Thị trường hàng hoá nông sản thế giới 2005 - 2014Theo báo cáo về “Triển vọng nông nghiệp 2005 – 2014” do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển OECD và Quỹ nông lương Liên hợp quốc FAO ph
Trang 1Thị trường hàng hoá nông sản thế giới 2005 - 2014
Theo báo cáo về “Triển vọng nông nghiệp 2005 – 2014” do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) và Quỹ nông lương Liên hợp quốc (FAO) phối hợp thực hiện, sản lượng nông sản của thế giới tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm hơn trong giai đoạn dự báo Đến năm 2014, sản lượng lúa mỳ thế giới dự báo đạt 688 triệu tấn trong khi sản lượng gạo đạt 466 triệu tấn, tăng 14% so với năm 2004 Tuy nhiên, tốc độ tăng sản lượng tại các nước đang phát triển lại cao hơn tại các nước thuộc OECD ước tính trong 10 năm tới, sản lượng hạt có dầu của các nước đang phát triển tăng tới 3%/năm trong khi của các nước OECD chỉ là 0,7%/năm Tỷ trọng sản lượng thịt lợn và thịt gia cầm của các nước đang phát triển trong tổng sản lượng của thế giới cũng dự báo tăng từ 59% năm 2004 lên 62% năm 2014, trái ngược với mức suy giảm từ 41% năm 1995 xuống chỉ còn 38% của các nước OECD
Bên cạnh đó, từ nay đến năm 2014, thương mại và cầu về nông sản cũng tăng mạnh mẽ Cầu về nhóm hàng dầu thực vật đạt mức tăng cao nhất là 2,8%/năm; tiếp đến là cầu về dầu ăn (2,7%/năm) trong khi cầu về thịt gia cầm và sữa bột đạt tốc độ tăng 2%/năm Mức độ tiêu dùng tại các nước đang phát triển cũng cao hơn tại các nước OECD Lượng đường tiêu thụ của khu vực này ước tính giảm từ 28% lượng đường tiêu thụ của toàn thế giới năm 2004 xuống chỉ còn 25% vào năm 2014
Tốc độ tăng sản lượng và mức tiêu dùng trung bình
hàng năm 2004–2014 (%)
Sản lượng Tiêu dùng
Tổng OEC
D
Ngoài OEC D
Tổng OEC
D
Ngoài OECD
Sữa bột không kem -0,5 -1,3 2,5 -0,9 -2,5 1,3
Sữa bột nguyên chất 2,0 1,2 3,4 2,0 -0,3 2,6
Trong bối cảnh đó, một số vấn đề và thách thức mới đang đặt ra đối với thị trường hàng hoá và nông sản thế giới:
Vai trò ngày càng tăng của các nước xuất khẩu ngoài OECD
Trang 2Cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu truyền thống, chủ yếu là những nước thuộc OECD, trong việc đáp ứng những nhu cầu nhu cầu lương thực này dự báo sẽ rất gay gắt, nhưng thay đổi lớn nhất vẫn là sự nổi lên của các nước xuất khẩu mới ngoài OECD và tình hình phát triển tốt của các nước đang phát triển xuất khẩu nông sản hiện nay, đặc biệt là trong xuất khẩu hàng hoá thuộc vùng ôn đới Rất nhiều quốc gia đang phát triển có lợi thế so sánh tương đối trong việc sản xuất một số hàng hoá sơ chế và hàng hoá trung gian do việc sản xuất đòi hỏi nhiều lao động và những nước này có điều kiện khí hậu phù hợp cho hoạt động canh tác, dẫn tới chi phí sản xuất rẻ hơn khá nhiều so với chi phí dành cho các hoạt động khác Với những khó khăn trong việc tiến hành trao đổi thương mại theo trục bắc – nam, các quốc gia đang phát triển có nhiều triển vọng trở thành trung tâm trong hoạt động thương mại theo trục nam – nam, đặc biệt là thương mại giữa chính các nước này với nhau Đây chính là kết quả từ những
nỗ lực của các nước đang phát triển trong việc tiến hành những hoạt động đầu tư cần thiết vào lĩnh vực sản xuất, tiếp thị và cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, đặc biệt là áp dụng các công nghệ mới và chiếm lĩnh thị trường thế giới
Cơ cấu trao đổi thương mại có sự thay đổi, đặc biệt là đối với hàng hoá đến từ vùng ôn đới
Kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm ôn đới dạng hạt của các nước đang phát triển dự báo
sẽ tăng trong vòng 10 năm tới, trái ngược với tình hình không mấy khả quan trong thập kỷ trước Tổng kim ngạch xuất khẩu lúa mỳ của OECD dự báo tăng khoảng 15% từ nay tới năm
2014, còn kim ngạch xuất khẩu ngũ cốc thô tăng 25% Các quốc gia châu á, đặc biệt là Trung Quốc, là nhân tố chính dẫn tới sự tăng này So với 10 năm trước, lượng lúa mỳ nhập khẩu của các nước khác như An-giê-ri, Braxin, Ai Cập và Inđônêxia cũng tăng Theo dự báo, lượng ngũ cốc xuất khẩu của OECD đang tăng lên, trong đó Mỹ sẽ vẫn là nước cung cấp lúa mỳ lớn nhất thế giới Tuy nhiên, Mỹ sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt hơn trong việc duy trì thị phần từ một vài nước xuất khẩu truyền thống có lượng xuất khẩu lớn
Nhu cầu không thay đổi về hạt có dầu của các nước và khu vực nhập khẩu truyền thống như
EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và gần đây là Trung Quốc, quốc gia dự báo sẽ khẳng chiếm vị trí là nước nhập khẩu hạt có dầu lớn nhất thế giới, sẽ dẫn tới sự phát triển của thị trường hạt có dầu thế giới Braxin và ác-hen-ti-na chắc chắn sẽ thống trị thị trường xuất khẩu hạt có dầu nhờ sự phát triển của công nghiệp ép dầu trong nước, trong khi nguồn cung từ các nước OECD không đáng
kể Kết quả là Braxin có thể sẽ vượt Mỹ để trở thành nước xuất khẩu hạt có dầu lớn nhất thế giới Đối với thị trường thịt bò, EU vẫn là khu vực nhập khẩu chính Mặc dù lệnh cấm nhập khẩu đối với thịt bò xuất khẩu từ Mỹ và Canađa dần được dỡ bỏ, sự phục hồi chậm chạp của Mỹ tại thị trường châu á khiến doanh thu từ thịt bò của các nước trong khu vực như Ôxtrâylia và Niu Di-lân tăng Thị phần của các nước thuộc khối thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur) trên thị trường thịt
bò thế giới dự báo cũng tăng, trong đó Braxin có thể trở thành nước xuất khẩu thịt bò lớn nhất thế giới trong khoảng từ nay tới năm 2014 Braxin cũng sẽ là nước xuất khẩu thịt gia cầm lớn nhất thế giới Nếu dịch cúm gia cầm được kiểm soát, Thái Lan cũng sẽ là một nước xuất khẩu gia cầm quan trọng
Trên thị trường bơ sữa thế giới, lượng nhập khẩu từ cả các nước OECD và ngoài OECD dự kiến sẽ tăng trong khoảng 2005 - 2014 Hoạt động buôn bán bột sữa ngày càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực tại nhiều nước châu Phi và yêu cầu chế biến thực phẩm tại châu á Về phía xuất khẩu, EU và Niu Di-lân vẫn thống trị thị trường bơ sữa cho dù thị phần
Trang 3của EU có thể sẽ không tăng, thậm chí giảm Ngược lại, Niu Di-lân vẫn rất có ưu thế trên thị trường bơ, phomát và sữa bột Tuy nhiên, sự xuất hiện của ác-hen-ti-na với tư cách là một nước cung cấp bột sữa lớn có thể thách thức vị trí của Niu Di-lân
Các dòng thương mại theo trục nam – nam thống trị thị trường gạo, dầu thực vật và đường
Thị trường gạo, đường và dầu thực vật trong 10 năm tới sẽ do các nước đang phát triển thống trị Thị trường gạo và dầu thực vật thế giới dự báo sẽ phát triển rất mạnh Đến năm
2014, tiểu Sahara là khu vực nhập khẩu ròng gạo lớn nhất thế giới; lượng nhập khẩu của Trung Mỹ, châu á, Caribê và một số nước như Inđônêxia, Philíppin và Bănglađét cũng tăng Châu á, đặc biệt là Thái Lan và Việt Nam, vẫn là khu vực xuất khẩu ròng gạo lớn nhất Nam
Mỹ, châu á và châu Phi chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động mua bán dầu thực vật Nhu cầu lớn từ Trung Quốc đưa nước này trở thành nước nhập khẩu dầu thực vật lớn nhất thế giới, tiếp đến là ấn Độ
Đối với mặt hàng đường, Braxin là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, trong đó ước tính doanh thu đường thô và đường trắng của nước này sẽ tăng tới 44% trong 10 năm tới Bất chấp giá đường thế giới có khả năng tiếp tục giảm, xuất khẩu đường của Thái Lan, Cuba, Nam Phi
và Ôxtrâylia dự báo cũng sẽ tăng khi các nước này tìm cách nâng cao năng suất và hiệu quả Xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển tại châu Phi, Caribê và Thái Bình Dương từ nay tới năm 2014 sẽ giảm dù những nước này được hưởng lợi từ việc tiếp cận thị trường EU và
Mỹ Xu hướng này vẫn chưa tính tới những tác động tiềm tàng từ việc giá đường ở EU có thể giảm do những cải cách trong chính sách về đường của khu vực Nga vẫn sẽ là nước nhập khẩu đường lớn nhất thế giới, nhưng lượng nhập khẩu của EU cũng sẽ tăng, có thể đạt tới 2 triệu tấn vào năm 2014 do tác động của chính sách “Mọi thứ – trừ vũ khí” (Everything but Arms - EBA)
Giá nông sản sẽ thấp hơn
Nhìn chung, cạnh tranh trên thị trường hàng hoá thế giới dự báo sẽ trở nên gay gắt hơn trong
10 năm tới, trong đó nguồn cung ra thị trường thế giới sẽ đến nhiều hơn từ các nước có chi phí sản xuất thấp hơn và đôi khi là từ các nước xuất khẩu không truyền thống Hiện nay sản lượng của các nước OECD và các nước không thuộc OECD có sự chênh lệch rất lớn Tuy nhiên, tốc
độ tăng sản lượng tại các nước không thuộc OECD rất cao, đặc biệt là sản lượng gạo, lúa mỳ và hạt có dầu Những thành tựu trong lĩnh vực sản xuất khiến chi phí biên giảm, cho phép các nước xuất khẩu đạt được tốc độ tăng năng suất cao hơn tốc độ tăng dân số và tốc độ tăng của cầu do thu nhập tăng Chính việc giảm chi phí biên và tỷ trọng các nước xuất khẩu với chi phí thấp trong thương mại thế giới tăng khiến giá thực tế của hầu hết các hàng hoá trên thị trường thế giới sẽ còn tiếp tục giảm trong trung hạn trong khi giá danh nghĩa vẫn tăng Điều này phần nào phản ánh thực tế là những nhân tố làm tăng nguồn cung có xu hướng tác động mạnh hơn tới giá
so với các nhân tố làm tăng cầu, ví dụ như thu nhập và tăng trưởng dân số
Dự báo sản lượng trên thế giới
Sản lượng dự báo (tấn/ha)
2002
-2004 2014
Tốc độ tăng hàng năm (%)
1995 - 2004 2005 - 2014
Thế giới
Trang 4Lúa mỳ 2,7 3,049 1,16 1,04
OECD
Ngoài OECD
Các chính sách nông nghiệp vẫn là một vấn đề cần phải quan tâm
Bất chấp những thay đổi về mặt cơ cấu trên thị trường hàng hoá thế giới, không thể xem nhẹ tác động của các chính sách nông nghiệp và thương mại Những chính sách này và các công cuộc cải cách đi kèm với nó vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng đối với những lợi ích của một quốc gia cũng như tác động tới giá cả và triển vọng thương mại của thế giới Ví dụ như cạnh tranh gay gắt hơn trên thị trường lúa mỳ thế giới và việc giá thế giới tính theo đồng euro giảm khiến một vài nước EU lại phải trông chờ vào trợ cấp xuất khẩu Tương tự, chương trình cho vay và các điều khoản thanh toán theo Đạo luật Nông nghiệp của Mỹ vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới thị trường nông sản Chính sách trong nước đối với ngành ngũ cốc tại các quốc gia đang chuyển đổi, đặc biệt là Ucraina và Nga, có thể làm tăng thị phần xuất khẩu của những nước này tại các nước OECD Thêm vào đó, tốc độ tăng trưởng chậm của thực phẩm chế biến
từ giữa những năm 1990 đã dẫn tới những quy định thương mại đa phương hiện nay vốn có lợi cho sự phát triển của hoạt động thương mại hàng hoá sơ chế và hàng hoá có khối lượng lớn nhưng lại hạn chế sự phát triển của hàng hoá đã chế biến
Hoạt động thương mại bị tác động bởi chế độ ăn uống đang thay đổi
Sự tăng lên của thu nhập, sự biến động tương đối của giá cả, quá trình đô thị hoá và những thay đổi trong sở thích của người tiêu dùng, qua đó làm thay đổi chế độ ăn uống tại các nước thuộc OECD và không thuộc OECD, được phản ánh cả ở giá trị dự kiến và cơ cấu thương mại hàng hoá nông sản thế giới
Hiện nay, tỷ trọng ngũ cốc trong tổng lượng nhập khẩu đã giảm xuống dưới 50% tại các nước không thuộc OECD và dưới 1/3 tại các nước thuộc OECD Ngược lại, các quốc gia phát triển và đang phát triển đều đang nhập khẩu với số lượng lớn các sản phẩm nông nghiệp đã chế biến và có giá trị cao hơn như các sản phẩm bơ sữa và các sản phẩm từ vật nuôi Trong 10 năm tới, người tiêu dùng tại các nước đang phát triển sẽ tiếp tục tăng lượng thịt và dầu thực vật trong chế độ ăn uống của mình, trong khi lượng gạo giảm Lượng ngũ cốc tiêu thụ bình quân đầu người tại các nước này sẽ không đổi mặc dù tổng lượng ngũ cốc tiêu thụ sẽ tăng do dân số tăng và lượng ngũ cốc thô dùng cho chăn nuôi tăng
Thách thức đặt ra đối với thị trường nông sản thế giới
Trang 5Hiện tượng tập trung và toàn cầu hoá ngành công nghiệp thực phẩm là một trong số những nhân tố chính dẫn tới sự thay đổi trong thương mại hàng hoá nông sản Quá trình toàn cầu hoá được thể hiện ở sự xuất hiện của các tập đoàn đa quốc gia và ngành công nghiệp thực phẩm cũng không phải là một ngoại lệ với các chuỗi siêu thị toàn cầu ngày càng tập trung hơn đang xuất hiện rất nhanh Môi trường thương mại quốc tế ngày càng hội nhập tạo ra sự trùng lặp về
sở thích ăn uống giữa các quốc gia, và điều này ngược lại thúc đẩy sự thay đổi về cơ cấu trong hoạt động chế biến và bán lẻ thực phẩm
Do sự phát triển của ngành thực phẩm toàn cầu sẽ phụ thuộc các công ty đa quốc gia , để những người sản xuất trang trại có thể trở thành một phần của chuỗi giá trị thực phẩm toàn cầu, những người sản xuất trang trại cần phải đáp ứng được các quy định mà những công ty
đa quốc gia đặt ra Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển bởi ngay cả khi đạt được những thành tựu trong việc giảm bớt các biện pháp hạn chế tại biên giới ở các nước OECD (ví dụ như chính sách EBA của EU), các nước đang phát triển cũng gặp nhiều khó khăn khi muốn tiếp cận thị trường các nước EU bởi thực tế là những nhà sản xuất tại các nước đang phát triển thường không đáp ứng được các tiêu chuẩn do các công ty thực phẩm đặt ra
Muốn tham gia vào hệ thống lương thực toàn cầu, hoặc tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu, người nông dân không chỉ cần phải có phương pháp sản xuất hiệu quả và có tính cạnh tranh
mà còn phải đáp ứng được các tiêu chuẩn cụ thể Đó có thể là những tiêu chuẩn đối với sản phẩm, phản ánh nhu cầu cao hơn của người tiêu dùng về mức độ an toàn của thực phẩm, chất lượng sản phẩm hoặc sự sẵn có của sản phẩm trong năm, Nhưng đó cũng có thể là những tiêu chuẩn chặt chẽ về quá trình sản xuất, ví dụ như có sử dụng hoá chất, thuốc trừ sâu hoặc biến đổi gien trong quá trình sản xuất các loại rau quả không, hoặc các tiêu chuẩn về môi trường có được đáp ứng không? Điều này đòi hỏi phải có nhiều sự đầu tư và điều chỉnh, đặc biệt là đối với nông dân tại các nước đang phát triển
Vấn đề tiếp cận các thị trường được bảo hộ, không chỉ ở các nước OECD mà cả ở một số quốc gia đang phát triển là một trong những vấn đề trọng tâm của các cuộc đàm phán thương mại đa phương hiện nay Nhưng việc dỡ bỏ các rào cản đối với các luồng vốn và những hạn chế về thương mại và cạnh tranh có lẽ không đủ để đạt được mục tiêu này Tại một quốc gia phát triển, thị trường cần được xem xét dựa trên việc đưa ra các chính sách khuyến khích cần thiết cho những lĩnh vực cần được thay đổi Tại một quốc gia đang phát triển, hoạt động phối hợp có thể hữu ích, cho phép nông dân tiến hành các điều chỉnh nhằm đáp ứng những yêu cầu của các nhà chế biến và bán lẻ thực phẩm hiện đại sao cho ngành nông nghiệp quy mô nhỏ của các nước này có thể cùng song song tồn tại với các công ty thực phẩm đa quốc gia và gặt hái được lợi ích từ quá trình toàn cầu hoá
Nguồn: “Agricultural Outlook: 2005 – 2014”, OECD và FAO.