Lý do lựa chọn đề tài
Gia Lộc, huyện đồng bằng Bắc bộ, nằm ở trung tâm tỉnh Hải Dương, có vị trí chiến lược giữa Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, là cửa ngõ phía Nam của thành phố Hải Dương Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Gia Lộc đang nỗ lực thực hiện nhiều chính sách nhằm nâng cao đời sống nông dân, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới nhấn mạnh quy hoạch phát triển nông thôn gắn với đô thị và bố trí dân cư nông thôn Tìm kiếm các mô hình kinh tế - xã hội hiệu quả nhằm phát triển nông thôn và đô thị đang là mối quan tâm lớn của người dân Gia Lộc và toàn xã hội.
Đến nay, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là đề tài của TS Phạm Đình Tuyển về Quy hoạch phát triển Trung tâm tiểu vùng các huyện Trung du, với ứng dụng tại huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang Một trong những luận điểm chính là việc phát triển nông thôn gắn liền với việc bố trí Trung tâm tiểu vùng nhằm thu hút nguồn lực thị trường và tổ chức lại xã hội nông thôn dưới sự điều tiết của Nhà nước Mô hình kinh tế - xã hội này, mặc dù có những lợi ích, cũng gây ra một số tác động tiêu cực như ảnh hưởng đến môi trường sống, gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình đẳng giữa các địa phương Huyện Gia Lộc, với điều kiện tự nhiên và xã hội tương đồng với các huyện Trung du phía Bắc, là đối tượng nghiên cứu để phát triển mô hình kinh tế - xã hội phù hợp, nhằm tối thiểu hóa các tác động tiêu cực Do đó, luận văn đã chọn đề tài "Quy hoạch xây dựng phát triển Trung tâm tiểu vùng tại huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương" với mong muốn đóng góp vào lý luận về quy hoạch xây dựng nông thôn, tạo bước đột phá cho sự phát triển nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của nghiên cứu là đề xuất mô hình kinh tế - xã hội và mô hình không gian cho huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, nhằm tích hợp các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn Nghiên cứu này sẽ góp phần thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối và mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn của huyện trong giai đoạn 2010-2020.
Nghiên cứu quy hoạch xây dựng Trung tâm tiểu vùng bao gồm quy mô, cấu trúc, mạng lưới và mối quan hệ với hệ thống đô thị và điểm dân cư nông thôn Điều này liên quan đến quy hoạch sử dụng đất, kiến trúc cảnh quan, hạ tầng kỹ thuật, môi trường và phát triển bền vững, nhằm tạo cơ sở cho việc triển khai quy hoạch xây dựng nông thôn hiệu quả.
Xây dựng một mô hình kinh tế - xã hội thực tiễn và khả thi, có thể áp dụng rộng rãi cho các huyện khác trong vùng đồng bằng Bắc Bộ sau khi tiến hành tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu quy hoạch xây dựng phát triển Trung tâm tiểu vùng tại huyện Gia Lộc nhằm hình thành hệ thống quan điểm lý luận vững chắc Đề tài này chú trọng đến mối quan hệ giữa quy hoạch phát triển nông thôn, phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư nông thôn, từ đó đảm bảo sự phát triển bền vững cho khu vực.
Nghiên cứu mô hình kinh tế - xã hội của Trung tâm tiểu vùng là cần thiết trong bối cảnh kinh tế - xã hội và văn hóa Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng Điều này phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Nghiên cứu và tham khảo kinh nghiệm phát triển nông nghiệp nông thôn từ các vùng như Trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, đồng bằng Nam Bộ và quốc tế là cần thiết để xây dựng mô hình phát triển phù hợp.
Phương pháp phân tích và so sánh sẽ được áp dụng để nghiên cứu các quy hoạch xây dựng, đặc biệt là các Quy chuẩn xây dựng đô thị và điểm dân cư nông thôn hiện tại Nghiên cứu sẽ bắt đầu bằng việc thu thập và tổng hợp thông tin từ các kết quả nghiên cứu, bài báo viết và báo mạng liên quan để thiết lập các thông tin ban đầu cần thiết.
Các khái niệm có liên quan
Khu vực nông thôn hay đề cập đến hiện nay là các huyện Huyện có các thị trấn huyện lỵ (đô thị cấp V và cấp IV) và các xã.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, yếu tố địa chính trị và địa kinh tế thường xảy ra xung đột, dẫn đến việc điều chỉnh ranh giới hành chính, chuyển đổi từ xã lên phường, thành lập quận mới và sát nhập các xã Khu vực nông thôn, đặc biệt là vùng ngoại thị của các đô thị lớn, luôn có sự biến đổi về ranh giới và điểm dân cư Bài viết này sẽ tập trung vào khu vực nông thôn huyện Gia.
Lộc, tỉnh Hải Dương, là một điểm dân cư nông thôn quan trọng, bao gồm các xã và thị trấn huyện lỵ Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình, gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội Các khu vực này, như trung tâm xã, thôn, làng, ấp, bản và buôn, được hình thành dựa trên các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục và tập quán địa phương.
Trong quá trình đô thị hóa nông thôn, các điểm dân cư tại khu vực này đóng vai trò quan trọng như trung tâm dân cư của tiểu vùng, thị tứ và các dịch vụ nông thôn.
Về địa chính trị, nông thôn được định nghĩa là khu vực nằm ngoài nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã và thị trấn, và được quản lý bởi các cấp hành chính cơ sở.
UBND xã. c) Quy hoạch xây dựng nông thôn
Quy hoạch xây dựng nông thôn là quá trình tổ chức và phát triển không gian mạng lưới dân cư nông thôn, bao gồm việc thiết kế hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trong phạm vi xã hoặc liên xã.
Quy hoạch xây dựng nông thôn bao gồm quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn tại các xã hoặc liên xã, còn gọi là quy hoạch chung xây dựng xã Bên cạnh đó, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, hay quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã, thôn, làng, cũng đóng vai trò quan trọng Đặc biệt, quy hoạch xây dựng nông thôn mới là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển nông thôn bền vững.
Quy hoạch nông thôn mới là quy hoạch không gian và quy hoạch hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn xã để thực hiện 19 tiêu chí.
Quy hoạch nông thôn mới bao gồm 03 nội dung chủ yếu, gồm:
- Quy hoạch xây dựng mạng lưới điểm dân cư nông thôn và phân vùng sản xuất (Quy hoạch chung nông thôn mới);
- Quy hoạch chi tiết xây dựng khu trung tâm xã và điểm dân cư nông thôn tập trung;
- Quy hoạch chi tiết hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng. e) Trung tâm tiểu vùng
Khái niệm về Trung tâm tiểu vùng không hoàn toàn mới.
Khi tìm kiếm cụm từ “Trung tâm tiểu vùng” trên Google, bạn sẽ thấy nhiều bài viết liên quan đến khái niệm này Tóm lại, có ba dạng chính của “Trung tâm tiểu vùng” mà bạn cần nắm rõ.
Trung tâm tiểu vùng đóng vai trò quan trọng như trung tâm của một khu vực rộng lớn, thể hiện sự phát triển kinh tế và văn hóa Ví dụ điển hình là Trung tâm tiểu vùng sông Mê Công, trong khi Hậu Giang được xác định là Trung tâm tiểu vùng Tây sông Hậu, góp phần thúc đẩy sự liên kết và phát triển bền vững trong khu vực.
- Trung tâm tiểu vùng chính là thị trấn (đô thị) của một số cụm xã hay các xã trong huyện;
- Trung tâm tiểu vùng là trung tâm của một cụm xã.
Giới thiệu chung về huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
Hải Dương là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam, với 12 đơn vị hành chính, trong đó thành phố Hải Dương là trung tâm hành chính cách Hà Nội 57 km về phía đông Gia Lộc, huyện nằm phía tây nam tỉnh Hải Dương, có diện tích 112 km² và dân số khoảng 147.322 người, bao gồm 23 đơn vị hành chính với một thị trấn và 22 xã Địa hình huyện chủ yếu là đồng bằng, trong đó 67% diện tích là đất nông nghiệp Về giao thông, Gia Lộc được kết nối bởi đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, quốc lộ 37 và các tỉnh lộ như 399, 392, 395, và 393, tạo thành mạng lưới giao thông chính của khu vực.
Gia Lộc chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, với các loại cây trồng như lúa, rau, khoai tây, tỏi, ớt và hoa đào Ngoài ra, địa phương còn nổi tiếng với các sản phẩm rau quả như táo và dưa hấu.
Lộc được tiêu thụ cho thị trường trong tỉnh và các tỉnh phía nam.
Huyện có nhiều điểm du lịch hấp dẫn, bao gồm đền thờ Yết Kiêu tại xã Yết Kiêu, nơi là quê hương của ông Du khách cũng có thể tham quan di tích lịch sử Đền Quát, mộ Đỗ Quang, đình Phương Điếm và đền Cuối Bên cạnh đó, đền thờ Nguyễn Chế Nghĩa tại Thị trấn Gia Lộc cũng là một địa điểm không thể bỏ qua.
Các nghiên cứu về quy hoạch xây dựng tại khu vực nông thông có liên
Hiện nay, có nhiều nghiên cứu liên quan đến quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng, trong đó đáng chú ý là nghiên cứu do Chương trình phát triển Liên hiệp quốc, Ngân hàng thế giới, và Bộ khoa học - Công nghệ và Môi trường tài trợ và thực hiện Nghiên cứu này lần đầu tiên đề xuất khái niệm về Trung tâm dịch vụ nông thôn, nhấn mạnh vai trò của nó trong việc đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho cộng đồng nông thôn, cả về sản xuất lẫn đời sống xã hội.
Quy hoạch xây dựng trung tâm dịch vụ nông thôn tại huyện Gia Lâm, Hà Nội, do TS Phạm Đình Tuyển chủ trì vào năm 2005, nhằm phát triển hạ tầng và dịch vụ cho khu vực nông thôn Trung tâm này không chỉ phục vụ nhu cầu của người dân mà còn đóng vai trò quan trọng như một trung tâm tiểu vùng, kết nối và hỗ trợ cho một số xã lân cận.
Quy hoạch xây dựng phát triển Trung tâm tiểu vùng các huyện Trung du, đặc biệt là huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, do TS Phạm Đình Tuyển chủ trì vào năm 2011, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp phát triển nông thôn với phát triển đô thị Đề tài mở rộng quan điểm này bằng cách đề xuất quy hoạch các Trung tâm tiểu vùng, bao gồm huyện lỵ và các khu vực phát triển đô thị, nhằm thu hút nguồn lực thị trường và tổ chức lại xã hội nông thôn Điều này được thực hiện theo nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững và hiệu quả cho khu vực nông thôn.
Nghiên cứu của Jeff Kenworthy tại Viện Nghiên cứu Chính sách Công nghệ và Bền vững, Đại học Murdoch, tập trung vào phát triển đô thị làng quê bền vững ở châu Âu Nghiên cứu này phân tích mật độ đô thị làng quê, liên quan đến các vấn đề như bán kính phục vụ, công trình dịch vụ công cộng, và cảnh quan không gian Đồng thời, nó cũng xem xét mối liên hệ giữa các đô thị làng quê, nhằm cung cấp cái nhìn tổng thể về sự phát triển bền vững trong khu vực này.
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
TẠI HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TẠI
HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG QUY HOẠCH XÂY DỰNG TẠI HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TẠI HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
1.1.1 Tóm tắt về tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
1) Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam nằm trong bối cảnh chung của kinh tế Việt Nam, được đánh giá trong báo cáo chính trị của ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI:
Nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn và đạt được những thành tựu đáng kể, với sự ổn định vĩ mô và tốc độ tăng trưởng khả quan Tiềm lực và quy mô nền kinh tế ngày càng gia tăng, giúp đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển Các ngành kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp, đã có sự phát triển ổn định, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Đời sống người dân và kinh tế nông thôn được cải thiện nhờ vào việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giống cây trồng mới, và thúc đẩy các cụm công nghiệp, làng nghề Những nỗ lực này đã tạo ra việc làm, xoá đói giảm nghèo và chuyển dịch tích cực trong cơ cấu lao động.
Kinh tế Việt Nam đang đối mặt với nhiều hạn chế và khuyết điểm, bao gồm sự phát triển chưa bền vững và hiệu quả cạnh tranh thấp, không tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển của đất nước Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào đầu tư và khai thác tài nguyên, trong khi ngành công nghiệp chế tạo và chế biến phát triển chậm Năng suất lao động xã hội thấp hơn so với các nước trong khu vực, và năng lực cạnh tranh quốc gia cải thiện chậm Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển không đồng bộ, cùng với việc quản lý và khai thác tài nguyên thiên nhiên chưa hiệu quả, dẫn đến lãng phí Sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các vùng ngày càng lớn và có xu hướng mở rộng.
2) Trong thế kỷ 21, nông nghiệp vẫn tiếp tục là công cụ chính cho sự phát triển bền vững và giảm nghèo: a) Tỷ trọng vốn đầu tư cho nông, lâm, thuỷ sản trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giảm và hiện ở mức thấp.
Việt Nam, với 70% dân số sống ở nông thôn, là một quốc gia nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc ứng phó với các cuộc khủng hoảng kinh tế, như khủng hoảng khu vực 1997-1998 và suy thoái toàn cầu 2008-2009 Sản xuất nông nghiệp đã giúp tăng thu nhập của người nghèo từ 2-4 lần so với các hoạt động phi nông nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ vốn đầu tư cho nông, lâm, thủy sản trong tổng vốn đầu tư xã hội đang giảm mạnh, chỉ còn 6,3% vào năm 2009 Đầu tư chủ yếu đến từ ngân sách Nhà nước, nhưng nguồn lực này còn hạn chế, chỉ đủ cho các xã thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo và phát triển cơ sở hạ tầng cơ bản.
Nông nghiệp hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào nguồn lực tại chỗ và hoạt động theo phương thức tự cung tự cấp, dẫn đến sự phụ thuộc vào thời vụ Quy mô ruộng đất trên mỗi lao động thấp, gây ra thu nhập thấp và hạn chế khả năng tái đầu tư Hơn nữa, cơ cấu nông nghiệp vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể về chất.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới phương thức sản xuất trong nông nghiệp đang diễn ra chậm, với hình thức sản xuất chủ yếu là nhỏ lẻ và phân tán Điều này dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, cũng như giá trị gia tăng của nhiều mặt hàng chưa cao.
Việt Nam chủ yếu sản xuất nông sản ở dạng thô hoặc sơ chế, dẫn đến hàm lượng dinh dưỡng thấp và giá trị hàng hóa không cạnh tranh được với các sản phẩm tương tự trên thị trường quốc tế.
Giá trị nông sản trên mỗi đơn vị diện tích gieo trồng và năng suất lao động nông nghiệp tại Việt Nam hiện đang ở mức thấp Trong khi Mỹ chỉ có khoảng 2% dân số làm nông nghiệp, Hà Lan với 4 triệu héc-ta đất nông nghiệp lại xuất khẩu nông phẩm đạt 17 tỷ USD mỗi năm, tương đương với giá trị xuất khẩu 4 triệu USD/ha Mỗi lao động nông nghiệp Việt Nam chỉ đủ cung cấp nông sản cho 2-3 người, trong khi mục tiêu là xây dựng cánh đồng có giá trị từ 50 triệu đến 100 triệu đồng/ha Hiện nay, nguồn tài nguyên đất vẫn chưa được khai thác hiệu quả.
Chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp là mong muốn của nhiều địa phương, tuy nhiên, chưa rõ cách thức thực hiện Nguồn tài nguyên quan trọng của nông nghiệp và kinh tế nông thôn như lao động, đất đai, nước và khoáng sản đang bị thu hút vào quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa.
Diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa, đang giảm sút do quá trình đô thị hóa, khiến nông thôn trở thành khu vực phụ thuộc của đô thị Bên cạnh đó, thể chế tại khu vực nông thôn thay đổi chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng hóa.
Các tổ chức sản xuất nông nghiệp đang chuyển đổi từ hộ kinh tế gia đình sang các mô hình hợp tác xã và công ty theo luật doanh nghiệp Tuy nhiên, việc tiếp cận khoa học và công nghệ tại khu vực nông thôn còn khó khăn, với nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực hạn chế, dẫn đến việc nông dân thiếu kiến thức và điều kiện để áp dụng công nghệ mới Ngoài ra, thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường và biến đổi khí hậu tạo ra nhiều rủi ro cho sản xuất nông nghiệp, trong khi khả năng thích ứng của người nông dân còn yếu Sự chênh lệch giữa thành phố và nông thôn thể hiện rõ qua thu nhập, chi tiêu, nhà ở và các dịch vụ cơ bản, đồng thời nông thôn đang thiếu hụt lực lượng lao động trẻ.
Khoảng cách về quyền lợi kinh tế và xã hội giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp, cũng như giữa nông thôn và thành thị, ngày càng gia tăng.
Tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn cao gấp đôi so với thành phố, với khoảng 90% tổng số hộ nghèo cả nước sống tại khu vực nông thôn Điều này dẫn đến nhiều vấn đề xã hội, đặc biệt là sự gia tăng dòng di cư từ nông thôn ra thành phố.
Thiếu hụt dịch vụ giải trí và việc làm hấp dẫn, thanh niên nông thôn ngày càng có xu hướng di chuyển đến các khu vực đô thị Nông nghiệp và nông thôn hiện không còn là nguồn lực lao động và sáng tạo chính Bên cạnh đó, hạ tầng kinh tế - xã hội tại nông thôn vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu thực tế.
HIỆN TRẠNG QUY HOẠCH XÂY DỰNG TẠI HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
1.2.1 Hiện trạng quy hoạch xây dựng giai đoạn trước khi có Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới và Tiêu chí về nông thôn mới
Huyện Gia Lộc đang tích cực triển khai các dự án khu dân cư đô thị và trung tâm thương mại, đồng thời điều chỉnh mở rộng quy hoạch chung xây dựng thị trấn Gia Lộc, nhằm thúc đẩy nhanh chóng quá trình đô thị hóa trong khu vực.
Để phát triển và xây dựng thị trấn Gia Lộc thành trung tâm văn hóa, kinh tế, xã hội của huyện, đồng thời là vệ tinh trong phát triển đô thị và dịch vụ của TP Hải Dương, huyện Gia Lộc đã thực hiện quy hoạch điều chỉnh mở rộng thị trấn Theo quy hoạch, diện tích thị trấn Gia Lộc sẽ được mở rộng lên khoảng 661,86 ha, với tổng dân số dự kiến đạt 20.580 người vào năm 2015 và khoảng 30.000 người vào năm 2020.
Dự kiến mở rộng thị trấn ra các xã lân cận như Toàn Thắng, Gia Tân và Phương Hưng Đồng thời, cần nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch cho một khu công nghiệp, kết hợp với cụm công nghiệp Thạch Khôi - Gia Xuyên và Hoàng Diệu, nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện một cách nhanh chóng.
Huyện Gia Lộc đang hoàn chỉnh các khu dân cư mới phía bắc và phía tây thị trấn, với mục tiêu phát triển thành trung tâm hành chính của huyện Các khu dân cư sẽ được khai thác ven quốc lộ 37 và đường mới 399, cùng với việc xây dựng một khu đô thị mới phía tây sông Thạch Khôi - Đoàn Thượng Đồng thời, huyện cũng dành đất để xây dựng Trung tâm Văn hóa thể thao phía nam sông Quảng Giang, và khu dịch vụ thương mại chủ yếu ở phía bắc thị trấn trong các khu dân cư đô thị mới Quy hoạch tổng thể đi kèm với quy hoạch chi tiết cho từng khu dân cư, bao gồm các khu chức năng, trung tâm văn hóa, thể thao, cũng như phát triển các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại tại thị trấn.
Thị trấn Gia Lộc đã quy hoạch xây dựng hai khu dân cư (KDC) phía tây và phía bắc, với tổng diện tích hơn 20 ha, tạo ra khoảng 700 suất đất ở, đáp ứng nhu cầu đất ở cho người dân trong khu vực Hai KDC này sẽ bao gồm một phần lớn diện tích dành cho khu hành chính công sở, dịch vụ, cây xanh, khu vui chơi giải trí, cùng các công trình công cộng như công viên, điện, nước, nhà trẻ, trường học và bãi tập kết rác Đặc biệt, KDC phía tây được đầu tư cơ sở hạ tầng đạt tiêu chuẩn đô thị, với trục đường giao thông rộng 26 m và các tuyến đường nhánh từ 13 đến 17 m, tất cả các nhà đều là nhà mặt phố.
Trong quá trình điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thị trấn Gia Lộc giai đoạn 2008 – 2015 với tầm nhìn đến năm 2020, huyện Gia Lộc đã cập nhật quy hoạch chi tiết cho chợ Cuối, bổ sung các khu vực thương mại và siêu thị, cũng như mở rộng chợ nông sản thực phẩm tươi sống và bãi đỗ xe Quy hoạch chợ Cuối đã hoàn tất các hạng mục như chợ dân sinh và ki-ốt bán hàng, thu hút nhiều hộ dân kinh doanh, tạo ra một khu trung tâm mua sắm sầm uất, văn minh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Vị trí các khu dân cư mới tại Gia Lộc
1.2.2 Tình hình quy hoạch xây dựng sau khi có Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới
Vào tháng 5 năm 2011, UBND huyện Gia Lộc đã công bố quy hoạch chi tiết khu phát triển dân cư mới và dịch vụ phía Đông Bắc thị trấn Gia Lộc Khu vực này bao gồm thị trấn Gia Lộc và xã Gia Tân, với tổng diện tích quy hoạch lên tới 411.089m2 Trong đó, diện tích đất công cộng chiếm 27.599m2, đất thương mại dịch vụ là 14.546,1m2, trường học có diện tích 48.198,4m2, đất ở chiếm 128.270m2, và diện tích dành cho cây cảnh, công viên, nghĩa trang là 32.557,6m2, cùng với đất giao thông.
Sau khi công bố quy hoạch chi tiết khu phát triển dân cư mới và dịch vụ phía Đông Bắc thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc sẽ tiến hành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên diện tích 152.733,7m2, trong đó đất hạ tầng kỹ thuật chiếm 7.184,8m2.
Sau khi triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, huyện đã chỉ đạo 22 xã thực hiện xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2020 Trong giai đoạn I (2011 – 2015), 6 xã gồm Quang Minh, Hồng Hưng, Hoàng Diệu, Đồng Quang, Đức Xương và Gia Khánh đã được lựa chọn để thực hiện Từ năm 2016 đến 2020, huyện đặt mục tiêu công nhận thêm 8 xã, nâng tổng số xã đạt tiêu chí nông thôn mới lên 14, chiếm tỷ lệ 63,6% Đến nay, 20 xã đã hoàn tất quy hoạch và đang chờ UBND huyện phê duyệt hồ sơ.
Theo 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, các xã điểm ở huyện Gia Lộc vẫn còn nhiều tiêu chí chưa đạt, bao gồm quy hoạch giao thông, thủy lợi, tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia, chợ nông thôn đạt chuẩn và các yếu tố về môi trường Tất cả 6 xã được chọn đều gặp khó khăn về kinh phí quy hoạch, do ngân sách địa phương hạn hẹp và ngân sách tỉnh bị hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng xây dựng Vì vậy, trong năm 2011 và 2012, các xã này chưa thể chọn được công trình xây dựng.
KINH NGHIỆM QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU VỰC NÔNG THÔN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm trên thế giới
Kinh nghiệm phát triển Đô thị làng quê bền vững ở châu Âu : Đặc trưng của đô thị làng quê châu Âu:
- Sử dụng đất mật độ cao để mọi người có thể tới mọi nơi trong làng trong khoảng cách đi bộ hoặc đi xe đạp
Sử dụng đất kết hợp giữa văn phòng, cửa hàng và các hoạt động kinh doanh, cùng với các tiện ích công cộng, nằm dọc theo các trục xương sống chính hoặc các nút giao thông, tạo ra môi trường sống năng động và thuận tiện, được bao quanh bởi các khu nhà ở.
- Nhà ga, tàu điện nhẹ và tàu hạng nặng gần trung tâm
- Cảnh quan rộng khắp bao gồm vườn trên mái công trình và ở ban công và các khu vườn hấp dẫn ở không gian công cộng
Nhà ở công cộng, tư nhân và nhà ở hợp tác được kết hợp nhằm tạo ra không gian sống cho các gia đình, với nội thất rộng rãi và các khu vực công cộng thoáng đãng.
Dự trữ diện tích rộng rãi cho trẻ em là rất quan trọng, bao gồm sân chơi và các không gian vui chơi sáng tạo, an toàn khác Những khu vực này không chỉ mang lại niềm vui mà còn phải có tầm nhìn đẹp, tạo môi trường sống lý tưởng cho các gia đình.
- Các tiện nghi giải trí như công trình thể thao (bể bơi, sân tennis, các môn thể thao trong nhà…)
Các công trình công cộng như trường học, thư viện, trung tâm chăm sóc trẻ em, trung tâm cho người già và trung tâm giải trí đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng Những cơ sở này thường không chỉ nằm trong làng mà còn ở khu vực lân cận, bao gồm cả các trang trại đô thị nhỏ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân.
- Một số khu đặc biệt để làm nhà kho chứa dụng cụ
Các con đường ngoại vi được thiết kế với các lối đi bộ và đường cho xe, cùng với bãi đỗ ô tô đặt ngầm, nhằm tạo ra một môi trường thân thiện với con người Mục tiêu là đảm bảo giao thông thông suốt, không bị chi phối bởi nhu cầu không gian cho bãi đỗ xe.
- Không gian công cộng với đặc trưng thiết kế mạnh (mặt nước, tiện nghị đường phố, điêu khắc, sân chơi)
Cộng đồng địa phương có mức độ độc lập cao, đáp ứng nhu cầu riêng, nhưng vẫn được kết nối với hệ thống xe buýt và tàu điện phục vụ cho việc đi lại đến các khu vực rộng lớn hơn, hỗ trợ cho công việc và giáo dục cao hơn.
Các khu vực phát triển mới thường có chất lượng sống cao và thành công về mặt kinh tế nhờ sự hỗ trợ cộng đồng Chính phủ thường triển khai các chương trình như Chương trình đô thị làng quê của Australia để cải thiện điều này Những lo ngại không có cơ sở về mật độ dân cư thường bị hiểu lầm là tiêu cực đối với tinh thần con người Phong trào quy hoạch đô thị thế kỷ XIX, đặc biệt ở Anh, đã gán mọi vấn đề môi trường và xã hội của các thành phố công nghiệp cho mật độ dân cư cao, dẫn đến việc thiết kế các khu vực ngoại ô và thị trấn mới với mật độ thấp Mặc dù những khu vực này có những đặc điểm tích cực như khu vườn xanh và gần ga xe lửa, nhưng chúng lại thiếu đi quy mô con người do thiếu lối đi bộ.
Ví dụ quy hoạch của vùng Arabella, Munich
Vùng Arabella, nằm trong Trung tâm Quận Bogenhausen, là một tiểu trung tâm quan trọng ở Munich, thể hiện sự kết hợp hoàn hảo giữa đô thị và nông thôn với thiết kế chất lượng cao Khu vực này chú trọng đến không gian công cộng, giao thông tự do và môi trường xanh, tạo ra một không gian sống lý tưởng cho cư dân Với nhà ga quá cảnh nhanh tại Quảng trường Market và các văn phòng phức hợp cao từ 8 - 10 tầng, Arabella cung cấp chỗ ở cho 10.000 người, việc làm cho 18.000 công nhân và 2.000 phòng khách sạn Khu vực này nổi bật với sự đa dạng trong sử dụng đất, bao gồm văn phòng, cửa hàng, nhà hàng, bệnh viện, rạp chiếu phim, câu lạc bộ đêm, trường buổi tối, thư viện, bưu điện, bể bơi, trung tâm giải trí, và nhiều công trình thể thao cùng dịch vụ khác.
Trong không gian công cộng của Arabella, sự tương tác xã hội diễn ra sôi nổi giữa những người thuộc nhiều lứa tuổi, tạo điều kiện cho việc đi bộ, đi xe và sử dụng các đại lộ xanh cùng khu vực chợ để giao lưu và nghỉ ngơi Các chi tiết thiết kế đô thị như vùng nước chảy và các tác phẩm điêu khắc không chỉ làm đẹp không gian mà còn tạo điểm nhấn cho các hoạt động này Khu vực cũng thu hút nhiều người kinh doanh và là nơi lý tưởng cho cha mẹ, ông bà cùng trẻ em đạp xe và chơi đùa trong những không gian công cộng ấn tượng.
Khu vực văn phòng trong khu phát triển nằm ở vùng giao thông tự do, kết hợp với các con đường nhỏ tại ngoại ô Những con đường dốc và các công trình nhà kho xe đạp tạo ra không gian thuận lợi cho người đi xe đạp và đi bộ.
1.3.2 Kinh nghiệm tại Việt Nam
Sau gần 2 năm triển khai, chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới đã đạt được những kết quả quan trọng, với 11 xã điểm hoàn thành nhiều tiêu chí Những mô hình sản xuất hiệu quả được hình thành đã góp phần thay đổi phương thức và tập quán sản xuất truyền thống tại các địa phương.
Năm 2011, các xã điểm đã chú trọng phát triển sản xuất nhằm nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn Đến nay, 11 xã điểm đã triển khai khoảng 200 mô hình và dự án trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Những mô hình này áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Theo báo cáo tự đánh giá, hình hài NTM đã hình thành rõ rệt với 19 tiêu chí Ban đầu, xã đạt cao nhất chỉ có 8 tiêu chí và xã thấp nhất chỉ đạt 2 tiêu chí, trong khi phần lớn các xã đạt từ 3 đến 4 tiêu chí Hiện tại, xã đạt cao nhất đã nâng lên 16 tiêu chí Chương trình thí điểm sẽ kết thúc vào cuối năm 2011.
* Những khó khăn khi triển khai quy hoạch nông thôn mới:
Trong công tác quy hoạch, việc chuẩn bị trước vẫn còn hạn chế Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo rằng các địa phương chưa hoàn thành quy hoạch sẽ không được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, hiện nay nhiều xã đã hoàn thành quy hoạch, nhưng chỉ một số ít xã được phê duyệt.
- Khó khăn đã nảy sinh khi mô hình nhân rộng ra cả nước Việc đánh giá hiện trạng nông thôn ở nhiều xã còn đạt chất lượng thấp
Một số hạn chế trong việc thực hiện các tiêu chí quan trọng bao gồm sản xuất, tổ chức sản xuất, chuyển dịch cơ cấu lao động và thu nhập Ngoài ra, còn tồn tại khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉ đạo phát triển sản xuất, hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nghề, và huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới.
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN PHẢI NGHIÊN CỨU ĐỂ QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN CÓ HIỆU QUẢ
DỰNG NÔNG THÔN CÓ HIỆU QUẢ
1.4.1 Vấn đề đô thị hóa và phát triển nông thôn
Trong nghị quyết số 26- NQ/TƯ (5/8/2008) tại Hội nghị lần thứ bảy BCH
TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân chủ quan gây ra hạn chế trong phát triển nông thôn là sự thiếu hụt hệ thống quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn Điều này bao gồm cả việc chưa xây dựng được quan điểm lý luận rõ ràng về quy hoạch xây dựng phát triển nông thôn, phù hợp với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Từ năm 1990 đến nay, Việt Nam chủ yếu tập trung vào quy hoạch đô thị, trong khi quy hoạch phát triển nông thôn lại bị lãng quên Điều này đã dẫn đến việc nông thôn mất dần tính độc lập kinh tế - xã hội, trở thành phụ thuộc vào đô thị và chờ đợi sự phát triển từ phía đô thị Khoảng cách kinh tế - xã hội giữa đô thị và nông thôn ngày càng gia tăng, khiến dòng người từ nông thôn vào đô thị ngày càng đông Hệ quả là hệ thống hạ tầng đô thị bị quá tải, cho thấy nông thôn đang trở thành gánh nặng cho đô thị.
Trong quy hoạch xây dựng, các quy chuẩn và tiêu chuẩn chủ yếu được áp dụng cho khu vực đô thị Đến năm 2009, quy chuẩn và tiêu chuẩn riêng cho quy hoạch xây dựng nông thôn mới được ban hành.
Trong lĩnh vực lý luận quy hoạch xây dựng đô thị, nhiều tổ chức trong và ngoài nước đang nghiên cứu, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết Tại Việt Nam, hiện chưa có một hệ thống quan điểm lý luận tiên phong về quy hoạch xây dựng phát triển nông thôn, phù hợp với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
1.4.2 Hiện trạng quy hoạch xây dựng đô thị huyện lỵ và điểm dân cư nông thôn
Các huyện nông thôn Việt Nam chủ yếu bao gồm thị trấn (đô thị huyện lỵ) và các xã (điểm dân cư nông thôn), trong đó chỉ có một số ít huyện sở hữu hai thị trấn.
Về cấu trúc không gian, một huyện (vùng đồng bằng Bắc Bộ) thường có khoảng 20-
25 xã bao quanh hạt nhân không gian là đô thị huyện lỵ với bán kính của các xã vòng ngoài khoảng 10-20km.
1) Những vấn đề trong việc quy hoạch xây dựng đô thị huyện lỵ:
Quy hoạch xây dựng các đô thị Việt Nam được thực hiện theo Quy chuẩn xây dựng Việt Nam – Quy hoạch xây dựng QCXDVN 01: 2008/BXD.
Việc lập quy hoạch xây dựng theo Quy chuẩn nêu trên được thực hiện cho các loại đô thị khác nhau Tuy nhiên, do quy mô và tính chất của từng loại đô thị không giống nhau, nên không thể áp dụng một phương pháp quy hoạch duy nhất cho tất cả.
Các đô thị cấp III trở lên hoạt động độc lập với hệ thống hạ tầng xã hội và kỹ thuật được thiết kế riêng cho cư dân của đô thị Hệ thống công trình dịch vụ đô thị được chia thành hai cấp: cấp đơn vị ở (cấp thường xuyên) và cấp đô thị (cấp không thường xuyên).
Đô thị cấp IV, V (thị trấn) đóng vai trò quan trọng như trung tâm chính trị và kinh tế - xã hội cho toàn huyện, mặc dù quy mô dân số chỉ từ 1-2 vạn người Hệ thống dịch vụ của đô thị này cần đáp ứng nhu cầu cho khoảng 10-20 vạn dân trong toàn huyện, gấp 10-15 lần dân số của chính đô thị Tuy nhiên, quy chuẩn quy hoạch xây dựng hiện chưa làm rõ khu vực lân cận có phải là toàn huyện hay chỉ là các xã xung quanh thị trấn.
Mặc dù đã tính toán đầy đủ quỹ đất để xây dựng các công trình dịch vụ cấp đô thị nhằm phục vụ quy mô dân số toàn huyện, nhưng vẫn tồn tại vấn đề về bán kính phục vụ của các công trình này đối với các khu dân cư ở xã, đặc biệt là những điểm cách đô thị huyện lỵ từ 10-15 km.
Hệ thống các công trình phục vụ tại các đô thị huyện lỵ hiện nay không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, vừa thiếu hụt về quy mô, vừa không đáp ứng yêu cầu sử dụng Tình trạng này không chỉ phản ánh bộ mặt của các thị trấn mà còn cho thấy xu hướng thanh niên rời bỏ nông thôn để tìm kiếm cơ hội tại các đô thị lớn hơn, nơi có hệ thống dịch vụ đô thị tốt hơn và đồng bộ hơn.
Vấn đề quy hoạch xây dựng hệ thống cây xanh công viên tại các thị trấn tương tự như quy hoạch xây dựng hệ thống công trình dịch vụ đô thị, đều cần được chú trọng để đảm bảo môi trường sống chất lượng và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng.
2) Những vấn đề trong việc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn - xã:
Nội dung quy hoạch xây dựng các xã được quy định chi tiết trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14: 2009/BXD, nhằm hỗ trợ đề án xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới theo chỉ đạo của chính phủ tại công văn số 3896/VPCP-KTN ngày 10/6/2009 Quy chuẩn này tập trung vào việc phát triển hệ thống các công trình dịch vụ sản xuất và dịch vụ tiêu dùng, đảm bảo đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và thúc đẩy sự phát triển bền vững tại các xã.
Trong quy chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn, trung tâm xã cần có các công trình phục vụ sản xuất và tiêu dùng, bao gồm cửa hàng phân bón, thuốc trừ sâu, chợ và các cửa hàng dịch vụ khác.
Mặc dù hệ thống giao thông đã tiếp cận thuận lợi đến từng xã, nhưng quy mô dân số quá ít (khoảng 0.6-1 vạn người) khiến thị trường dịch vụ sản xuất và tiêu dùng trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Điều này dẫn đến việc không có cửa hàng lớn hay dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm tại các xã, chỉ có các cửa hàng nhỏ của tiểu thương, thường kết hợp với nhà ở Hệ quả là hàng hóa từ khu vực đô thị, đặc biệt là hàng tiêu dùng, không thể tiếp cận thị trường nông thôn, tạo ra một khoảng trống lớn cho tiêu dùng tại đây Việt Nam cần tiếp tục kêu gọi và tuyên truyền để thu hút đầu tư vào thị trường nông thôn.
“Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”.
Hàng hoá tiêu dùng tại khu vực nông thôn chủ yếu phục vụ nhu cầu thiết yếu, với ít sự đa dạng và gần như không có sản phẩm cao cấp Sự thiếu hụt dịch vụ sản xuất và tiêu dùng so với khu vực đô thị đã dẫn đến tâm lý hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu của người nông dân, duy trì lối sống tự cung tự cấp mà không có khát vọng phát triển kinh tế Điều này cho thấy nông thôn đang thiếu động lực thực sự để phát triển, đặc biệt trong quy hoạch xây dựng công trình tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp tại các xã.
CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CÓ LIÊN QUAN
NÔNG THÔN CÓ LIÊN QUAN
2.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010-2020 tại đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI, những vấn đề có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2010-2020 tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển kinh tế như nhiệm vụ trung tâm Mục tiêu là thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường Cần xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, hiệu quả và bền vững, đồng thời kết nối chặt chẽ giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Đặc biệt, phát triển nông, lâm, ngư nghiệp với công nghệ và chất lượng cao, kết hợp với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các vùng, miền.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2010-2020, những vấn đề có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn gồm:
Phát triển nhanh cần gắn liền với phát triển bền vững, bao gồm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế phải hài hòa với tiến bộ và công bằng xã hội, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Bảo vệ và cải thiện môi trường, cùng với việc chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, là yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội Cần tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, cũng như đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ Huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho sự phát triển là điều thiết yếu.
2) Mục tiêu phấn đấu: Đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại:
Việc phát triển kinh tế cần gắn liền với bảo vệ môi trường và hướng tới kinh tế xanh, với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 7-8%/năm Dự kiến, GDP năm 2020 sẽ đạt khoảng 2,2 lần so với năm 2010, với GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3000 USD Đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô là ưu tiên hàng đầu, cùng với việc xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hiệu quả giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP Nông nghiệp sẽ phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và tạo ra nhiều sản phẩm giá trị cao Đồng thời, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đi đôi với chuyển dịch cơ cấu lao động, trong đó tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm khoảng 30-35% tổng lao động xã hội.
Tỷ lệ đô thị hoá đạt trên 45% Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%.
Văn hóa lao động tại địa phương đã có những bước tiến đáng kể, với tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70% và đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân từ 1,5-2% mỗi năm, trong khi phúc lợi xã hội của cư dân tăng gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010 Đặc biệt, khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư đã được thu hẹp, cùng với tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 70%, góp phần xóa bỏ nhà ở đơn sơ.
25m2 sàn xây dựng nhà ở tính trên một người dân.
Đến năm 2020, chất lượng môi trường đã được cải thiện rõ rệt với tỷ lệ che phủ rừng đạt 45% Hầu hết cư dân tại các khu vực thành thị và nông thôn đều được tiếp cận nước sạch và hợp vệ sinh Các cơ sở sản xuất mới được thành lập phải áp dụng công nghệ sạch và trang thiết bị hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường.
Tất cả các cụm, khu công nghiệp và khu chế xuất từ 4 trở lên đều phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung Hiện nay, 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn Điều này góp phần hạn chế tác hại của thiên tai và chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
3) Định hướng phát triển, cơ cấu lại nền kinh tế: a) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. b) Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh… Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ Chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn Từng bước phát triển công nghiệp sinh học và công nghiệp môi trường Tiếp tục phát triển phù hợp các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. c) Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững.Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hoá lớn với khả năng cạnh tranh cao Khuyến khích tập trung ruộng đất, phát triển trang trại,doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng Gắn kết chặt chẽ, hài hoà lợi ích giữa nhà sản xuất, người chế biến và người tiêu thụ, giữa việc áp dụng kỹ thuật và công nghệ với tổ chức sản xuất, giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới Phát triển hệ thống kho chứa nông sản, góp phần điều tiết cung cầu Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trong sản xuất, chế biến, bảo quản, hỗ trợ phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao Đẩy mạnh chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, bảo đảm chất lượng và an toàn vệ sinh dịch bệnh. d) Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, mở rộng thị trường nội địa, phát triển mạnh thương mại trong nước, chủ động tham gia vào mạng phân phối toàn cầu, phát triển nhanh hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu hàng hoá Việt Nam. e) Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông Đa dạng hóa hình thức đầu tư, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài tham gia phát triển kết cấu hạ tầng. f) Phát triển hài hòa, bền vững các vùng, xây dựng đô thị và nông thôn mới.
Vùng đồng bằng đang tập trung vào việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao thông qua việc tổ chức lại sản xuất nông nghiệp và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật Quy hoạch các vùng chuyên canh sản xuất lúa nước hàng hóa lớn và đẩy mạnh thâm canh lúa là những bước đi quan trọng Đồng thời, cần hiện đại hóa công nghiệp bảo quản và chế biến, phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho nông nghiệp Việc phát triển các khu công nghiệp và cụm sản phẩm công nghiệp công nghệ cao gắn liền với các đô thị lớn sẽ tạo ra các trung tâm kinh tế lớn, có tầm ảnh hưởng khu vực và thúc đẩy sự phát triển của các vùng khác.
Vùng trung du, miền núi cần phát triển mạnh mẽ sản xuất lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu Cần bảo vệ và phát triển rừng, khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, thủy điện và khoáng sản, xây dựng hồ chứa nước, phát triển thủy lợi nhỏ kết hợp với thủy điện và ngăn lũ Đồng thời, khuyến khích phát triển công nghiệp và dịch vụ yêu cầu diện tích lớn, cũng như nâng cao giao thông nông thôn, đảm bảo đường ô tô thông suốt đến các xã và từng bước mở rộng đến thôn, bản.
Xây dựng nông thôn mới cần quy hoạch phát triển nông thôn gắn liền với đô thị và bố trí các điểm dân cư hợp lý Cần phát triển mạnh mẽ công nghiệp, dịch vụ và làng nghề trong khi bảo vệ môi trường Chương trình xây dựng nông thôn mới phải phù hợp với đặc điểm từng vùng, thực hiện theo các bước cụ thể và vững chắc, đồng thời giữ gìn và phát huy văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, cùng với việc phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa và xã hội hài hòa với kinh tế Nâng cao chất lượng y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, cải thiện nguồn nhân lực và đổi mới giáo dục, đào tạo Khoa học và công nghệ cần được phát triển như một động lực then chốt cho sự phát triển bền vững, đồng thời bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai.
2.1.2 Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Vào ngày 04/06/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, dựa trên Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới được quy định trong Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 Bộ tiêu chí này được chia thành 5 nhóm chính và 19 tiêu chí đánh giá, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của các vùng nông thôn.
1) Quy hoạch: Quy hoạch (sử dụng đất, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, môi trường, phát triển khu dân cư mới và chỉnh trang khu dân cư hiện có) và thực hiện quy hoạch.
2) Hạ tầng kinh tế xã hội: Giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư.
3) Kinh tế và tổ chức sản xuất: Thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất.
4) Văn hóa – xã hội – môi trường: Giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường.
5) Hệ thống chính trị: Hệ thống tổ chức chính trị vững mạnh, an ninh trật tự xã hội.
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới có nội dung:
1) Mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày được nâng cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2) Mục tiêu cụ thể đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
3) Chương trình gồm 11 nội dung với mục tiêu, nội dung cụ thể theo tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và phân công quản lý thực hiện chương trình:
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
Giảm nghèo và an sinh xã hội
Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn
Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và thuyền thông nông thôn
Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
Giữ vững an ninh trật tự, xã hội nông thôn
CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
2.2.1 Hoạt động sản xuất nông nghiệp
Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp tại huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương phản ánh những vấn đề chung của nền nông nghiệp nông thôn Việt Nam, với đặc điểm chính là sản xuất nhỏ và lạc hậu Năng suất bình quân vẫn ở mức thấp, không gian nuôi trồng theo đầu người hạn chế, tỷ trọng lao động nông nghiệp quá cao, và nông sản chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường về chủng loại và chất lượng.
1) Xu thế phát triển sản xuất nông nghiệp:
Ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam cần phải phát triển theo xu hướng toàn cầu, như đã được nhấn mạnh tại hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ vào ngày 31/01/2011, với chương trình hành động mang tên “Tầm nhìn mới cho nông nghiệp”.
- Nông sản trở thành ngành kinh doanh có lời, thu hút ngày càng nhiều nguồn lực đầu tư lớn.
- Người nông dân phải được hưởng lợi nhiều nhất từ nông nghiệp
Trong những thập kỷ tới, nông nghiệp toàn cầu cần tăng sản xuất lên 20% đồng thời giảm mức thải carbon và tỷ lệ người nghèo sống ở nông thôn cũng 20% Trong 10 năm tới, giá lương thực toàn cầu có khả năng tiếp tục tăng, và trong 40-50 năm tới, nhân loại sẽ cần gấp đôi sản lượng lương thực hiện tại, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.
Sản xuất nông nghiệp là một phần quan trọng trong chuỗi giá trị, bao gồm sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiếp cận thị trường Để phát triển nông nghiệp bền vững, cần thiết phải có sự đồng bộ trong các chính sách, cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và cấu trúc thị trường hợp lý, từ đó áp dụng các giải pháp kỹ thuật và quản lý phù hợp.
Xu thế phát triển này cũng là cơ hội và thách thức cho nông nghiệp Việt
Nông nghiệp đang trở thành lĩnh vực đầu tư hấp dẫn, giúp Việt Nam thu hút vốn lớn từ các tập đoàn đa quốc gia vào sản xuất nông nghiệp Điều này mở ra cơ hội lớn cho nông dân Việt Nam trong việc tiếp cận khoa học công nghệ và nâng cao kỹ năng quản lý.
Nông nghiệp Việt Nam đối mặt với thách thức lớn trong việc chuẩn bị nội lực để tận dụng cơ hội tham gia vào liên kết kinh tế toàn cầu Để đạt được điều này, cần tổ chức lại các nông dân sản xuất nhỏ thành các hợp tác xã và doanh nghiệp, đồng thời nhanh chóng chuyển đổi công nghệ và quản lý Việc hình thành các hiệp hội mạnh mẽ, quy hoạch hiệu quả, cung cấp dịch vụ công và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cũng là những yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam.
Mục tiêu chiến lược hiện nay của Việt Nam là chuyển đổi nền sản xuất tiểu nông sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nhằm thúc đẩy liên kết toàn cầu Để đạt được điều này, cần giải quyết đồng thời nhiều vấn đề phức tạp trong khu vực nông thôn, bởi chúng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp.
Xác định lợi thế của từng địa phương là điều cần thiết để phát triển mô hình sản xuất hàng hoá hiệu quả, bao gồm trồng lúa, hoa, cây ăn quả, rau an toàn và chăn nuôi thuỷ sản Những sản phẩm này cần được sản xuất với quy mô lớn và chất lượng cao, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu.
- Đa chức năng các hoạt động sản xuất, vừa sản xuất nông phẩm hàng hoá vừa kết hợp phát triển du lịch sinh thái, sản xuất công nghiệp
Tăng cường quy mô các hộ sản xuất thành tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp sẽ giúp nâng cao khả năng tiếp cận hiệu quả các dịch vụ sản xuất, tín dụng và công nghệ khoa học.
Thu hút doanh nghiệp và tổ chức tham gia vào quá trình thu gom, bảo quản và đóng gói sản phẩm là yếu tố quan trọng trong việc hình thành chuỗi giá trị từ quản lý, sản xuất đến tiêu thụ Đồng thời, việc đào tạo nghề cho người lao động cũng góp phần tạo điều kiện cho chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm.
3) Vấn đề tích tụ ruộng đất tại khu vực nông thôn: a) Tích tụ ruộng đất là yêu cầu tất yếu: Đó là quy luật tất yếu trong quá trình chuyển từ nền sản xuất tiểu nông sang nền sản xuất hàng hóa Việc tích tụ ruộng đất phụ thuộc vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và sự thay đổi các tổ chức sản xuất nông nghiệp b) Tịch tụ ruộng đất tại Việt Nam: có 2 dạng chính
Tích tụ ruộng đất là quá trình tăng quy mô canh tác của nông dân thông qua dồn điền, đổi thửa và mua lại đất, còn được gọi là “liền vùng, liền trà, một chủ” Đây là hình thức tích tụ ruộng đất phổ biến hiện nay, nhằm khắc phục tình trạng manh mún trong quy mô các thửa đất Quá trình này tạo điều kiện thuận lợi cho việc cơ giới hóa và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả và giá trị sản xuất nông nghiệp.
Tích tụ ruộng đất giúp tăng diện tích canh tác cho các tổ chức sản xuất nông nghiệp, còn được gọi là mô hình “liền vùng, liền trà, nhiều chủ” Mô hình này hiện đang được áp dụng phổ biến tại Đài Loan và Nhật Bản, nhờ vào những lợi ích mà nó mang lại Trong mô hình này, nông dân không mất đất mà vẫn có khả năng mở rộng quy mô sản xuất và áp dụng các kỹ thuật sản xuất mới.
Tích tụ ruộng đất chỉ diễn ra khi nông dân tự nhận thức được giá trị của việc này, đồng thời chịu ảnh hưởng từ các mô hình sản xuất hàng hóa quy mô lớn hiệu quả.
2.2.2 Hoạt động sản xuất công nghiệp
1) Hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại khu vực nông thôn: a) Các hoạt động xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại khu vực nông thôn bao gồm các dạng:
- Công nghiệp khai thác các tiềm năng khoáng sản tại địa phương;
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Dịch chuyển cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động có mối quan hệ tương tác chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau Sự thay đổi này không chỉ tác động đến quy hoạch phát triển nông thôn mà còn định hình cấu trúc các điểm dân cư nông thôn Đồng thời, quá trình đô thị hóa và sự phát triển của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nông thôn, cũng như các không gian phục vụ cho hoạt động dịch vụ sản xuất, góp phần tích cực vào sự dịch chuyển của cơ cấu kinh tế và lao động tại khu vực nông thôn.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 2011-2020 đã chỉ rõ:
Tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP đã tăng lên khoảng 85%, trong khi giá trị nông nghiệp giảm từ 26,62% vào năm 1995 xuống 20,4% vào năm 2006, và dự kiến chỉ còn khoảng 15% vào năm 2020.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động; tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30-35% lao động xã hội.
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG
2.4.1 Chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ
1) Dịch chuyển cơ cấu lao động:
Hiện nay, hơn 70% dân số Việt Nam tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp, với 78% người dân vẫn phụ thuộc vào nghề nông Sự chuyển dịch cơ cấu lao động tại khu vực nông thôn diễn ra chậm và có sự khác biệt giữa các vùng miền Có hai hình thức chuyển dịch cơ cấu lao động, trong đó có chuyển dịch tuyệt đối.
Đưa nông dân vào làm công nghiệp, dịch vụ tại khu vực đô thị;
Xuất khẩu lao động nước ngoài đang trở thành một xu hướng quan trọng, giúp người lao động cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống Chuyển dịch tương đối trong lĩnh vực này thể hiện rõ nét qua việc duy trì sản xuất nông nghiệp trong khi mở rộng các ngành nghề dịch vụ ngay tại nông thôn Điều này không chỉ tạo ra cơ hội việc làm mới mà còn góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Đi lao động khu vực đô thị huyện lỵ, tối về nhà;
Đi lao động tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp nông thôn, khu dịch vụ tại nông thôn.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần kết hợp hài hòa các kịch bản phát triển để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế - xã hội Đặc biệt, dịch chuyển tương đối ly nông bất ly hương là một kịch bản được xã hội kỳ vọng sẽ mang lại hiệu quả tích cực trên nhiều phương diện.
Tạo lập không gian làm việc tại chỗ là yếu tố quan trọng giúp người dân nông thôn có thể ở lại quê hương, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân.
2) Hiện tượng dịch cư đang ngày càng diễn ra phổ biến ở Việt nam:
Trong báo cáo Phát triển con người 2009 của Liên hợp quốc, Quỹ dân số LHQ tại Việt Nam nhấn mạnh vai trò quan trọng của người di cư như một động lực chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cần có sự quan tâm đặc biệt đối với nhóm người này Theo điều tra quốc gia về biến động dân số 2007, tỷ lệ di cư đã tăng lên 7,5 người trên 1000 dân, gấp hơn 2 lần so với hai năm trước đó.
Thu nhập tại các khu vực thành thị và khu công nghiệp Việt Nam thường được chuyển hướng về các vùng nghèo hơn, tạo ra một tác động tích cực lên hoạt động di cư của người dân.
Sau một thời gian di cư ra khu vực đô thị để học tập, làm việc hoặc xuất khẩu lao động, tầng lớp thanh niên trở về với trình độ học vấn cao và khả năng kinh doanh thành công Họ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương.
Di cư từ nông thôn ra thành thị nếu không được quản lý hiệu quả sẽ gây áp lực lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội tại đô thị, bao gồm nhà ở, giáo dục và chăm sóc y tế Những thách thức xã hội này cần được chú ý để đảm bảo sự phát triển bền vững của các khu vực đô thị.
3) Lao động việc làm tại huyện Gia Lộc:
Huyện Gia Lộc có dân số hơn 130 nghìn người, trong đó hơn 70 nghìn người nằm trong độ tuổi lao động Tổng diện tích canh tác của huyện đạt 5.800 ha, cho thấy tiềm năng phát triển nông nghiệp của khu vực này.
Huyện Gia Lộc đã giải quyết hiệu quả vấn đề việc làm cho người lao động, góp phần vào phát triển kinh tế và an sinh xã hội Để thúc đẩy sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, huyện áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt như giải phóng mặt bằng, cải cách thủ tục hành chính, và chính sách hỗ trợ về thuế, điện, nước Hiện tại, huyện có 63 doanh nghiệp, và các ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu tuyển dụng, mở các lớp dạy nghề, và phổ biến chính sách ưu tiên về vốn và đào tạo Đồng thời, huyện cũng khuyến khích phát triển làng nghề và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất thông qua cơ chế hỗ trợ về mặt bằng, vốn, và tiêu thụ sản phẩm.
Hiện nay, 9 làng nghề tại các xã Tân Tiến, Hoàng Diệu, Gia Hòa, Thống Kênh, Phương Hưng đã tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động mỗi năm Huyện Gia Lộc đã phát triển mặt bằng cho hàng trăm gia đình dọc theo tuyến đường 392 từ thị trấn Gia Lộc đến Cầu Cất, giúp tiêu thụ sản phẩm nông sản như rau, củ, quả, dưa hấu và táo Nhờ những giải pháp này, Gia Lộc đã tạo ra hơn 3.000 việc làm mới mỗi năm, vượt 20-30% so với chỉ tiêu, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của huyện.
Huyện sẽ tiếp tục chỉ đạo và tìm kiếm giải pháp mới nhằm phát triển nông nghiệp bền vững Đồng thời, huyện sẽ tích cực giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị nhà ở, khu đô thị sinh thái và nhiều công trình phúc lợi khác Điều này không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn tạo cơ hội việc làm cho lao động địa phương, giúp tăng thu nhập cho người dân.
2.4.2 Đào tạo lao động – thanh niên
Nguồn lực con người đóng vai trò then chốt trong việc thu hút nhà đầu tư vào lĩnh vực xây dựng tại khu vực nông thôn, đồng thời là nền tảng cho sự phát triển các cơ sở kinh doanh do chính người dân địa phương khởi xướng.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo nghề và cải thiện trình độ chuyên môn của người lao động Việc đào tạo nguồn nhân lực cần được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng nhu cầu thị trường.
- Đào tạo theo các trường lớp bên ngoài khu vực, tại các trường dạy nghề,
Trung tâm dạy nghề, vừa học lý thuyết vừa học thực hành.
Đào tạo tại các trường đại học và cao đẳng bên ngoài khu vực là một phương pháp quan trọng, nhằm thu hút những người đã được đào tạo quay trở về làm việc tại quê hương Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao trình độ chuyên môn cho nguồn nhân lực địa phương mà còn góp phần phát triển kinh tế xã hội của vùng.
- Tự học qua các mô hình đã có; tự học trên mạng internet…
QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA CÓ LIÊN QUAN
2.5.1 Quá trình đô thị hóa tại huyện Gia Lộc
Gia Lộc đang tiến hành điều chỉnh và mở rộng quy hoạch chung xây dựng thị trấn Gia Lộc đến năm 2015 với tầm nhìn đến năm 2020, nhằm thúc đẩy tốc độ đô thị hóa Quy hoạch dự kiến mở rộng diện tích thị trấn lên khoảng 661,86 ha, với tổng dân số đạt 20.580 người vào năm 2015 và khoảng 30.000 người vào năm 2020 Các xã lân cận như Toàn Thắng, Gia Tân và Phương Hưng sẽ được đưa vào kế hoạch mở rộng, đồng thời huyện Gia Lộc cũng đang triển khai các dự án khu dân cư đô thị và trung tâm thương mại.
Huyện Gia Lộc đang nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch khu công nghiệp và cụm công nghiệp Thạch Khôi - Gia Xuyên, tạo điều kiện cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đồng thời, khu dân cư mới phía Bắc và phía Tây thị trấn sẽ trở thành trung tâm hành chính của huyện Việc phát triển các khu dân cư ven quốc lộ 37 và đường mới 399, cùng với khu đô thị mới phía Tây sông Thạch Khôi - Đoàn Thượng, sẽ nâng cao chất lượng sống cho người dân Trung tâm Văn hóa thể thao sẽ được xây dựng phía nam sông Quảng Giang, trong khi khu dịch vụ thương mại sẽ tập trung chủ yếu về phía bắc thị trấn Huyện cũng đang cải tạo các khu dân cư cũ, nâng cao công trình và mở rộng diện tích cây xanh Đến nay, đã quy hoạch được 2 khu dân cư phía Tây và phía Bắc với tổng diện tích hơn 20ha, tạo ra khoảng 700 suất đất ở, đáp ứng nhu cầu nhà ở cho cư dân Các khu dân cư này sẽ bao gồm khu hành chính, dịch vụ, cây xanh, khu vui chơi giải trí và các công trình công cộng như công viên, điện, nước, nhà trẻ, trường học và bãi tập kết rác Khu dân cư phía Tây thị trấn được đầu tư hạ tầng đạt tiêu chuẩn đô thị với các tuyến đường giao thông rộng rãi.
Năm 2020, huyện Gia Lộc đã điều chỉnh quy hoạch chi tiết chợ Cuối, bổ sung quy hoạch khu phố thương mại và siêu thị, mở rộng chợ nông sản thực phẩm tươi sống cùng bãi đỗ xe Quy hoạch chợ Cuối đã hoàn tất các hạng mục như chợ dân sinh và các ki-ốt bán hàng, thu hút nhiều hộ dân kinh doanh, tạo nên một khu trung tâm mua sắm sầm uất, văn minh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Khu dân cư phía Tây tại Gia Lộc nổi bật với hạ tầng kỹ thuật tốt nhất, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân trong bối cảnh địa phương đang phát triển mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Giải quyết nhu cầu nhà ở cho hơn 2000 người, đồng thời tạo quỹ đất cho các công trình hành chính, trường học và các công trình công cộng khác trong huyện.
Khu phát triển dân cư mới và dịch vụ phía Đông bắc thị trấn Gia Lộc, được UBND huyện Gia Lộc công bố quy hoạch chi tiết vào năm 2011, có tổng diện tích 411.089 m2 Trong đó, diện tích đất công cộng chiếm 27.599 m2, đất thương mại dịch vụ 14.546,1 m2, trường học 48.198,4 m2, đất ở 128.270 m2, đất cây cảnh công viên và nghĩa trang 32.557,6 m2, cùng với đất giao thông 152.733,7 m2 và đất hạ tầng kỹ thuật.
Khu phát triển dân cư mới và dịch vụ phía Đông Bắc thị trấn Gia Lộc, bao gồm địa bàn thị trấn Gia Lộc và xã Gia Tân, sẽ tích hợp các công trình công cộng, dịch vụ và thể thao văn hóa Quy hoạch chi tiết của khu dân cư này được thiết kế đảm bảo tiêu chí hiện đại, đồng thời giữ gìn giá trị truyền thống.
Hai cụm công nghiệp Hoàng Diệu và Thạch Khôi - Gia Xuyên tại huyện Gia Lộc đã thu hút 65 doanh nghiệp, tạo việc làm cho hơn 3.000 lao động địa phương Huyện Gia Lộc tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho hai cụm công nghiệp này, với mục tiêu lấp đầy hơn 70% diện tích vào năm 2011 Đồng thời, huyện cũng chú trọng phát triển các làng nghề thủ công truyền thống và đào tạo nghề cho lao động địa phương, phấn đấu tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp năm nay lên 20% so với năm trước.
2.5.2 Quá trình đô thị hóa tại khu vực phát triển lân cận
Dự án Khu đô thị Phía Tây Hải Dương, tọa lạc tại cửa ngõ của khu đô thị mới, kết nối với trung tâm thương mại và phố chợ Hội Đô Khu đô thị này tiếp giáp với giao lộ quan trọng giữa đại lộ Nguyễn Lương Bằng, quốc lộ 5 và đại lộ 30/10 mới rộng 62m, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển và phát triển kinh tế khu vực.
Thị trường bất động sản hiện đang sôi động, đặc biệt ở những khu vực có đường giao thông mới Một ví dụ điển hình là trục lộ 62 m từ TP Hải Dương đi Gia Lộc, nơi đã được Trung ương và tỉnh phê duyệt cho xây dựng dự án đô thị mới với quy mô 200 ha Các dự án đô thị mới như đầu Cầu Hàn và khu đô thị Soi Nam cũng đang trong quá trình phát triển, hứa hẹn mang lại nhiều cơ hội đầu tư.
HỆ THỐNG HẠ TẦNG XÃ HỘI TẠI HUYỆN
1) Nhà ở truyền thống tại các điểm dân cư nông thôn:
Nhà ở nông thôn truyền thống tại vùng đồng bằng Bắc Bộ là sự kết hợp giữa sinh hoạt và các hoạt động kinh tế phụ như tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp Mô hình này đã tồn tại hàng ngàn năm, ít thay đổi, tạo nên cấu trúc và hình ảnh đặc trưng của nông thôn Bắc Bộ.
Nhà bộ là loại nhà truyền thống có diện tích đất từ 200-350 m2, với thiết kế bao gồm một công trình nhà ở nằm ở giữa khu đất, xung quanh là các công trình phụ như nhà vệ sinh, bếp, vườn, ao và chuồng trại Thông thường, nhà bộ chỉ có một tầng, được xây dựng từ gỗ, gạch, đá và có mái ngói Diện tích sàn trung bình khoảng 15-20m2/người, tuy nhiên loại hình nhà này không phù hợp cho hoạt động thương mại dịch vụ.
Nhà ở truyền thống tại nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ
Loại nhà truyền thống này hiện nay đang phải đối mặt với các vấn đề nảy sinh do:
- Xu hướng cải tạo để thay thế các kiểu kết cấu cũ xuống cấp, đặc biệt là kết cấu gỗ bằng kết cấu gạch và bê tông cốt thép.
Xu hướng hiện nay là mở rộng diện tích nhà ở, với bình quân từ 20-30m2 sàn/người, đồng thời nâng cấp tiện nghi, đặc biệt là cải thiện phòng khách và bố trí xí tự hoại trong nhà, tương tự như các ngôi nhà tại đô thị.
Xu hướng bắt chước kiến trúc nhà ở đô thị thể hiện sự giàu có và sang trọng, phản ánh tâm lý tiểu nông Nhiều trường hợp, những ngôi nhà cải tạo sau thường có kích thước lớn hơn và thiết kế phức tạp hơn so với những ngôi nhà trước đó.
Xu hướng phân chia lại diện tích đất thổ cư đang diễn ra mạnh mẽ, khi nhiều người phải bán đi một phần diện tích để có kinh phí cải tạo nhà, nâng cao mức sống hoặc phục vụ cho nhu cầu tách hộ Các lô đất có diện tích từ 200-350m2 thường được chia thành 2 hộ (100-170m2) hoặc thậm chí 3 hộ (60-110m2), dẫn đến sự chuyển đổi từ nhà ở truyền thống với không gian vườn sang các dạng nhà ống, với mật độ xây dựng ngày càng tăng và diện tích cây xanh giảm dần.
Thiếu sự hướng dẫn từ các nhà quản lý và chuyên gia, những xu hướng phát triển nhà ở hiện nay, dù hợp lý hay không, đã tạo ra một bức tranh hỗn độn trong làng quê truyền thống Sự đan xen giữa các kiểu nhà ở đô thị và nhà ở truyền thống đã làm mất đi vẻ đẹp cảnh quan của làng xã, gây ảnh hưởng tiêu cực đến bản sắc văn hóa địa phương.
Xã hội hiện nay mong muốn bảo tồn quỹ nhà ở và cảnh quan lịch sử của làng xóm, điều này không chỉ giữ gìn giá trị văn hóa mà còn thu hút du lịch Để đạt được mục tiêu này, cần áp dụng biện pháp tổng hợp trong quy hoạch, quản lý xây dựng, cũng như tuyên truyền và hướng dẫn cộng đồng Việc phát triển quỹ đất ở mới theo kiểu đô thị tại trung tâm tiểu vùng sẽ giúp giảm áp lực và thúc đẩy xu hướng chuyển đổi tích cực.
Nhà ở tại huyện Gia Lộc cũng nằm trong bối cảnh chung của dạng nhà ở đồng bằng Bắc Bộ.
2) Mô hình nhà ở mới tại khu vực nông thôn: a) Nhà ở kết hợp dịch vụ: Xu hướng tất yếu là chuyển dần đến mức cân đối số dân hoạt động trong lĩnh vực hoạt động dịch vụ chiếm đến 30-40% Các hoạt động dịch vụ này đa phần là của tư nhân và thường gắn liền với hoạt động ở Loại nhà ở kết hợp dịch vụ thường có đặc điểm cơ bản sau:
- Vị trí gắn liền với các tuyến đường giao thông chính, hình thành nên loại hình nhà mặt đường.
- Nhà có thể dạng một hoặc nhiều tầng, tầng 1 thường sử dụng để làm cửa hàng Phần ở được bố trí ở phía sau hoặc ở tầng trên.
Do giá trị bất động sản cao, nhà ở dạng ống thường được xây dựng trên các diện tích đất mặt đường với kích thước hạn chế, trung bình từ 4 đến 6 mét.
- Hình thức kiến trúc thường bắt chước theo kiểu nhà ống trong đô thị, khác với kiến trúc nhà ở truyền thống.
Hiện nay, sự phát triển không kiểm soát của nhà ở kết hợp dịch vụ đang gia tăng dọc theo các tuyến đường chính ở các làng xóm ven đô Đồng thời, các loại hình nhà ở như biệt thự, nhà vườn và nhà ở có vườn cũng ngày càng phổ biến.
Nhà ở có vườn với diện tích từ 60-100m2 thường có mật độ xây dựng cao từ 60-80%, với chiều cao từ 3 đến 3,5 tầng Mặc dù diện tích đất nhỏ, người dân vẫn tận dụng tối đa không gian, tạo ra những ngôi nhà có kiến trúc tương tự như nhà liên kề, nhưng lại có sân vườn phía trước, mang lại không gian sống xanh và thoải mái.
Nhà biệt thự và nhà vườn tại khu vực nông thôn, với diện tích từ 150-350m2, đang trở thành xu hướng mới do giá trị đất đai đô thị cao Nhiều người dân chuyển đến vùng ngoại ô để mua đất, đặc biệt là ở các làng xã có giao thông thuận lợi, từ đó hình thành thị trường bất động sản và thu hút đầu tư vào nông thôn Các loại hình nhà ở này có mật độ xây dựng thấp (25-30%) và chiều cao từ 1-2,5 tầng, giúp nâng cao chất lượng nhà ở và làm phong phú thêm kiến trúc khu vực Ngoài ra, nhà nghỉ cuối tuần, mặc dù chưa phổ biến như ở các nước phát triển, đang dần xuất hiện tại Việt Nam, chủ yếu là nhà nghỉ trong các trang trại, với quy mô và tiện nghi đa dạng, phù hợp với mô hình kinh doanh của từng trang trại.
3) Các dạng nhà ở trong Trung tâm tiểu vùng:
Nhà ở tại Trung tâm tiểu vùng bao gồm tất cả các loại hình nhà ở nông thôn và có thể có chung cư cho công nhân tại khu công nghiệp và cụm công nghiệp nông thôn Đây được xem là quỹ nhà xã hội trong các dự án phát triển nhà ở Để xác định nhu cầu đất xây dựng chung cư cho công nhân tại Trung tâm tiểu vùng, cần thực hiện các tính toán dựa trên những giả định nhất định.
- Quy mô KCN, cụm CN; Bảng dưới đây tính toán với quy mô 30ha và 40ha
- Số lao động công nghiệp/ha: Với đặc điểm là loại hình công nghiệp và quy mô doanh nghiệp dạng vừa và nhỏ, dự kiến 150 lao động/ha;
Tỷ lệ lao động dự kiến sẽ thuê nhà ở chung cư dành cho người có thu nhập thấp khoảng 30% Phần còn lại sẽ sinh sống tại các khu dân cư nông thôn lân cận hoặc trong các khu nhà ở tại Trung tâm tiểu vùng.
Nhà chung cư có chi phí xây dựng thấp nhất thường cao 5 tầng, bao gồm 4 tầng dành cho mục đích ở và tầng dưới được sử dụng cho thuê dịch vụ cùng với các không gian phụ.
Nhu cầu đất xây dựng chung cư có theo bảng sau Tùy trường hợp cụ thể có thể điều chỉnh các chỉ tiêu, hệ số cho phù hợp.
Bảng 2.1: Tính toán nhu cầu đất xây dựng nhà ở chung cư trong Trung tâm tiểu vùng
TT Loại Đơn vị Quy mô 1 Quy mô 2
Tỷ lệ chiếm đất của lô đất XNCN % 60 60
2 Quy mô lô đất XNCN Ha 18 24
Số lao động CN/ha Lao động/ha 150 150
3 Số lao động trong KCN, cụm CN Người 2700 3600
Dự kiến tỷ lệ lao động thuê nhà chung cư
4 Số lao động thuê nhà chung cư Người 810 1080
Chỉ tiêu sàn ở/người M2/người 25 25
Chỉ tiêu sàn với hệ số có ích % 70 70
6 Diện tích sàn khu vực chung cư M2 28929 38571
Số tầng bố trí khối chung cư Tầng 4 4
8 Diện tích khu đất XD nhà chung cư M2 18080 24107
2.6.2 Hệ thống công trình dịch vụ
1) Các loại dịch vụ tại nông thôn:
HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI HUYỆN
Giao thông đường bộ: Có các đường quốc lộ và tỉnh lộ sau chạy qua:
- Quốc lộ 37 nối trung tâm thị trấn Gia Lộc với thành phố Hải Dương.
- Đường cao tốc từ Hà Nội tới Hải Phòng (đường 5 mới) đang vào giai đoạn thi công.
- Đường tỉnh: Có các tuyến tỉnh lộ chạy qua: Tỉnh lộ 399, tỉnh lộ 392, tỉnh lộ
393, tỉnh lộ 395 tạo thành hệ thống giao thông chính của huyện, liên kết với thành phố Hải Dương và các vùng xung quanh.
- Đường huyện và xã đảm bảo cho xe ô tô đến tất cả các vùng trong mọi mùa.
Huyện Gia Lộc hiện đã bê tông hóa gần 100% các đường liên thôn, đồng thời đầu tư xây mới và nâng cấp gần như toàn bộ hệ thống giao thông nông thôn Đặc biệt, các tuyến đường tại các xã Hoàng Diệu và Gia cũng được cải thiện đáng kể.
Khánh và đường vào các làng nghề của xã Phương Hưng
2.7.2 Hệ thống cấp điện, cấp nước
Hệ thống cấp điện huyện Gia Lộc hiện đang sử dụng nguồn từ đường dây 35KV qua các trạm hạ thế Tuy nhiên, với nhu cầu điện sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng, đặc biệt là cho các cụm công nghiệp, cần thiết phải bổ sung thêm các trạm biến áp có công suất lớn hơn để đáp ứng kịp thời.
Huyện đã đầu tư một số hệ thống cấp nước sạch nhằm cung cấp nước cho người dân, tuy nhiên vẫn còn một số hộ sử dụng nước từ giếng khoan tự đào Trong thời gian tới, các xã sẽ tiếp tục nâng cấp hệ thống cấp nước để đáp ứng đầy đủ nhu cầu về nước sạch cho cộng đồng.
VẤN ĐỀ VỀ BẢO TỒN, TÔN TẠO VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TẠI
2.8.1 Văn hóa truyền thống tại khu vực nông thôn chính là văn hóa làng xã
Xã là đơn vị hành chính cơ bản ở nông thôn, với dân số khoảng 55.000 người tại huyện Đây không chỉ là một đơn vị cư trú hành chính mà còn là một cộng đồng gắn kết về lãnh thổ, kinh tế, phong tục tập quán và tín ngưỡng.
Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp với hình thức canh tác lúa nước, tập trung vào sản xuất tự cung tự cấp Ngoài ra, hoạt động dịch vụ tại đây phát triển khá hạn chế.
Văn hóa truyền thống ở nông thôn bao gồm cả giá trị vật thể và phi vật thể, trong đó giá trị vật thể chủ yếu thể hiện qua cấu trúc không gian của làng xã.
Cấu trúc không gian làng xã truyền thống ở huyện Gia Lộc có nhiều điểm tương đồng với không gian làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ, cả về quy mô lẫn đặc điểm xây dựng Những yếu tố này tạo nên diện mạo đặc trưng của kiến trúc nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Nhà ở truyền thống thường có cấu trúc với kèo cột bằng gỗ hoặc tre, tường xây bằng gạch và mái ngói Theo quy hoạch, những ngôi nhà này không nằm sát đường giao thông xóm mà thường được xây dựng trong khuôn viên ao, vườn, tạo nên không gian sống gần gũi với thiên nhiên.
- Công trình hành chính, văn hóa, giáo dục, y tế thường là các công trình thấp tầng, bố trí tập trung tạo thành trung tâm xã;
Công trình tôn giáo tín ngưỡng như chùa, đình làng, đền, phủ, miếu mạo, nhà thờ họ và nhà thờ tổ đóng vai trò quan trọng trong văn hóa, kiến trúc và điêu khắc Những công trình này không chỉ thể hiện tín ngưỡng của cộng đồng mà còn là biểu tượng văn hóa đặc sắc, góp phần gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống.
Chợ là nơi diễn ra hoạt động tự cung tự cấp, dẫn đến nhu cầu trao đổi hàng hóa không cao, vì vậy chợ thường họp theo phiên Công trình chợ thường được thiết kế dưới dạng tổ hợp các khối nhà một tầng và bán kiên cố.
- Các công trình như cổng làng, lũy tre bảo vệ…
Các công trình giao thông như đường liên huyện, liên xã, liên thôn và ngõ, cùng với giếng làng, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối và phục vụ cộng đồng Ngoài ra, các công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp như kênh mương và chuồng trại cũng góp phần nâng cao năng suất và phát triển kinh tế địa phương Bên cạnh đó, nghĩa trang và nghĩa địa là những nơi thể hiện sự tôn trọng và ghi nhớ đối với tổ tiên, giữ gìn giá trị văn hóa của cộng đồng.
- Không gian của hệ thống ao hồ, cây xanh đồng ruộng ngoài các khu vực dân cư.
2.8.2 Văn hóa truyền thống tại khu vực nông thôn đang ngày càng thay đổi do quá trình đô thị hóa và việc gia tăng dân số
Việt Nam và nông thôn Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi toàn diện từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp.
Sự đổi mới trong nền kinh tế kéo theo sự thay đổi sâu sắc bản thân xã hội nông thôn, thể hiện trước hết ở:
Đời sống của người dân ở khu vực nông thôn đã có những cải thiện đáng kể, dẫn đến việc khôi phục các sinh hoạt cộng đồng truyền thống Nhiều công trình tôn giáo và tín ngưỡng mới cũng đã được xây dựng, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tại địa phương.
- Sự phân hóa giàu nghèo về mức thu nhập, mức sống và trình độ phát triển;
- Mâu thuẫn nảy sinh giữa văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại lai từ khu vực đô thị.
Cấu trúc không gian làng xã cũng thay đổi do:
- Xuất hiện các khu vực chức năng mới như KCN, cụm CN nông thôn, khu vực phát triển dịch vụ du lịch…
- Xuất hiện mô hình nhà ở theo kiểu đô thị vừa ở vừa kết hợp với hoạt động dịch vụ tạo thành các khu vực phố thị;
Với sự gia tăng dân số, nhu cầu xây dựng nhà ở mới ngày càng cao, dẫn đến việc tách hộ và xây dựng các ngôi nhà mới hiện đại hơn Ngoài ra, việc phá bỏ nhà cũ để thay thế bằng những công trình tiện nghi cũng đang trở thành xu hướng Bên cạnh đó, sân vườn được tận dụng để mở rộng diện tích phục vụ cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế địa phương.
Sự xuất hiện của các khu dân cư mới nhằm đáp ứng nhu cầu dãn dân đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cảnh quan làng xã, khi chúng nằm xen kẽ hoặc kề liền với các khu vực làng xóm truyền thống Các công trình nhà ở kiểu đô thị không chỉ ảnh hưởng đến kiến trúc mà còn tác động đến môi trường sống và văn hóa của cộng đồng địa phương.
Những thay đổi này, mặc dù cần thiết, đã khiến cho cộng đồng dân cư, đặc biệt là giới trẻ, giảm đi sự gắn bó và trân trọng đối với di sản văn hóa của địa phương.
2.8.3 Những vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống tại khu vực nông thôn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
Khu vực nông thôn huyện Gia Lộc, tương tự như các vùng nông thôn khác ở đồng bằng Bắc Bộ, đang đối mặt với thách thức trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Quá trình đô thị hóa diễn ra chậm tại khu vực này dẫn đến sự thay đổi không gian làng xóm chủ yếu tập trung ở những vùng gần các khu đô thị và dọc theo các trục đường chính.
Sự xuất hiện Trung tâm tiểu vùng tại khu vực nông thôn có ý nghĩa đối với việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống như:
- Giảm bớt áp lực tác động của quá trình đô thị hóa tới các điểm dân cư truyền thống;
Thay vì can thiệp trực tiếp vào không gian làng xóm, các khu vực phát triển mới tại Trung tâm tiểu vùng phát triển song song với không gian làng xóm, tạo ra khoảng cách bằng không gian cây xanh Điều này hình thành hai hệ thống văn hóa: văn hóa truyền thống và văn hóa đô thị, tồn tại song hành, bổ sung và loại bỏ những yếu tố lạc hậu, không phù hợp, từng bước xây dựng một nền văn hóa mới kế thừa văn hóa truyền thống.
VẤN ĐỀ VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN
2.9.1 Nguồn vốn đầu tư vào khu vực nông thôn
1) Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước:
Nghị định số 41/2010/NĐ thay thế quyết định 67/1999/QĐ-TTg được coi là một bước tiến quan trọng trong chính sách đối với nông nghiệp nông thôn.
Nghị định 41 đã mở rộng phạm vi áp dụng cho tất cả các loại hình tổ chức tín dụng và 8 lĩnh vực cho vay liên quan đến nông nghiệp, nông thôn Nghị định cũng xác định rõ nguyên tắc hỗ trợ của nhà nước trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của WTO, nâng mức cho vay không cần tài sản bảo đảm cho khách hàng Bên cạnh đó, nghị định quy định cụ thể về xử lý rủi ro, cơ cấu nợ và các hình thức cho vay mới.
Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là có hạn.
2) Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài:
Trong giai đoạn 1990-2009, nông nghiệp Việt Nam đã không thu hút được nhiều vốn FDI, với tỷ lệ đầu tư rất thấp Điều này cho thấy rằng lĩnh vực nông nghiệp vẫn đang đứng ngoài cuộc đua thu hút nguồn vốn nước ngoài, cần có những biện pháp cải thiện để tăng cường sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.
5,9% trong tổng số dự án FDI và chiếm 2,3% tổng số vốn đăng ký.
Dự án FDI vào nông nghiệp chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, với 53,7% tổng vốn đầu tư vào chế biến nông sản thực phẩm và 24,7% vào chế biến lâm sản Ngành chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc nhận 12% vốn, trong khi ngành trồng trọt chỉ chiếm 8,9% Đặc biệt, trong lĩnh vực trồng trọt, số lượng dự án phát triển công nghệ sinh học và chế biến rau quả xuất khẩu chất lượng cao rất hạn chế.
Nông nghiệp Việt Nam hiện chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút đầu tư từ các quốc gia có nền nông nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Úc và các nước châu Âu Đa số các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này đều là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, với mức vốn đầu tư dưới 2 triệu USD.
Hiện nay, vốn đầu tư FDI vào nông nghiệp đang ở mức thấp và thiếu sự ổn định, chưa khai thác được tiềm năng và lợi thế của các vùng Đặc biệt, chưa có dự án đầu tư đáng kể vào lĩnh vực khoa học – công nghệ cao trong nông nghiệp.
3) Nguồn vốn đầu tư từ xã hội, bên ngoài và bên trong khu vực:
Ngoài nguồn vốn nhà nước, vốn đầu tư từ xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nông thôn mới, không chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu mà còn tạo động lực phát triển bền vững.
Nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài khu vực nông thôn giai đoạn đầu đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hạ tầng kỹ thuật cho các khu công nghiệp và cụm công nghiệp nông thôn Đầu tư này không chỉ giúp xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung cho khu dân cư mà còn hỗ trợ cho các công trình xây dựng cơ bản khác, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế địa phương.
Khi hạ tầng kỹ thuật của Trung tâm tiểu vùng đã được hình thành, người dân trong khu vực bắt đầu đầu tư xây dựng cửa hàng và nhà ở, góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Nguồn vốn đầu tư xây dựng từ xã hội được thực hiện theo nguyên tắc của thị trường bất động sản.
2.9.2 Các loại hình dự án tại khu vực nông thôn
Các dự án dự kiến đầu tư vào khu vực:
- Khu công nghiệp, cụm công nghiệp nông thôn tại Trung tâm tiểu vùng;
- Cơ sở đào tạo nghề, chợ đầu mối, bến xe khách liên tỉnh, huyện.
Dự án mở rộng các tuyến đường chính trong khu vực và xây dựng các tuyến đường nội bộ tại Trung tâm tiểu vùng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ thương mại.
CÁC QUY CHUẨN, TIÊU CHUẨN QUY HOẠCH XÂY DỰNG CÓ LIÊN QUAN
Trung tâm tiểu vùng được thiết kế dựa trên nguyên tắc đô thị, đảm bảo tuân thủ các quy định của nhà nước cùng với các tiêu chuẩn và quy chuẩn trong quy hoạch xây dựng.
- Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 được Quốc hội thông qua ngày
- Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị.
- Thông tư số 10/2010/TT-BXD ngày 11/8/2010 của Bộ Xây dựng quy định hồ sơ của từng loại quy hoạch đô thị.
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng QCXDVN 01:2008/
- Tiêu chuẩn Thiết kế quy hoạch đô thị (TCVN 4449 – 87)
Quyết định số 21/2005/QĐ-BXD, ban hành ngày 22/7/2005 bởi Bộ Xây dựng, quy định về hệ thống ký hiệu bản vẽ áp dụng trong các đồ án quy hoạch Quy định này nhằm thống nhất cách thức ký hiệu, giúp nâng cao hiệu quả trong việc truyền đạt thông tin và giảm thiểu sai sót trong quá trình thiết kế và thực hiện các dự án quy hoạch.
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn QCXD 14:
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị QCVN
- Tiêu chuẩn Thiết kế Quy hoạch xây dựng nông thôn.