1. Trang chủ
  2. » Tất cả

tham khao kinh te the gioi

9 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 133,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 lý do kinh tế châu Á chưa qua thời phụ thuộc phương Tây ▪ KIỀU OANH 22:59 GMT+7 - Chủ Nhật, 20/9/2009 Trước thời điểm tháng 9/2008, người ta vẫn bàn nhiều về thuyết phân ly decoupling

Trang 1

4 lý do kinh tế châu Á chưa qua thời phụ

thuộc phương Tây

▪ KIỀU OANH

22:59 (GMT+7) - Chủ Nhật, 20/9/2009

Trước thời điểm tháng 9/2008, người ta vẫn bàn nhiều về thuyết phân ly (decoupling) - lý thuyết cho rằng các thị trường đang nổi lên ở châu Á sẽ không chịu nhiều tác động từ sự đổ vỡ trong hệ thống tài chính của các nước phương Tây và tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế này sẽ không còn phụ thuộc nhiều vào “sức khỏe” của các nền kinh tế công nghiệp phát triển

Theo thuyết phân ly, các nền kinh tế mới nổi có sức đề kháng tốt trước cơn bão kinh tế đang đổ xuống Mỹ

và châu Âu nhờ có thị trường nội địa mạnh, dự trữ ngoại hối cao và chính sách kinh tế vĩ mô khôn ngoan Tới tháng 9/2008, thuyết phân ly đột ngột bị xé toạc khi sự chao đảo của Phố Wall tạo ra những cơn sóng thần lan tỏa toàn bộ hệ thống tài chính của thế giới, khiến các thị trường mới nổi ở châu Á cũng rung chuyển theo

Tuy nhiên, tới thời điểm hiện nay, thuyết phân ly đang trở lại Tháng 5 vừa qua, tạp chí kinh tế uy tín

Economist đã nhận định về sự xuất hiện của “thuyết phân ly phiên bản 2.0”, theo đó, những nền kinh tế mới nổi có quy mô lớn, mà dẫn đầu chính là Trung Quốc, sẽ chứng kiến sự phục hồi mạnh, trong lúc Mỹ, Nhật Bản và châu Âu vẫn phải đắm chìm trong sự suy giảm tăng trưởng kéo dài

Trong những tháng gần đây, việc ngày càng có thêm nhiều thông tin kinh tế tích cực, đặc biệt là từ các nền kinh tế mới nổi của châu Á, đã khẳng định thêm quan điểm cho rằng, sự phục hồi kinh tế đang diễn ra tại khu vực này, và các nền kinh tế của châu Á trên thực tế đã giảm bớt sự phụ thuộc vào sự may rủi của các nền kinh tế phương Tây

Tuy nhiên, liệu có là hợp lý nếu coi đây là sự phân ly?

Nếu lý thuyết về sự phân ly kinh tế không chỉ bao gồm quan điểm cho rằng các nền kinh tế mới nổi có tốc

độ tăng trưởng cao hơn các nước G-7 như bấy lâu nay thế giới vẫn chứng kiến, thì lý thuyết này phải chỉ ra rằng các chu kỳ kinh tế ở các nền kinh tế mới nổi không còn nằm dưới sự định đoạt của các chu kỳ kinh tế diễn ra ở các nền kinh tế lớn, mà chủ yếu được quyết định bởi các yếu tố khác Vậy đây có đúng là những

gì đang diễn ra ở các nước châu Á ở thời điểm hiện nay?

Mặc dù những thay đổi cơ cấu đã diễn ra trong nền kinh tế thế giới từ lâu trước khi lần khủng hoảng này nổ

ra và có khả năng sẽ được đẩy mạnh hơn trong và sau cuộc khủng hoảng này, có thể vẫn còn quá sớm để nói tới việc các nền kinh tế đang nổi của châu Á đã thoát khỏi sự ảnh hưởng của thị trường phương Tây

Có 4 lý do để đưa ra nhận định này

Thứ nhất, mặc dù hầu hết các nền kinh tế châu Á đều chịu ảnh hưởng của lần khủng hoảng tài chính này,

những thiệt hại mà họ phải gánh chịu, ít nhất là trong lĩnh vực tài chính, nhỏ hơn rất nhiều những mất mát

mà châu Âu và Mỹ phải đối mặt

Bởi thế, sự phục hồi kinh tế của châu Á chắc chắn sẽ diễn ra dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn Việc tăng trưởng sớm được nối lại ở châu Á chưa chắc đồng nghĩa với việc các nền kinh tế ở khu vực này đã không còn phụ thuộc và phương Tây, đặc biệt là trong bối cảnh các tín hiệu phục hồi đang phát đi từ khắp nơi trên thế giới chứ không riêng gì châu Á

Ngay cả Đức, nước xuất khẩu lớn nhất thế giới và chịu ảnh hưởng nặng nề từ sự lao dốc của thương mại toàn cầu thời gian qua, giờ đây về phương diện kỹ thuật đã thoát khỏi suy thoái với tốc độ tăng trưởng kinh

tế dương trong quý 2/2009

Thứ hai, mặc dù nền kinh tế thế giới đã dần ổn định trở lại trong những tháng gần đây và môi trường kinh

doanh đã không còn đầy rẫy những bất ổn như trước, hiện vẫn còn quá sớm để tuyên bố về sự kết thúc của khủng hoảng, ngay cả ở châu Á cũng như các nơi khác

Người ta hy vọng rằng, thậm chí cả ở Mỹ và châu Âu, nền kinh tế đang trên đà hồi phục, nhưng vẫn còn đó những rủi ro không thể biết trước và những rắc rối chưa thể được giải quyết trong ngành tài chính có thể gây ra những rào cản cho quá trình phục hồi

Những cú sốc mới đối với các nền kinh tế phương Tây, nếu xảy ra, có thể sẽ cản trở sự phục hồi toàn diện của kinh tế châu Á Có thể thấy, phản ứng của thị trường chứng khoán châu Á với các dữ liệu kinh tế Mỹ, chẳng hạn tỷ lệ thất nghiệp của nước này, phản ánh khá rõ nét việc giới đầu tư chứng khoán ở châu Á không hề thờ ơ trước vấn đề tăng trưởng kinh tế Mỹ

Trang 2

Thứ ba, phần lớn các chính phủ ở châu Á thời gian qua đều chứng tỏ khả năng thực hiện nhanh chóng các

gói kích thích tài khóa để bình ổn nền kinh tế của nước mình

Về phương diện này, Trung Quốc là quốc gia đi đầu với một gói kích thích kinh tế lên tới gần 585 tỷ USD Một điều nữa còn chưa chắc chắn là liệu sự phục hồi hiện nay của kinh tế châu Á có bền vững một khi tác động của những gói kích thích kinh tế giảm dần đi Thêm vào đó, nguy cơ về tỷ nợ xấu có thể gia tăng trong hoạt động tín dụng được đẩy mạnh của Trung Quốc thời gian qua cũng sẽ là một vấn đề nữa

Thứ tư, các nền kinh tế đang nổi khác ở Đông Á vẫn còn ràng buộc với kinh tế Mỹ thông qua đồng USD

Chừng nào các đồng tiền của châu Á còn ràng buộc với đồng USD Mỹ qua các mối neo buộc mềm hay cứng, sự độc lập về chính sách tiền tệ của các nước này tất yếu sẽ bị hạn chế, do chính sách tiền tệ của họ

sẽ chịu ảnh hưởng từ chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Nếu không có sự chia tách giữa các đồng tiền của khu vực khỏi đồng USD, lý thuyết về sự phân ly giữa các nền kinh tế châu Á với kinh tế Mỹ sẽ vẫn chỉ là lý thuyết

Tuy nhiên, dù sao, các chu kỳ kinh tế ở châu Á, đặc biệt là ở Đông Á, đã có quan hệ mật thiết hơn với nhau

do các mối liên kết thực và liên kết tài chính giữa các nền kinh tế ở đây đã được tăng cường Trên thực tế,

sự phát triển của một mạng lưới thương mại-sản xuất mở rộng khắp Đông Á đã tạo ra một nền kinh tế khu vực có mức độ nhất thể gần như châu Âu

Các hoạt động hội nhập kinh tế khu vực sâu hơn và việc phát triển một thị trường tiêu dùng nội châu Á sẽ giảm bớt sự phụ thuộc của châu lục này vào các nền kinh tế Âu-Mỹ, đặc biệt một khi sự hội nhập này xảy ra đồng thời với việc giảm bớt dần mức độ phụ thuộc vào đồng USD và các nỗ lực nhằm tăng cường hợp tác kinh tế vĩ mô và tài chính trong khu vực

Tóm lại, “lý thuyết phân ly phiên bản 2.0” có thể đang trên đường hình thành, nhưng vẫn còn ở cách hiện thực một khoảng cách xa

(Theo Far Eastern Economic Review)

© Bản quyền thuộc về VnEconomy (Báo điện tử - Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Giấy phép ICP số 797/GP-BTTTT, cấp ngày 12/6/2009 / Giấy phép Báo điện tử số 356/GP-BVHTT, cấp ngày 27/6/2001

Tổng biên tập: Giáo sư Đào Nguyên Cát

Trụ sở Tòa soạn: 96 Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội

Điện thoại:

KTĐT - Mạng tin RealClearWorld mới đây đăng bài viết của Chủ tịch Cơ quan Dự trữ liên bang Mỹ

(FED) Ben Bernanke cho rằng sự trỗi dậy của các nền kinh tế Châu Á kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai là một trong những thành công lớn nhất trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới

Bài báo của nhà kinh tế hàng đầu của Mỹ viết: Sau sự phát triển mạnh mẽ của Nhật Bản và các con hổ Châu Á, Trung Quốc đã vươn lên trở thành một nền kinh tế lớn của thế giới Kể từ đầu thập kỷ này, Châu Á

đã đóng góp hơn 1/3 vào sự phát triển của kinh tế toàn cầu và nâng tỷ trọng của mình trong GDP của toàn thế giới từ 28% lên 32% Thành công của các nền kinh tế Châu Á đã góp phần quan trọng vào cắt giảm tỷ

lệ đói nghèo và nâng cao mức sống của hàng trăm triệu người Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước chiếm gần 40% dân số thế giới, đã nâng thu nhập bình quân đầu người lên tương ứng hơn 10 lần và 3 lần, kể từ

1980

Nói chung mọi người đều nhất trí rằng nguyên nhân chủ yếu đưa tới thành công của Châu Á là các nền kinh tế của khu vực này đã mở cửa với thương mại và tài chính toàn cầu Các nước Châu Á cũng đã đạt được tiến bộ đáng kể trong phát triển các thể chế trong nước, ban hành chính sách hợp lý và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp Tuy nhiên giống như các nền kinh tế Bắc Mỹ và Châu Âu, kinh tế Châu Á cũng đã chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái toàn cầu, cho dù nguồn gốc của khủng hoảng không phải từ Châu Á

Sau khủng hoảng tài chính cuối thập niên 1990, nhiều nền kinh tế đang nổi lên ở Châu Á và một số nơi khác, đã tận dụng được điều kiện kinh tế toàn cầu tương đối thuận lợi để củng cố nền tảng kinh tế và tài chính của mình, như cải thiện tình hình tài chính và nợ nước ngoài, nâng cao dự trữ ngoại tệ và cải tổ hệ thống ngân hàng Nhờ đó khi khủng hoảng tài chính bắt đầu xảy ra hồi mùa hè 2007, các nền kinh tế Châu

Á dường như ở vị thế thuận lợi để có thể tránh được những hậu quả tồi tệ nhất Mặc dù thị trường tài chính toàn cầu, trong đó có cả các thị trường Châu Á, đã bị sụt giảm mạnh ngay khi khủng hoảng nổ ra, nhưng Châu Á đã phục hồi khá nhanh và giá cổ phiếu đã đạt mức cao mới ngay trong quý IV năm đó

Tuy nhiên từ cuối 2007 tác động xấu của khủng hoảng tới các nền kinh tế Châu Á bắt đầu tăng lên Thị trường chứng khoán Châu Á lại suy giảm và kéo dài suốt 2008, đi cùng với những sức ép về tài chính Tốc

độ tăng GDP của Châu Á đã chậm hơn trong nửa cuối 2008

Trang 3

Đầu năm 2009, khi mà nhiều nền kinh tế Châu Á vẫn còn rơi tự do, ít ai nghĩ rằng kinh tế khu vực này sẽ hồi phục nhanh Tuy nhiên những số liệu gần đây cho thấy Châu Á đang phục hồi mạnh mẽ Mặc dù nhiều nền kinh tế trong khu vực vẫn còn suy trầm trong những tháng đầu năm, nhưng kinh tế Châu Á đã tăng trưởng tới 9% quy ra cả năm trong quý II năm nay Các nền kinh tế Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore và Đài Loan đã đạt mức tăng hai con số quy ra cả năm Đến thời điểm này, tuy rủi ro kinh tế vẫn còn, nhưng Châu Á đang dẫn đầu thế giới trong quá trình hồi phục

Đối với hầu hết các nền kinh tế Châu Á, thương mại là kênh lây lan khủng hoảng quan trọng nhất Thương mại quốc tế đã giảm 20% xét theo giá trị thực tế và giảm 35% tính theo USD trong giai đoạn từ đầu khủng hoảng tới đầu 2009 Thương mại giảm đã tác động mạnh tới các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu Những nền kinh tế mở cửa cho thương mại quốc tế rộng nhất đồng thời là những nền kinh tế bị suy giảm nhanh nhất Điều này được thể hiện rõ nhất ở Hồng Kông và Singapore, sau đó là Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Malaysia

Lo ngại của các nhà đầu tư đã dẫn tới tình trạng rút vốn ra khỏi các thị trường đang nổi lên, trong đó có các nền kinh tế Châu Á và Mỹ Latinh Sự đảo chiều của dòng vốn tư bản đã làm căng kéo hệ thống ngân hàng

ở hầu khắp Châu Á, dẫn tới thắt chặt tín dụng ở một số nước Ngay cả dòng tiền cho vay liên ngân hàng ở một số quốc gia cũng bị ngưng lại, dẫn tới thiếu thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Chịu tác động mạnh nhất là hệ thống ngân hàng của Hàn Quốc và Nhật Bản Dòng tiền chảy ra nước ngoài đã làm sụt giảm tỷ giá hối đoái ở một số nước, đặc biệt là Hàn Quốc, Indonesia và Malaysia Ví dụ đồng won của Hàn Quốc đã bị giảm giá tới 40% so với USD kể từ đầu 2008 đến tháng 3 năm nay và mới chỉ hồi phục được một phần Trong giai đoạn này, đồng rupiah của Indonesia đã giảm giá 22% Kết quả nghiên cứu cho thấy những nền kinh tế mở cửa rộng hơn về tài chính thì GDP giảm mạnh hơn Xinhgapo, Hồng Công và Đài Loan là những nền kinh tế mở về tài chính và bị suy giảm mạnh nhất Trái lại Trung Quốc, Ấn Độ và

Indonesia có GDP tăng trong suốt cuộc khủng hoảng thì đồng thời là các nền kinh tế ít mở cửa nhất về tài chính

Nói chung các nền kinh tế Châu Á bước vào khủng hoảng với những nền tảng kinh tế vĩ mô khá mạnh, trong đó có lạm phát thấp, cán cân tài chính và thanh toán vãng lai ổn định Nhờ nền tảng kinh tế mạnh, nhiều quốc gia trong vùng đã ban hành những chính sách đối phó với khủng hoảng khá mạnh mẽ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore là những quốc gia có chiến lược đối phó với khủng hoảng rất tích cực Các chương trình kích thích kinh tế đã thúc đẩy nhu cầu nội địa và làm tăng thương mại trong nội bộ vùng Tuy nhiên không phải quốc gia nào ở Châu Á cũng phản ứng tích cực với khủng hoảng Những nước

có tình hình tài chính kém hơn đã ngần ngại hơn khi đưa ra chương trình kích thích kinh tế Tương tự như vậy lạm phát đã tác động tới chính sách tiền tệ của các nước

Nhìn một cách tổng quát, Châu Á đã đối phó khá hiệu quả với khủng hoảng Sự phục hồi của các nền kinh

tế Châu Á cho tới lúc này chủ yếu nhờ nhu cầu nội địa tăng lên và một phần nhờ chính sách tài chính và tiền tệ, hơn là nhờ vào sự tăng trưởng của các thị trường ngoài khu vực Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc

độ phục hồi của sản xuất công nghiệp Châu Á tăng nhanh hơn xuất khẩu Sự phục hồi của nhu cầu ở Châu

Á sẽ hỗ trợ kinh tế toàn cầu phát triển

Bài báo kết luận: Đến lúc này các nền kinh tế Châu Á về cơ bản đã chống chọi thành công với khủng hoảng Thành công của Châu Á một phần nhờ kinh nghiệm trong đối phó với khủng hoảng tài chính cuối thập niên 1990, mà một trong những bài học quan trọng là phải có kinh tế vĩ mô mạnh Bài học trong cả hai cuộc khủng hoảng vừa qua cũng cho thấy các tổ chức tài chính phải được điều hành thận trọng, minh bạch, phải có nguồn vốn và thanh khoản đủ để chống đỡ với các cú sốc mạnh Nhờ những cải cách sau khủng hoảng tài chính cuối thập niên 1990 và nhờ chính sách kinh tế vĩ mô được cải thiện, các hệ thống ngân hàng Châu Á đã đối phó tốt hơn với khủng hoảng lần này Với vai trò tăng lên của Nhóm G-20, trong đó có các nền kinh tế đang nổi lên ở Châu Á, các nước trong khu vực này có thể đóng góp tốt hơn vào việc cải thiện hệ thống tài chính toàn cầu./

Khi lạm phát trở lại - Kỳ 1

Cập nhật: 26/05/2008

Trang 4

Thậm chí cả khi kinh tế Mỹ ngấp nghé bờ vực suy thoái và kinh tế châu Âu tăng trưởng chậm lại, ngân hàng trung ương ở các nước này vẫn lo ngại chuyện lạm phát leo thang Tuy nhiên, những rủi ro mà các nền kinh tế này phải đối mặt nhỏ hơn nhiều so với những thách thức mà các nền kinh tế đang phát triển - nơi lạm phát so với cùng kỳ năm ngoái đã đạt mức cao nhất trong vòng 9 năm qua - phải

Các nền kinh tế phát triển cũng đang lên tiếng cảnh báo về những điểm tương đồng giữa các nền kinh

tế đang phát triển hiện nay với các nền kinh tế phát triển vào đầu những năm 1970, khi thời kỳ “đại lạm phát” (Great Inflation) bắt đầu cất cánh Liệu các nền kinh tế đang phát triển sẽ rơi vào tình trạng

Lạm phát tại Trung Quốc hiện ở mức 8,5%, cao nhất trong vòng 12 năm trở lại đây, so với con số 3%

ở thời điểm cách đây 1 năm Lạm phát tại Nga đã nhảy từ 8% lên mức 14% Phần lớn các nước xuất khẩu dầu ở vùng Vịnh cũng có lạm phát ở mức hai con số Lạm phát bán buôn tại Ấn Độ là 7,8%, cao nhất trong vòng 4 năm qua Lạm phát ở Indonesia hiện đang là 9% và có thể lên tới 12% vào tháng tới

- thời điểm mà Chính phủ nước này dự định tăng giá xăng dầu thêm 25 - 30% Lạm phát tại Mỹ Latinh hiện còn ở mức “khiêm tốn” so với những đỉnh cao lịch sử trước đây Tuy nhiên, lạm phát tại Brazil đã tăng lên mức 5% so với mức dưới 3% của năm ngoái Lạm phát của Chile cũng tăng từ mức 2,5% lên 8,3% Đáng báo động nhất là lạm phát ở Venezuela với con số 29,3%

Tình hình ở Argentina cũng đáng ngại không kém Tuy thống kê chính thức cho thấy, lạm phát ở nước này hiện chỉ là 8,9% nhưng hầu như không có nhà kinh tế nào tin vào con số này Morgan Stanley cho rằng, con số thực phải là 23%, so với mức 14,3% của năm ngoái Trên thực tế, những con số thống kê chính thức của các nền kinh tế đang nổi lên đã không phản ánh đúng những áp lực lạm phát tại ở đây Các khoản trợ cấp và các biện pháp điều hành giá cả của chính phủ là một trong những lý do chính Mặt khác, cũng do thiếu dữ liệu để làm căn cứ cho những thống

kê chính xác, hoặc do các chính phủ không muốn công bố những con số xác thực Lạm phát thực của Trung Quốc có thể phải cao hơn vì chỉ số giá tiêu dùng của nước này không bao toàn bộ các dịch vụ tư nhân Còn ở Ấn Độ, việc thu thập dữ liệu để tính CPI thường ở tình trạng chậm chạp Nếu tính toán chính xác, 5 trong số 10 nền kinh tế đang nổi lên lớn nhất sẽ có tỷ lệ lạm phát ít

Như thế, 2/3 dân số thế giới phải đối mặt với lạm phát hai con số

Nguyên nhân khiến lạm phát tăng cao gần đây chủ yếu do giá lương thực và nhiên liệu tăng cao Chẳng hạn, tại Trung Quốc, giá lương thực và thực phẩm đã tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi giá của các mặt hàng khác chỉ tăng có 1,8% Chính phủ các nước đã phản ứng lại bằng cách kiểm soát giá cả chặt hơn và dừng xuất khẩu các mặt hàng này Chính phủ Ấn Độ đã cho ngừng hoạt động giao dịch kỳ hạn nhiều loại hàng hóa mà họ cho là đã góp phần đẩy lạm phát lên cao Trong ngắn hạn, những biện pháp như vậy có thể chặn lạm phát và tránh tình trạng bất ổn xã hội Tuy nhiên, trong dài hạn, những biện pháp như vậy có hại nhiều hơn là có lợi Việc ngăn chặn giá cả tăng cao làm giảm tính khuyến khích đối với người nông dân trong iệc tăng nguồn cung và người tiêu dùng giảm nhu cầu, dần dần dẫn tới tình trạng mất cân đối cung cầu, đẩy giá tăng cao thêm Năm nay, một số ngân hàng trung ương, trong đó có các ngân hàng trung ương của Brazil, Indonesia

và Nga, đã tiến hành tăng lãi suất Tuy nhiên, mức lãi suất cao hơn này không thể theo kịp bước tiến của lạm phát, khiến lãi suất thực giảm xuống và hiện đang ở mức thực âm tại phần lớn các quốc gia đang phát triển, trừ một số ít nước như Brazil, Mexico và Hàn Quốc Lãi suất cơ bản của Nga hiện là 6,5%, thấp hơn khoảng 8% so với tỷ lệ lạm phát Lãi suất cho vay của Trung Quốc cũng thực âm 1% Nhiều nhà hoạch định chính sách tại các nền kinh tế đang nổi lên cho rằng, thắt chặt tiền tệ không có nhiều tác dụng trong việc cản bước tiến của lạm phát vì lạm phát cao chủ yếu là do giá lương thực và nhiên liệu tăng cao, mà giá cao lại chủ yếu là do những cú sốc tạm thời về nguồn cung và do tình trạng đầu cơ Trong khi đó, tăng lãi suất thì không thể giúp tạo ra thêm dầu, ngũ cốc hay thịt lợn Họ

hy vọng lạm phát sẽ giảm vào cuối năm nay khi giá cả ở mức cao khuyến khích sự tăng nguồn cung Trên thực tế, giá lương thực và thực phẩm đã có xu thế hạ nhiệt từ đầu tháng này

Trang 5

Đúng là lạm phát có thể hạ nhiệt vào cuối năm nay, nhưng cũng không thể xem thường áp lực này trong thời gian tới Sự tăng giá đồng loạt trên thị trường lương thực và thực phẩm toàn cầu cho thấy nguyên nhân không chỉ nằm ở chuyện gián đoạn nguồn cung Giá cả tăng cao còn do chính sách tiền tệ lỏng lẻo tại những nền kinh tế đang nổi lên, khiến nhu cầu nội địa tăng mạnh Từ năm 2002 tới nay, các nền kinh tế này chiếm 90% lượng gia tăng trong nhu cầu tiêu dùng của toàn thế giới đối với dầu và kim loại, 80% đối với lượng gia tăng của nhu cầu tiêu thụ toàn cầu đối với ngũ cốc Điều này phản ánh sự “thay đổi lực lượng” về nhu cầu trong tương lai, nhưng đồng thời cũng là sản phẩm của sự bùng nổ có tính chu kỳ do cung tiền tăng cao Nhà phân tích Peter Morgan của Ngân hàng HSBC cho rằng ban đầu, cú sốc giá lương thực bắt nguồn từ vấn đề nguồn cung, nhưng về sau, chính thu nhập và lượng cung tiền tăng đã giúp mức giá cao được duy trì Nếu các nước thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ, giá lương thực có thể đã xuống thấp hơn, giúp duy trì lạm phát trong tầm kiểm soát Một lý do tại sao các ngân hàng trung ương không thể xem nhẹ sự bùng nổ giá thực phẩm là giá thực phẩm tăng cao có thể khiến kéo theo giá cả của các mặt hàng khác Lương thực và thực phẩm chiếm

từ 30 - 40% trong rổ hàng hóa làm căn cứ để tính chỉ số giá tiêu dùng ở các nước đang phát triển, so

Do đó, giá lương thực và thực phẩm có tác động nhiều đến mức kỳ vọng lạm phát Và như thế, tác động đến nhu cầu tăng lương ở các nước đang phát triển mạnh hơn ở các nước phát triển Chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ giúp neo mức kỳ vọng lạm phát lại và ngăn chặn việc tăng giá của nhóm hàng lương thực và thực phẩm ra toàn bộ nền kinh tế Phân tích của Goldman Sachs cho thời kỳ 1990 - 2007 khẳng định rằng, tại các nền kinh tế đang nổi lên, giá lương thực thực phẩm cao có khả năng đẩy giá các mặt hàng khác tăng theo Tại phần lớn các nền kinh tế phát triển, mối liên hệ giữa các mặt hàng lương thực - thực phẩm và phi lương thực trươc đây không được coi trọng trong lĩnh vực thống kê Bên cạnh đó, ngoài việc lương thực và thực phẩm chiếm một tỷ trọng lớn trong rổ hàng hóa, điều này còn xuất phát từ hai nguyên nhân Thứ nhất, mức độ tín nhiệm của các ngân hàng trung ương ở các nước đang phát triển thường thấp hơn, do đó, mức kỳ vọng lạm phát thường được neo buộc ở mức

độ lỏng lẻo hơn Thứ hai, mức lương thực tế ở các nước này thường ít linh hoạt hơn

Cả hai điều này đều làm gia tăng rủi ro về “vòng xoáy giá cả - tiền lương” - trong đó, người lao động luôn kỳ vọng mức lương cao hơn, chủ lao động phải tăng giá sản phẩm để nâng lương, công nhân cũng là người tiêu thụ, lại đòi tăng lương vì giá cao Kết quả của vòng luẩn quẩn này rốt cục là lạm phát

Nhà phân tích Philip Poole cũng của HSBC cho rằng, nhiều nền kinh tế đang nổi lên đã sử dụng hết công suất dự trữ do đầu tư không theo kịp với tăng trưởng kinh tế Do đó, các doanh nghiệp thiên về

xu hướng tăng giá Ở Brazil và Ấn Độ, tỷ lệ sử dụng công suất đã đạt những mức kỷ lục Tỷ lệ thất nghiệp ở Brazil hiện đang ở mức thấp nhất trong vòng gần 20 năm trở lại đây Còn ở Trung Quốc, công suất đầu tư có thể vẫn còn dư thừa chút ít nhờ hoạt động đầu tư mạnh mẽ

Những hiệu ứng “vòng hai” của giá cả lương thực thực phẩm tăng cao đã trở nên rõ nét ở hầu hết các

Nhà phân tích Andrew Cates của UBS tính toán rằng, cả ở châu Á và Mỹ Latin, tỷ lệ lạm phát cơ bản (không tính lương thực, thực phẩm và năng lượng) đã tăng khoảng 1% so với cùng kỳ năm ngoái, lên mức lần lượt là 3,4% và 6,2% Còn ở Đông Âu, tỷ lệ này đã tăng 3%, lên mức 7,4%, chủ yếu là do sự phát triển quá nóng của kinh tế Nga Ngược lại, tỷ lệ lạm phát cơ bản tại các nước phát triển hầu như

Những kỳ vọng lạm phát đang lên cao, khiến công nhân ở nhiều nơi đang lên tiếng đòi tăng lương Trong một cuộc khảo sát về kỳ vọng lạm phát ở Argentina, câu trả lời về kỳ vọng lạm phát cho 12 tháng tới bình quân là 36% Lương của người lao đông ở Nga hiện đang tăng với mức bình quân

Ở một quốc gia, lạm phát có thể tăng cao hơn ở một số nước khác Trong một phân tích về tiền lương,

kỳ vọng lạm phát, áp lực về nhu cầu và công suất, cùng với sự tăng trưởng cung tiền, chuyên gia Cates cho rằng, Argentina, Brazil, Ấn Độ và các nước xuất khẩu dầu ở Trung Đông sẽ là những nước đối mặt với những rủi ro lớn nhất trong những tháng sắp tới Trong khi đó, áp lực lạm phát sẽ phần

Trang 6

nào dịu hơn ở những nước như Trung Quốc, Mexico, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ

Rõ ràng, chính sách tiền tệ cần phải được thắt chặt Nhưng trên thực tế, mức lãi suất thực tại nhiều nước đang thấp hơn so với thời điểm cách đây một năm Lãi suất ngắn hạn cũng thấp hơn bất thường

so với tăng trưởng GDP danh nghĩa - một thước đo xem mức lãi suất hợp lý nên nằm ở đâu Điều này cho thấy, chính sách tiền tệ của các nước hiện rất lỏng lẻo Lượng cung tiền tại các nền kinh tế đang nổi lên đã tăng bình quân 20% so với cùng kỳ năm ngoái, gấp gần ba lần so với tốc độ tăng ở các nước phát triển Riêng ở Nga, tỷ lệ này là 42%

Như vậy, có thể thấy, các nền kinh tế đang phát triển hiện đang có rất nhiều điểm tương đồng với các nước giàu vào thập niên 1970, khi lạm phát bắt đầu tăng tốc tới mức phi mã Cũng sự phát triển bùng

nổ đồng loạt của kinh tế thế giới khiến giá cả hàng hóa tăng cao Cũng các chính phủ phản ứng bằng các khoản trợ cấp và kiểm soát giá cả Cũng những con số thống

kê không phản ánh đúng những áp lực lạm phát Cũng các nền kinh tế hoạt động hết công suất Cũng lượng cung tiền gia tăng Cũng những áp lực lạm phát không thể chế ngự và thị trường lao động thiếu linh hoạt, làm gia tăng rủi ro về vòng xoáy lương - giá… Theo lẽ thường, những sai lầm trong chính sách tiền tệ gây ra thời kỳ lạm phát tăng vọt vào những năm 1970 không giống như những sai lầm ngày nay vì các ngân hàng trung ương ngày nay độc lập

Tuy nhiên, thực tế không phải vậy Không giống như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), nhiều ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế đang phát triển, tiêu biểu

là ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, không hoàn toàn độc lập Cũng giống như ở thời điểm những năm

1970, họ thường phải đối mặt với những áp lực chính trị buộc duy trì lãi suất thấp để duy trì tăng trưởng kinh tế và việc làm

Kinh nghiệm kiềm chế lạm phát của thế giới: Giải pháp phải đồng bộ

Khởi tạo bởi : tailieu | Đăng bởi : tinkinhte | Cập nhật: 04/09/2009 23:08

E-mail | Bản in | Lưu xem sau

Lạm phát là sự tăng giá liên tục của hàng hoá, vật tư, dịch vụ hoặc là việc đồng tiền nội tệ bị giảm giá Lạm phát ở mức dưới 5% có tác dụng động viên các nguồn lực trong xã hội, giúp tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu tỷ lệ này vượt quá 5% sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế, tác động xấu đến đời sống dân cư Mức tăng giá tiêu dùng của Việt Nam hiện nay đang ở mức cao, nhiều giải pháp đã được đưa ra và đã phần nào phát huy tác dụng Tuy nhiên, tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong cuộc chiến với lạm phát trong thời điểm

Những năm 90 của thế kỷ trước, lạm phát ở các nước Mỹ La tinh lên tới 500%, Achentina, Brazil

và Peru là những nền kinh tế lớn nhất khu vực, lạm phát còn tăng lên đến 4 con số Trước tình hình

đó, Chính phủ các quốc gia này đã có nhiều cải cách sâu rộng, đặc biệt là việc cải cách Ngân hàng

Năm 1989, Chi lê là nước đầu tiên và tiếp đến các nước Châu Mỹ La tinh khác đã thông qua luật tăng cường quyền tự chủ cho NHTW để nâng cao trách nhiệm của tổ chức này Cuộc cải cách nhằm thực hiện 4 mục tiêu theo mức độ ưu tiên khác nhau tuỳ từng quốc gia: (1) Sự uỷ nhiệm rõ ràng trong việc theo đuổi ổn định giá cả hơn là tăng trưởng kinh tế (trước đó ưu tiên mục tiêu tăng trưởng); (2) độc lập về mặt chính trị trong việc xây dựng chính sách tiền tệ, tách rời hoạch định chính sách với quá trình bầu cử cơ quan lập pháp hoặc hành pháp; (3) độc lập trong hoạt động quản

lý và điều hành chính sách tiền tệ từ việc thiết lập lãi suất đến việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ khác mà không có sự can thiệp của Chính phủ; (4) tính trách nhiệm trong việc đạt đến mức

Trang 7

Hầu hết các quốc gia trên đều thực hiện thêm chính sách thay đổi chế độ tỷ giá Với việc neo chặt

tỷ giá hối đoái trong hơn 10 năm, tình hình lạm phát của họ đã được cải thiện rõ rệt, tăng trưởng

Thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

Theo các nhà kinh tế học Thomas Laubach, Rick Mickin và Adam Poxen, chính sách lạm phát mục tiêu (CSLPMT) được hiểu là một nền tảng cơ sở cho chính sách tiền tệ, được đặc trưng bởi việc NHTW công bố với công chúng một mục tiêu định lượng chính thức (thường là một khung phạm

vi hơn là một giá trị cụ thể) cho tỷ lệ lạm phát trong một hoặc vài thời kỳ, dựa trên quan điểm ổn định giá cả là mục tiêu duy nhất của chính sách tiền tệ trong dài hạn Một trong những đặc trưng về quan điểm có tác động mạnh là công khai với công chúng về những kế hoạch, mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách và trong nhiều trường hợp là cả về cơ chế truyền tải trong đó nhấn mạnh đến trách nhiệm của NHTW trong việc theo đuổi mục tiêu”.

Lạm phát mục tiêu thực chất là một kiểu chính sách tiền tệ được cụ thể và lượng hoá; để thực thi chính sách này đòi hỏi NHTW phải được quyền định đoạt các công cụ chính sách tiền tệ trước các tình huống kinh tế và không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị.

Thực thi CSLPMT là một chiến lược quan trọng để các chính sách của NHTW trở nên công khai, minh bạch, dễ dự đoán hơn, giúp cho lạm phát giảm xuống, giảm lãi suất cho vay, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhờ tính ưu việt này nên nhiều nước đã áp dụng khá thành công CSLPMT để kiềm chế lạm phát.

New Zealand áp dụng CSLPMT từ tháng 4/1990, sau khi hoàn thành thời gian cam kết, NHTW được hoạt động độc lập tương đối, chỉ số lạm phát chỉ còn 0-3% Canada áp dụng CSLPMT bắt đầu

từ ngày 26/2/1991, Bộ Tài chính và NHTW công bố chỉ tiêu lạm phát, sử dụng công cụ đo lường lạm phát là CPI, trong đó loại trừ lương thực và năng lượng.

Còn đối với Thuỵ Điển, chính sách kinh tế quá mở rộng, giá cả, tiền lương xung đột với tỷ giá cố định làm cho nền kinh tế Thuỵ Điển lâm vào cuộc khủng khoảng trầm trọng, tăng trưởng kinh tế thấp, năng suất lao động kém, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, tình trạng tài chính suy giảm, lãi suất dài hạn và chênh lệch lãi suất gia tăng Trước khó khăn đó, ngoài việc thắt chặt chính sách tài khoá, thả nổi đồng Krona để theo đuổi mục tiêu lạm phát thấp và ổn định nền kinh tế, từ 1/3/1993 NHTW Thuỵ Điển đưa ra mục tiêu lạm phát ở mức 2%/năm và mức dao động +/- 0,01% Lạm phát mục tiêu được khẳng định rõ ràng bằng con số cụ thể khiến cho công chúng có thể dễ dàng đánh giá được hoạt động có thêm lòng tin vào NHTW Kể từ đó, lạm phát ở Thuỵ Điển đã ở mức thấp và ổn định hơn.

Tại Brazil, tháng 1/1999 đồng Rial mất giá 37%, NHTW nâng lãi suất lên 37%, Chính phủ phải quyết định phá giá đồng Real Từ tháng 2/1999, NHTW Brazil công bố áp dụng CSLPMT, đồng thời tăng lãi suất cơ bản lên 45%/năm Tháng 6/1999, Brazil công bố Nghị định nhằm thể chế hoá lạm phát mục tiêu với các nội dung chủ yếu: Thông báo về các mục tiêu lạm phát cho 12 tháng của các năm 1999, 2000, 2001 và cam kết thông báo mục tiêu cho năm 2002 và 2 năm tiếp theo; giao

Uỷ ban tiền tệ quốc gia nhiệm vụ đặt ra các mục tiêu về lạm phát và biên độ dao động trên cơ sở đề xuất của Bộ Tài chính; giao NHTW thực hành các chính sách cần thiết để đạt được các mục tiêu lạm phát đề ra; thiết lập các quy trình trách nhiệm của NHTW, nếu vượt biên độ cho phép thì Thống đốc NHTW phải có văn bản giải trình gửi cho Bộ Tài chính về nguyên nhân, giải pháp khắc phục, thời gian đưa lạm phát trở lại biên độ cho phép; cải thiện tính công khai, minh bạch của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và giải pháp chiến lược trọng yếu của Chính phủ hàng năm.

Trên thực tế, tính độc lập của NHTW Brazil và cam kết ổn định giá cả vẫn chưa rõ ràng vì chỉ dựa vào một văn bản là Nghị định mà chưa có Luật Tuy vậy, CSLPMT đã được vận hành tốt ở Brazil, đồng Real từ chỗ mất giá 45% khi khủng hoảng xẩy ra đã ổn định ở mức giá thấp hơn là 30%; tăng trưởng kinh tế quốc dân được hồi phục tăng 1% trong năm 1999; đã không có các vụ hoảng loạn trong lĩnh vực ngân hàng.

Trang 8

NHTW các nước Argentina, Peru, Mehico, Colombia cũng áp dụng CSLPMT vào cuối những năm

90 của thế kỷ trước Các NHTW đã nắm lấy quyền tự chủ để hiện đại hoá phương thức hoạt động trong môi trường tỷ giá hối đoái mềm dẻo và chuyển từ kiểm soát tiền tệ theo phương thức truyền thống sang việc sử dụng lãi suất ngắn hạn làm đòn bấy chính trong chính sách tiền tệ.

Những cải cách thể chế chính sách tiền tệ, sự thay đổi kinh tế vĩ mô và các chính sách khác đã giúp các nước Mỹ La tinh giảm tỷ lệ lạm phát một cách ấn tượng xuống còn 1 con số Nếu như những năm 90 thế kỷ trước Chính phủ các nước Mỹ La tinh theo đuổi mục tiêu chống lạm phát thì ngày nay các nước này đang theo đuổi mục tiêu tăng trưởng.

Đối phó với tình trạng đô la hoá

Đô la hoá đã làm phức tạp nhiệm vụ quản lý chính sách tiền tệ của các nước Mỹ La tinh Tình trạng này làm cho hệ thống tài chính dễ bị tổn thương, NHTW chần chừ trong việc thả nổi đồng nội tệ vì các tác động có hại của việc phá giá có thể gây tổn thất cho những người tham gia thị trường không

có bảo hiểm rủi ro tỷ giá Để đối phó tình trạng đô la hoá, các NHTW đã phải nâng cao hơn độ tin cậy, trách nhiệm của họ bằng cách cố gắng đạt được mục tiêu lạm phát đã đề ra, đồng thời tạo ra các công cụ để nâng cao khả năng cạnh tranh của đồng nội tệ với USD, tăng cường sự kiểm soát nghiêm ngặt các hoạt động ngoại hối và rủi ro tỷ giá của các trung gian tài chính.

Đối phó với dòng vốn chảy vào

Ngoài cuộc chiến với lạm phát và đô la hóa, NHTW các nước Mỹ La tinh còn phải đối mặt với những thách thức từ sự tăng lên của dòng vốn chảy vào Đồng nội tệ có khuynh hướng lên giá làm cho NHTW bối rối trong chính sách đáp trả Nếu tăng lãi suất thì càng hấp dẫn thêm luồng vốn nước ngoài và nếu để đồng nội tệ lên giá lại có tác hại đến việc giảm thâm thụt cán cân mậu dịch và càng làm cho lạm phát gia tăng.

Để đối phó với tình trạng này, NHTW các nước Mỹ La tinh đã chọn mục tiêu ổn định giá cả, chỉ can thiệp vào thị trường ngoại hối khi thị trường có biến động quá mức Các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực canh tranh về chất lượng hàng hoá và giá cả, Chính phủ đẩy mạnh cải cách cơ cấu giúp cho nền kịnh tế linh hoạt hơn, có khả năng chống đỡ với cú sốc từ bên ngoài.

Ngăn ngừa khủng hoảng ngân hàng

Cái giá phải trả cho khủng hoảng ngân hàng là vô cùng to lớn do sự đổ vỡ có tính hệ thống ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và lòng tin của công chúng đối với ngân hàng Do vậy, thiết lập khuôn khổ pháp lý cho việc ngăn chặn khủng hoảng ngân hàng là cực kỳ cần thiết, cần trao quyền cho các nhà quản lý ngân hàng để giải quyết những vấn đề đảm bảo tính thanh khoản và khả năng trả nợ từ khi mới chớm nở; thiết lập hệ thống cảnh bảo sớm cho hệ thống ngân hàng, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc tái cấu trúc ngân hàng và các giải pháp cần được cải tiến để giải quyết các vấn đề khủng hoảng ngân hàng nhằm ít gây tổn thất và có hiệu quả nhất.

Những năm 90 của thế kỷ trước, các nước Mỹ La tinh đã xẩy ra các cuộc khủng hoảng ngân hàng làm cho lạm phát tăng, suy giảm tăng trưởng kinh tế, đe dọa xảy ra khủng hoảng tiền tệ Chính phủ

Mỹ La tinh đã giữ được mức thâm thụt ngân sách ở mức có thể kiểm soát được, điều này rất quan trọng bởi vì tài trợ cho chi tiêu công với nguồn lực từ NHTW sẽ dẫn tới việc tăng tỷ lệ nợ/GDP Từ

đó có thể dẫn tới sự tăng lãi suất thực và chỉ số “ rủi ro quốc gia”; những nhân tố này làm giảm khả năng điều hành chính sách tiền tệ và tăng tổn thất cho nền kinh tế trong khi đang theo đuổi chính sách giảm lạm phát Nếu chính sách tài khoá bất ổn có thể dẫn đến khủng hoảng tiền tệ như ở Brazil năm 1999 hoặc khủng hoảng ngân hàng và nợ quốc gia của Argentina năm 2002.

Tổng kết quá trình chống lạm phát của các nước Mỹ La tinh, các chuyên gia Quỹ Tiền tệ Quốc tế – IMF đã nhận định rằng các nước này đã thành công trên cả 4 mặt: Cải cách NHTW bằng cách tăng quyền tự chủ, tính trách nhiệm cao và tính độc lập; thực thi CSLFMT đảm bảo tính công khai, minh bạch và cam kết trước công chúng; đối phó có hiệu quả với tình trạng đô la hoá, áp dụng tỷ giá linh hoạt; hạn chế tác hại của dòng vốn chảy vào vượt quá khả năng hấp thụ của nền kinh tế; ngăn ngừa có hiệu quả nguy cơ khủng hoảng ngân hàng.

Trang 9

Tại Việt Nam, lạm phát năm 2007 và những tháng đầu năm 2008 đã lên đến mức đáng lo ngại Đây

là lần thứ hai sau 12 năm nền kinh tế nước ta lạm phát tăng lên hai chữ số, tỷ lệ tăng trưởng GDP nhiều năm liên tục đã gây tâm lý chủ quan Trước tình hình đó, Chính phủ đã đưa ra một gói giải pháp đồng bộ: Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt; giảm đầu tư công và chi thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách; tập trung phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp; bảo đảm cung cầu hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu; tăng cường quản lý thị trường; mở rộng chính sách an sinh xã hội.

Cùng với đó, Chính phủ chuyển mục tiêu từ chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng đã đặt ra từ cuối năm

2007 sang tập trung cho kiềm chế lạm phát, phấn đấu bảo đảm tốc độ tăng giá giảm dần, hạ chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2007 xuống 7%.

Tới thời điểm hiện nay, không chỉ các chuyên gia và tổ chức kinh tế trong nước, nhiều tổ chức kinh

tế có uy tín trên thế giới đã nhận định rằng gói giải pháp của Chính phủ đã và đang phát huy tác dụng tích cực Đây là một tín hiệu rất tốt cho cuộc chiến chống lạm phát cũng như triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới.

Liều thuốc chống lạm phát của các nước thường không mấy khác nhau tuỳ hoàn cảnh kinh tế, chính trị của mỗi nước Chính vì vậy, những kinh nghiệm của các nước Mỹ La tinh cũng nên được tham khảo và vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, đặc biệt là trong điều hành chính sách tiền

tệ Bên cạnh những giải pháp đã và đang thực hiện, Việt Nam cũng cần củng cố vai trò của NHTW,

sử dụng CSLPMT, áp dụng tỷ giá hối đoái linh hoạt, điều chỉnh chính sách quản lý ngoại hối nhằm hạn chế tình trạng đô la hoá, tăng cường quản lý vốn ngoại,… qua đó củng cố niêm tin của công chúng, sớm đưa nền kinh tế hồi phục và tiếp tục tăng trưởng trong những năm tiếp theo./.

Ngày đăng: 18/04/2022, 08:58

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w