Các hình thức biểu hiện * Địa tô tư bản chủ nghĩa Nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất của địa chủ và thuê công nhân để tiến hành sản xuất.. Như vậy, địa tô tư bản chủ n
Trang 1Mở đầu
Chủ nghĩa tư bản độc quyền là chủ nghĩa tư bản trong đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Nếu trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, sự phân hóa giữa các nhà tư bản chưa thực sự sâu sắc nên quy luật thống trị của thời kỳ này là quy luật lợi nhuận bình quân, còn trong chủ nghĩa tư bản độc quyền, quy luật thống trị là quy luật lợi nhuận độc quyền Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của chủ nghĩa tư bản Bản thân quy luật lợi nhuận độc quyền cũng chỉ
là một hình thái biến tướng của quy luật giá trị thặng dư Chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do phát triển đến độ nhất định thì xuất hiện các tổ chức độc quyền Lúc đầu tư bản độc quyền chỉ có trong một số ngành, một số lĩnh vực của nền kinh
tế Hơn nữa, sức mạnh kinh tế của các tổ chức độc quyền cũng chưa thật lớn Tuy nhiên, sau này, sức mạnh của các tổ chức độc quyền đã được nhân lên nhanh chóng và từng bước chiếm địa vị chi phối trong toàn nền kinh tế Chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn phát triển mới chủ nghĩa tư bản độc quyền.–
Bài viết này sẽ làm rõ về chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước và các kiến thức liên quan đến giá trị thặng dư
Trang 2Nội dung
1 Giá trị thặng dư
1.1 Các hình thức biểu hiện
* Địa tô tư bản chủ nghĩa
Nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất của địa chủ và thuê công nhân để tiến hành sản xuất Do đó nhà tư bản phải trích một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho địa chủ dưới hình thức địa tô
Như vậy, địa tô tư bản chủ nghĩa là một bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là kẻ sở hữu ruộng đất
Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa
a) Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình (ký hiệu Rcl)
Địa tô chênh lệch có hai loại là địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II Địa tô chênh lệch I là loại địa tô thu được trên những ruộng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi Chẳng hạn, có độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi (trung bình và tốt)
và có vị trí gần nơi tiêu thụ hay gần đường giao thông Địa tô chênh lệch II là loại địa tô thu được nhờ thâm canh năng suất, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trên cùng đơn vị diện tích
b) Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp tuyệt đối phải nộp cho địa chủ, dù đất đó tốt hay xấu, ở gần hay xa Địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành nên bởi chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của nông phẩm
Trang 3Ví dụ: Có hai tư bản nông nghiệp và công nghiệp đều là 100, cấu tạo hữu
cơ trong nông nghiệp là 3/2, cấu tạo hữu cơ trong công nghiệp là 4/1 Giả sử m’=100%, thỡ giá trị sản phẩm và giá trị thặng dư sản xuất ra trong từng lĩnh vực sẽ là, trong công nghiệp 80c + 20v + 20m = 120; trong nông nghiệp 60c + 40v + 40m = 140 Giá trị thặng dư dôi ra trong nông nghiệp so với trong công nghiệp là 20 Số chênh lệch này khụng bị bình quân hoỏ mà chuyển hoỏ thành địa tô tuyệt đối
Cơ sở của địa tô tuyệt đối là do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp Cũn nguyên nhân tồn tại của địa tô tuyệt đối là chế độ độc quyền sở hữu ruộng đất đó ngăn nông nghiệp tham gia cạnh tranh giữa các ngành để hình thành lưọi nhuận bình quân
c) Địa tô độc quyền là hình thức đặc biệt của địa tô tư bản chủ nghĩa; nó có thể tồn tại trong nông nghiệp, công nghiệp khai thác và ở các khu đất trong thành thị
Trong nông nghiệp, địa tô độc quyền có ở các khu đất có tính chất đặc biệt, cho phép trồng các loại cây đặc sản hay sản xuất các sản phẩm đặc biệt Trong công nghiệp khai thác, địa tô độc quyền có ở khai thác kim loại, khoáng chất quý hiếm, hoặc những khoáng sản có nhu cầu vượt xa khả năng khai thác chúng Trong thành thị, địa tô độc quyền có ở các khu đất có vị trí thuận lợi cho phép xây dựng các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nhà cho thuê có khả năng thu lợi nhuận cao
Nguồn gốc của địa tô độc quyền cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá cả độc quyền của sản phẩm thu được trên đất đai ấy, mà nhà tư bản phải nộp cho địa chủ
Lý luận địa tô của C.Mác không chỉ nêu ra quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp, mà cũn là cơ sở lý luận để nhà nước xây dựng các chính sách thuế đối với nông nghiệp và các ngành khác có liên quan đến đất đai,
để việc sử dụng đất đai có hiệu quả hơn
Trang 4* Lợi nhuận thương nghiệp
– Tư bản thương nghiệp là một bộ phận tư bản được tách ra khỏi tư bản công nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa Nó là cầu nối liền sản xuất và tiêu dùng, phục vụ cho quá trình thực hiện hàng hóa của tư bản công nghiệp và có vai trò quan trọng trong tái sản xuất tư bản xã hội nói chung và tư bản công nghiệp nói riêng Tư bản thương nghiệp ứng thêm tư bản giúp nhà tư bản công nghiệp hoạt động trong khâu thực hiện giá trị thặng dư, do đó, tư bản công nghiệp không phải đầu tư bổ sung tư bản, hoặc giảm quy mô sản xuất để hoạt động lưu thông mà có điều kiện tập trung tư bản, chuyên môn hóa, mở rộng sản xuất Đó là nguyên nhân khiến tư bản công nghiệp phải “nhường” một
bộ phận giá trị thặng dư cho tư bản thương nghiệp Tư bản thương nghiệp không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, nhưng vẫn thu được giá trị thặng dư dưới hình thức lợi nhuận thương nghiệp
Tư bản công nghiệp “nhường” một phần giá trị thặng dư cho tư bản thương nghiệp theo tỷ suất lợi nhuận bình quân (p) và được thực hiện bằng thu chênh lệch giữa giá mua và giá bán Vậy bản chất lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất
Nhưng hình thức lợi nhuận thương nghiệp làm cho người ta dễ tin tưởng lưu thông sinh ra lợi nhuận và nguồn gốc giá trị thặng dư càng bị che dấu Ngoài một phần giá trị thặng dư do nhà tư bản công nghiệp nhường cho, tư bản thương nghiệp còn thu được một phần thu nhập của người tiêu dùng bằng cách mua rẻ bán đắt và bóc lột lao động thặng dư của nhân viên thương nghiệp
* Lợi tức
Tư bản cho vay là một bộ phận của tư bản công nghiệp tách ra hoạt động trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ Sự hình thành tư bản cho vay là kết quả của sự phát triển quan hệ hàng hóa – tiền tệ đạt đến trình độ xuất hiện tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi (các loại quỹ khấu hao, quỹ mua nguyên vật liệu chưa dùng đến, quỹ lương chưa đến kỳ trả, tiết kiệm…) trong khi lại có những người cần
Trang 5tư bản để mở rộng sản xuất hoặc thiếu tư bản lưu động… Tư bản cho vay thực hiện vai trò môi giới giữa người cho vay và người đi vay, là nơi tập trung, điều hòa, sử dụng hợp lý, có kết quả các nguồn vốn tiền tệ của xã hội, thúc đẩy quá trình tái sản xuất và quá trình xã hội hóa
Phải chú ý những đặc điểm đặc biệt của tư bản cho vay: – quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng; người bán không mất quyền sở hữu; giá cả do giá trị sử dụng quyết định; quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa bị che dấu
Nếu không phải đi vay, tư bản công nghiệp độc chiếm giá trị thặng dư; nhưng do vay vốn nên nó phải nhường một phần giá trị thặng dư cho nhà tư bản cho vay vì đã sử dụng tư bản của họ Như vậy, hoạt động trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tư bản cho vay không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, nhưng nó được phân phối giá trị thặng dư dưới hình thức lợi tức cho vay (Z) Vậy lợi tức chính là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư, nguồn gốc của nó là giá trị thặng dư do lao động làm thuê tạo ra trong quá trình sản xuất Thực chất lợi tức cho vay biểu hiện quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa mở rộng ra trong lĩnh vực phân phối
Xét về mặt lượng, lợi tức nói chung phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân (P)
và lớn hơn 0: 0 < Z <P; và phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trong lĩnh vực này ở từng thời kỳ
* Lợi nhuận ngân hàng
Ngân hàng tư bản chủ nghĩa là tổ chức kinh doanh tư bản tiền tệ, làm môi giới giữa người đi vay và người cho vay Ngân hàng có hai nghiệp vụ: nhận gửi
và cho vay Trong nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng trả lợi tức cho người gửi tiền; còn trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng thu lợi tức của người đi vay Lợi tức nhận gửi nhỏ hơn lợi tức cho vay Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi trừ đi những khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ ngân hàng, cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng Trong cạnh tranh, rốt cuộc lợi nhuận ngân hàng cũng ngang bằng với lợi nhuận bình quân Nếu không sẽ lại có sự tự do di chuyển tư bản vào các
Trang 6ngành khác nhau Ngoài nghiệp vụ trên, ngân hàng còn đóng vai trò thủ quỹ cho
xã hội, quản lý tiền mặt, phát hành tiền giấy, trung tâm thanh toán của xã hội Nhờ có ngân hàng mà các nhà tư bản có điều kiện mở rộng sản xuất nhanh chóng hơn, có điều kiện tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác
dễ dàng hơn, giảm được chi phí lưu thông, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, tăng nhanh tốc độ chu chuyển của tiền tệ
1.2 Ý nghĩa
Học thuyết giá trị thặng dư của Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.Phát hiện giá trị thặng dư làm nổ ra cuộc cách mạng thực sự trong toàn bộ khoa học kinh tế, vũ trang cho giai cấp vô sản thứ
vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Ngày nay, từ quan niệm đổi mới về chủ nghĩa xã hội, học thuyết này còn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Ở nước ta, việc nghiên cứu, khai thác và học tập những di sản lý luận của Mác trở thành việc làm cần thiết trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Một là, Khai thác những di sản lý luận trong học thuyết này về nền kinh
tế hàng hoá
Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Cho nên, chính Mác chứ không phải ai khác, là một trong những người nghiên cứu sâu sắc về kinh tế thị trường Thực chất của nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao Nước ta đang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hiện nay gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù nền kinh tế thị trường ở nước ta có tính đặc thù của nó, song đã là sản xuất hàng hoá thì ở đâu cũng đều có những đặc tính phổ biến, cũng phải nói đến giá trị và giá trị thặng dư Điều khác nhau chỉ là trong những quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và giá trị thặng dư mang bản chất xã
Trang 7hội khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu tính phổ biến và tính đặc thù của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu những phạm trù, công cụ và việc sử dụng chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ di sản lý luận của Mác là việc làm có nhiều ý nghĩa thực tiễn
Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa tư bản đã phát triển nền kinh tế thị trường, qua thị trường, giai cấp tư sản mới mua được tư liệu sản xuất và sức lao động, mới bán được hàng hoá và do đó bóc lột được giá trị thặng dư do người lao động tạo ra Trong nền kinh tế thị trường, dưới tác động của các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật giá trị thặng dư, các nhà tư bản-các doanh nghiệp
đã không ngừng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, tích cực hợp lý hoá quá trình sản xuất, tiết kiệm các yếu tố đầu vào, tìm hiểu nhu cầu thị trường… để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Các tiềm năng về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh… được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ, từ đó làm cho nền kinh tế trở nên năng động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, trong khu vực kinh tế nhà nước và tập thể, chúng ta cần vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư mà các nhà tư bản đã sử dụng để phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế kết hợp với thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
Hai là làm rõ hơn bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản ngay trong thành,
phần kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay Qua nghiên cứu lý luận giá trị thặng
dư, chúng ta phải khẳng định rằng, sự giàu có của nhà tư bản là kết quả của sự bóc lột giá trị thặng dư Có người cho rằng, nhà tư bản thu nhiều lợi nhuận là do lao động quản lý, lao động khoa học – kỹ thuật của nhà tư bản Thực tế, trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, nhiều nhà tư bản đồng thời là giám đốc, thậm chí còn là cán bộ khoa học kỹ thuật nữa Những chức năng quản lý và khoa học
kỹ thuật ấy thuộc phạm trù lao động, không thuộc phạm trù tư bản Nếu nhà tư bản kiểm cả chức năng quản lý và khoa học kỹ thuật thì trong thu nhập của nhà
Trang 8tư bản sẽ bao gồm giá trị mới do lao động quản lý và khoa học kỹ thuật tạo ra cộng với giá trị thặng dư chiếm đoạt không phải trả công
Khi phê phán luận điểm của nhà kinh tế chính trị học J.Say cho rằng lợi nhuận doanh nghiệp là tiền công trả cho lao động quản lý của nhà tư bản, C.Mác đã chỉ rõ: Chỉ cần dành ra một khoản thù lao nhỏ mọn là nhà tư bản có thể trút gánh nặng quản lý đó cho người giám đốc làm thuê nhưng nhà tư bản vẫn thu được lợi nhuận doanh nghiệp Ở những vùng công nghiệp của nước Anh, sau mỗi lần khủng hoảng, một số khá nhiều những cựu chủ xưởng với một
số tiền thù lao nhỏ nhặt đã đứng ra trông nom những nhà máy trước đây là của chính họ, trông nom với tư cách là những người quản lý, phục vụ cho những chủ mới, thường là chủ nợ của họ Ngày nay, trong các công ty và xí nghiệp tư bản hiện đại, chức năng quan lý thường được giao cho các managers - những người làm thuê cao cấp, nhưng các chủ sở hữu tư bản vẫn thu những khối lượng lợi nhuận khổng lồ Như vậy, khi quy mô kinh doanh ngày càng lớn, nhà tư bản
đã hiện rõ sự bóc lột của mình đó là có một khoản lợi nhuận lớn nhưng không phải bỏ sức lao động mới có được mà chỉ cần là người sở hữu tư bản
Ba là, nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư không phải là để kỳ thị thành phần kinh tế tư bản tư nhân mà để khuyến khích nó phát triển, bởi vì có hiểu rõ bản chất của nó mới có chính sách đúng đắn với nó Chẳng hạn, hiểu rõ mục đích và động cơ của sản xuất TBCN là thu càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt, thì muốn khuyến khích thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài chúng ta phải có chính sách như thế nào để họ thu được lợi nhuận thoả đáng, thậm chí cao hơn lợi nhuận thu được khi học đầu tư vào các nước láng giềng của ta Mặt khác, phải có biện pháp điều tiết bớt sự chênh lệch quá đáng giữa người giàu và người nghèo, đồng thời có các chính sách xã hội để giảm bớt bất công
Bốn là, khai thác những luận điểm của Mác nói về qúa trình sản xuất, thực hiện, phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản cùng những biện pháp, thủ đoạn nhằm thu được nhiều giá trị thặng dư của các nhà tư bản nhằm
Trang 9góp phần vào việc quản lý các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta sao cho vừa có thể khuyến khích phát triển, vừa hướng các thành phần kinh tế này đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội
Năm là, khai thác di sản của Mác nói về quá trình tổ chức sản xuất và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa với tính cách là một nền sản xuất lớn gắn với quá trình xã hội hoá sản xuất ngày càng cao nhằm tạo ra khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn Trên cơ sở những gì được coi là tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên, đặc biệt là về mặt tổ chức - kinh tế, vận dụng vào nền kinh tế nước ta thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn, hiện đại sản xuất ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư để thực hiện nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ là CNH, HĐH nền kinh tế nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người lao động
Như vậy hiện nay ở nước ta mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị nói,
chung và lý luận giá trị thặng dư nói riêng có sự thay đổi Nếu trước đây, mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị là để phê phán phương thức sản xuất TBCN, tìm ra bản chất bóc lột giá trị thặng dư của CNTB cổ điển và xu hướng thay thế CNTB bằng một xã hội tốt đẹp hơn, thì giờ đây, bên cạnh mục đích như trước, chúng ta còn có mục đích nghiên cứu, khai thác học thuyết giá trị thặng
dư với tư cách là một hệ thống lý luận phong phú và sâu sắc về kinh tế thị trường nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới
Qua phân tích một số vấn đề chủ yếu của lý luận giá trị thặng dư ở trên chúng ta vẫn tiếp tục khẳng định rằng học thuyết giá trị thặng dư - học thuyết về bản chất bóc lột và địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bảnvẫn là cơ sở phương pháp luận để nhận thức đúng chủ nghĩa tư bản hiện đại Học thuyết đó còn là cơ sở lý luận cho sự vận dụng vào quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Trang 102 Độc quyền trong chủ nghĩa tư bản
2.1 Nguyên nhân hình thành
Theo Lênin "tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sảnxuất này, khi phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền"
Sự độc quyền hay sự thống trị của tư bản độc quyền là cơ sở của chủ nghĩa tư bản độc quyền Sự xuất hiện của tư bản độc quyền do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác dụng của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, làm xuất hiện những ngành sản xuất mới mà ngay từ đầu đã
là những ngành có trình độ tích tụ cao Đó là những xí nghiệp lớn, đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới
Hai là, cạnh tranh tự do, một mặt, buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ thuật, tăng quy mô tích luỹ; mặt khác, dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ
kỹ thuật kém hoặc bị các đối thủ mạnh hơn thôn tính, hoặc phải liên kết với nhau để đứng vững trong cạnh tranh Vì vậy, xuất hiện một số xí nghiệp tư bản lớn nắm địa vị thống trị một ngành hay trong một số ngành công nghiệp
Ba là, khủng hoảng kinh tế làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản; một số sống sót phải đổi mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng, do đó thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất Tín dụng tư bản chủ nghĩa mở rộng, trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất
Bốn là, những xí nghiệp và công ty lớn có tiềm lực kinh tế mạnh tiếp tục cạnh tranh với nhau ngày càng khốc liệt, khó phân thắng bại, vì thế nảy sinh xu hướng thỏa hiệp, từ đó hình thành các tổ chức độc quyền
2.2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản
Như đã phân tích ở trên chủ nghĩa tư bản là sự tập trung sản xuất và các
tổ chức độc quyền với hình thức kinh tế thống trị là công ty cổ phần, hình thành
sở hữu tập thể của chủ nghĩa tư bản Nhờ lắm được địa vị thống tri trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa mà họ bán ra và giá cả