Tóm tắt bản án 1 Sự kiện pháp lý Ngày 13102015 Bà Cao Thị N1 cho ông Huỳnh Thanh H và bà Nguyễn Thị N2 vay số tiền 400 000 000đ, hai bên có làm hợp đồng vay tiền được công chứng tại Văn phòng công chứng Thanh Thanh; thời hạn vay 03 tháng; lãi suất hãi bên tự thảo thuận 5% tháng Khi vay tiền, ông H, bà N2 có thế chấp cho bà N1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thừa số 249, tờ bản đồ 36, diện tích 44 8 m2 , tọa lạc tại ấp Mỹ Thuận, xã Tân Hội, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Phúc, do Ủy ban nhân.
Trang 1Tóm tắt bản án
1 Sự kiện pháp lý
Ngày 13/10/2015 Bà Cao Thị N1 cho ông Huỳnh Thanh H và bà Nguyễn Thị N2 vay số tiền 400.000.000đ, hai bên có làm hợp đồng vay tiền được công chứng tại Văn phòng công chứng Thanh Thanh; thời hạn vay 03 tháng; lãi suất hãi bên tự thảo thuận 5%/ tháng Khi vay tiền, ông H, bà N2 có thế chấp cho bà N1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thừa số 249, tờ bản đồ 36, diện tích 44.8 m2 , tọa lạc tại ấp Mỹ Thuận, xã Tân Hội, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Phúc, do Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Long cấp cho hộ bà Nguyễn Thị N2; tại thời điểm thế chấp bạn N2 và các con là NLQ1, NLQ2, NLQ3 và NLQ4 cùng ký hợp đồng ủy quyền cho ông H để làm thủ tục thể chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N1; việc thế chấp được hai bên thỏa thuận và đúng quy định của pháp luật
2 Vấn đề pháp lý
Hết hạn vay, ông H và bà N2 chưa trả vốn gốc cho bà N1 Do đó, bà N1 yêu cầu ông H, bà N2
và các cong là NLQ1, NLQ2, NLQ3, NLQ4 cũng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà N1 số tiền còn nợ; nếu ông H, bà N2, NLQ1, NLQ2, NLQ3 và NLQ3 không trả được nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thu hồi nợ cho bà N1
3 Quan điểm các bên
Theo bản án phúc thẩm được báo cáo trích dẫn, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo bản án dân
sự sơ thẩm và xác định rõ các yêu cầu kháng cáo của bà như sau:
- Xử lý tài sản thế chấp của phía bị đơn;
- Đưa các người con của ông H, bà N2 gồm NLQ1, NLQ2, NLQ3 và NLQ4 vào vòng tố tụng để đảm bảo việc thi hành án đối với tài sản là đất của hộ gia đình;
- Các con của ông H, bà N2 liên đới cùng ông H và bà N2 trả cho bà N1 số tiền còn nợ;
- Không điều chỉnh lãi thỏa thuận, theo nguyên tắc tự nguyện của đôi bên, vì bên bị đơn không có yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật
4 Pháp quyết tòa án
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị N1 Buộc ông Huỳnh Thanh H, bà Nguyễn Thị N2 và NLQ1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Cao Thị N1 số tiền 20.170.000đ, không chấp nhận yêu cầu buộc NLQ2, NLQ3 và NLQ4 có nghĩa vụ liên đới cùng ông Huỳnh Thanh H, bà Nguyễn Thị N2 và NLQ1 trả nợ cho bà N1, về số tiền lãi theo mức lãi suất vượt quá quy định của pháp luật Bà Cao Thị N1 có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị N2 vào ngày 10/9/2014
5 Phân tích
Do hợp đồng vay tiền ngày 13/10/2015 giữa bà Cao Thị N1 và ông Huỳnh Thanh H đang được thực hiện mà có nội dung giao dịch về lãi suất khác với quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm
2015 nên Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án là có căn cứ
Đối với yêu cầu buộc tất cả các con của ông Huỳnh Thanh H và bà Nguyễn Thị N2 liên đới cùng ông H và bà N2 trả cho bà N1 số tiền còn nợ,NLQ2, NLQ3 và NLQ4, những người này không có
ủy quyền cho ông H vay tiền của bà N1, cũng không có nhận tiền vay của bà N1, còn bà N1 cũng không có chứng cứ gì để chứng minh NLQ2, NLQ3 và NLQ4 có vay của bà N1 nên NLQ2, NLQ3 và NLQ4 không có nghĩa vụ liên đới cùng với ông H, bà N2 và NLQ1 trả nợ cho bà N1 theo quy định tại Điều 281 và Điều 298 của Bộ luật dân sự năm 2005 Do đó, bản án sơ thẩm không buộc NLQ2, NLQ3
và NLQ4 trả nợ cho bà N1 là có căn cứ
Đối với yêu cầu về việc không điều chỉnh lãi thỏa thuận, việc thỏa thuận lãi suất vay của bà N1
và ông H dựa trên nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng Do đó, việc bản án sơ thẩm điều chỉnh lãi suất thỏa thuận là có căn cứ
Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, việc thế chấp quyền sử dụng đất này chưa được đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai nên việc thế chấp này chưa có hiệu lực