UBND thị xã Hương Trà chỉ đạo các đơn vị địa phương phối hợp với Công ty TNHH NN MTV QLKT công trình thủy lợi Thừa Thiên Huế có giải pháp, phương án để vận hành cấp nước tưới cho đồng ru
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ HƯƠNG TRA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 1403 /BC.UBND Hương Trà, ngày 19 tháng 5 năm 2017
BÁO CÁO PHƯƠNG ÁN chống hạn vụ Hè thu năm 2017 trên địa bàn Thị xã Hương Trà
Kính gửi:
- UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế;
- Sở Nông nghiệp - PTNT
Năm 2017, thị xã Hương Trà có kế hoạch gieo cấy hơn 6160 ha lúa, vụ Đông Xuân đã thực hiện 3153 ha, kế hoạch dự kiến vụ Hè thu sẽ gieo cấy 3060 ha, và gieo trồng các loại rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày cả năm khoảng 5000 ha
Để chủ động phòng ngừa, hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do hạn hán gây ra; đảm bảo, chủ động nguồn nước tưới nhằm ổn định sản xuất ngay từ đầu vụ Hè Thu năm 2017 UBND thị xã Hương Trà chỉ đạo các đơn vị địa phương phối hợp với Công ty TNHH NN MTV QLKT công trình thủy lợi Thừa Thiên Huế có giải pháp, phương án để vận hành cấp nước tưới cho đồng ruộng đúng thời vụ như sau:
I NHẬN ĐỊNH THỜI TIẾT THỦY VĂN VỤ HÈ THU 2017 VÀ TÌNH HÌNH NGUỒN NƯỚC
1 Nhận định tình hình thời tiết vụ Hè Thu
- Theo dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương, hiện
tượng El Nino có khả năng xuất hiện vào nữa cuối năm 2017 và ảnh hưởng ở Việt Nam; trong tháng 5-6/2017, lượng mưa ở khu vực Trung Trung Bộ phổ biến thấp hơn TBNN từ 10-20%, trong tháng 7-8/2017, lượng mưa ở các khu vực thuộc Trung Bộ phổ biến ở mức TBNN cùng thời kỳ và thấp hơn TBNN từ 15-30% trong tháng 9-10/2017; Nhiệt độ trung bình từ tháng 5-10/2017 trên phạm vi toàn quốc phổ biến cao hơn TBNN; thủy văn tháng 5/2017, khả năng xảy ra lũ tiểu mãn nhỏ không đồng bộ trên các sông ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Từ tháng 6-8/2017, ở hạ lưu các sông ven biển Trung Bộ khả năng sẽ xuất hiện mực nước thấp nhất trong chuỗi số liệu quan trắc cùng thời kỳ hoặc thấp nhất lịch sử Mùa lũ năm 2017 trên các sông khu vực Trung Bộ đến sớm hơn so với TBNN
2 Tình hình nguồn nước
2.1 Các sông chính:
Nguồn nước để chống hạn hiện nay bao gồm lượng nước đến từ sông Hương, sông Bồ và cùng với nguồn nước hiện có của các nhà máy thủy điện đầu nguồn phát điện xả nước về hạ lưu các sông được điều tiết qua đập Thảo Long và một số cống trên đê ICo (tại Quảng Thành) để phục vụ cho các trạm bơm điện, bơm dầu vận hành cấp nước
Tình hình nguồn nước của hồ thủy điện đầu nguồn: (Số liệu cập nhật từ các
Trang 2Nhà máy Thủy điện do Chi cục Thủy lợi cung cấp)
Tả Trạch
- MNC: 23 m; Wc:
72,6 tr m 3
Bình Điền
- MNC: 53 m; Wc:
79,29 tr m 3
Hương Điền
- MNC: 46 m; Wc: 469,86 tr m 3
1 Mực nước tối thiểu theo quy
2 Hiện tại 08/5/2017
- Dung tích hữu ích (triệu m3) 109,38 218,24 308,04 2.2 Các hồ chứa thủy lợi
Trên địa bàn thị xã Công ty TNHH NN MTV QLKT công trình thủy lợi Thừa Thiên Huế đang quản lý 02 hồ chứa nước lớn Tính đến thời điểm hiện tại, hầu hết mực nước của các hồ năm 2017 đều đạt và cao hơn mực nước cùng kỳ các năm 2013, 2014, 2015, 2016; riêng hồ Khe Ngang thấp hơn năm 2015
- Hồ Thọ Sơn: Dung tích hữu ích còn lại trong hồ tính đến ngày 09 tháng 5 năm 2017 là 4.055.000m3, ứng với cao trình 18,15m.
- Hồ Khe Ngang: Dung tích hữu ích còn lại trong hồ tính đến ngày 09 tháng
5 năm 2017 là 6.040.000m3, ứng với cao trình 9,3m.
(Số liệu Công ty TNHH NN MTV QLKT CTTL TT-Huế cung cấp )
3 Cân đối nguồn nước:
Đối với các trạm bơm động lực lấy nước từ các hói 5 xã, 7 xã, sông Hương, sông Bồ để cấp nước tưới sẽ có khả năng đủ nguồn đảm bảo thông qua điều tiết hợp
lý Nhà máy thủy điện Hương Điền, Bình Điền, hồ Tả Trạch và công trình đập Thảo Long
Đối với diện tích tưới tự chảy từ các hồ chứa: Khe Ngang, Thọ Sơn (do Công
ty TNHH NN MTV QLKT công trình thủy lợi quản lý), nếu từ đầu vụ Hè Thu đến cuối vụ không có mưa bổ sung, khả năng điều tiết nước tưới cho các vùng xa công trình hoặc vùng ruộng chân cao sẽ kéo dài thời gian và có thể dẫn đến thiếu nước cục bộ vùng tưới hồ Thọ Sơn cho khoảng 61 ha, trong đó: 48 ha vùng xứ đồng Dăm, Tân Lang Nam, Bắc của HTX Văn Xá Tây; 13 ha Vùng Gia Bô của HTX Phú
An Còn lại các hồ Khe Rưng (Hương Thọ), Khe Nước (Hương Hồ), Khe Bội, Khe Râm (Bình Thành)…có khả năng đáp ứng đủ nguồn nước cho vụ Hè thu
II GIẢI PHÁP, PHƯƠNG ÁN PHÒNG CHỐNG HẠN HÈ THU 2017
Để chủ động ứng phó với hạn hán và nhằm hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng do hạn hán gây ra, đồng thời thực hiện phương châm “ phòng là chính, chống phải kịp thời“, kết hợp thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ giải pháp như sau :
1 Giải pháp thông tin tuyên truyền:
- Các đơn vị, địa phương cần tổ chức tuyên truyền các biện pháp phòng, chống hạn và xâm nhập mặn trên các phương tiện thông tin đại chúng, để người
Trang 3dân nắm rõ tình hình diễn biến thời tiết khô hạn, khả năng thiếu nước vào mùa khô,
từ đó nâng cao ý thức sử dụng nước tiết kiệm và chủ động trong việc phòng chống hạn để giảm nhẹ thiệt hại về vật chất cho nhân dân khi hạn xảy ra; tận dụng tối đa nguồn nước từ các suối, khe, lạch… chủ động làm đất ngay sau khi kết thúc thu hoạch vụ Đông Xuân, tránh để đất phơi khô làm tăng nhu cầu cấp nước đổ ải cho đầu vụ Hè Thu
- Vận động nhân dân tham gia làm công tác thủy lợi: Bảo vệ công trình đầu mối, tham gia nạo vét phát dọn kênh mương…
2 Giải pháp quản lý vận hành công trình
- Các đơn vị, tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi thường xuyên cử cán bộ để kiểm tra, theo dõi diễn biến mực nước của các công trình thủy lợi, báo cáo kịp về các hiện tượng bất thường để có biện pháp xử lý khắc phục; theo dõi mực nước hồ chứa trên địa bàn để chủ động có phương án điều tiết hợp lý, tiết kiệm nước trước khi hạn xảy ra
- Quản lý chặt chẽ cống lấy nước tại công trình đầu mối, các công trình tưới đảm bảo không để rò rỉ lãng phí nước, đáp ứng đủ nước tới đến cuối khu tưới
- Xây dựng kế hoạch cấp nước tưới cụ thể theo lịch của từng vùng; thực hiện
kỹ thuật tưới khoa học, tưới luân phiên; tưới từ khu xa đầu mối trước xong mới tưới khu gần đầu mối sau; khu cao tưới trước, khu trũng tưới sau
- Khi mực nước các sông xuống thấp thì cần phải có kế hoạch lấy nước luân phiên cho các trạm bơm ở các hói nhằm hạn chế sự thiếu hụt nguồn nước trên hói
do các trạm bơm cùng bơm một thời điểm; tăng cường kiểm tra việc điều hành và phân phối nước tưới cho hợp lý giữa các vùng hưởng lợi, đảm bảo an ninh, trật tự (tuyệt đối không để xảy ra tình trạng tranh chấp do thiếu nước tưới) và đảm bảo an toàn công trình trong quá trình vận hành
- Các địa phương trên toàn Thị xã phải luôn luôn giữ nước trên các sông hói nội đồng ở mức cao nhất và các vùng ruộng trũng tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa để tưới nước ở mức cao nhất nhằm chủ động khi nguồn nước trên sông chính xuống thấp chưa điều tiết bổ sung kịp thời
- Thường xuyên kiểm tra các tuyến đê ngăn mặn và đóng kín các cống trên
đê ngăn mặn để có biện pháp xử kịp thời tránh tình trạng mặn xâm nhập vào nội đồng và ngăn lượng nước ngọt thoát ra phá; tổ chức nạo vét, phát dọn kênh mương, khơi thông dòng chảy làm thông thoáng các tuyến kênh, hói… khắc phục những đoạn kênh bị hư hỏng, rò rỉ để chống thất thoát nước
3 Giải pháp công trình:
- Tổ chức kiểm tra, tu sửa cụm đầu mối, tuyến kênh mương đang hoạt động, nhất là các công trình đã xuống cấp, hư hỏng để đảm bảo tránh lãng phí nguồn nước bị thất thoát
- Nạo vét các tuyến hói, kênh dẫn nước từ các cống vào kênh mương nội đồng, đầu mối trạm bơm tưới và các máy bơm dầu lẻ
Trang 4-Tu bổ kênh mương, đặc biệt quan tâm các tuyến kênh bê tông nội đồng đã
hư hỏng nặng của các HTX
Cụ thể:
* Đối với vùng bán sơn địa và đồng bằng gồm các phường: Hương Hồ,
Hương An, Hương Chữ, Hương Xuân, Hương Văn, Hương Vân, Tứ Hạ; hai xã Hương Toàn, Hương Vinh,
Diện tích gieo trồng lúa vụ Hè thu: 2.450 ha
Nguồn nước tưới chủ yếu lấy trực tiếp từ sông Bồ, sông Hương và gián tiếp qua hói 5 xã và 7 xã và hệ thống hói nội đồng Các hồ chứa nước và đập dâng chỉ cung cấp đủ nước cho một phần diện tích
Đây là vùng trọng điểm về sản xuất lúa, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày của Thị xã và cũng chính là vùng có nguy cơ cao về hạn
Để chủ động khắc phục tình trạng thiếu nước trong vụ Hè thu thực hiện phương án sau:
- Có phương án lắp đặt trạm bơm (các trạm bơm tăng cường) để tạo nguồn, tưới khi hạn hán nặng xảy ra
Tiến hành khảo sát để tiếp tục đào, nạo vét, khơi thông đối với hệ thống hói
5 xã, 7 xã và hói nội đồng chính, mở rộng dòng chảy, kết hợp lưu thông thuỷ Cụ thể như sau:
- Khu vực cống điều tiết Nham Biều: Từ thượng lưu về hạ lưu khu vực đầu
mối trạm bơm Nham Biều hiện nay bị bồi lấp nặng, chiều dài khoảng 120 mét, rộng đáy 15 mét, sâu bình quân 1,2 mét
- Tuyến 5 xã:
+ Đoạn từ cống An Vân đến cầu ruộng Hoang ( khu vực Bàu sắn ) bị bồi và sạt
lỡ dài 900 m, rộng 3 mét, sâu 0,6 mét;
+ Đoạn hói Trộ Trúc lâm (gần đình làng Cổ Bưu) bị bồi dài 100 mét, rộng 8 mét, sâu 0,8 mét;
+ Đoạn từ Cầu Đồng Hạ đến cầu WB2 (Thanh Chữ) với chiều dài 1400 mét, đáy rộng 2,0 mét , sâu 0,6 mét;
- Tuyến 7 xã :
+ Đoạn từ cầu An Hoà đến cầu An Lưu ( địa phận phường Hương An) do bị bồi lắng, sạt lỡ một vài đoạn cục bộ, để đảm bảo dòng chảy thông thoáng, tạo nguồn nước tưới phục vụ nông nghiệp, đảm bảo tiêu thoát tốt, vệ sinh toàn tuyến, dài 2600 mét , nạo vét một số đoạn cục bộ rộng bình quân 3,0 mét , sâu 0,5 mét; + Đoạn từ cầu An Lưu (phường Hương An) đến trạm bơm điện Xóm Cụt (phường Hương Chữ) dài 670 mét bị bồi lắng và sạt lỡ một vài đoạn cục bộ, tiến hành vệ sinh và nạo vét một số đoạn cục bộ rộng bình quân 2,0 mét , sâu 0,5 mét; + Đoạn từ cầu máng Nồi Hoong Tây Xuân đến cầu Văn Xá - Hương Văn vệ sinh dài 2245 mét, nạo vét một số đoạn cục bộ rộng bình quân 2,0 mét, sâu 0,5 mét;
- Tuyến từ cửa khâu đến bể hút trạm bơm Đông Xuân dài 1700 mét , đào nạo vét cơ giới, thủ công rộng (4-5) mét, sâu bình quân 0.7 mét
Trang 5- Các tuyến hói nội đồng toàn xã Hương Toàn dài 14.600 mét , rộng (2-3) mét, sâu bình quân từ (0,5-0,8) mét đào nạo vét thủ công và cơ giới kết hợp đắp bờ vùng
để lưu thông dòng chảy và tích nước
- Các tuyến hói nội đồng xã Hương Vinh dài 8.600 mét, Đào bằng cơ giới 3.000 mét rộng 3 mét, sâu bình quân từ (0,5-0,8) mét, còn lại đào nạo vét thủ công,
vệ sinh để lưu thông dòng chảy, tích nước và tiêu thoát nước khi mưa lớn, lũ lụt
- Các tuyến hói nội đồng xã Hương Vân (HTX Hương Vân và Lai Thành) dài khoảng 4.600 mét vệ sinh, nạo vét bằng thủ công một số tuyến trọng điểm rộng bình quân 2 mét, sâu (0.4-0.6) mét
* Các xã đầm phá và ven biển: Hương Phong và Hải Dương
Đây là vùng thấp trũng thường bị mặn, úng đe dọa Nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp tại Hương Phong (504 ha) tương đối đảm bảo, được lấy từ cuối sông Bồ và sông Hương qua các sông nhỏ, hói nội đồng; Nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp tại xã Hải Dương (11ha) chủ yếu từ mạch nước ngầm
- Nạo vét thủ công các tuyến hói nội đồng Hương Phong khoảng 18.000 mét với chiều rộng bình quân (1-2) mét, sâu (0,4-0,5) mét để chống hạn và tiêu thoát úng trên địa bàn
- Vùng Vĩnh Trị, Thai Dương Thượng - Hải Dương chủ yếu là khai thác mạch nước ngầm ra, nhưng hiện nay hồ nước ngọt bị bồi lấp và hẹp nên cần phải đào sâu
và mở rộng bằng cơ giới với chiều dài 600 mét, rộng 20 mét và sâu (0,8-1,2) mét để khai thác mạch nước ngầm cấp nước cho lúa và cả hồ tôm cao triều khi nước có độ mặn vượt quá nồng độ mặn cho phép
* Các xã gò đồi và miền núi: Hương Thọ, Bình Thành, Bình Điền, Hương
Bình và Hồng Tiến: Đây là khu vực đồi núi, đất canh tác nằm rãi rác, tập trung ven các khe suối và dọc sông Tả Trạch;
Tổng diện tích trồng lúa toàn vùng vụ Hè thu: 96 ha
Nguồn nước cung cấp cho vùng này được lấy từ Hồ khe Rưng, Hồ Cơn Thộn, Đập Ruộng Chung, Khe Bội, Khe Râm, đập Trường Phong và các đập dâng nhỏ khác
4 Giải pháp chống hạn theo cấp độ ( do Công ty TNHH NN MTV Quản
lý khai thác công trình thủy lợi Thừa Thiên Huế thực hiện)
4.1 Cấp độ 1: Ưu tiên nước hiện có trong các hồ để đảm bảo tưới cho những diện tích hoàn toàn không có nguồn thay thế, do vậy cần bổ sung ngay nguồn nước đối với những diện tích tưới tự chảy bằng biện pháp hồ đập có khả năng tận dụng các nguồn nước khác
Đối với vùng tưới Hồ Thọ Sơn: Sửa chữa kênh chính và Lắp đặt trạm bơm chống hạn Gia Bô để tưới 13 ha Vùng Gia Bô của HTX Phú An; tô trát sửa chữa tuyến kênh Đình Liễu Thượng đến trạm bơm Tây Xuân; tu sửa kênh Miệu Cô-Kim Bồng; mở dốc nước L= 3 mét để nối kênh tưới màu vùng cao tiếp nước xuống kênh tưới Văn Xá Tây nhằm cấp nước bổ sung cho 48 ha vùng xứ đồng Dăm, Tân Lang Nam, Bắc nằm xa công trình đầu mối của HTX Văn Xá Tây
Đối với vùng tưới hồ Khe Ngang: Nạo vét đoạn trộ Trúc Lâm hói 5 xã; sửa
Trang 6chữa kênh chính TB Phương Thượng.
4.2 Cấp độ 2: Trường hợp nắng nóng kéo dài không có mưa bổ sung nguồn (mực nước các sông xuống thấp, nước trong các hồ về mức nước chết…)
- Giải pháp tổng thể là thực hiện tưới lúa theo nông lộ phơi khi lúa đạt >20 ngày gieo cấy
- Tiếp tục thực hiện duy trì chống hạn cấp độ 1
- Huy động các máy bơm dầu, bơm điện để bơm lượng nước chết trong các
hồ để cứu lúa
- Đào nạo vét các hói hoặc lắp thêm bơm chuyền bơm nước từ các sông để các trạm bơm đầu mối hoạt động (tùy theo tình hình và địa hình của các trạm bơm)
- Đối với vùng tưới hồ Thọ Sơn trong trường hợp mực nước hồ thực tế thấp hơn so với bảng chỉ tiêu giám sát (có phụ lục đính kèm) thì tiến hành tăng công suất bơm trạm bơm Bàu Xứ của HTX Văn Xá Đông để kịp thời bổ sung nguồn nước cho 48 ha của HTX Văn Xá Tây
III KHỐI LƯỢNG VÀ KINH PHÍ: 3.555 triệu đồng
TT Hạng mục công việc
Khối lượng
Kinh phí
Đào đắp (m 3 )
Điện năng (Kwh)
Nhiên liệu (Kg)
1 Vét, vệ sinh hói toàn thị xã 37.000 2.222.000.000
2 Đào Cơ giới (các tuyến trọng điểm) 25.000 875.000.000
3 Điện năng (dự kiến tăng thêm) Tạm tính 150.000.000
4 Nhiên liệu (dự kiến tăng thêm) 10.000 160.000.000
5 Sửa chữa, Lắp ráp 4 máy bơm
chuyền và mua thêm 01 máy tại TB
(Bằng chữ : Ba tỷ, năm trăm năm mươi lăm triệu đổng).
IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1 Đối với UBND Thị xã:
- Chỉ đạo các địa phương có phương án, kế hoạch chống hạn ngay từ đầu vụ
Hè Thu
- Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tiến hành nạo vét các sông hói, kênh mương nội đồng, vớt bèo, giải phóng nò sáo ; duy tu, bảo dưỡng nâng cấp sửa chữa các công trình
2 Đối với Công ty TNHH NN MTV Quản lý khai thác công trình thủy lợi Thừa Thiên Huế:
- Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, điều tiết và cân bằng nguồn nước hợp lý;
- Có kế hoạch làm việc với các nhà máy thủy điện để thống nhất biểu đồ phát
Trang 7điện, chủ động điều tiết, sử dụng có hiệu quả nguồn nước trên sông Hương, sông
Bồ nhằm tiết kiệm nước chống hạn cho vụ Hè Thu; phấn đấu giữ mức nước thượng lưu tại đập Thảo Long ở cao trình theo đúng Quyết định số 2482/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 30/12/2015 về việc ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hương, cụ thể: từ ngày 01/4/2017 đến 14/5/2017 và từ ngày 01/8/2017 đến ngày 31/8/2017: từ 0,3 mét đến 0,4 mét; đối với thời kỳ từ 15/5/2017 đến 31/7/2017: từ 0,3 mét đến 0,5 mét
- Theo dõi nồng độ mặn trên sông Bồ, sông Hương, các cống ven phá để có
kế hoạch phối hợp với các địa phương đóng chặn kịp thời khi mặn xuất hiện
- Thường xuyên quan trắc trên sông và các hói lớn để phối hợp cùng Thị xã
và địa phương có phương án kịp thời, chủ động
- Xin kinh phí nâng cấp sửa chữa các công trình do Công ty quản lý bảo đảm chống hạn theo phương án
3 Các xã, phường, HTX :
- Phối hợp với Công ty TNHH NN MTV Quản lý khai thác công trình thủy lợi Thừa Thiên Huế, phòng Kinh tế để điều hành, điều tiết nguồn nước một cách hợp lý và chấp hành tốt khung lịch thời vụ đã được UBND Thị xã quy định
- Luôn duy trì, tiết kiệm nguồn nước tại các hồ, đập, khe suối trong cuối vụ Đông xuân để dự phòng nước cho vụ hè thu khi hạn hán kéo dài
- Có phương án tiếp tục đào, nạo vét, vệ sinh và khơi thông một số đoạn cục
bộ tuyến hói 5 xã, 7 xã, các tuyến hói nội đồng, các hói liên thôn, tuyến hói Cửa Khâu - Chợ Kệ đảm bảo đủ chiều sâu dẫn nước và thông thoáng; có kế hoạch quản
lý duy trì các trạm bơm hoạt động nhịp nhàng và kế hoạch dùng nước trên cùng một hói liên xã hợp lý Tranh thủ bơm trữ nước vào các ao hồ, hói nội đồng để dự trữ đề phòng cứu hạn và làm tốt công tác thủy lợi nội đồng
UBND thị xã Hương Trà báo cáo phương án chống hạn vụ Hè thu năm 2017,
đề nghị UBND Tỉnh, Sở NN-PTNT xem xét cho ý kiến để thị xã thực hiện tốt kế hoạch phòng chống hạn đề ra./
Nơi nhận: TM ỦY BAN NHÂN DÂN
- Như trên; CHỦ TỊCH
- TT Thị Uỷ - TT HĐND thị xã (B/c);
- Chủ tịch, các PCT UBND thị xã;
- Chi cục Thủy lợi;
- CT TNHH NN MTV QLKT CTTL (P/h thực hiện); (Đã ký)
- Phòng Kinh tế; Nguyễn Thị Thu Hương
- CVP; CV UBND huyện;
- Lưu VT