1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tỷ giá hối đoái - mối quan hệ với cán cân thanh toán quốc tế và giải pháp để hoàn thiện chính sách tỷ giá ở việt nam

29 586 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỷ giá hối đoái - Mối quan hệ với cán cân thanh toán quốc tế và giải pháp để hoàn thiện chính sách tỷ giá ở Việt Nam
Người hướng dẫn Thạc sỹ Đào Hùng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề án môn lý thuyết tài chính tiền tệ
Năm xuất bản 2001
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 436,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ giá hối đoái chiếm vị trí chủ chốt trong hoạt động kinh tế đối ngoạicủa một quốc gia, là vị trí trung tâm trong các diễn biến kinh tế vĩ mô biểuhiện mối quan hệ kinh tế giữa nền kinh

Trang 1

Trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n

Gi¸o viªn híng dÉn : Th¹c sü §µo Hïng

Sinh viªn thùc hiÖn : nguyÔn thÞ hång phîng

Líp : Tµi chÝnh - 40A

Hµ Néi - 02/2001

Trang 2

Lời mở đầu

Đất nớc ta hiện nay, đang trong giai đoạn phát triển kinh tế và thúc đẩyhội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, việc hoạch định một chínhsách tỷ giá hối đoái với những giải pháp hữu hiệu để sử dụng công cụ tỷ giáhối đoái một cách phù hợp với quy luật nhằm hỗ trợ tốt cho quá trình pháttriển kinh tế và hội nhập là một vấn đề hết sức quan trọng Cho đến nay đã

có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giáhối đoái, nhng trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam

tỷ giá luôn là vấn đề mới mẻ,cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoànthiện.Vơí việc thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố HồChí Minh(7/2000), đánh dấu việc ra đời thị trờng chứng khoán ở Việt Nam

đã đặt ra nhiều vấn đề quan trọng trong việc sử dụng có hiệu quả các công

cụ mang tính kinh tế nh việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong can thiệp vào

tỷ giá hối đoái,và từ đó tạo điều kiện cho nghiệp vụ thị trờng mở pháttriển Đồng thời, đặt ra nhiều vấn đề trong việc nghiên cứu cơ chế, hànhlang pháp lý cũng nh việc phối hợp các chính sách trong việc xây dựng một

tỷ giá hối đoái phù hợp nhằm biến nó thành một công cụ quản lý nền kinh

tế một cách tích cực

Vì vậy, trên tinh thần vừa nghiên cứu vừa học hỏi, bài viết này tậptrung vào phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán,

đồng thời nêu ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tỷ giá hối

đoái của Việt Nam trong giai đoạn tới Bài viết này đợc kết cấu làm 4 phần:

Phần I: nhận thức chung về tỷ giá hối đoái.

Phần II: Tỷ giá trong mối liên hệ với cán cân thanh toán quốc tế

Phần III: Thực trạng và xu hớng phát triển chính sách tỷ giá hối đoái ở

Việt Nam

Phần IV: Những giải pháp chủ yếu cho việc hoàn thiện chính sách tỷ giá

hối đoái trong giai đoạn tới

Em xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Đào Hùng, ngời đãgiúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học cũng nh trong quá trình thực hiện

đề tài này

Với thời gian hạn hẹp và kiến thức còn hạn chế, bài viết này khôngtránh khỏi những sai sót,vì vậy em mong có sự góp ý tận tình của thầy đểbài viết sau đợc hoàn thiện hơn

Phần I

Nhận thức chung về tỷ giá hối đoái

I- Tỷ giá hối đoái :

Trang 3

Tỷ giá hối đoái chiếm vị trí chủ chốt trong hoạt động kinh tế đối ngoạicủa một quốc gia, là vị trí trung tâm trong các diễn biến kinh tế vĩ mô biểuhiện mối quan hệ kinh tế giữa nền kinh tế trong với các nền kinh tế của cácquốc gia có quan hệ mậu dịch.

Về hình thức,tỷ giá hối đoái là giá đơn vị tiền tệ của một nớc đợc biểuhiện bằng các đơn vị tiền tệ nớc ngoài ;là hệ số qui đổi của đồng tiền nàysang đồng tiền khác, đợc xác định bởi mối quan hệ cung- cầu trên thị trờng

Về nội dung,tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhucầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệgiữa các quốc gia

Trong quá trình theo dõi sự vận động của tỷ giá hối đoái, các nhà kinh

tế đa ra hai khái niệm về tỷ giá là tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối

đoái thực tế Chúng ta lần lợt bàn về từng loại và xem xét về mối quan hệgiữa chúng

- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là giá tơng

đối giữa hai đồng tiền, nó phản ánh tỷ lệ chuyển đổi giữa hai đồng tiền và

đợc biết đến nhiều thông qua các thị trờng tài chính tiền tệ, các phơng tiệntruyền thông đại chúng Khi nói đến tỷ giá hối đoái giữa hai nớc, ngời tathờng ám chỉ tỷ giá hối đoái danh nghĩa

-T ỷ giá hối đoái thực tế: Tỷ giá hối đoái thực tế là giá tơng đối của

hàng hoá ở hai nớc.Tức là tỷ giá hối đoái thực tế cho chúng ta biết tỷ lệ màdựa vào đó hàng hoá của một nớc đợc trao đổi với hàng hoá của nớckhác.Tỷ giá hối đoái thực tế đôi khi đợc gọi là tỷ lệ trao đổi.Tỷ giá hối đoáithực tế phản ánh tính cạnh tranh của nền kinh tế và đợc đo bằng tỷ lệ sosánh mặt bằng giá cả giữa hai quốc gia.Tỷ giá hối đoái thực tế đối với mộtloại hàng hoá duy nhất đợc tính bởi công thức :

Tỷ giá hối

đoái thực tế = (Tỷ giá hối đoái danh nghĩaGiá hàng ngoạix Giá hàng nội)

Tỷ lệ trao đổi giữa hàng nội và hàng ngoại phụ thuộc vào giá hàng hoá

đợc tính bằng nội tệ và tỷ giá mà tại đó hai đồng tiền đợc trao đổi với nhau

Từ công thức tính tỷ giá hối đoái thực tế của một loại hàng hoá duynhất,ngời ta đa ra công thức tính tỷ giá hối đoái của một giỏ hàng hoá rộnghơn.Ký hiệu e là tỷ giá hối đoái danh nghĩa ;P là mức giá trong nớc và P*làmức giá nớc ngoài.Khi đó tỷ giá hối đoái thực tế e đợc tính bởi công thứcsau:

Tỷ giá hối đoái

thực tế e = Tỷ giá hối đoáidanh nghĩa e x Tỷ số các mứcgiá P/P*

Từ công thức trên cho thấy :nếu tỷ giá hối đoái thực tế cao thì có nghĩa

là hàng ngoại tơng đối rẻ và hàng ngoại tơng đối đắt Ngợc lại, nếu tỷ giáhối đoái thực tế thấp thì hàng ngoại tơng đối đắt và hàng ngoại tơng đối rẻ.Ngoài hai khái niệm cơ bản trên về tỷ giá, thực tế trong nền kinh tế thịtrờng còn tồn tại nhiều loại tỷ giá khác nhau.Nếu dựa trên tiêu thức là đối t-ợng quản lý thì có tỷ giá chính thức (tỷ giá đợc công bố trên thị trờng đểlàm cơ sở cho các hoạt động giao dịch ) và tỷ giá thị trờng (tỷ giá đợchình thành thông qua các giao dịch cụ thề của các thành viên trên thị tr -ờng).Nếu dựa trên kỹ thuật giao dịch thì cơ bản có hai loại là tỷ giámua/bán giao ngay và tỷ giá mua /bán kỳ hạn

Trang 4

II- Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế thị trờng:

Một câu hỏi đợc đặt ra là tại sao tỷ giá là quan trọng? Lý thuyết vàthực tế cho thấy tỷ giá có vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế Tính chấtquan trọng cuả tỷ giá hối đoái thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất là vai trò của tỷ giá hối đoái đối với ngoại thơng: tỷ giá giữa

đồng nội tệ và đồng ngoại tệ là quan trọng đối với một quốc gia vì trớc tiên

nó tác động trực tiếp đến giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu của chính quốcgia đó.Ví dụ: 1 xe ô tô có giá không đổi trên thị trờng là 30000 USD đợcnhập khẩu,tính tơng đơng thành tiền Việt Nam là 405 triệu đồng khi mức tỷgiá là 1USD =13500VND,n hng khi tỷ giá tăng lên ở mức 1USD=14500 thìgiá của chiếc ô tô đó tính bằng tiền Việt Nam là 435 triệu, dẫn đến việcnhập khẩu loại ô tô đó giảm xuống.Từ đó có thể rút ra kết luận là: Nếu tỷgiá hối đoái có sự gia tăng, có nghĩa là đồng nội tệ giảm sẽ làm giảm nhậpkhẩu,tăng xuất khẩu,cán cân thơng mại thặng d.Điều ngợc lại cũng đúng,tức là nếu tỷ giá hối đoái có sự sụt giảm (đồng nội tệ tăng giá) sẽ làm giảmxuất khẩu,tăng nhập khẩu,cán cân thơng mại xấu đi.Nh vậy tỷ giá hối đoái

có vai trò quyết định thực trạng cán cân thơng mại của các quốc gia

Thứ hai là vai trò của tỷ giá hối đoái với sản lợng,việc làm, lạm phát:

Tỷ giá hối đoái không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thơng nhtrình bày ở trên.Mà thông qua đó,tỷ giá sẽ tác động đến các khía cạnh kháccủa nền kinh tế nh mặt bằng giá cả trong nớc,lạm phát,khả năng sảnxuất,việc làm

Cũng theo ví dụ trên và giả định mặt bằng giá cả thế giới là không

đổi,khi tỷ giá tăng từ mức 1SD=13500VND (năm 1998) lên mức 1USD=

14500 (năm2000) thì không những ảnh hởng đến xuất khẩu ròng, mặt khác,nếu tỷ giá hối đoái tăng liên tục có nghĩa là đồng Việt Nam liên tục mất giáthì có nghĩa là lạm phát gia tăng Bên cạnh đó, đối với lĩnh vực sản xuất,tính cạnh tranh của hàng hoá trong nớc tăng,sản xuất phát triển,tạo thêmviệc làm,sản lợng quốc gia có thể tăng lên Ngợc lại thì lạm phát sẽgiảm,khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực trong nớc giảm, sản lợng giảm,thất nghiệp tăng

Tóm lại, tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng vào loại bậc nhất trongnền kinh tế mở vì sự thay đổi của tỷ giá hối đoái có tác động đến hai nhómmục tiêu của nền kinh tế là mục tiêu cân bằng ngoại (cân bằng ngoại thơng)

và mục tiêu cân bằng nội (sản lợng, việc làm,và lạm phát)

III- Các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái :

Trong điều kiện tiền giấy và lạm phát tiền giấy đang trở nên phổ biến,

tỷ giá hối đoái chịu tác động của một số nhân tố chính nh sau:

- Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia: Mức lạm phát giữa các

nớc khác nhau sẽ dẫn tới giá cả hàng hoá ở hai nớc khác nhau Một sự tănglên trong mức giá tơng đối ở trong nớc so với mức giá trên thị trờng thế giới

có nghĩa hàng nhập khẩu có xu hớng rẻ hơn và hàng xuất khẩu trở nên đắthơn, do đó sức mua của đồng tiền trong nớc gỉam dẫn đến tỷ giá hối đoáităng và ngợc lại

- Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế: Nh ta đã phân tích, tỷ giá hối

đoái có tác động đến Cán cân thanh toán Ngợc lại cán cân thanh toán quốc

tế cuả một nớc với nớc ngoài trong mỗi thời kỳ lại là một biến số phản ánhkết quả của hoạt động kinh tế đôí ngoại của nớc đó với nớc khác Do đó nếuCán cân thanh toán quốc tế thay đổi sẽ dẫn tới sự thay đổi của tỷ giá hối

Trang 5

đoái.Nếu Cán cân thanh toán trong tình trạng thâm hụt dẫn đến nhu cầungoại tệ tăng lên làm tăng tỷ giá hối đoái giữa đồng bản tệ và đồng ngoại tệ.Ngợc lại, khi Cán cân thanh toán thặng d làm cho nhu cầu ngoại tệ giảm do

đó tỷ giá hối đoái giảm xuống

- Sự chênh lệch mức lãi suất: Khi lãi suất trong nớc tăng lên một cách

tơng đối so với các nớc khác trong những điều kiện nhất định sẽ làm đờngcầu về tiền của nớc đó dịch chuyển sang phải và làm tăng tỷ giá hối

đoái Ngợc lại khi lãi suất trong nớc giảm một cách tơng đối so với các nớckhác sẽ làm cho đờng cầu về tiền của nớc đó dịch chuyển sang trái và làm

tỷ giá hối đoái giảm xuống

- Thuế quan và cô-ta: Những hàng rào ngăn cản tự do buôn bán nh

thuế quan (thuế hàng nhập khẩu) và cô - ta (những hạn chế về số lợng hàngngoại có thể đợc nhập khẩu) có thể tác động đến tỷ giá Thuế quan và cô- ta

về lâu dài làm cho đồng tiền của nớc đó tăng giá

Ngoài ra sự biến động của tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hởng của một

số yếu tố khác nh tâm lý a thích hàng nội so với hàng ngoại, năng suất lao

động, khủng hoảng kinh tế,khủng hoảng tín dụng ở các nớc, sự điều tiết củaChính phủ

IV- Chính sách tỷ giá hối đoái

Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ dùng để tác

động vào cung - cầu ngoại tệ trên thị trờng từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối

đoái nhằm đạt đợc những mục tiêu cần thiết

Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái bao gồm hai vấn đề lớn là: vấn

đề lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái.Chúng ta lần lợt ngiên cú hai vấn đề này

1 Vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái:

1.1 Các chế độ tỷ giá hối đoái:

Nếu đứng trên tiêu thức sự phát triển của cả hệ thống tài chính thếgiới, thực tế đã có các chế độ tỷ giá hối đoái nh: chế độ hối đoái cố địnhmột cách tự nhiên theo bản vị vàng, chế độ tỷ giá hối đoái cố định danh

định Breton Woods,chế độ tỷ giá hối đoái Gia -mai-ca, chế độ tỷ giá hối

đoái bán thả nổi đặc trng hiện nay Nhng nếu đứng trên tiêu thức tồn tạitrong nền kinh tế quốc tế, về cơ bản, có thể phân chia thành ba chế độ tỷ giáhối đoái nh sau:

* Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi thuần tuý: Là một chế độ tỷ giá hối

đoái mà trong đó tỷ giá hối đoái sẽ đợc xác định và vận động một cách tự

do theo quy luật thị trờng, cụ thể là quy luật cung cầu trên thị trờng ngoại

tệ Đặc trng của chế độ tỷ giá hối đoái này là:

- Tỷ giá hối đoái đợc xác định và thay đổi hoàn toàn phụ thuộc vàotình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trờng

- Nhà nớc mà cụ thể là NHTW hoàn toàn không có một cam kết nào

về việc chỉ đạo, điều hành tỷ giá hối đoái

- Nhà nớc mà cụ thể là NHTW không có bất cứ một sự can thiệp trựctiếp nào vào thị trờng ngoại tệ(đơng nhiên vẫn có những can thiệp gián tiếpnhằm giảm bớt những biến động mạnh của tỷ giá trên thị trờng nhằm giảmbớt những tác hại đối với nền kinh tế bằng các biện pháp thuần túy nh thamgia mua bán ngoại tệ trên thị trờng theo giá cả do thị trờng quyết định với tcách nh một nhà kinh doanh giao dịch bình thờng)

Trang 6

* Chế độ tỷ giá hối đoái cố định: Là một chế độ tỷ giá hối đoái mà

trong đó nhà nớc (cụ thể là NHTW) ấn định tỷ giá hối đoái giữa đồng tiềncủa quốc gia mình và một đồng tiền nào đó hoặc theo một rổ các đồng tiềnnào đó ở một mức không đổi.Bằng cách thờng xuyên can thiệp vào thị trờngngoại tệ để thực hiện các hoạt động mua bán lợng d cung hay d cầu ngoại tệvới mức tỷ giá hối đoái cố định đã công bố.Ví dụ nh nếu cung trên thị trờngnhỏ hơn cầu ở mức tỷ giá hối đoái cố định đó thì ngân hàng sẽ đảm bảo bán

ra một lợng ngoại tệ bằng lợng d cầu và ngợc lại.Nh vậy, NHTW sẽ thựchiện hoạt động mua bán lợng d cung hay cầu đó với t cách là ngời mua báncuối cùng, ngời điều phối

* Chế độ tỷ giá hối đoái bán thả nổi (thả nổi có quản lý): Là một chế

độ tỷ giá hối đoái có sự kết hợp giữa hai chế độ tỷ giá hối đoái nói trên.Trong đó tỷ giá hối đoái sẽ tự xác định trên thị trờng theo quy luật cungcầu, Chính phủ chỉ can thiệp khi tỷ giá có những biến động mạnh Cáchthức này thờng thấy ở các nớc hiện nay là xác định một mức tỷ giá hối đoáichính thức và một biên độ dao động, nếu tỷ giá trên thị trờng dao động vợtquá biên độ dao động cho phép so với tỷ giá chính thức thì can thiệp củanhà nớc sẽ đợc thực hiện để duy trì biên độ đó Nếu tình hình kinh tế cónhững biến động lớn thì mức tỷ giá hối đoái cũng nh biên độ giao động chophép cũng thờng đợc nhà nớc xác định và công bố lại Trong chế độ này,việc can thiệp dẫn đến những biến động tỷ giá trên thị trờng phụ thuộc vàoviệc đánh giá của các nhà điều hành chính sách kinh tế vĩ mô về các biến

số, các mục tiêu của nền kinh tế

Trên đây là ba chế độ tỷ giá hối đoái cơ bản theo quan niệm chunghiện nay trong việc phân loại chế độ tỷ giá hối đoái Tuy nhiên trong thực

tế tồn tại nhiều loại chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau dựa trên ba chế độ tỷgiá cơ bản đó Chẳng hạn trong chế độ tỷ giá cố định thì còn có cố địnhtheo một đồng tiền hay một rổ đồng tiền; cố định theo đồng tiền này và thảnổi với đồng tiền khác; cố định vĩnh viễn (chỉ thay đổi khi tình hình kinh tếthay đổi) hoặc cố định nhng nhà nớc sẽ đánh giá lại mức tỷgiá cố định nàytheo định kỳ Một quốc gia có thể thực thi một chế độ tỷ giá hối đoái cố

định trong một vài năm,sau đó có thể thả nổi rồi trở lại cố định hay bán thảnổi Hay nói một cách khác,việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái thờngmang tính "định kỳ" Một vấn đề cần chú ý trong việc lựa chọn chế độ tỷgiá hối đoái là việc xác định tỷ giá chính thức cho thị trờng.Trong chế độ tỷgiá cố định hay bán thả nổi, việc xác định một mức tỷ giá mang tính chínhthức là cần thiết để làm chuẩn cho hoạt động can thiệp của chính phủ trênthị trờng

1.2 Căn cứ lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái:

Vấn đề lựa chọn chính sách tỷ giá nói chung và chế độ tỷ giá nói riêngphải xuất phát từ mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái: đó là mục tiêucân bằng nội (sản lợng,việc làm,lạm phát)và mục tiêu cân bằng ngoại (cânbằng ngoại thơng) Trong hai mục tiêu đó thì mục tiêu cân bằng ngoại chủyếu đợc gán cho vấn đề thứ hai trong chính sách tỷ giá là xác định tỷ giácân bằng và việc điều chỉnh tỷ giá.Nhng điểm chủ yếu trong vấn đề lựachọn chế độ tỷ giá là nhằm vào mục tiêu cân bằng nội trong nền kinh tế

Để đạt đợc mục tiêu cân bằng nội,thì vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá tối

u đợc xác định chủ yếu dựa vào những câu hỏi sau:

- Khả năng phản ứng của chế độ tỷ giá hối đoái đợc lựa chọn đối vớitác động cuả các cơn sốc lên nền kinh tế nh thế nào nhằm ổn định tổng sảnphẩm, ổn định giá cả trong nớc

Trang 7

- Mối quan hệ giữa chế độ tỷ giá hối đoái đợc lựa chọn với các chínhsách có liên quan trực tiếp (chính sách taì chính-tiền tệ ) nh thế nào ?

2 Vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái:

Vấn đề thứ hai trong chính sách tỷ giá hối đoái là vấn đề điều chỉnh tỷgiá hối đoái nhằm đảm bảo các cân bằng kinh tế vĩ mô tuỳ thuộc vào chế độ

tỷ giá hối đoái đợc lựa chọn Một cách tổng quát, trong chế độ tỷ giá hối

đoái thả nổi thuần tuý, vấn đề lựa chọn và điều chỉnh tỷ giá hối đoái khôngcần phải đặt ra vì điều đó hoàn toàn do thị trờng quyết định Việc lựa chọnchế độ tỷ giá hối đoái càng gần với thái cực cố định bao nhiêu thì vấn đềxác định mức tỷ giá cân bằng hợp lý và điều chỉnh tỷ giá khi có những thay

đổi trong nền kinh tế vĩ mô càng quan trọng bấy nhiêu Trong thực tế nhànớc có thể điều chỉnh sự mất cân bằng trong tỷ giá bằng các giải pháp sau:

- Giải pháp thờng dùng là phá giá đồng tiền: Mục đích của phá giá

đồng tiền là để tăng khả năng cạnh tranh quốc tế và cải thiện tình hình cáncân thơng mại trong tài khoản vãng lai.Lý do là phá giá sẽ giúp giảm giáhàng xuất khẩu và tăng giá hàng nhập khẩu.Tuy nhiên,việc để thực hiệnviệc phá giá thành công đòi hỏi phải có hàng loạt các điều kiện đi kèm nh

điều kiện Marshall-Lerner.Điều kiện Marshall -Lerner chỉ ra rằng :khi nào

mà độ co giãn của đờng cầu xuất khẩu cộng với độ co dãn của đờng cầunhập khẩu lớn hơn 1(h xk +hnk >1) thì phá giá mới giúp cải thiện cán cân th-

ơng mại.Ngoài việc thoả mãn điều kiện Marshall-Lerner, để thực hiện phágiá thành công,còn cần thiết phải có những điều kiện kinh tế đi kèm nh:chính phủ phải kiên quyết thực thi một chính sách tài chính tiền tệ thắt chặt,

dự trữ ngoại tệ đủ lớn

- Bên cạnh giải pháp phá giá, vấn đề điều chỉnh khi có sự mất cân bằngngoại còn có thể tiến hành bằng các giải pháp khác nh:Thuế nhập khẩu vàtrợ cấp xuất khẩu, chính sách thu nhập và tiết kiệm

2.1.Các công cụ sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái :

Thực tế, việc tác động vào tỷ giá hối đoái có thể đợc thực hiện bằngnhiều công cụ khác nhau và cách thức khác nhau Ngoại trừ các biện pháphành chính thì một số công cụ cơ bản và thuần tuý mang tính kinh tế màcác nớc tiên tiến thờng dùng trong can thiệp tỷ giá là:

- Công cụ lãi suất chiết khấu: Phơng pháp dùng lãi suất chiết khấu

để điều chỉnh tỷ giá hối đoái là phơng pháp thờng dùng với mong muốn

có những thay đổi cấp thời về tỷ giá Cơ chế tác động của công cụ nàylà: Trong thế cân bằng ban đầu của cung cầu ngoại tệ trên thị trờng, khilãi suất chiết khấu thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãisuất trên thị trờng Từ đó, tác động đến xu hớng chuyển dịch của dòngvốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn và làm những ngời sở hữu vốntrong nớc chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất caohơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái.Ví dụ khi lãi suất tăng sẽdẫn đến xu hớng là một dòng vốn vay ngắn hạn từ thị trờng thế giới đổvào trong nớc và những ngời sở hữu vốn ngoại tệ trong nớc sẽ có khuynhhớng chuyển đổi đồng ngoại tệ sang đồng nội tệ Kết quả là tỷ giá giảm.Ngợc lại, sẽ làm tỷ giá tăng

Điều kiện để sử dụng công cụ lãi suất chiết khấu trong việc tác

động đến tỷ giá là phải có một thị trờng vốn (nhất là thị trờng vốn ngắnhạn) đủ mạnh, tự do, linh hoạt; tài khoản vốn đợc mở cửa

- Công cụ nghiệp vụ thị trờng mở: Chính phủ cụ thể là NHTW sử

dụng công cụ này để tác động vào tỷ giá hối đoái bằng cách mua bán

Trang 8

ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối Một nghiệp vụ mua ngoại tệ trên thị ờng cuả NHTW sẽ làm giảm cung ngoại tệ, từ đó làm tăng tỷ giá hối

tr-đoái (ngoại tệ tăng hay nội tệ giảm giá) Ngợc lại, một nghiệp vụ bánngoại tệ rên thị trờng sẽ làm giảm tỷ giá hối đoái

Nghiệp vụ thị trờng mở là một công cụ có tác động mạnh đến tỷ giáhối đoái.Tuy nhiên để thực hiện nghiệp vụ nàyđòi hỏi quốc gia phải có

dự trữ đủ mạnh.Bên cạnh công cụ này, NHTW có thể tiến hành mua báncác chứng từ có giá nh tín phiếu kho bạc để làm thay đổi cung tiền trongnớc vẫn có tác động tỷ giá vì làm thay đổi lãi suất, mức giá cả trong n-

ớc Tuy nhiên cách thức này chỉ có tác động gián tiếp đến tỷ giá nhnglại có tác động trực tiếp đến các biến số kinh tế vĩ mô khác.Do đó công

cụ nghiệp vụ thị trờng mở nội tệ thờng không đợc dùng nh một công cụnhằm can thiệp điều chỉnh tỷ giá hối đoái mà chỉ đợc dùng phối hợp vớicông cụ nghiệp vụ thị trờng mở ngoại tệ

Ngoài hai công cụ cơ bản và thuần tuý mang tính kinh tế trên, cácquốc gia cũng thờng dùng một số công cụ mang tính hành chính nh cácquy định quản lý ngoại hối, điều chỉnh các nghiệp vụ mua bán trên thịtrờng và những điều chỉnh trong chính sách tài chính (thay đổi chỉtiêu,thuế khoá của chính phủ) cũng sẽ có tác động làm thay đổi tỷ giáhối đoái.Tuy nhiên,tỷ giá hối đoái cũng nh thị trờng ngoại hối chỉ là mộtphần trong thị trờng tiền tệ nói riêng và thị trờng tài chính nói chung Vìvậy, phải đặt chính sách tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với chính sáchtài chính tiền tệ quốc gia

Trang 9

Phần II

Tỷ giá trong mối liên hệ với cán cân

thanh toán quốc tế

I- quan điểm chung:

Một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính, tiền tệChâu á năm 1997 là việc các nớc để thâm hụt cán cân vãng lai ở mức cao

và trong một thời gian dài Trong bối cảnh các nền kinh tế trên thế giớingày càng phụ thuộc lẫn nhau, việc nhìn nhận thực trạng cán cân thanh toánquốc tế của một nớc là đòi hỏi cần thiết trong việc hoạch định và điều hànhchính sách kinh tế vĩ mô Một trong những nhân tố có mối liên hệ chặt chẽvới cán cân thanh toán là tỷ giá hối đoái Trên thực tế, đã nhiều nớc dùngchính sách phá giá để cải thiện cán cân thanh toán nhng thành công haythất bại lại phụ thuộc vào điều kiện của mỗi nớc, nhất là chế độ tỷ giá đợclựa chọn ở nớc đó Mối quan hệ giữa cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái

đợc thể hiện trên các khía cạnh sau:

1 Mối quan hệ giữa cán cân thanh toán và các chế độ tỷ giá hối

đoái khác nhau.

Một trong những nhân tố tác động lớn đến tỷ giá hối đoái đó là chế độ

tỷ giá hối đoái.Các nớc trên thế giới đã và đang áp dụng các chế độ tỷ giáhối đoái khác nhau nhng ta chỉ xem xét hai chế độ tỷ giá hối đoái cơ bản làchế độ tỷ giá hối đoái cố định và chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi

Dới chế độ tỷ giá hối đoái cố định: Cán cân tổng thể là một chỉ tiêuquan trọng bởi vì nó cho thấy áp lực phải phá giá hay lên giá đồng bảntệ.Trong trờng hợp bội chi cán cân thanh toán NHTW buộc phải can thiệptrên thị trờng ngoại hối để duy trì mức tỷ giá hối đoái cố định

Ngợc lại, dới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, NHTW sẽ không can thiệpvào thị trờng ngoại hối mà giá trị của động nội tệ đợc quyết định bởi cungcầu Dới chế độ này, cán cân tổng thể sẽ theo cơ chế tự động trở về mức cânbằng và không áp lực cho NHTW phải phá giá hoặc lên giá đồng nội tệ

2.Việc đánh giá tỷ giá của đồng nội tệ quá cao hay quá thấp ảnh ởng đến cán cân thanh toán.

h-Việc đánh giá quá cao tỷ giá đồng nội tệ so với giá trị thực của nó sẽlàm giảm tính cạnh tranh quốc tế.Kết quả là xuất khẩu giảm,nhập khẩu tănglên dẫn đến bội chi cán cân thơng mại Trờng hợp này thờng thấy ở nhữngnớc theo chiến lợc thay thế nhập khẩu và ở các nền kinh tế có nhiều ngoại

tệ đổ vào nền kinh tế

3 Mối quan hệ giữa chính sách phá giá và cán cân thanh toán:

Điều kiện Marshall-Lerner chỉ ra rằng: khi nào mà độ co giãn của ờng cầu xuất khẩu cộng với độ co dãn của đờng cầu nhập khẩu lớn hơn 1(h

đ-xk +hnk >1) thì phá giá mới giúp cải thiện cán cân thơng mại

II- Liên hệ thực tế ở Việt Nam trong các giai đoạn:

1 Giai đoạn từ 1954 đến 1989.

Giai đoạn này, ở Việt Nam cha xác lập nền kinh tế thị trờng.C ơ chế kếhoạch tập trung đang bao trùm nền kinh tế với nguồn ngân sách hạn hẹp,chủ yếu dựa vào viện trợ của các nớc XHCN, nhất là Liên Xô Tiền viện trợnày đợc tính theo tỷ giá do Nhà nớc quy định

Trang 10

Ngày 25/11/1955 đồng Việt Nam đợc chính thức quy định tỷ giá với

đồng nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc (1NDT=1470 Việt NamĐ)

Đến năm 1959, nớc ta đổi tiền nên tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồngNDT và đồng Rúp cũng thay đổi Năm 1977, các nớc XHCN thoả thuận vớinhau thanh toán bằng đồng Rúp chuyển nhợng.Một Rúp chuyển nhợng cólợng vàng là 0,987412 gram và tỷ giá đó đợc dùng trong thanh toán muabán.Song song với tỷ giá đó Nhà nớc ta còn ấn định tỷ giá kết toán nội bộ

để thanh toán giữa các tổ chức ngoại thơng.Việc sử dụng tỷ giá hối đoáitrong giai đoạn này cho thấy:

+ Tỷ giá hối đoái trong giai đoạn này hoàn toàn là do ý đồ của nhà nớcquyết đinh,không xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế cũng nh từ thị trongnớc và quốc tế

+ Tỷ giá kết toán nội bộ đợc sử dụng để kết toán thu chi ngân sách đãkhông phản ánh trung thực, đầy đủ sức mua của đồng Việt Nam với đồngRúp và một số đồng tiền khác

Từ năm 1985 sau khi có chủ trơng thu hút thêm vốn đầu t nớc ngoài thìUSD lần lợt vào thị trờng nhng chúng ta lại dùng tỷ giá do NHTW quy địnhcòn cách xa so với tỷ giá thực tế (giá thị trờng ) Tuy chênh lệch tỷ giá đã đợc

ấn định sát với thị trờng hơn song việc tự tạo ra một tỷ giá chính thức bóp méo

so với thực tế đã không phản ánh đợc các quan hệ kinh tế quốc tế và làm chocác quan hệ kinh tế cha đạt đợc hiệu quả

Sự áp đặt tỷ giá chính thức tởng là giữ đợc giá trị đồng tiền Việt Nam

so với các đồng tiền khác nhng đã đẩy xuất khẩu Việt Nam vào ngõcụt.Không khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, đẩy mạnh nhập khẩu làmcho cán cân thơng mại bị nhập siêu nghiêm trọng

Việc tự ý nâng cao đồng Việt Nam một cách thiếu cơ sở đã khiến cáccông ty xuất khẩu phản ứng lại bằng cách thực hiện phơng châm "dùng lãihàng nhập bù lỗ hàng xuất" Nguyên nhân của tình trạng đồng nội tệ bị

đánh giá quá cao là do khi xác định tỷ giá chính thức đã loại bỏ yếu tố lạmphát Tỷ giá chính thức của đồng Việt Nam với ngoại tệ không đợc điềuchỉnh tơng ứng với lạm phát.Tuy nhiên,những tác động tiêu cực của tỷ giácha đợc biểu hiện rõ trong nền kinh tế đóng trong cơ chế độc quyền ngoạithơng vì quan hệ ngoại thơng của Việt Nam thời kỳ này chủ yếu với các nớcSEV Tuy cán cân thơng mại đã có những chuyển biến tích cực song tìnhtrạng nhập siêu vẫn là phổ biến :tỷ lệ xuất/nhập khẩu của giai đoạn 1975-

1980 là 1/4,2 ;giai đoạn 1981-1985 là 1/1,28; giai đoạn 1986-1990 là 1/1,8

2 Giai đoạn từ 1989 đến nay.

Từ năm 1989 đến nay, Nhà nớc đã xoá bỏ các tỷ giá hối đoái trớc đây

nh tỷ giá kết toán nội bộ và thực hiện chế độ một tỷ giá Tỷ giá hối đoái đã

đợc điều chỉnh sát với thị trờng Nhà nớc đã giao cho NHTW công bố tỷ giáchính thức giữa đồng Việt Nam với các ngoại tệ mạnh đặc biệt là USD vàcho phép NHTM đợc xây dựng tỷ giá hàng ngày với mức chênh lệch 5% sovới tỷ giá chính thức

Ngoại trừ sự đột biến về tỷ giá vaò cuối năm 1991 và đầu năm 1992 thìgiao động của tỷ giá là tơng đối ổn định Nhờ áp dụng tỷ giá hối đoái mớinên đã mang lại những kết quả thiết thực và quan trọng cho ngoại thơngViệt Nam Kinh doanh xuất nhập khẩu đợc đẩy mạnh, đặc biệt là khuyếnkhích xuất khẩu góp phần tăng nhanh doanh số xuất nhập khẩu, cải thiệncán cân thơng mại Nhà nớc đã áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự

Trang 11

quản lý của nhà nớc nhng việc điều hành của nhà nớc trong từng năm cókhác nhau, ta có thể chia làm 3 thời kỳ.

- Thời kỳ từ 1989-1993: Trong thời kỳ này,tình hình tỷ giá hối đoái,

lạm phát và xuất nhập khẩuđợc thể hiện trong bảng số sau:

Nhập khẩu(triệu USD)

Do tỷ giá hối đoái hình thành và vận động căn cứ hàng loạt yếu tố nhgiá vốn xuất khẩu, cung cầu trên thị trờng nội địa, chính sách đối với đồngnội tệ, tình hình lạm phát cộng với trình độ phát triển kinh tế của ViệtNam còn thấp nên tình trạng thâm hụt cán cân thơng mại sẽ còn kéo dàitrong thời gian tới Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải cố gắng để đạt đợcchi phí xuất nhập khẩu thấp hơn tỷ giá hối đoái hình thành trên thị trờng,chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái trên thị trờng và chi phí xuất khẩu càng lớnthì doanh nghiệp càng có lợi.Nh vậy mức tỷ giá hợp lý phải nằm giữa giớihạn tỷ giá xuất khẩu và tỷ giá nhập khẩu

Tỷ giá xuất khẩu < Tỷ giá hối đoái < Tỷ giá nhập khẩu

Mặt khác, vào thời gian những năm 1989-1991 giá trị đồng Việt Namkhông ổn định, lạm phát cao bội chi ngân sách lớn lại đợc bù đắp bằngnguồn phát hành tiền không đợc kiểm soát hợp lý, quản lý ngoại tệ vừa lỏnglẻo vừa cứng nhắc hành chính đã góp phần làm chao đảo tỷ giá hối đoáiVND/USD, tạo nên cơn sốt ngoại tệ, làm trầm trọng thêm lạm phát và ảnhhởng không nhỏ đến cán cân thơng mại.Từ năm 1992-1993 những đổi mớitrong chính sách tài chính tiền tệ nh chấm dứt bù đắp thiếu hụt ngân sáchbằng phát hành tiền, duy trì lãi suất tiết kiệm,quản lý lợng cung ứng ngoại

tệ theo tốc độ tăng trởng và mục tiêu chống lạm phát do đó đã ổn định

đ-ợc sức mua của đồng tiền

- Thời kỳ 1993-1996: Trong thời kỳ này Nhà nớc đã chủ động canthiệp và giữ tỷ giá hối đoái trong suốt khoảng thời gian 1993-1996 với mứcbiến động rất nhỏ đợc thể hiện qua bảng:

Lạm phát và tỷ giá của Việt Nam qua các năm 1993-1996

Năm Tỷ giá USD/VNĐ So sánh %năm trớc Tốc độ lạm phát

Trang 12

1995 11040 0 12,7

Nguồn :Tạp chí phát triển kinh tế số 93 tháng 7/98

Qua số liệu cho thấy tốc độ tăng của tỷ giá hối đoái chậm hơn tốc độtăng của lạm phát vì các nhân tố kinh tế đối ngoại tác động đến việc duy trìmột tỷ giá hối đoái ổn định trong một thời gian dài đã đóng vai trò quantrọng trong việc củng cố sức mua của đồng tiền Việt Nam,kiềm chế đợclạm phát, góp phần đẩy mạnh thu hút vốn đầu t, khuyến khích đầu t của n-

ớc ngoài Tuy nhiên, tỷ giá ổn định từ 1993-1996 đã không khuyến khích

đợc xuất khẩu,làm cho ngoại thơng kém phát triển, thể hiện qua bảng:

Số liệu xuất nhập khẩu qua các năm 1993-1996 :

- Từ năm 1997 đến nay Nhà nớc đã có những chỉ đạo:

Chỉ đạo xử lý nợ quá hạn từ năm 1994, hạn chế kịp thời tình trạng mởtài khoản L/C thanh toán một cách tràn lan và cuối năm 1996 thông quakhống chế mức mở L/C trả chậm, xem xét cho nhập khẩu những mặt hàngcần thiết chủ yếu là những mặt hàng về t liệu sản xuất, dựa vào huy độngvốn trung và dài hạn càng đợc nâng cao và huy động vốn bằng mọi biệnpháp thông qua ký quỹ bắt buộc

Điều hành tỷ giá hối đoái theo tín hiệu thị trờng: Nhà nớc thực hiệnchính sách thả nổi có kiểm soát Nhà nớc đã mở rộng biên độ giao dịch củacác ngân hàng thơng mại từ 1% đến 5% rồi lên 10%,giải pháp này đã gópphần giảm sức ép đối với tỷ giá hối đoái.Mặc dù có những biến động phứctạp về tỷ giá hối đoái song tổng kim nghạch xuất khẩu năm 1997 vẫn tăngxấp xỉ 9%, đạt đợc 20050 triệu USD Mặc dù còn tồn tại nhiều khó khănsong năm 1997 Việt Nam đã đạt đợc một số thành công đáng kể.Chính sach

tỷ giá hối đoái đã đợc điều chỉnh từng bớc linh hoạt,một mặt tạo điều kiệncho giá trị đồng Việt Nam phản ánh tơng đối xác thực cung cầu ngoạitệ,góp phần kiềm chế lạm phát,một mặt hỗ trợ xuất khẩu

Sang năm 1998, tình hình tỷ giá hối đoái trong nớc ngày càng biến

động phức tạp,tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng USD ngày càng tăng,thậm chí có ngày thay đổi vài lần điều này đã ảnh hởng không tốt tới đờisống kinh tế xã hội Nhiều doanh nghiệp cố gắng nắm giữ ngoại tệ trong tài

Trang 13

khoản chờ tăng giá để kiếm chênh lệch.Một số doanh nghiệp khác có nhucầu ngoại tệ để trả nợ, mua máy móc thiết bị hoặc L/C đến hạn thanh toánnhng lại không dám vay vì sợ tỷ giá biến động đột ngột sẽ không trả đợc

nợ Đồng ngoại tệ đóng băng, các ngân hàng không mua, không bán hoặccho vay bằng ngoại tệ đợc Trớc tình hình đó, Chính phủ đã ra quyết định37/1998/QĐ-TTg (ngày 14/2/1998) về một số biện pháp nhằm quản lýngoại tệ và đã kiểm soát đợc lợng ngoại tệ, ngăn chặn cơn sốt tỷ giá Tỷ giátrên thị trờng tự do và tỷ giá trên thị trờng chính thức đã sát lại gần nhau.Ngân hàng đã kiểm soát đợc 90% lợng ngoại tệ giao dịch trên thị trờng Tóm lại qua phân tích môí liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cânthanh toán, ta có thể thấy rõ chính sách tỷ giá có vai trò quan trọng nh thếnào trong việc làm thế nào lập lại thế cân bằng đối ngoại của một nền kinh

tế vĩ mô Mức độ ảnh hởng của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán hoàntoàn không đơn giản mà rất phức tạp,đòi hỏi một sự phân tích thoả đáng

điều kiện thơng mại trong nớc, sự thay đổi của các chính sách kinh tế củaquốc gia nh chính sách lãi suất, chính sách thuế quan đặc biệt là chínhsách tỷ giá hối đoái (trong đó bao hàm việc lựa chọn chế độ tỷ giá và sự

điều chỉnh tỷ giá hối đoái.Phần sau, chúng ta sẽ nghiên cứu vấn đề này

Trang 14

Phần III

Thực trạng và xu hớng phát triển chính sách

tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

I- Thực trạng hoạch định và thực hiện chính sách

tỷ giá hối đoái.

(Trong bài viết này chỉ nghiên cứu từ năm 1989 đến nay)

1 Thời kỳ "thả nổi" tỷ giá hối đoái 1989-1992.

Giai đoạn nay nền kinh tế nớc ta mới chuyển đổi từ kế hoạch hoá tậpchung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc Vì vậy việc ấn

định một tỷ giá cứng nhắc nh trong thời kỳ bao cấp sẽ trở nên bất hợp lý.Ngay từ năm 1989 Nhà nớc đã xoá bỏ chế độ nhiều tỷ giá, thống nhất vàomột tỷ giá gần sát với tỷ giá của thị trờng

Căn cứ theo quyết định số 217/CP (20/10/1988) NHTƯ đã đợc phép

điều chỉnh tỷ giá phù hợp với sự biến động giá cả trong nớc theo nguyên tắcthời giá trừ lùi 10% đến 30%, cá biệt đến 50% Giá cả ở Việt Nam từ khixoá bỏ chế độ bao cấp hầu hết đợc hình thành trên thị trờng và biến độngtheo quy luật cung cầu Nh vậy tỷ giá đồng Việt Nam với đồng ngoại tệcũng phải đợc điều chỉnh một cách linh hoạt phù hợp vpí sự biến động giácả trong và ngoài nớc

Tuy nhiên xu hớng chung là tăng và đợc Nhà nớc điều chỉnh sát giácủa thị trờng tự do, điều này chứng tỏ Nhà nớc bắt đầu thả nổi tỷ giá, quan

hệ cung cầu đã đợc quan tâm đầy đủ hơn Trong bối cảnh của Việt Nam lúc

đó đang hết sức khó khăn về cán cân thơng mại và cán cân thanh toán thâmhụt nghiêm trọng thì việc điều chỉnh chính sách tỷ giá là rất khó khăn cầnphải xem xét thận trọng Để chính sách tỷ giá đợc chuyển đổi thích hợp nh-

ng vẫn đảm bảo khuyến khích xuất khẩu, kích thích đầu t trong và ngoài

n-ớc mà không tạo cú sốc đến hoạt động của nền kinh tế, NHNN đã thực hiện

đa dần tỷ giá lên (phá giá từ từ đồng Việt Nam) Mặc dù giá cả biến độnglớn nhng NHNN đã xem xét mức độ ảnh hởng của tỷ giá khi đa lên giá cao

sẽ ảnh hởng trực tiếp đến giá đầu vào của sản phẩm do đó đẩy giá đầu racao lên gây mất ổn định giá cả trong nớc Thực tế trong những năm 1988 và

1989 ở Việt Nam xuất khẩu chỉ bằng 1/3 nhập khẩu Vì vậy khi nâng tỷ giácao đột ngột sẽ gây tác động mạnh đến mức giá cả trong nớc Do đó tronggiai đoạn những năm 1989 - 1992, mặc dù tỷ giá biến động lớn nhng tỷ lệ

điều chỉnh tỷ giá chỉ từ 10% đến 30% so với mức thay đổi giá thực tế Điềunày giảm bớt đợc sự biến động giá cả mạnh trong nớc

Chính sách tỷ giá thả nổi đợc thực hiện trong giai đoạn này đã manglại giải pháp thích hợp hơn về chính sách tỷ giá cho một nền kinh tế thị tr-ờng ở nớc ta Tuy nhiên nó cũng gây các tác động không nhỏ đến nền kinh

tế nớc ta:

-Thứ nhất, việc thả nổi tỷ giá sẽ kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ

nhằm mục đíc hởng chênh lệch giá Điều này làm cho cầu về ngoại tệ tăng,dẫn đến nhiều thay đổi đối với thị trờng ngoại tệ

-Thứ hai, dẫn đến tình trạng tỷ giá thờng xuyên đột biến do tác động

của giá cả bất ổn định trong giai đoạn này.Thêm vào đó, trờng hợp thiếungoại tệ gây nên những cơn sốt USD làm mất ổn định nền kinh tế

Ngày đăng: 19/02/2014, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w