Bộ Cu cu
11 Bộ Cú
12 Bộ Cú muỗi
13 Bộ Yến
14 Bộ Nuốc
15 Bộ Sả
16 Bộ Hồng hoàng
17 Bộ Gõ kiến
18 Bộ Sẻ
Trang 4VQG Xuân Sơn nằm ở vùng phân bố chim
Tây Bắc ở Việt Nam (Võ Quý, Nguyễn Cử,
1995) nhưng liền kề với vùng Đông Bắc Vì
vậy, khu hệ chim ở đây khá đa dạng và mang
những đặc trưng giao thoa về thành phần loài
chim giữa hai vùng phân bố này Những đại
diện điển hình của rừng mưa nhiệt đới cũng
thấy nhiều ở VQG Xuân Sơn như Thiên đường
đuôi phướn (Terpsiphone paradisi), Vẹt ngực
đỏ (Psittacula alexandri), Nuốc bụng đỏ
(Harpactes erythrocephalus)… Việc quan sát
thấy một số loài chim xuất hiện ở VQG Xuân
Sơn đã bổ sung mở rộng vùng phân bố của
chúng so với Danh lục Chim Việt Nam, 1995
Có 9 loài được bổ sung vùng phân bố bao gồm:
Đớp ruồi cằm xanh (Cyornis rubeculoides),
Đớp ruồi hải nam (Cyornis hainanus), Hoét
vàng (Zoothera citrina), Chích đớp ruồi mày
đen (Seicercus affinis), Chích bông đầu vàng
(Orthotomus cuculatus), Chích mày lớn
(Phylloscopus inornatus), Hút mật đuôi nhọn
(Aethopyga christinae), Bắp chuối mỏ dài
(Arachnothera longirostra) và Di xanh
(Erythrura prasina) Có 4 loài chim được bổ
sung thêm vào Danh lục Chim Việt Nam (1995)
là: Chích lưng vàng (Phylloscopus
chloronotus), Oanh đầu hung (Luscinia
ruficeps), Cành cạch hung (Hemixos
castanonotus), Chích bianchi (Seicercus
valentini) Cùng với nỗ lực nghiên cứu của các
nhà khoa học trong và ngoài nước, tính đến
năm 2009, số loài chim hiện biết ở Việt Nam đã
lên tới 880 loài chim [7]
Đây cũng là khu vực đáng chú ý với sự
xuất hiện của nhiều loài chim ăn thịt thuộc bộ
Cắt như Diều mào (Aviceda leuphotes), Diều
hâu (Milvus migrans), Ưng ấn độ (Accipiter
trivirgatus), Ưng xám (A.badius), Cắt lớn
(Falco peregrinus), Cắt lưng hung
(F.tinmunculus), Cắt bụng hung (F.severus).
Năm 1999, trong lần điều tra thực địa ở khu vực
núi Ten, Đỗ Tước và Lê Trọng Trải đã thu được
một mẫu Diều núi (Spizaetus nipalensis) hiện
đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tài nguyên
rừng, Viện ĐT&QHR
3.2 Mức độ đa dạng về các taxon
Kết quả của bảng 1 cho phép phân tích đánh giá mức độ đa dạng về thành phần loài chim ở VQG Xuân Sơn Trong khi sắp xếp danh lục chim, chúng tôi có một số thay đối so với trước đây dựa trên những kết quả mới nhất về phân loại chim Các loài chim cun cút trước đây được xếp trong bộ Sếu (Gruiformes) nay được sếp riêng ra bộ Cun cút (Turniciformes) [4] Các loài chim đầu rìu, hồng hoàng, niệc, cao cát trước đây được đặt trong bộ Sả (Coraciiformes) nay được tách ra riêng thành bộ Hồng hoàng (Bucerotiformes) [8] Bộ này bao gồm 4 họ: Upupidae, Phoeniculidae, Bucerotidae, Bucorvidae Một số loài chim cũng được sắp xếp vào những họ chim mới Họ Chim xanh (Irenidae) trước đây được chia thành 3 họ gồm: Aegithinidae, Irenidae và Chloropseidae Một
số loài như Đớp ruồi xanh gáy đen, Thiên đường đuôi phướn trước đặt trong cùng họ với
Rẻ quạt nay được tách thành hai họ: Rẻ quạt (Rhipiduridae) và Thiên đường (Monarchidae) [4] Các loài chim chiền chiện, chích bông trước được đặt trong họ Chim chích (Sylviidae) nay được xếp vào một họ riêng là họ Chiền chiện (Cisticolidae) [4] Các loài chim thuộc giống
Phylloscopus và Seicercus trước đây được đặt
trong họ Chim chích (Sylviidae) nay được tách
ra sếp vào một họ riêng là họ Chích phylo (Phylloscopidae) [9] Một số loài chim hoét, sáo đất… trước đây được đặt trong họ Chích chòe này được tách riêng đặt trong họ Hoét (Turdidae) Nhưng ngược lại, các loài oanh, chích chòe, đớp ruồi lại được gộp trong họ Đớp ruồi (Muscicapidae) Một số loài có sự thay đổi giống Ví dụ: loài Khướu mào bụng trắng trước
đây đặt trong giống Yuhina nay được đổi sang giống Erpornis và có tên khoa học mới là
Erpornis zantholeuca[10]
Trang 5Trong các bộ chim hiện biết ở khu vực
nghiên cứu, bộ Sẻ luôn là bộ đa dạng nhất về
loài (163 loài), về giống (67 giống) và về họ (31
họ) Bộ đa dạng thứ hai về loài là bộ Sả và bộ
Gõ kiến, mỗi bộ đều có 12 loài Xét đa dạng về
loài trong các họ chim Họ Khướu (Timaliidae)
đa dạng nhất với 27 loài Tiếp đến là họ Đớp
ruồi (Muscicapidae) với 26 loài Sự đa dạng của
những loài chim trong hai họ này cũng thể hiện
tính đặc trưng của hệ sinh thái rừng núi đá vôi
xen kẽ núi đất ở VQG Xuân Sơn
3.3 Những loài chim quý hiếm có giá trị
bảo tồn nguồn gien
Trong tổng số 257 loài ghi nhận được ở
VQG Xuân Sơn, chúng tôi đã thống kê được có
17 loài chim quý hiếm, có giá trị bảo tồn cao,
bao gồm:
- 9 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP
của Chính phủ, gồm có: 2 loài thuộc nhóm IB
(nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích
thương mại) và 7 loài thuộc nhóm IIB (hạn chế
khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại)
- 7 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007)
[11], gồm: 1 loài bậc EN (bị đe dọa nguy cấp),
3 loài ở bậc VU (bị đe dọa sẽ nguy cấp), 2 loài
LR (ít nguy cấp) và 1 loài còn thiếu dẫn liệu
(DD)
- 7 loài trong Danh lục Đỏ thế giới IUCN
(2010) [12] bậc LR/lc hay LC (đe dọa ở mức độ
ít quan tâm)
Các loài chim quý hiếm được thể hiện cụ
thể trong bảng 2
Bảng 2 Các loài chim quý hiếm có giá trị bảo
tồn nguồn gien ở VQG Xuân Sơn
Tình trạng bảo tồn
NĐ3 2/
2006
SĐVN
2007 IUCN2010
6 Dù dì phương đông IIB
12 Gà tiền mặt vàng IB VU
16 Diều hoa miến điện IIB
17 Cú lợn lưng nâu IIB VU
Quá trình điều tra nghiên cứu thực tế tại VQG Xuân Sơn cho thấy 23 loài chim có giá trị bảo tồn nguồn gien trên đều có số lượng cá thể
ít, rất hiếm gặp Nhiều loài chỉ còn thấy được di vật để lại trong dân địa phương hoặc lưu giữ tại các bảo tàng
4 Kết luận
Đã xác định được ở VQG Xuân Sơn có 257 loài chim thuộc 158 giống, 55 họ và 18 bộ Trong đó có 9 loài chim được mở rộng vùng phân bố và 4 loài chim bổ sung thêm cho Danh lục chim Việt Nam (1995) là: Chích lưng vàng
(Phylloscopus chloronotus), Oanh đầu hung (Luscinia ruficeps), Cành cạch hung (Hemixos
castanonotus), Chích bianchi (Seicercus valentini).
Bộ Sẻ đa dạng thành phần loài nhất với 163 loài, tiếp đến là bộ Sả và bộ Gõ kiến, mỗi bộ có
12 loài Họ đa dạng nhất về loài là họ Khướu với 27 loài, tiếp đến là họ Đớp ruồi (26 loài)
Trang 6Thành phần loài chim ở VQG Xuân Sơn đa
dạng và mang tính giao thoa giữa vùng phân bố
chim Tây Bắc và Đông Bắc ở Việt Nam
Có 17 loài chim quý hiếm có giá trị bảo tồn
nguồn gien trong đó: 9 loài trong Nghị định
32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, 7 loài trong
Sách Đỏ Việt Nam (2007), 7 loài trong Danh
lục Đỏ thế giới IUCN (2010)
Lời cảm ơn
Đề tài có sự hỗ trợ kinh phí của đề tài đặc
biệt cấp ĐHQGHN mã số QG.05.23 và sự giúp
đỡ hợp tác của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc
gia Paris, Pháp, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên
London tại Tring, Anh và nhiều chuyên gia
trong và ngoài nước
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, Karen Philipps,
Chim Việt Nam, NXB Lao động-Xã hội, Hà
Nội, 2000.
[2] Robson C., A field guide to the bird of
South-East Asia (Thailand, Peninsular Malaysia,
Singapore, Myanmar, Laos, Vietnam,
Campodia), New Holland publishers (UK)
Ltd., 2000
[3] C.G Sibley and J.A Ahlquist, Phylogeny and
classification of birds, Yale University Press,
New Haven, 1990.
[4] Dickinson E.C (editor), The Howard and
Moore, Complete Checklist of the Bird of the
world, 3rd edition, Princeton University Press, Princeton, New Jersey, 2003
[5] Võ Quý, Nguyễn Cử, Danh lục Chim Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995.
[6] Ngô Xuân Tường, Lê Đình Thủy, Nguyễn Lân Hùng Sơn, Thành phần loài chim ở Vườn Quốc
gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, trong Kỷ yếu báo cáo Hội nghị toàn quốc Những vấn đề Nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, NXB Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr.328-331, 2005.
[7] Nguyễn Cử, Các loài mới bổ sung cho Danh lục chim Việt Nam Kỷ yếu Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 3 về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, NXB Nông nghiệp, tr.50-55, 2009
[8] S.J Hackett et all., A phylogenomic study of
birds reveals their evolutionary history, Science
320(5884): 1763-1768, 2008.
[9] Alström Per., Ericson Per., Olsson, Urban&Sundberg Per., Phylogeny and classification of the avian superfamily
Sylvioidea, Molecular Phylogenetics and
Evolution 38 (2): 381-397, 2006
[10] Cibois Alice, Kalyakin Milkhail V., Lian-XianHan and Pasquet Eric, Molecular phylogenetics of babblers (Timaliidae): revaluation of the genera Yuhina and
Stachyris, Journal Avian Biology 33: 380-390,
2002
[11] Bộ Khoa học và Công nghệ, Sách Đỏ Việt Nam,
Phần Động vật, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2007.
[12] IUCN, The IUCN Red List of Threatened Species 2010.1, source: www.iucnredlist.org, 2010.
New results of the survey of the avifauna in the Xuan Son
National Park, Phu Tho Province
Trang 7Nguyen Lan Hung Son, Nguyen Thanh Van
Faculty of Biology, Hanoi National University of Education, 136 Xuan Thuy, Hanoi, Vietnam
Abstract Survey on the birds of the Xuan Son National Park in Phu Tho province, northwest
Vietnam was carried out for a long time between 2003 and 2007 We recorded 257 species belonging
to 158 genus, 55 families and 18 orders Among them, 7 threatened species were listed in the Red Data Book of Vietnam, 2007 Also, there were 9 species listed in the Decree No 32/2006/ND-CP of the government: 2 species in group IB (strictly prohibited on exploitation and use) and 8 species in the group IIB (limited on exploitation and use) and 7 species listed in IUCN Redlist, 2010 There are 4 bird species were added new for Checklist of birds of Vietnam (1995)
The bird capture by mist-nets could give us an insight into the health and the demography of the studied bird population To estimate the evolution trends and the health status of the bird’s community
in Xuan Son national park, it was necessary to continue this study for a long period Recording more sing and call of birds will be helpful for eco-tourism developing in national park
Keywords: avifauna, threatened species, mist-nets