1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết học phật giáo123

18 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 919,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG I NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 4 I BẢN THỂ LUẬN Duyên khởi, Tính Không, Vô thường 4 II NHẬN THỨC LUẬN Trung đạo, Nội quán, Trực giác Bát nhã 5 1 TRUNG ĐẠO 5 2 NỘI QUÁN 6 3 TRỰC GIÁC BÁT NHÃ 7 III NHÂN SINH LUẬN 8 1 Tứ diệu đế 8 2 Thập nhị nhân duyên 8 3 Bát chánh đạo 9 4 A la hán 10 5 Bồ tát đạo 11 CHƯƠNG II 13 ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM 13 I ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘ.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta sau gần 80 năm độc lập tự do, hiện tại Đảng và Nhà nước vẫn lấy quan điểm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho mọi hành động là Chủ Nghĩa Mac – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh Nhưng cũng không thể phủ nhận ngày càng nhiều các cơ

sở chùa chiền, các giáo hội, các sự kiện tôn giáo – Phật giáo ngày càng được mở rộng phát triển, hoằng dương; ngay trong đời sống tinh thần và tâm linh của mỗi người dân thì vai trò của Phật giáo cũng ngày càng đi sâu và được nhân dân chú ý quan tâm Thể hiện qua các hoạt động truyền giáo rất phong phú đa dạng cả về hình thức và phương tiện như các khóa tu theo mùa tại các nhà chùa với đủ các lứa tuổi từ thiếu niên đến những người lớn tuổi; phương thức truyền bá tư tưởng Phật pháp đa dạng dưới dạng trực tiếp hay các buổi nghe pháp online, hoặc trên internet dưới dạng các bài pháp thoại do các giảng sư thuyết pháp, hay các video giảng pháp theo chuyên đề, hay các audio các giáo trình phật pháp từ căn bản, phổ thông đến nâng cao… Tất cả những điều đó cho thấy ngày nay trong đời sống tinh thần tư tưởng người dân chúng

ta Phật pháp đang được lan tỏa, phát triển và có tác dụng tích cực là nhân tố quan trọng xây dựng con người mới trong giai đoạn hiện nay

Đứng về phương diện lý thuyết, xét trên thế giới quan triết học chủ nghĩa Mác được xây dựng trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng, trong khi Phật giáo về vấn đề này không thể hiện một cách rõ ràng theo lập trường duy vật hay duy tâm Về đại thể, chủ nghĩa Mác chủ trương vô thần, trong khi Phật giáo là một tôn giáo Vấn

đề không chỉ bởi luận điểm của Mác coi “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” mà cái chính là nền tảng duy vật của triết học Mác coi toàn bộ thế giới chúng ta không cái gì khác ngoài thế giới vật chất Tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là chức năng của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, không có Chúa trời, không có thần linh Chủ nghĩa Mác chủ trương giải phóng nhân loại khỏi mọi áp bức và bất công xã hội, xây dựng một thiên đàng ngay trên thế giới này, đả phá niềm tin vào sự tồn tại của thế giới bên kia với thiên đàng và hỏa ngục, thì Phật giáo hướng con người tới vô ngã, tới

sự giải thoát khỏi kiếp luân hồi và nhập cõi Niết bàn

Trong triết thuyết của mình một trong những tư tưởng cốt lõi là thuyết vô thường, có nghĩa là không có gì là thường hằng mãi mãi, mọi thứ luôn biến thiên, thay đổi phát triển chính bởi vậy bản thân Phật giáo cũng vậy Khi bước đầu vào Việt Nam từ Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo đại thừa đến ngày nay tạm gọi là Phật giáo hiện đại cũng đã được các Phật tử, tăng ni, cao tăng… vận dụng phát triển thành hệ thống tư tưởng Phật giáo phù hợp với tiến trình phát triển ngày nay

Anhxtanh đã từng nói “Nếu có một tôn giáo toàn cầu thì tôn giáo đó phải được xây dựng trên nền tảng của Phật giáo” Mỗi một triết thuyết ra đời tồn tại và phát triển đều có những ưu điểm và hạn chế tương đối Vậy Triết thuyết Phật giáo có những nội dung cơ bản nào và ảnh hưởng của triết thuyết này đến đời sống xã hội và lịch sử tư tưởng Việt nam như thế nào? Đây cũng là một nội dung hết sức hấp dẫn, bổ ích để làm rõ, góp phần xây dựng thế giới quan cũng như bổ sung vững chắc cho hệ

Trang 3

tư tưởng của mỗi người cũng như hệ thống quan điểm tư tưởng tầm vĩ mô trong công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc hiện nay

Nếu như người phương Tây có câu “Mọi con đường đều đi tới Roma” thì Người Việt Nam cũng có châm ngôn “ các tư tưởng lớn đều gặp nhau” thể hiện nội dung tương tự và Hồ Chí Minh tìm thấy điểm gặp gỡ của các vĩ nhân đó chính là tinh thần nhân đạo, nhân bản, chính là sự bao dung và vị tha, cái chất người trong mỗi con người chúng ta cần phải được đánh thức dậy

Cũng giống như các triết thuyết khác, nghiên cứu tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện: Bản thể luận và Nhận thức luận Bản thể luận là mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản triết học, cần giải quyết vấn đề giữa vật chất và ý thức cái nào có trước và cái nào quyết định Mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học nói chung là Nhận thức luận, trả lời câu hỏi con người có khả năng nhận thức thế giới hay không? Trong nội dung bài tiểu luận này trình bày nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo và ảnh hưởng của triết học Phật giáo đối với đời sống xã hội và lịch sử tư tưởng Việt Nam Bài tiểu luận gồm hai chương:

Chương I: Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo

Chương II: Ảnh hưởng của Triết học Phật giáo đối với đời sống xã hội và lịch

sử tư tưởng Việt Nam

CHƯƠNG I NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

Phật giáo là một trào lưu tư tưởng lớn ở Ấn Độ cổ đại Xuất hiện vào thế kỷ VI

Trang 4

“giác ngộ” Ông sinh khoảng năm 623 trước công nguyên, sống gần 80 năm Sau khi ông mất, các học trò của ông đã phát triển tư tưởng của ông thành hệ thống tôn giáo-triết học lớn ở Ấn độ có ảnh hưởng rộng rãi, sâu sắc trong đời sống tinh thần và tâm linh của nhân loại

Kinh điển Phật giáo hiện nay rất đồ sộ, gồm ba bộ phận gọi là Tripitaka (Tam Tạng) lần lượt là: Kinh (Sùtra) – Tạng kinh, được coi là sự ghi lại lời của Buddha thuyết pháp; Luật (Vinaya) – Tạng luật tức là những điều mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo và Luận (Sastra) – Tạng luận, tức là sự luận giải các vấn đề Phật giáo của các học giả - cao tăng về sau

I BẢN THỂ LUẬN: Duyên khởi, Tính Không, Vô thường

Phật giáo khác với các triết thuyết khác không đưa ra câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi vật chất và ý thức cái nào có trước cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào?

Mà Phật giáo đưa ra tư tưởng “Vô ngã”, “Vô thường” Đức Phật cho rằng các sự vật

và hiện tượng, cũng như con người là không có thực, là ảo giả, do vô minh đem lại Thế giới (nhất là thế giới hữu tình – con người) được cấu tạo do sự nhóm họp của các yếu tố vật chất (Sắc) và tinh thần (Danh) Danh và Sắc được chia làm năm yếu tố (gọi

là Ngũ uẩn) là:

Sắc (Vật chất), Thụ (Cảm giác), Tưởng (Ấn tượng), Hành (Tư duy nói chung) và Thức (Ý thức) Trong đó Sắc là thuộc về vật chất và bốn yếu tố còn lại Thụ, Tưởng, Hành và Thức thuộc về Danh (Tinh thần)

Hình 1 Sơ đồ vận hành của Danh và Sắc

Cũng có thuyết cho rằng con người là do Lục đại (sáu yếu tố) tạo nên là: Địa (đất, các chất khoáng), Thủy (nước, các chất lỏng), Hỏa (lửa, nhiệt), Phong (gió, không khí, thở), Không (khoảng trống), Thức (ý thức, tư duy) Trong đó năm yếu tố trên thuộc Sắc (vật chất) còn Thức thuộc Danh yếu tố tinh thần

Trang 5

Danh và sắc chỉ tụ hội với nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác Cho nên, không có cái tôi (vô ngã) Bản chất tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục (vô thường), không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên và không thể có cái vĩnh hằng (Tính Không) Vô thường suy rộng ra là không thường còn, là chuyển biến thay đổi Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta

Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là thường trụ, bất biến Với ngũ quan thô thiển của con người, con người thường lầm tưởng sự vật là yên tĩnh, là bất động nhưng thật

ra là nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến không ngừng

Thế giới (sự vật và hiện tượng) luôn biến đổi theo chu trình: Sinh – Trụ - Di – Diệt (hoặc: Thành – Trụ - Hoại - Không) theo luật nhân quả Khái niệm “Duyên” của Phật giáo được coi vừa là kết quả (quá trình cũ) và là nguyên nhân (quá trình mới) Như vậy về mặt bản thể luận của triết học phật giáo tóm gọn lại ở ba cốt lõi là Duyên khởi, Tính Không và Vô thường

II NHẬN THỨC LUẬN: Trung đạo, Nội quán, Trực giác Bát nhã

1 TRUNG ĐẠO

Trung đạo là con đường tránh xa hai cực đoan: hưởng thọ dục vọng và tu tập khổ hạnh, nó là kinh nghiệm rút ra từ bản thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi sống hưởng thụ trong hoàng cung, và trải qua sáu năm tu khổ hạnh, nhờ con đường này mà Ngài thành đạt giác ngộ và giải thoát dưới cội cây Bồ đề

Từ ý nghĩa Trung đạo được định nghĩa tránh xa hai cực đoan dần dẫn diễn biến phát triển thành tránh hai cực đoan: chấp hữu và chấp vô, chấp đoạn chấp thường, chấp nhị, nói chung là phủ nhận thái độ cố chấp bảo thủ, dù bên này hay bên kia Từ

ý nghĩa vô chấp này dẫn đến định nghĩa Trung đạo là con đường Bát chánh đạo, lý thuyết Duyên khởi…

Trung đạo qua các giai đoạn phát triển của Phật giáo bao gồm các nghĩa sau: Trung đạo là không rơi vào hai cực đoan: dục lạc và khổ hạnh

Không chấp hai cực đoan: có và không là trung đạo Những vấn đề siêu hình mà đức Phật không trả lời như: “Thế giới hữu thường hay vô thường, thế giới hữu biên hay vô biên; sinh mạng tức là thân hay sinh mạng khác thân khác…”

Đệ nhất nghĩa không là Trung đạo Đệ nhất nghĩa không tức là trí tuệ Cái gọi là Không không phải là không cũng chẳng phải là bất không (có) Người trí thấy nó vừa

là không cũng vừa bất không, (thấy các pháp) vừa thường và cũng vừa vô thường, vừa khổ và vừa lạc, vừa ngã vừa vô ngã…

Duyên khởi là Trung đạo

Lìa nhị biên là Trung đạo

Trang 6

2 NỘI QUÁN

Phật giáo thừa nhận có hai con đường nhận thức: hướng ngoại và hướng nội Con đường thứ nhất là của nhận thức thông thường, bằng tư duy khái niệm và kinh nghiệm để nhận thức đối tượng bên ngoài chủ thể nhận thức Con đường thứ hai, ngược lại, quay trở vào trong chính chủ thể nhận thức, gọi là con đường hướng nội Phật giáo coi nội quán (vipssana) là con đường vượt bỏ kinh nghiệm và khái niệm Mục tiêu của nội quán là nắm bắt được thực tại tối hậu mà không có sự phân đôi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức Bằng việc để nguyên thực tại như một toàn thể sống động, sau đó đảo ngược và bước lui để đạt đến thực tại không – thời gian vô phân biệt từ đó lui về tận cứ điểm khi thực tại chưa bắt đầu phân hai

Phương pháp nội quán thể hiện dưới hai hình thức rất phổ biến ngày này là thực hành thiền và yoga

Tác dụng của nội quán là trước hết đạt được tâm bình lặng sau đó nhờ tâm bình lặng mà nhìn thấy được sự vật như chúng tồn tại, nhìn thấy nguyên nhân khiến tâm không bình lặng là vì ngoại trần (tác động của thế giới khách quan) và dục vọng; cho nên tâm bình lặng thì dục vọng, tham đắm do thế giới khách quan gây ra cũng không chi phối được tâm

Đích của nội quán là đạt đến cảnh giới Tam muội (Samadhy) tuyệt đối, nghĩa là cảnh giới nội tâm hoàn toàn bình lặng, gọi là vô niệm hay tịnh nghĩa là đến lúc không

có tưởng nữa, lúc mọi hoạt động của tâm thức đều ngưng nghỉ

Hình 2 Thông minh hơn nhờ thiền định

Nội quán không chỉ góp phần làm phong phú thêm phạm trù trực giác (intuition) trong nhận thức luận của triết học Hiện đại, mà con đưa ra một cách nhìn độc đáo của phương Đông về vấn đề tính tương đối của giá trị nhận thức Thêm nữa nội quán của Phật giáo mở ra một hướng rèn luyện, chủ động khai thác, phát triển tư duy sáng tạo của con người – như một năng lực tiềm ẩn – như sức mạnh nội năng sẵn có

Trang 7

Ngày nay, mô hình nội quán của Phật giáo đã được thừa nhận tư cách độc lập Nhiều học giả đã công nhận không thể lấy phân loại tư duy của phương Tây để đánh giá hoặc để hệ thống tư duy phương Đông nói chung và Phật giáo nói riêng Mô hình

tư duy phương Tây đã tỏ ra không phải là duy nhất Sức sống của Phật giáo cũng chính là sự kết hợp triết lý nhân văn với các phép tu luyện nội quán

Nói chung, nếu đặt mục đích để rèn luyện nội tâm, làm chủ các cảm xúc, thư giãn tuyệt đối, điều chỉnh dòng ý thức và tập trung tư tưởng… thì nội quán của Phật giáo là một khuynh hướng khả thi, và đã được khoa học về tâm – sinh lý hiện đại kiểm chứng, chứng minh và được rất nhiều người theo học và thực hành tu tập, kể cả những người không phải tín đồ Phật giáo Khi làm chủ được nội tâm và các dòng suy nghĩ tập trung cao độ vào một việc, thì sẽ không tốn phí năng lượng một cách tản mát, mà có thể đạt được những kết quả kỳ diệu, chẳng hạn như hoạt động sáng tạo trong khoa học cũng như trong nghệ thuật

3 TRỰC GIÁC BÁT NHÃ

Bát nhã là thuật ngữ Phật giáo, hàm nghĩa Trí huệ, Huệ, Nhận thức

Bát nhã là một khái niệm trung tâm của Phật giáo Đại thừa, có nghĩa là trí tuệ (huệ) nhưng không phải do suy luận hay kiến thức đem lại, mà là thứ trí huệ của sự hiểu biết một cách toàn triệt (bất cứ thứ gì cũng nằm trong nó, ví dụ: “các định luật của Newton chỉ đúng trong điều kiện vận tốc rất nhỏ so với vận tốc ánh sáng” hay

“những khái niệm này chỉ hoạt động được trong môi trường nước”), không mâu thuẫn (ví dụ: “ai cũng thắng”) Điều khó của trí tuệ này là không đến từ kết quả của lý luận logic, tuy nhiên có thể hiểu được khi đi đến tận cùng của lý luận (các khai niệm, phủ định của khái niệm) Đạt được trí Bát – nhã được xem là đồng nghĩa với giác ngộ

và là một trong những yếu tố quan trọng của Phật quả Bát nhã là một trong những hạnh Ba la mật đa mà một Bồ tát phải đạt đến (Thập địa)

Bát nhã là một cách thức, một phương pháp để đạt được tới “trí tuệ toàn diện” (Nhất thiết chủng trí) của bậc Phật, phương thức này tập trung vào việc chỉ rõ các hiểu biết hiện tại của não bộ và yêu cầu loại bỏ chúng (rốt ráo ly), nhờ việc loại bỏ này mà các “thông tin” mới liên tục được cập nhật, khiến nhận thức liên tục trở nên toàn vẹn hơn (xóa bỏ sự che lấp do tính phân biệt của nhận thức tạo thành) Do vậy Bát – nhã cũng được biết đến như sự “hiểu biết vô tận”

Bát nhã cũng được biết đến với cụm từ “vô sở đắc”: “không có chỗ được tức là được, bởi được này là không có chỗ được”

III NHÂN SINH LUẬN

Vô ngã, Vị tha, Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Bát chính đạo, A la hán,

Bồ Tát…

Nhân sinh quan Phật giáo là hệ thống các quan điểm, quan niệm của đạo Phật về nguồn cội, bản chất và cấu tạo của con người, định hướng đến mục tiêu, quan niệm

Trang 8

sống, giá trị của con người giúp hướng đến giải thoát con người ra khỏi bể khổ trầm luân

Bản chất nội dung của nhân sinh quan Phật giáo tập trung vào hai vấn đề cơ bản nhất đó là sự khổ não và sự giải thoát ra khỏi nỗi khổ não đó Khổ là sự tất yếu, sự luân hồi, nếu muốn thoát ra khỏi khổ đau thì con người cần tu tâm dưỡng tính, tích công đức để tự mình thoát vòng luân hồi, nghiệp chướng

Với mong muốn giải thoát chúng sinh khỏi nghiệp nhân quả luân hồi Đức Phật

đã đưa ra Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chánh đạo, A la hán, Bồ Tát…

1.Tứ diệu đế

Tứ diệu đế hay tứ thánh đế, là bốn chân lý cao cả, là gốc cơ bản của Phật giáo

Tứ diệu đế là một phương pháp đủ cả hai “lý thuyết và thực hành” đưa hành giả tới giác ngộ giải thoát Phương pháp này đòi hỏi có sự tu tập thực hành trong cuộc sống hàng ngày, nếu chỉ lý thuyết thì chỉ là giả thuyết

Tứ diệu đế là chân lý về khổ (Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của khổ (tập đế), chân lý về khả năng chấm dứt khổ [diệt đế] và chân lý về con đường dẫn đến sự thoát khổ (Đạo đế)

Nói cho thật ngắn gọn, Tứ diệu đế dạy rằng ai cũng muốn hạnh phúc, không ai muốn khổ đau Khổ đau mà chúng ta đều muốn tránh, vốn là kết quả của chuỗi nhân quả có từ trước khi chúng ta ra đời Nếu muốn hoàn thành nguyện vọng thoát khổ, cần phải hiểu rõ nhân duyên của khổ, nghĩa là vì sao mà có khổ, khổ phát sinh trong trường hợp nào, rồi dựa vào đó mà nỗ lực diệt trừ cái khổ

Ngoài ra nhân duyên (nguyên nhân và điều kiện) của hạnh phúc cũng rất quan trọng, chúng ta cần hiểu rõ để có thể chủ động mang hạnh phúc về Đó chính là tinh túy của Tứ diệu đế

Xây dựng xong nền tảng giải thoát bằng Tứ diệu đế, đức Phật khai triển rộng hơn, dạy về ba mươi bảy nấc thang trên đường tu giải thoát, được gọi là ba mươi bảy phẩm trợ đạo

2 Thập nhị nhân duyên

Thập nhị nhân duyên là phép tu hành của Duyên giác thừa, phép này chủ yếu quán sát tất cả các sự vật, cho đến luân hồi, đều do nhân duyên mà khởi phát, nhân duyên hội họp thì gọi là sanh, nhân duyên tan rã thì gọi là diệt, sự thật vốn không có cái gì sinh, cái gì diệt cả

Nội dung của thập nhi nhân duyên gồm mười hai nhân duyên, các nhân duyên tác động với sự phát sinh của nhân duyên khác, dùng phép quán duyên khởi, diệt trừ những khâu chính trong dây chuyền mười hai nhân duyên, để đi đến chứng được đạo quả của Duyên giác thừa Mười hai nhân duyên đó gồm: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão tử

Trang 9

Hình 3 Thập nhị nhân duyên

Trong mười hai nhân duyên thì nguyên nhân căn bản của luân hồi, tức là vô minh và nguyên nhân của tất cả sự chuyển biến trong luân hồi tức là hành Chỉ khi nào diệt trừ được vô minh, thì mới giác ngộ, chỉ khi nào diệt trừ được hành thì mới hết sinh diệt Vì thế muốn diệt trừ vô mình cần quán tất cả các sự vật đều duyên sinh như huyễn không có tự tánh Khi phát ra trí tuệ, diệt trừ được vô mình, thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc, lục thập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão

tử đều diệt hết

3 Bát chánh đạo

Là con đường tám nhánh để giải thoát khỏi Khổ, là chân lý cuối cùng của Tứ diệu đế

Bát chánh đạo bao gồm: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mệnh, chánh tin tấn, chánh niệm và chánh định

Trang 10

Hình 4 Bát chánh đạo

Bát chánh đạo không nên hiểu là những con đường riêng biệt Mà cần thực hành cùng một lúc: Giới – Định - Tuệ Trong đó chánh kiến là điều kiện tiên quyết để đi vào chánh đạo và đạt tới Niết bàn

4 A la hán

Trong dân gian thường gọi là các vị La hán là người xứng đáng hoặc là người hoàn hảo theo Phật giáo Nguyên thủy, đã đạt tới Niết – bàn, thoát khỏi hoàn toàn Luân hồi Tuy nhiên theo các tông phái khác trong Phật giáo, thì thuật ngữ này để chỉ những người đã tiến rất sâu trên con đường giác ngộ, cũng thoát được sinh tử luân hồi nhưng chưa hoàn toàn viên mãn, nói cách khác chưa đạt Phật quả, khi A-la-hán viên tịch thì gọi là nhập Vô dư Niết bàn

Con đường đạt tới:

Có thể đạt quả vị A-la-hán bằng con đường Tứ thiền hoặc Tứ Thánh quả Nhưng muốn đi đường nào thì cũng phải sống độc thân, có Ái Dục mà tu đắc đạo là chuyện không bao giờ có Có thể nói Luân Hồi là Ái Dục, Ái Dục là Luân Hồi Một vị A La Hán là một vị đã phá bỏ được mười kiết sử Tuy nhiên do phúc đức và nhân duyên khác nhau, mà khả năng và thần thông của các vị A La Hán có thể có sự chênh lệch

Vì thế tạo những điều phúc hạnh lành, tôn kính Đức Phật, các vị Thánh và những bậc

Ngày đăng: 18/04/2022, 09:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Cao Xuân Sáng (2014), “Tư tưởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với ý thức đạo đức con người Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, (4), tr.127-130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với ý thức đạo đức con người Việt Nam hiện nay
Tác giả: Cao Xuân Sáng
Năm: 2014
[2] Nguyễn Quang Hưng, “HỒ CHÍ MINH HÓA GIẢI MỘT SỐ KHÁC BIỆT GIỮA PHẬT GIÁO VÀ CHỦ NGHĨA MÁC: TỪ LÝ THUYẾT TỚI THỰC TIỄN VIỆT NAM” Sách, tạp chí
Tiêu đề: HỒ CHÍ MINH HÓA GIẢI MỘT SỐ KHÁC BIỆT GIỮAPHẬT GIÁO VÀ CHỦ NGHĨA MÁC: TỪ LÝ THUYẾT TỚI THỰC TIỄN VIỆT NAM
[4] Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Kỷ yếu Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Tôn giáo, H, 2014, tr.50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
[3] Tô Thành Lê, Giáo trình triết học (Dùng cho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học), nxb Giáo dục và đào tạo năm 2005 Khác
[5] Đức Phật và Phật Pháp - Đại đức Narada Maha Thera (Được Phạm Kim Khánh dịch) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ vận hành của Danh và Sắc - Triết học phật giáo123
Hình 1. Sơ đồ vận hành của Danh và Sắc (Trang 4)
Phương pháp nội quán thể hiện dưới hai hình thức rất phổ biến ngày này là thực hành thiền và yoga. - Triết học phật giáo123
h ương pháp nội quán thể hiện dưới hai hình thức rất phổ biến ngày này là thực hành thiền và yoga (Trang 6)
Hình 3. Thập nhị nhân duyên - Triết học phật giáo123
Hình 3. Thập nhị nhân duyên (Trang 9)
Hình 4. Bát chánh đạo - Triết học phật giáo123
Hình 4. Bát chánh đạo (Trang 10)
Hình 4. Sáu Ba-la-mật-đa một Bồ Tát cần thực hành - Triết học phật giáo123
Hình 4. Sáu Ba-la-mật-đa một Bồ Tát cần thực hành (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w