1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tình hình và triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới

9 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 137 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luồng FDI vào trong nước và ra nước ngoài của các nền kinh tế và các khu vực Luồng vốn FDI vào các khu vực và các nền kinh tế đang phát triển tiếp tục tăng nhanh.. Tại châu Phi, FDI năm

Trang 1

Tình hình và triển vọng đầu tư trức tiếp nước ngoài trên thế giới

Từ năm 2004 đến 2006, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã liên tục tăng Năm 2005, FDI trên thế giới đạt 916,3 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2004 và năm 2006, đạt trên 1.200 tỷ USD, tăng 34,3 % so với năm 2005

Tương tự như xu hướng của những năm 90, sự tăng lên đột ngột của FDI cho thấy mức độ ngày càng tăng của hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) qua biên giới, đặc biệt là tại những nước phát triển Điều này cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng cao hơn của các nền kinh tế phát triển và đang phát triển Ngoài ra, sự tự do hoá trong chính sách đầu tư và thương mại cũng thúc đẩy FDI trên toàn thế giới Tuy nhiên, tại một số nước châu Phi và châu Mỹ Latinh, chính sách chung có một số thay đổi đáng kể theo hướng đề cao vai trò của Nhà nước Điều này ảnh hưởng đến một số ngành của nền kinh tế, đặc biệt là các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên Tuy vậy, FDI thế giới năm 2005 trong ngành khai thác đá và dầu mỏ vẫn tăng lên đáng kể Nhu cầu cao về khai thác tài nguyên thiên nhiên và cơ hội kiếm lợi nhuận trong các ngành sơ cấp sẽ vẫn thu hút thêm FDI vào những ngành này

1 Luồng FDI vào trong nước và ra nước ngoài của các nền kinh tế và các khu vực

Luồng vốn FDI vào các khu vực và các nền kinh tế đang phát triển tiếp tục tăng nhanh Năm 2006, luồng vốn FDI vào khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á đạt 186,7 tỷ USD, chiếm 22% tổng FDI toàn cầu, tăng 13,1% so với năm 2005 2/3 FDI vào khu vực này là vào Trung Quốc (36 tỷ USD) và Đông Nam Á (37 tỷ USD), bao gồm Xingapo (20 tỷ USD), Inđônêxia (5 tỷ USD), Malaixia và Thái Lan (mỗi nước 4 tỷ USD) Dòng vốn vào khu vực Nam Á thấp hơn nhiều (10 tỷ USD) chủ yếu là đầu tư vào Ấn Độ (7 tỷ USD) Ngoài ra, FDI tại khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á vào các ngành sản xuất ngày càng tăng Một số ngành thu hút được nhiều FDI là lắp ráp ô tô, điện tử, luyện kim và công nghiệp dầu khí

FDI vào Tây Á cũng có chiều hướng tăng Năm 2006, FDI vào khu vực này đạt 43,3 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2005 Giá dầu lên cao và kinh tế khu vực tăng trưởng tốt là những nhân tố chính dẫn đến việc đầu tư vào khu vực này tăng lên đáng kể Một lý do nữa là thủ tục đầu tư tại các nước này ngày một thông thoáng hơn, đặc biệt là đối với FDI của tư nhân trong lĩnh vực dịch vụ FDI vào khu vực Tây Á chủ yếu vào các ngành dịch vụ, bao gồm bất động sản, du lịch và các dịch vụ tài chính FDI cũng được thu hút vào một số ngành sản xuất, đặc biệt là ngành dầu khí

Năm 2006, FDI vào khu vực Châu Mỹ Lalinh và Caribê đạt 99 tỷ USD, giảm 4,5% so với năm 2005 Tỷ trọng FDI vào các ngành dịch vụ của khu vực này tiếp tục giảm (từ 40% năm

2004 xuống 35% năm 2005), thấp hơn nhiều so với các khu vực khác Các ngành sản xuất chiếm 40% FDI vào khu vực, chủ yếu thông qua một số lượng lớn các vụ sáp nhập Mặc dù nhiều nước trong khu vực Mỹ Latinh đã áp dụng một số biện pháp hạn chế, FDI vào các ngành sơ cấp vẫn chiếm khoảng gần 25% tổng FDI vào khu vực

Vốn FDI vào khu vực Nam và Đông Âu và các nước SNG năm 2006 vẫn duy trì ở mức cao (62 tỷ USD), tăng 56,2% so với năm 2005 Ba nước thu hút nhiều FDI nhất trong khu vực là Nga, Ucraina và Rumani, chiếm 3/4 tổng FDI vào toàn khu vực

Tại châu Phi, FDI năm 2006 đạt cao hơn so với mức kỷ lục năm 2005, đặc biệt là trong ngành dầu mỏ với lượng vốn đầu tư từ cả các nước phát triển lẫn một số nước đang phát triển Luồng vốn FDI vào các nước phát triển năm 2006 đạt 800 tỷ USD, tăng 48% so với năm

2005 Năm 2005, Anh nhận 165 tỷ USD từ đầu tư trực tiếp nước ngoài, đứng đầu trong danh sách các nước nhận FDI nhiều nhất, tiếp đến là Mỹ Tuy nhiên, năm 2006, Mỹ đã khôi phục lại vị trí là nước nhận FDI nhiều nhất trên thế giới với mức gần 190 tỷ USD, tăng 80 tỷ so với

Trang 2

năm 2005 Tăng trưởng FDI của các nước phát triển đóng góp 59% tổng mức tăng trưởng FDI toàn cầu so với mức 36% của các nước đang phát triển Năm 2006, 25 nước thành viên của Liên minh châu Âu (EU) nhận khoảng 589,8 tỷ USD, chiếm gần một nửa FDI toàn cầu Năm 2006, những nước phát triển tiếp tục là những nước đầu tư ra nước ngoài chủ yếu trên thế giới Bên cạnh đó, đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển cũng tăng lên đáng

kể Từ mức đầu tư rất nhỏ, thậm chí không đáng kể vào giữa những năm 80, luồng vốn đầu tư

ra nước ngoài của những nền kinh tế đang phát triển đạt 133 tỷ USD vào năm 2005, tương đương với 17% tổng đầu tư ra nước ngoài của toàn thế giới Những nước thuộc khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á cũng đang nổi lên thành những nhà đầu tư mới với mức đầu tư ra nước ngoài đạt 68 tỷ USD năm 2005 Trong năm 2005, chỉ tính riêng Trung Quốc, đầu tư ra nước ngoài của nước này tăng gấp 6 lần và đạt 11 tỷ USD FDI ra nước ngoài của khu vực Tây Á tăng gấp đôi với mức đầu tư cao nhất từ trước đến nay (16 tỷ USD năm 2005) FDI ra nước ngoài của khu vực Nam, Đông Âu và các nước SNG cũng tăng mạnh, đạt 15 tỷ USD, trong đó đầu tư của Nga chiếm 87% đầu tư ra nước ngoài của cả khu vực

Tóm lại, trong năm 2006 FDI đã tiếp tục tăng mạnh do kinh tế thế giới vẫn tiếp tục tăng trưởng thuận lợi, lợi nhuận công ty tăng kéo theo giá cổ phiếu tăng và các vụ sáp nhập tiếp tục diễn ra

FDI theo vùng nhận đầu tư và một số nền kinh tế chính 2004-2006

Đơn vị: Tỷ USD

Tỷ lệ tăng (%)

Các nền kinh tế đang phát triển 275,0 334,3 367,7 10,0

Châu Mỹ Latinh và Caribê 100,5 103,7 99,0 -4,5

Châu Á - Thái Bình Dương 157,3 200,0 229,9 15,0

Nam, Đông và Đông Nam Á 138,0 165,1 186,7 13,1

Nguồn: UNCTAD.

Dự báo trong giai đoạn 2007-2010, khác với giai đoạn hai năm vừa qua khi FDI tập trung

chủ yếu vào các nền kinh tế đang nổi, FDI vào các nước phát triển sẽ tăng lên đáng kể do xu hướng sáp nhập và mua lại (M&A) qua biên giới tăng FDI sẽ tập trung vào một số ngành trọng điểm như công nghệ thông tin, dịch vụ công cộng, các dịch vụ vận tải và du lịch, các sản phẩm điện, máy móc, luyện kim và khai thác tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là khai thác

Trang 3

dầu mỏ

Nhìn chung, thay vì đầu tư mở rộng sản xuất ở nước ngoài, hoạt động M&A qua biên giới vẫn sẽ là chiến lược quan trọng của các công ty xuyên quốc gia (TNC) trong năm 2007 Sức hút của các nước đang phát triển như Trung Quốc và Việt Nam vẫn được thể hiện qua tốc độ tăng GDP và mức tăng lợi nhuận công ty Các nền kinh tế tại châu Á, đặc biệt là Đông Á, giữ vai trò quan trọng trong hoạt động đầu tư trên toàn cầu Các nước nhận được đầu tư nhiều nhất vẫn là Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin và Nga Ngoài ra, một số nước có nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh như Inđônêxia, Mêhicô và Thổ Nhĩ Kỳ cũng là những điểm thu hút đầu tư khá hấp dẫn

Tuy nhiên, có một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến FDI trong thời gian tới, đó là giá dầu tiếp tục tăng cao, việc tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương và áp lực lạm phát kìm hãm

sự phát triển kinh tế của một số khu vực Sự mất cân đối giữa các nền kinh tế trên toàn cầu cũng gây nên sự bất ổn đối với hoạt động đầu tư trong thời gian tới

2 Một số đặc điểm nổi bật

- Các nước ngày càng ký kết nhiều các thoả thuận đầu tư quốc tế (IIA)

Trong vòng một thập kỷ qua, số lượng các thoả thuận đầu tư quốc tế (IIA) không ngừng tăng lên ở tất cả các cấp độ, từ song phương, khu vực, liên khu vực đến đa phương Tính đến cuối năm 2005, tổng số IIA được ký kết trên thế giới đã là hơn 5.500 hiệp định, trong đó bao gồm 2.495 hiệp định đầu tư song phương (BIT), 2.758 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTT) và 2.332 hiệp định quốc tế khác liên quan đến vấn đề đầu tư

Các IIA được ký kết trong thời gian vừa qua có một số đặc điểm nổi bật như sau :

Thứ nhất, so với các khu vực khác, Châu Á tham gia ký kết nhiều các hiệp định đầu tư quốc tế nhất, chiếm khoảng 40% số BIT đã ký của thế giới, 35% DTT và 39% các IIA khác.

Các khu vực khác thường chỉ dành ưu tiên cho việc ký kết một dạng IIA nhất định, ví dụ như khu vực châu Phi, Đông Nam Âu và các nước thuộc khối các quốc gia độc lập SNG nói chung thường ký kết nhiều các BIT và DTT, trong khi các nước Mỹ Latinh lại có ưu thế trong việc

ký kết các dạng thoả thuận IIA khác, đặc biệt là các thoả thuận tự do hoá thương mại

Điểm đáng chú ý thứ hai là các nước đang phát triển ngày càng tích cực ký kết các IIA.

Tính đến cuối năm 2005, các nước đang phát triển đã tham gia ký kết hơn 75% BIT, 58% DTT và 81% các dạng thoả thuận IIA khác Trong số 10 nước ký nhiều BIT nhất trên thế giới

có hai nước đang phát triển là Trung Quốc và Ai Cập Các nước kém phát triển nhất (LDC), mặc dù chỉ thu hút được 0,7% FDI toàn cầu nhưng cũng đã tham gia ký kết 15% BIT, 6% DTT và 15% các dạng IIA khác của toàn thế giới Không chỉ ký kết IIA với các nước phát triển, giữa các nước đang phát triển cũng ngày càng có nhiều IIA được ký kết Tính đến cuối năm 2005, các nước đang phát triển đã ký với nhau 644 BIT, 299 DTT và 86 IIA khác, tăng gấp 10 lần so với thời điểm năm 1990

Thứ ba, các IIA mới ký kết trong thời gian gần đây có xu hướng ngày càng có nội dung phức tạp hơn, giải thích chi tiết hơn về một số phạm trù tiêu chuẩn nhất định trong đầu tư cũng như các quy định về thủ tục liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp trong đầu

tư Nội dung các IIA ngày càng phức tạp cũng cho thấy các nhà hoạch định chính sách

ngày càng quan tâm hơn đến những điểm đồng nhất giữa các vấn đề chính sách khác nhau

và việc phải có những biện pháp đồng nhất để giải quyết các vấn đề này Việc xem xét vấn

đề đầu tư trong mối quan hệ với các vấn đề khác như thương mại, dịch vụ, sức cạnh tranh,

sở hữu trí tuệ và các chính sách ngành trong cùng một IIA sẽ giúp các nước có cái nhìn

Trang 4

bao quát đối với tất cả các khía cạnh khác nhau của hoạt động đầu tư, để từ đó xây dựng chiến lược thúc đẩy sự phát triển của tất cả các khía cạnh đó nhằm thu hút đầu tư nước ngoài và tránh tình trạng theo đuổi chính sách này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện một chính sách khác Hơn nữa, số lượng các thoả thuận đang tăng lên cho thấy rõ hơn

sự quan tâm của cộng đồng đối với những vấn đề như bảo vệ sức khoẻ, an sinh, và bảo vệ môi trường, đánh dấu một bước hướng tới việc cân bằng hơn giữa quyền của các nhà đầu

tư trong nước và nước ngoài và chú ý nhiều hơn tới các vấn đề được xã hội quan tâm

Đặc điểm thứ tư là các Hiệp định thương mại tự do (FTA) cũng đang dần được coi là một dạng IIA mới Đầu tư, đặc biệt là các quy định đầu tư quốc tế ngày càng trở thành một nội

dung quan trọng trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) cũng như các thoả thuận hợp tác kinh tế khác Trong các FTA, nội dung đầu tư thường đề cập đến các vấn đề dịch vụ, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, lao động, môi trường, doanh thu của chính phủ, yêu cầu về tính minh bạch… Việc mở rộng phạm vi các vấn đề điều chỉnh thể hiện xu thế hướng tới một cách tiếp cận đồng nhất khi xem xét các vấn đề có liên quan đến nhau trong quá trình xây dựng các quy định về đầu tư quốc tế Các điều khoản về đầu tư có trong các IIA thường khác nhau về bản chất, quy mô và nội dung các nghĩa vụ Mặc dù so với các BIT và DTT thì số lượng các IIA khác hiện tại là tương đối nhỏ nhưng so với thời điểm 5 năm trước đây, số lượng các IIA khác hiện đã tăng gấp đôi Và trong tương lai không xa, số lượng các IIA này sẽ còn tăng với tốc độ nhanh hơn Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2006 đã có ít nhất 5 FTA (một dạng IIA khác) có các điều khoản về đầu tư đã được ký kết

Việc các IIA ngày càng đa dạng hoá cả về quy mô, cấu trúc và nội dung cho thấy các quốc gia mong muốn có được sự linh hoạt hơn nữa trong việc lựa chọn các đối tác ký kết các hiệp định đầu tư cũng như để xây dựng những thoả thuận đơn lẻ trong những điều kiện cụ thể, phục vụ những mục tiêu phát triển cụ thể và đáp ứng những đòi hỏi của cộng đồng Hơn thế, việc ngày càng có nhiều các quy định về đầu tư quốc tế cũng giúp các nhà đầu tư cũng như các quốc gia hiểu rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia đầu tư quốc tế Điều này giúp cải thiện môi trường đầu tư ở nước nhận FDI và thu hẹp khoảng cách có thể có trong cách đối xử với các nhà đầu tư nước ngoài so với nhà đầu tư trong nước

Mặt khác, tính đa dạng hoá của các IIA cũng cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ các nước nhận đầu tư phải hợp tác chặt chẽ với nhau trong một khung khổ ngày càng phức tạp của các quy định về đầu tư Vì thế mà việc thiết lập và duy trì tính gắn kết của mạng lưới IIA càng trở thành một thách thức không nhỏ đối với các nước

Số lượng các IIA của các khu vực trong giai đoạn 1987-2005 và trong năm 2005

Khu vực

2005 1987-2005 2005 1987-2005 2005 1987-2005

Châu Á và châu Đại Dương 31 1.003 36 966 12 89

Đông Nam Âu và các nước

SNG

Tham khảo

Trang 5

Các nước phát triển 45 1.511 38 2.111 7 127 Các nước đang phát triển 60 1.878 53 1.604 14 185

Giữa các nước đang phát

triển

Các nước kém phát triển

nhất

Nguồn: Báo cáo đầu tư 2006, UNCTAD

- Các công ty xuyên quốc gia (TNC) ngày càng là chủ thể quan trọng đối với FDI toàn cầu

Các công ty xuyên quốc gia (TNC) tiếp tục khẳng định vai trò là chủ thể đầu tư FDI chính trên thế giới Các TNC ngày càng phát triển do hoạt động của các công ty này trải rộng trên nhiều quốc gia Tính trung bình, các TNC có chi nhánh trên 40 quốc gia Các TNC khi đầu tư thường kéo theo các công ty con, những nhà sản xuất linh kiện phụ trợ cho chính hãng TNC không chỉ có khả năng giúp hiện đại hoá một số ngành kinh tế mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho quốc gia được đầu tư, đồng thời cũng có nhiều đóng góp cho xã hội Các TNC thường đặc biệt quan tâm đến một số lĩnh vực then chốt của ngành kinh tế quốc gia như dầu khí, điện-năng lượng, ô tô - xe máy, điện - điện tử, viễn thông, công nghiệp thực phẩm, công nghệ thông tin, tài chính – ngân hàng, dịch vụ phân phối, giao thông vận tải Bên cạnh đó, do các TNC thường có tầm nhìn chiến lược xa và rộng hơn so với những nhà đầu tư nhỏ lẻ vốn dễ bị tác động bởi những điều chỉnh chính sách của nước sở tại, các TNC lựa chọn rất kỹ trước khi quyết định đầu tư Chính vì lẽ đó các TNC thường thông qua con đường chính phủ (được xem là an toàn nhất để đảm bảo chiến lược đầu tư lâu dài của mình)

Trên thế giới, TNC có trụ sở tại các nước phát triển như EU, Nhật Bản và Mỹ vẫn duy trì được vị thế thống trị Trong số 100 TNC đứng đầu thế giới có tới 85 TNC từ các nước phát triển, trong đó có 73 TNC đến từ 5 nước (Pháp, Đức, Nhật Bản, Anh và Mỹ)

Bên cạnh đó, vai trò của các TNC tại các nước đang phát triển cũng tăng lên đáng kể và góp phần thúc đẩy tăng trưởng FDI trong thời gian gần đây Năm 2005, tổng doanh thu của các TNC tại các nước đang phát triển ước tính đạt 1,9 nghìn tỷ USD và mang lại việc làm cho 6 triệu lao động Các TNC lớn của các nước đang phát triển chủ yếu nằm ở khu vực châu Á: Tất cả 77 TNC trong số 100 TNC lớn nhất tại các nước đang phát triển đều có trụ

sở tại châu Á; một số còn lại phân bố đều tại châu Phi và Mỹ Latinh Năm 2004, trong danh sách 100 TNC dẫn đầu có 5 là của các nước đang phát triển, tất cả đều có trụ sở tại châu Á,

3 trong số đó là công ty sở hữu nhà nước 5 công ty của Hồng Công (Trung Quốc) , Malaixia, Xingapo, Hàn Quốc và Trung Quốc là các công ty đứng đầu danh sách 100 TNC lớn nhất tại các nước đang phát triển

Xét theo ngành, các TNC thường chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông, dầu khí và thiết bị điện (chiếm hơn 60% các hoạt động của 100 TNC hàng đầu) Tài chính cũng là lĩnh vực chịu nhiều sự chi phối của các TNC Năm 2005, các tập đoàn lớn tiếp tục thống trị thị trường tài chính thế giới, không chỉ tính trên tổng tài sản mà cả

về các lĩnh vực hoạt động 56% các chi nhánh của 50 tập đoàn tài chính xuyên quốc gia lớn nhất đặt tại nước ngoài

Trang 6

Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) ngày càng được các TNC chú ý phát triển Điểm khác biệt giữa các nhà đầu tư bình thường và một TNC chính là bộ phận nghiên cứu và triển khai (R&D) Việc phát triển bộ phận R&D của các TNC là cả một dự án chứ không đơn thuần là bộ phận hay một phòng ban thường thấy ở các công ty và hình thành nên mạng lưới R&D riêng của các TNC Bộ phận R&D có vai trò nghiên cứu, thử nghiệm, chế tạo thử sản phẩm trước khi đưa vào thị trường toàn cầu, được các TNC coi là bộ phận cực kỳ quan trọng Các TNC dành gần 70% tổng chi tiêu cho R&D để phục vụ kinh doanh trên toàn cầu

Trong quá trình triển khai các hoạt động R&D, các TNC thường hợp tác với các nước đang phát triển Mỹ vẫn là nước hợp tác quốc tế nhiều nhất trong lĩnh vực R&D, tiếp đến là Anh, Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật Bản, Italia, Nga và Ấn Độ Xét theo khu vực, Tây Âu là nơi các TNC tiến hành nhiều hoạt động hợp tác về R&D nhất, tiếp theo là Bắc Mỹ Các TNC cũng

mở rộng hợp tác R&D với các đối tác tại các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ Các nước đang phát triển tại châu Á được các doanh nghiệp Mỹ và Tây Âu đánh giá là những điểm hợp tác R&D hấp dẫn nhất trong tương lai Trong khi đó, Tây Âu là ưu tiên số 1 của các doanh nghiệp Nhật Bản

- Sáp nhập và mua lại (M&A) có xu hướng trở thành phương thức đầu tư FDI chủ yếu trên thế giới.

Xu hướng M&A tiếp tục tăng trong những năm gần đây và đang trở thành phương thức đầu tư FDI chủ yếu trên thế giới Đó là do tốc độ tăng trưởng cao hơn ở các nước phát triển và những hoạt động kinh tế diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển Trong năm 2005, các vụ sáp nhập và mua lại xuyên quốc gia tăng mạnh cả về giá trị lẫn số lượng, đạt 716 tỷ USD (tăng 88%) và 6.134 vụ sáp nhập (tăng 20%) - gần đạt mức của năm

1999 (năm bùng nổ các vụ sáp nhập và mua lại xuyên quốc gia)

Mức độ sáp nhập và mua lại xuyên quốc gia phản ánh những lựa chọn có tính chiến lược của các công ty xuyên quốc gia và sự phục hồi của các thị trường cổ phiếu Trong năm 2005,

có 141 thương vụ có giá trị trên 1 tỷ USD với tổng giá trị là 454 tỷ USD - nhiều gấp hai lần tổng giá trị các vụ sáp nhập và mua lại đã được báo cáo trong năm 2004 và chiếm 63% tổng giá trị các vụ sáp nhập và mua lại xuyên quốc gia toàn cầu

Mặc dù sáp nhập và mua lại từ trước vẫn là một phương thức đầu tư được nhiều nhà đầu

tư chú ý, nhưng sự bùng nổ các vụ sáp nhập và mua lại hiện nay có một số đặc điểm mới so

với trước đây Thứ nhất, giá trị và số lượng các vụ sáp nhập và mua lại trong những năm gần đây tăng gấp nhiều lần so với trước đây Số vụ sáp nhập và mua lại của cả năm 2005

ước tính tương đương với trung bình số các vụ sáp nhập và mua lại trong cả giai đoạn 1999

- 2001 Tuy nhiên, những nước đứng đầu xét về tỷ trọng trong tổng giá trị các vụ sáp nhập hiện nay vẫn không thay đổi so với trước đây, đó là Vương quốc Anh, Mỹ và Đức

Thứ hai, các vụ sáp nhập và mua lại trong thời điểm hiện tại đã có sự thay đổi về lĩnh vực đầu tư Về lĩnh vực đầu tư, tỷ trọng của ngành sơ chế ngày càng tăng, thể hiện qua thực tế là

ba ngành then chốt hàng đầu trong năm 2005 là khai thác khoáng sản, đá và dầu mỏ Hai ngành hàng từng diễn ra nhiều vụ sáp nhập và mua lại trước đây là giao thông vận tải, kho bãi

và ngành tài chính lần lượt xuống vị trí thứ 2 và thứ 3, và thế chỗ vị trí một trong ba ngành đứng đầu của ngành dịch vụ kinh doanh Tại khu vực Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á, tỷ trọng của các ngành chế tạo và sơ chế tăng đáng kể từ 29% năm 2004 lên mức 54% năm

2005 Các công ty năng lượng ở châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc và Ấn Độ, đã tăng cường việc mua các cơ sở dầu mỏ Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC) đã mua công ty PetroKazakhstan với giá 4,2 tỷ USD vào tháng 8 năm 2005 - đây là vụ mua lại lớn nhất trong ngành dầu khí của các công ty từ các nước đang phát triển và các nền kinh tế

Trang 7

chuyển đổi.

Sáp nhập và mua lại qua biên giới theo vùng/ngành của bên bán

Đơn vị: Triệu USD

Tổng 6 tháng đầu

năm

6 tháng cuối năm

6 tháng đầu năm

Toàn ngành 380.598 716.302 254.413 461.889 354.477

Khai khoáng và dầu mỏ 18.169 113.596 9.492 104.103 14.348

Lương thực, đồ uống,

thuốc lá 23.870 44.816 17.240 27.576 13.097 Hoá chất và các sản

phẩm hoá chất 41.788 54.438 20.189 34.250 26.159

Giao thông vận tải và

kho vận 36.530 97.502 37.835 59.667 88.115 Tài chính 81.809 93.795 26.880 66.915 59.114

Các hoạt động kinh

Nguồn: UNCTAD

10 cuộc mua bán và sáp nhập doanh nghiệp lớn nhất thế giới năm 2005

Công ty vận tải và thương

mại Shell (Anh)

Công ty xăng dầu Hoàng gia Dutch (Hà Lan) Dầu khí 74,3 Bayerische Hypo und

Vereins (Đức) Unicredito Italiano (ý) Ngân hàng 18,3

Alied Domecq (Anh) Goal Acquisitions (Pháp) Rượu 14,4

Wind Telecomunicazioni (ý) Weather Investments (Ai

Innovene (Mỹ) INEOS Group (Anh) Sợi hữu cơ 9

Viterra (Đức) Deutsche Annington (Đức) Bất động sản 9

Auna (Tây Ban Nha) Orange (Pháp) Viễn Thông 7,7

Trang 8

RAS (ý) Allianz (Đức) Bảo hiểm 7,1

Gecina (Pháp) Metrovacesa (Tây Ban Nha) Bất động sản 6,9

Exel (Anh) Deutsche Post (Đức) Logistics 6,6

Turk Telekomunikasyon

(Thổ Nhĩ Kỳ) Oger Telecom (Thổ Nhĩ Kỳ) Viễn thông 6,6

Nguồn: TCNC.

Thứ ba, nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của hoạt động sáp nhập và mua lại trong giai đoạn hiện nay có khác với trước đây Trong những năm trước, hoạt động này phát triển mạnh

do thị trường tài chính tăng trưởng tốt và sự bùng nổ các công ty kinh doanh nhờ vào Internet như Yahoo, Google và AOL Time Warner Ngày nay, hoạt động sáp nhập và mua lại tăng mạnh cơ bản xuất phát từ những lựa chọn có định hướng của các công ty, và những yếu tố về

cơ hội giữ vai trò ít quan trọng hơn đối với những vụ sáp nhập và mua lại hiện nay

Thứ tư, các vụ sáp nhập và mua lại hiện nay tập trung vào một số ít ngành hơn là nhiều ngành so với đợt bùng nổ trước đây Hầu hết các vụ sáp nhập và mua lại xuyên quốc gia xảy

ra trong nội bộ ngành, trừ một số lĩnh vực xuất hiện những hình thức đầu tư mới, như các quỹ đầu tư doanh nghiệp thì thường đầu tư vào bất cứ lĩnh vực nào

- Rủi ro trong đầu tư trực tiếp ngày càng tăng

Mặc dù triển vọng FDI toàn cầu trong thời gian tới được dự báo tiếp tục tăng trưởng tốt nhưng vẫn có một số nguy cơ có thể ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của luồng vốn này trên thế giới Trong năm 2006, Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đã đưa ra báo cáo Đánh giá triển vọng đầu tư toàn cầu (GIPA) giai đoạn

2005-2008, trong đó có khảo sát ý kiến của các chuyên gia kinh tế và các công ty xuyên quốc gia (TNC) về những nguy cơ đối với triển vọng FDI toàn cầu Nói chung, các chuyên gia và các TNC đều chỉ ra một số rủi ro chính sau đây, mặc dù mức độ rủi ro đối với từng đối tượng được hỏi là khác nhau

Nguy cơ thứ nhất đó là tình trạng bảo hộ trong thương mại và đầu tư thế giới vẫn có xu hướng tiếp tục được duy trì 100% các TNC và 89% các chuyên gia được hỏi đều cho rằng

đây là nguy cơ lớn nhất đối với triển vọng FDI trong giai đoạn 2005-2008 Một trong những biểu hiện của tình trạng này là thất bại của vòng đàm phán Đôha Đối với nhiều nhà đầu tư, đây là một nguy cơ rất lớn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Để bảo hộ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với nước ngoài, chính phủ các nước đang phát triển thường thực hiện chính sách ưu đãi doanh nghiệp trong nước, có các quy định khắt khe đối với hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào sản xuất trong nước Mặc dù tình trạng này trong những năm qua đã được cải thiện đáng kể, thể hiện qua bảng xếp hạng về môi trường đầu tư của các tổ chức quốc tế, nhưng trên thực tế các nhà đầu tư vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi hoạt động ở các nước đang phát triển Bên cạnh đó, chủ nghĩa bảo hộ được các nước áp dụng cũng đang gây ra các tranh chấp thương mại, ví dụ như giữa Trung Quốc với

Mỹ, Mỹ và EU, Trung Quốc và EU…, ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động đầu tư của các TNC

Nguy cơ thứ hai là kinh tế các nước và khu vực phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản dự báo

sẽ tăng trưởng chậm lại trong thời gian tới Đây là đánh giá của hơn 85% các TNC và 80%

các chuyên gia được hỏi Điều này sẽ ảnh hưởng đến luồng vốn FDI trên 2 khía cạnh Thứ nhất, những nước và khu vực này là đầu tàu của kinh tế thế giới, vì thế khi các nền kinh tế này

Trang 9

tăng trưởng chậm lại sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới Tăng trưởng GDP và tăng trưởng FDI của kinh tế thế giới luôn tỷ lệ thuận với nhau Chính vì vậy khi kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, FDI toàn cầu cũng sẽ chịu ảnh hưởng không nhỏ Thứ hai, do tăng trưởng chậm lại nên đầu tư ra nước ngoài của các nước phát triển, đặc biệt là từ các công ty xuyên quốc gia (TNC), vốn đang là chủ thể đầu tư FDI chủ yếu trên thế giới sẽ giảm đi phần nào Như vậy, triển vọng kinh tế các nước phát triển lớn trên thế giới có tác động không nhỏ đến tình hình tăng trưởng FDI thế giới trong thời gian tới

Không chỉ riêng các nước phát triển, kinh tế các nước đang phát triển cũng được dự báo

sẽ tăng trưởng chậm lại, ảnh hưởng tới việc thu hút FDI của các nước này Hiện nay, các

nước đang phát triển đang là những trung tâm thu hút FDI trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ Trung Quốc là nước đang phát triển thu hút nhiều FDI nhất trên thế giới Trong những năm qua, do đầu tư FDI vào Trung Quốc luôn được đánh giá là có nguy cơ quá nóng nên Trung Quốc đang thực hiện những chính sách hạ nhiệt nền kinh tế, trong đó có chính sách nhằm giảm FDI vào trong nước ở mức quá cao như hiện nay Đây là một trong những nguyên nhân khiến FDI trên thế giới trong thời gian tới sẽ tăng trưởng chậm lại so với những năm trước đây

Một nguy cơ khác là tình trạng bất ổn định của giá dầu và giá các nguyên liệu thô khác

Trong hai năm vừa qua, giá dầu thế giới liên tục ở mức cao, kéo theo sự tăng giá của tất cả các mặt hàng khác, đặc biệt là giá các nguyên liệu thô Tình trạng tăng giá này ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế các nước, từ đó tác động tiêu cực đến triển vọng tăng trưởng FDI toàn cầu Bên cạnh đó, việc giá dầu và giá các nguyên liệu thô tăng làm tăng chi phí đầu tư, giảm lợi nhuận, gây tâm lý bất ổn cho các nhà đầu tư Tuy nhiên, hiện tại cũng có một xu thế là các nhà đầu tư chuyển hướng đầu tư nhiều hơn vào các ngành chế tác và khai thác nguyên liệu thô

để kiếm lợi từ tình trạng giá cao Đây là một nguy cơ đối với FDI toàn cầu do giá dầu thô và giá các nguyên liệu khác diễn biến bất ngờ, rất khó nắm bắt

Bên cạnh các nguy cơ trên, hiện trong nền kinh tế thế giới còn một số vấn đề đáng lo ngại khác Đó là tình trạng mất cân đối toàn cầu, thâm hụt kép của Mỹ, tỷ giá đồng USD so với một số đồng tiền khác, những bất ổn về tình hình chính trị tại một số khu vực và nguy cơ khủng bố

Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia

Ngày đăng: 18/04/2022, 10:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

ra trong nội bộ ngành, trừ một số lĩnh vực xuất hiện những hình thức đầu tư mới, như các quỹ đầu tư doanh nghiệp thì thường đầu tư vào bất cứ lĩnh vực nào. - Tình hình và triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới
ra trong nội bộ ngành, trừ một số lĩnh vực xuất hiện những hình thức đầu tư mới, như các quỹ đầu tư doanh nghiệp thì thường đầu tư vào bất cứ lĩnh vực nào (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w