1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ngôn ngữ án văn tiếng việt

203 674 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn Ngữ Án Văn Tiếng Việt
Tác giả Nguyễn Thị Lệ
Người hướng dẫn Tiến sĩ Trần Hoàng
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 7,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, chúng tôi cũng dành một phần của luận văn để tìm hiểu thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong án văn tiếng Việt hiện nay, bước đầu đề xuất giải pháp khắc phục những vấn đề ngôn ngữ c

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Lệ

NGÔN NGỮ ÁN VĂN TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Lệ

NGÔN NGỮ ÁN VĂN TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: N gôn ngữ học

Mã số: 602201

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TIẾN SĨ TRẦN HOÀNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trên bất

kỳ công trình nào khác

Thành phố Hồ Chí Minh, 2011

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 7

4 Đóng góp của đề tài 8

5 Nguồn ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu 8

6 Bố cục của luận văn 9

CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11

1.1 Khái niệm án văn 11

1.2 Án văn trong hệ thống văn bản pháp luật 11

1.3 Những đặc trưng pháp lý của án văn 13

1.4 Khái niệm ngôn ngữ án văn 14

1.5 Vị trí của ngôn ngữ án văn trong hệ thống ngôn ngữ pháp luật 14

1.6 Hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp của án văn 16

1.7 N hững văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến ngôn ngữ án văn 17

1.8 Tiểu kết 21

CHƯƠNG 2 - ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ÁN VĂN TIẾNG VIỆT 24

2.1 Đặc điểm tổ chức văn bản trong án văn 24

2.1.1 Cấu trúc của án văn 24

2.1.1.1 Cấu trúc thể loại tiềm năng của án văn 25

2.1.1.2 Cấu trúc phát triển nhận thức của án văn 28

2.1.2 Các phương tiện liên kết trong án văn 29

2.1.2.1 Phép lặp 30

2.1.2.2 Phép nối 34

2.1.2.3 Phép tuyến tính 37

2.1.3 Phương pháp trình bày nội dung án văn 37

2.1.3.1 Phương pháp đưa thông tin 38

2.1.3.2 Phương pháp sử dụng lập luận 41

2.1.3.3 Phương pháp mệnh lệnh 45

2.2 Đặc điểm từ vựng trong án văn 45

Trang 6

2.2.1 Hệ thuật ngữ trong án văn 45

2.2.1.1 Hệ thuật ngữ xét về mặt cấu tạo 46

2.2.1.2 Thuật ngữ xét về tần số xuất hiện và phạm vi phân bố 48

2.2.2 Từ biểu thị ý phủ định, khẳng định 50

2.3 Đặc điểm cú pháp trong án văn 52

2.3.1 Hiện tượng tách biệt cú pháp 52

2.3.2 Câu tỉnh lược chủ ngữ 56

2.3.3 Thành phần phụ trạng ngữ và phần phụ chú 58

2.3.3.1 Thành phần phụ trạng ngữ 58

2.3.3.2 Phần phụ chú 64

2.4 Đặc điểm ngữ dụng trong án văn 68

2.4.1 Câu ngôn hành và động từ ngôn hành trong án văn 68

2.4.2 Tình thái trong án văn 72

2.4.2.1 Phân loại tình thái trong án văn 73

2.4.2.2 Các phương tiện biểu hiện tình thái đạo nghĩa trong án văn 78

2.5 Tiểu kết 83

CHƯƠNG 3 - NGÔN NGỮ ÁN VĂN TIẾNG VIỆT HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 86

3.1 Căn cứ nhận diện và phân loại lỗi ngôn ngữ trong án văn 86

3.2 Thực trạng và giải pháp về từ ngữ trong án văn 87

3.2.1 Về xưng – hô 87

3 2.2 Về phong cách chức năng ngôn ngữ 94

3.2.2.1 Dùng từ ngữ địa phương 95

3.2.2.2 Dùng từ ngữ khẩu ngữ 99

3.2.2.3 Dùng từ ngữ chung chung, mơ hồ 100

3.2.3 Về ngữ nghĩa của từ trong phát ngôn 103

3.2.3.1 Dùng thừa từ ngữ 103

3.2.3.2 Dùng sai nghĩa của từ ngữ 106

3.3 Thực trạng và giải pháp về ngữ pháp trong án văn 108

3.3.1 Về sử dụng dấu câu 108

3.3.1.1 Sử dụng dấu câu sai chức năng 109

3.3.1.2 Sử dụng thừa dấu câu 112

3.3.1.3 Thiếu dấu câu 115

3.3.2 Về tách câu 118

3.3.3 Về thành phần chủ ngữ của câu 120

Trang 7

3.4.1 Không thống nhất ở cấu trúc văn bản 121

3.4.2 Không hợp lý trong việc chia tách đoạn văn 124

3.5 Tiểu kết 127

KẾT LUẬN 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

PHỤ LỤC 135

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bản án là văn bản pháp luật ghi nhận quyết định của tòa án, đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng và có thể làm phát sinh một quá trình tố tụng khác Bản án

có tính quyết định đến số phận, tính mạng, tài sản của cá nhân và pháp nhân

Cùng với xu thế phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới, việc công khai bản án trên các phương tiện truyền thông và xây dựng án lệ đang được ngành tòa án nghiên cứu thực hiện Có thể trong tương lai, bản án và quyết định của tòa án không còn bị bó hẹp trong phạm vi ngành nữa mà sẽ được phổ biến rộng rãi tới cán bộ, công chức trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị tư pháp, lập pháp, hành pháp, nghiên cứu pháp luật và nhân dân

Tuy nhiên, sự tồn tại và hành chức của vô số bản án, quyết định của Tòa án chưa được các nhà ngôn ngữ học quan tâm vì nhiều lý do khác nhau Với tư cách là một sản phẩm ngôn ngữ; các bản án, quyết định của tòa án có những đặc trưng gì? Có thể tiến hành chuẩn hóa ngôn ngữ bản án hay không? Đấy là những vấn đề từ lâu đã được đặt ra và nay càng có ý nghĩa cấp thiết Những vấn đề này được giải quyết sẽ góp phần xác lập cơ sở khoa học để tạo bản án đúng chuẩn mực, đúng với yêu cầu khắt khe của lý luận và thực tiễn

Từ nhận thức trên, chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu với tên đầy đủ là

“Ngôn ngữ án văn tiếng Việt” Với đề tài này, chúng tôi mong muốn bước đầu chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ của bản án, quyết định của tòa án - một loại văn bản pháp luật rất điển hình của hoạt động tư pháp Ngoài ra, chúng tôi cũng dành một phần của luận văn để tìm hiểu thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong án văn tiếng Việt hiện nay, bước đầu đề xuất giải pháp khắc phục những vấn đề ngôn ngữ còn tồn tại để góp phần xác lập bản án chuẩn về mặt ngôn ngữ

2 Lịch sử vấn đề

Ngôn ngữ án văn vẫn còn là một địa hạt mới mẻ đối với những nhà ngôn ngữ học Cho tới nay, ngành Việt ngữ học chưa có một công trình nào trực tiếp nghiên cứu ngôn ngữ trong các bản án Ngôn ngữ án văn là một bộ phận của ngôn ngữ luật

Trang 9

quan tâm tìm hiểu trong những năm gần đây Đáng chú ý nhất là luận án tiến sĩ Ngữ

văn của Lê Hùng Tiến (1999): Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt

(có so sánh đối chiếu với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch Việt – Anh) Tác giả chỉ

ra những đặc điểm chính về từ ngữ, ngữ pháp, văn bản của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Lê Hùng Tiến coi văn bản quy phạm pháp luật là một dạng diễn ngôn và phân tích văn bản dưới góc độ của phân tích diễn ngôn Từ đó, tác giả chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật ở các cấp độ: Từ ngữ, ngữ pháp và tổ chức văn bản Ở cấp độ từ ngữ, tác giả quan tâm đến phương diện chức năng liên nhân của văn bản luật pháp tiếng Việt thể hiện ở phương tiện ngôn ngữ là động từ ngữ vi, câu ngữ vi và tình thái Những phương tiện này góp phần tạo tính hành thực cho văn bản pháp luật, biến văn bản thành quy phạm pháp luật và

là phương tiện ngôn ngữ quan trọng góp phần tạo lập quyền và nghĩa vụ trong văn bản luật pháp tiếng Việt Ở cấp độ từ ngữ, tác giả còn tìm hiểu phương diện chức năng quan niệm thông qua hệ thống thuật ngữ luật pháp và đặc điểm của từ Hán Việt

sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật Ở cấp độ ngữ pháp, tác giả Lê Hùng Tiến chú ý đến hiện tượng danh hóa như một phương tiện ngôn ngữ góp phần tạo nên tính chính xác và bao trùm của văn bản luật pháp, chú ý đến độ dài bất thường của câu trong văn bản và chỉ ra nguyên nhân của vấn đề đó Ở cấp độ văn bản, tác giả phân tích cấu trúc của văn bản quy phạm pháp luật dưới hai khía cạnh: Cấu trúc phát triển nhận thức và cấu trúc tiềm năng, chỉ ra những phương tiện liên kết đặc thù mà văn bản pháp luật sử dụng

Văn bản quy phạm pháp luật và án văn có mục đích giao tiếp rất khác nhau Văn bản quy phạm pháp luật có mục đích giao tiếp là chỉ dẫn, đặt ra nghĩa vụ, ban phát quyền hành và hình phạt Người phát là Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, người nhận là đông đảo quần chúng nhân dân Vì vậy văn bản quy phạm pháp luật chỉ có một dạng thức duy nhất Còn án văn là văn bản thuộc dạng thủ tục pháp lý, mục đích của nó là giải quyết những vấn đề cụ thể, với những đối tượng

cụ thể Người phát là cán bộ ngành tòa án và người nhận là những đối tượng liên quan trong vụ án Án văn có rất nhiều biến thể Chính vì vậy mà cách thức tổ chức

Trang 10

văn bản và sử dụng ngôn từ của hai loại này cũng rất khác biệt Tuy nhiên, những nghiên cứu của Lê Hùng Tiến là những gợi ý rất hữu ích cho chúng tôi và cùng với

tác giả, chúng tôi bổ sung thêm một khía cạnh khác nữa về ngôn ngữ pháp luật

Nếu như án văn là một địa hạt mới mẻ đối với những nhà ngôn ngữ học thì với những nhà luật học, án văn lại được quan tâm và nhắc đến khá nhiều trong các tạp chí chuyên ngành, báo in và báo điện tử pháp luật Vì giới hạn của ngành, mặc dù quan tâm đến ngôn ngữ án văn nhưng các nhà luật học mới chỉ xem xét nó ở mức độ đề xuất nghiên cứu với những nhận xét khái quát mà chưa có công trình nào nghiên cứu

rõ ràng, tỉ mỉ Đáng kể nhất là các bài viết của Phan Trung Hoài [25], Nguyễn Thu [36], Anh Thư [37], Nguyễn Xuân Tùng [43]

Trong bài viết “Bàn về khái niệm và các tiêu chí của bản án điển hình” (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2002), thạc sĩ Luật học Phan Trung Hoài chỉ ra những đặc trưng cơ bản của bản án và quyết định của tòa án, xác định khái niệm cho bản án điển

hình và các tiêu chí để xác định bản án điển hình Ông cho rằng “văn phong bản án

thể hiện ngôn ngữ pháp lý chặt chẽ, khúc chiết, rõ ràng”, ngôn ngữ án văn “phải là ngôn ngữ thể hiện quyền lực Nhà nước, mang tính pháp lý chặt chẽ, rõ ràng, khúc chiết và hiểu đơn nghĩa” Phan Trung Hoài coi văn phong bản án với những đặc điểm

như trên là một tiêu chí bắt buộc của một bản án điển hình: “Khi xây dựng cơ sở dữ

liệu bản án điển hình, một việc nên làm là nên tuyển chọn những bản án có văn phong sắc sảo, nhận định rõ ràng, sử dụng ngôn từ thuyết phục, ngắn gọn, có tác dụng giáo dục và truyền bá tốt.” Ông cũng đưa ra một nhận định khá sắc sảo về vấn

đề chuẩn hóa văn phong bản án như sau: “Vấn đề hiện nay là pháp luật chưa quy

định rõ và Tòa án Nhân dân Tối cao chưa hướng dẫn cụ thể về cái gọi là “văn phong bản án” Thật ra, quy chuẩn hóa văn phong bản án theo một mẫu chung thống nhất không phải là giải pháp đúng, vì bản án là sản phẩm của nhận thức chủ quan và chính sắc thái đa dạng trong nhận định tình huống, chứng cứ và những lập luận chặt chẽ, sắc sảo của mỗi bản án lại là một điều nên làm.” Cụ thể hơn, trong bài viết

“Một số suy nghĩ về kỹ năng viết bản án sơ thẩm hình sự”, Nguyễn Xuân Tùng trình bày ý kiến của mình về bản án mẫu và cách viết một bản án sơ thẩm hình sự Trên cơ

sở xem xét và đối chiếu bản án mẫu với bản án thực tế, tác giả chỉ ra những điểm hợp

Trang 11

lý và những điểm chưa hợp lý về tổ chức văn bản, sử dụng ngôn từ của bản án mẫu

và bản án thực tế Ví dụ như tác giả đề nghị thay cụm từ “Trình độ văn hoá” trong phần lý lịch bị cáo của mẫu bản án bằng cụm từ “Trình độ học vấn” để bản án chính

xác hơn Vì tác giả cho rằng “Nói đến văn hoá là nói đến tính sáng tạo, là nói đến

khả năng tạo ra cái mới và văn hoá là một khái niệm rộng lớn phản ánh trình độ văn minh của con người qua các thời kỳ phát triển của xã hội […] Còn trình độ học vấn của một con người là nói đến khả năng học tập (khả năng tiếp thu) của một cá nhân, phản ánh cá nhân đó đã học được đến lớp mấy rồi” Ngoài ra, tác giả Anh Thư [37],

Nguyễn Thu [36, tr.4] cũng đề cập đến những vấn đề bất cập trong việc viết bản án như: Bản án chưa có sự thống nhất, viết bản án còn tuỳ tiện, trong bản án còn có nhiều lỗi sai về sử dụng từ ngữ, ngữ pháp

Những nghiên cứu của những người đi trước sẽ là gợi ý rất hữu ích cho chúng tôi tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ án văn tiếng Việt và thực trạng sử dụng ngôn

ngữ án văn tiếng Việt hiện nay

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

Trong công trình này, chúng tôi nghiên cứu đối tượng thuộc về ngôn ngữ luật

pháp ở dạng viết: Bản án và các quyết định của Toà án có giá trị như một bản án

Cần phải nói thêm rằng, trong quá trình thụ lý và giải quyết một vụ án, Toà án nhân dân các cấp có thể ban hành nhiều loại quyết định khác nhau như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà, quyết định thay đổi thẩm phán, hội thẩm hay thư ký…Sự phân biệt các quyết định nằm ở ranh giới giữa quyết định về nội dung hay quyết định về tố tụng và chỉ có những quyết định về nội dung, có giá trị như một bản án mới là đối tượng của luận văn Vì vậy, chúng tôi không tách bản án

và các quyết định của Tòa án có giá trị như một bản án thành hai đối tượng riêng biệt

mà coi chúng thuộc cùng một loại để nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu ngôn ngữ án văn dưới góc nhìn của ngôn ngữ học đồng đại và bỏ qua góc nhìn lịch đại về sự phát triển trong nội bộ ngôn

ngữ Nói như vậy có nghĩa là đối tượng cụ thể của luận văn là ngôn ngữ án văn tiếng Việt hiện đại

Trang 12

Nghiên cứu ngôn ngữ án văn, chúng tôi nhằm đến mục đích là tìm hiểu thực tiễn sử dụng ngôn ngữ của bộ phận cán bộ ngành Toà án trong quá trình xét xử vụ án, tìm hiểu những yếu tố chi phối quá trình sử dụng ngôn ngữ đó Từ đó, chúng tôi xác định những đặc trưng ngôn ngữ của án văn, giúp phân biệt án văn với các văn bản pháp luật gần gũi khác Ngoài ra, luận văn còn dành một chương để khảo sát những lỗi ở các cấp độ ngôn ngữ, đề ra giải pháp nhằm hướng tới quy chuẩn ngôn ngữ án văn

4 Đóng góp của đề tài

V ề mặt khoa học: Đề tài mà luận văn nghiên cứu thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học

ứng dụng Vì vậy kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp cho lý luận ngôn ngữ một số cứ liệu về đặc điểm ngôn ngữ án văn – một dạng cơ bản của ngôn ngữ luật pháp Đồng thời, luận văn còn cung cấp những cứ liệu cho thấy sự phong phú, đa dạng và phức tạp của ngôn ngữ tiếng Việt trong hoạt động hành chức

V ề mặt thực tiễn: Luận văn đóng góp gián tiếp vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp ít nhiều thông tin hữu ích cho việc sử dụng ngôn ngữ có hiệu quả trong lĩnh vực pháp luật, góp phần phát triển ngôn ngữ án văn tiếng Việt nói riêng

và ngôn ngữ luật pháp nói chung

5 Nguồn ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Về nguồn ngữ liệu: Ngữ liệu của luận văn là những bản án của các cấp sơ

thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm ở các lĩnh vực: Dân sự, hình sự, hành chính, lao động và thương mại; những quyết định có giá trị như một bản án như: Quyết định giám đốc thẩm, quyết định kháng nghị Trong đó những bản án dân sự chiếm đa số với nhiều tiểu loại như: về việc ly hôn và tranh chấp tài sản, về việc tranh chấp quyền

sử dụng đất, về việc tranh chấp thừa kế, về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại…Xét các ngữ liệu ở nhiều loại như vậy sẽ giúp người nghiên cứu bao quát được ngôn ngữ

án văn ở diện rộng và có cơ sở để so sánh, đối chiếu khi cần thiết Tổng số ngữ liệu khảo sát là 74 bản án gồm 561 trang Phạm vi ngữ liệu: bản án và quyết định của toà

án nhân dân các cấp tại các tỉnh phía Nam Việt Nam như: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình

Trang 13

Thuận, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Hậu Giang, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long

Về phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng

phối hợp các phương pháp sau:

Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đây là phương pháp dùng để xem xét án văn dưới góc độ chức năng và dụng học Cụ thể là xem xét hoàn cảnh giao tiếp để tìm

ra các mục đích giao tiếp của văn bản, từ đó tìm hiểu cơ chế hoạt động của từ vựng, ngữ pháp, các phương tiện liên kết văn bản, cấu trúc ngầm ẩn quy định sự sắp xếp, bố trí các đơn vị từ vựng, ngữ pháp trong án văn

Phương pháp miêu tả: Luận văn sử dụng phương pháp này để miêu tả ngữ nghĩa, cấu tạo của một số đơn vị ngôn ngữ đặc trưng trong án văn như thuật ngữ, trạng ngữ, các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện tình thái…; miêu tả cách thức sử dụng

những đơn vị từ vựng, ngữ pháp để xác định lỗi sử dụng ngôn ngữ trong án văn

Phương pháp thống kê: Để thực hiện có hiệu quả đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê ngôn ngữ khi cần biết tần số xuất hiện của một đơn vị ngôn ngữ cụ thể, như: thuật ngữ, trạng ngữ để xác định đơn vị ngôn ngữ chiếm ưu thế và hiệu quả tác động của nó đối với mục đích giao tiếp của án văn

Phương pháp so sánh: Phương pháp này chúng tôi dùng khi cần phải so sánh các loại và các tiểu loại án văn theo phạm vi vụ việc, so sánh các hiện tượng ngôn ngữ bên trong và bên ngoài án văn để xác định đặc trưng cho án văn hay chỉ ra những lỗi ngôn ngữ thường thấy trong án văn

6 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn

gồm có ba chương

Chương một có tên gọi “Những vấn đề chung” Trong chương này, chúng tôi trình bày những vấn đề lý thuyết cần phải lưu ý khi xét đặc điểm ngôn ngữ án văn Bảy đề mục của chương sẽ lần lượt giải quyết những vấn đề xoay xung quanh án văn và ngôn ngữ án văn, như: khái niệm, tên gọi, đặc trưng pháp lý của án văn, hoàn cảnh và mục đích giao tiếp của án văn, phân biệt án văn với những văn bản gần gũi

Trang 14

khác, những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan tới ngôn ngữ án văn

Chương hai “Đặc điểm ngôn ngữ án văn tiếng Việt” là trọng tâm nghiên cứu của luận văn Trong chương này, chúng tôi chỉ ra những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ án văn giúp phân biệt nó với những văn bản hành chính khác Những đặc trưng của ngôn ngữ án văn tiếng Việt sẽ được làm rõ ở các cấp độ và bình diện ngôn ngữ:

từ ngữ, ngữ pháp, ngữ dụng và tổ chức văn bản

Chương ba “Ngôn ngữ án văn tiếng Việt hiện nay: thực trạng và giải pháp” chỉ

ra những vấn đề ngôn ngữ còn xuất hiện trong án văn ở ba khía cạnh: từ, câu, văn bản Từ thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong án văn, chúng tôi bước đầu đề xuất một

số giải pháp nhằm hướng tới việc xây dựng chuẩn ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Trang 15

C HƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái niệm án văn

Từ điển Luật học (1999) đã định nghĩa về án văn như sau: Án văn là văn bản

phản ánh kết quả xét xử của tòa án về một vụ án cụ thể (án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính), trong đó nêu rõ: ngày tháng mở phiên tòa, thành phần hội đồng xét xử, các bên tham gia tố tụng, nội dung sự việc, nhận định của tòa án và quyết định của tòa.[41, tr.18]

Trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2004) không có từ “án văn” nhưng án văn được gọi dưới một tên khác là bản án và được định nghĩa như sau:

“Quyết định bằng văn bản của tòa án sau khi xét xử vụ án.” [31, tr.30], là án với

nghĩa “Quyết định của tòa án xử một vụ án” [31, tr 6]

Như vậy về tên gọi của đối tượng nghiên cứu, án văn là tên gọi mang tính chuyên

môn trong ngành Luật, ngoài ra án văn còn có những tên gọi thông thường và thông

dụng hơn là bản án, gọi tắt là án Trong luận văn, chúng tôi sử dụng cả ba tên gọi

này Án văn khác với quyết định, nhưng như đã nói, không phải quyết định nào cũng

là đối tượng của luận văn mà chỉ có những quyết định về nội dung tố tụng mới là đối tượng nghiên cứu Những quyết định này có giá trị như một bản án, vì vậy chúng tôi

sử dụng tên gọi án văn để gọi chung cho cả hai loại đối tượng

1.2 Án văn trong hệ thống văn bản pháp luật

Án văn là một văn bản pháp luật Văn bản pháp luật có ba loại khác nhau: văn bản cá biệt, văn bản quy phạm pháp luật và văn bản mang tính chất chủ đạo Cần phân biệt ba loại văn bản này để xác định vị trí của án văn trong hệ thống văn bản pháp luật Ba loại văn bản này được hiểu (dẫn theo Lê Minh Toàn [38, tr.81]) như sau:

Văn bản quy phạm pháp luật: là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ví dụ: hiến pháp, bộ luật…

Văn bản có tính chất chủ đạo: là văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm thực hiện các chủ trương lớn, các đường lối, nhiệm vụ lớn, đề

Trang 16

cập đến các vấn đề có tính chất chính trị, pháp lý của Quốc gia, địa phương (ví dụ: lời tuyên bố, hiệu triệu…) động viên nhân dân thực hiện Các chính sách đó tuy mang tính pháp lý song không phải là văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản cá biệt: là loại văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào quy phạm pháp luật ban hành để giải quyết các vụ việc cụ thể, hiệu lực chỉ một lần và chỉ có quan hệ với những cá nhân, tổ chức chỉ ra trong chính văn bản, ví dụ: bản án, quyết định của tòa án, quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ công chức…

Điểm giống nhau giữa ba loại văn bản trên là chúng đều do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, vì vậy đều có tính pháp lý Nhưng điểm khác nhau cơ bản giữa ba loại văn bản này là nội dung, phạm vi hiệu lực và mục đích giao tiếp Có thể thấy rõ sự khác biệt của chúng trong Bảng 1.1

Bảng 1.1 Điểm khác nhau giữa ba loại văn bản: Văn bản quy phạm pháp

luật, Văn bản có tính chất chủ đạo, Văn bản cá biệt Văn bản quy

phạm pháp luật

Văn bản có tính chất chủ đạo

Văn bản cá biệt

Nội dung Quy định về quy

tắc xử sự chung cho toàn xã hội

Tuyên truyền cổ động nhân dân thực hiện một chủ trương, chính sách của nhà nước

Xử lý những vụ việc cụ thể liên quan đến những con người cụ thể

Hiệu lực Có hiệu lực đối

với tất cả công dân của một nước trong thời gian không xác định

Có thể là tất cả công dân của một nước hoặc chỉ của một địa phương nào đó trong một khoảng thời gian nhất định

Có hiệu lực đối với những đối tượng cụ thể

Động viên nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách mà văn

Dựa vào văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết những vụ việc cụ

Trang 17

1.3 Những đặc trưng pháp lý của án văn

Những đặc trưng được trình bày ở đây là những đặc trưng pháp lý ảnh hưởng đến sự lựa chọn và tổ chức ngôn ngữ của án văn

Đặc trưng thứ nhất: Án văn luôn nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam Các bản án, quyết định của tòa án là sự biểu hiện ra bên ngoài của quyền lực nhà nước, trong sự phân công của bộ máy tư pháp Chính đặc trưng này khiến cho ngôn ngữ án văn mang tính pháp lý cao, thể hiện ở hàng loạt những thuật ngữ pháp luật, những từ mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc Điều 10 Bộ Luật Tố tụng

hình sự quy định: “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt nếu chưa

có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Như vậy về bản chất, khi

được công bố, bản án thực hiện một hành vi xã hội cụ thể là hành vi phân xử và kết tội Điều này khiến cho ngôn ngữ án văn mang tính chất của một hành động ngôn trung, sử dụng những câu ngôn hành và động từ ngôn hành

Đặc trưng thứ hai: Bản án do hội đồng xét xử thảo luận, thông qua tại phòng

nghị án và tuyên án công khai tại phòng xử án Đặc trưng này khiến bản án trở thành một loại văn bản cá biệt Nó là sản phẩm của một tập người (từ 3 người trở lên) và có người đại diện ghi lại thành biên bản Nó được đọc (tuyên án) công khai tại phòng xử

án Tuy nhiên, thực tế Hội đồng xét xử chỉ thảo luận và thông qua tại phòng nghị án

về nội dung của bản án và quyết định cuối cùng của tòa án Còn ngôn ngữ bản án lại

là do một cá nhân cụ thể viết, mang dấu ấn nhất định của cá nhân đó Vì vậy, mỗi bản

án có thể coi là những biến thể của cùng một dạng văn bản Bản án chỉ có hiệu lực khi được công khai tại phòng xử án Như vậy bản án là dạng viết ra để nói nhưng nói

ở đây thực chất lại là một hình thức đọc lại văn bản đã được soạn thảo Vì thế ngôn ngữ án văn vẫn là dạng ngôn ngữ viết, theo những chuẩn mực của ngôn ngữ viết và

Trang 18

nó không chịu tác động của những yếu tố ngữ âm như ngữ điệu Ngữ điệu đọc hoàn toàn phụ thuộc vào cấu trúc và nội dung của văn bản

Đặc trưng thứ ba: Án phải viết thành văn bản và giao án theo đúng quy định

của pháp luật Pháp luật về tố tụng ở các lĩnh vực khác nhau đều quy định: trong một thời gian nhất định (15 ngày trong vụ án hình sự, dân sự; 7 ngày trong vụ án kinh tế, lao động, hành chính) sau khi tuyên án, tòa án phải giao bản sao bản án cho bị cáo, đương sự, Viện Kiểm sát cùng cấp, người bào chữa, gửi bản sao bản án cho những người vắng mặt và thông báo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo, đương sự cư trú hoặc làm việc Pháp luật cũng quy định trong trường hợp xử vắng mặt bị cáo, đương sự, trong thời hạn nói trên, bản sao bản án phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo, đương sự Như vậy, bản án không phải là dạng tài liệu bí mật của riêng ngành tòa án mà nó có tính đại chúng Vì vậy ngôn ngữ án văn

có ảnh hưởng nhất định đến quy chuẩn ngôn ngữ tiếng Việt, tác động đến việc sử dụng ngôn ngữ của nhân dân Cho nên ngôn ngữ án văn đòi hỏi sự chính xác trong cách dùng từ, đặt câu, phù hợp với văn phong của một văn bản hành chính

Đặc trưng thứ tư: Bản án, quyết định đã được tuyên bố thì không được sửa đổi,

bổ sung, trừ trường hợp có sai sót rõ ràng về số liệu vì tính toán sai hoặc do lỗi chính

tả Việc sửa đổi, bổ sung bản án là một việc làm phức tạp và tốn nhiều thời gian Vì thế, ngôn ngữ án văn lại càng cần phải chính xác, mẫu mực để tránh những sai sót

trong việc diễn đạt dẫn đến việc hiểu sai nội dung cần thông báo

1.4 Khái n iệm ngôn ngữ án văn

Hiểu một cách đơn giản nhất, ngôn ngữ án văn tiếng Việt là hình thức văn tự tiếng Việt được sử dụng trong án văn, bao gồm việc sử dụng ngôn từ và tạo lập ngôn bản để thể hiện nội dung của án văn

1.5 Vị trí của ngôn ngữ án văn trong hệ thống ngôn ngữ pháp luật

Bản án nằm trong hệ thống văn bản pháp luật vì vậy ngôn ngữ án văn thuộc về ngôn ngữ luật pháp Ngôn ngữ luật pháp tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau như ngôn ngữ luật pháp ở dạng nói và ngôn ngữ luật pháp ở dạng viết Ở dạng viết, ngôn

Trang 19

dung và mục đích của văn bản Có thể nhận diện ngôn ngữ án văn trong hệ thống ngôn ngữ luật pháp trong Bảng 1.2

Bảng 1.2 Các tiểu loại của ngôn ngữ luật pháp

(Nguồn:dẫn theo Lê Hùng Tiến [39])

Ngôn ngữ luật pháp

Thuyết trình Tòa thực tập Tham vấn Thẩm vấn

Luật sư – khách hàng Luật sư – nhân chứng

Trang 20

1.6 Hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp của án văn

Hoàn cảnh giao tiếp của án văn: Ngôn ngữ án văn là ngôn ngữ trong hành chức, xử lý mối quan hệ pháp luật với nhiều vai giao tiếp khác nhau

Người tạo lập nội dung văn bản là một tập người và một người ghi lại theo sự

thống nhất chung Tập người này đại diện cho luật pháp, đại diện cho quyền lực của nhà nước vì vậy vai giao tiếp của họ trong án văn là vai quyền lực hay vai tác động Đối tượng tiếp nhận văn bản trực tiếp là cá nhân hay pháp nhân có quan hệ với nhau

về mặt pháp luật, có những xung đột quyền lợi nhất định được chỉ ra trong chính văn bản Những hành vi và quan hệ pháp luật của họ được vai quyền lực/vai tác động phân xử theo hướng hợp pháp hay không hợp pháp Vai giao tiếp của những cá nhân hay pháp nhân đó là vai chịu sự tác động Ngoài đối tượng tiếp nhận trực tiếp là những công dân bình thường, án văn còn có đối tượng tiếp nhận gián tiếp Đó là những thẩm tra viên, thẩm phán ở những cấp cao hơn hoặc là những luật sư Họ là những người có chuyên môn trong lĩnh vực luật pháp Vì vậy, ngôn ngữ án văn phải đảm bảo được hai tiêu chí: vừa đơn giản, dễ hiểu lại vừa mang tính chuyên môn cao

để hướng tới sự tiếp nhận văn bản của cả hai đối tượng trên

Mục đích giao tiếp: Án văn không chỉ viết ra để cho người khác đọc mà chính

người soạn thảo văn bản đại diện đọc trước Tòa Khi bản án được đọc lên ngay lập tức nó thực hiện một hành động xã hội Nó làm thay đổi hiện thực ngoài văn bản; kết thúc một quá trình xét xử, phân định tính hợp pháp – không hợp pháp của hành

vi hoặc quan hệ xã hội; chỉ ra quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của những cá nhân hay tổ chức được chỉ ra trong chính văn bản và buộc họ phải thi hành theo Vì thế ngôn ngữ án văn phải có tính chính xác, minh bạch, tính khách quan và phải có tính thuyết phục cao

Trang 21

1.7 Những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến ngôn ngữ án văn

Những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến ngôn ngữ án văn theo hai hướng: liên quan trực tiếp và liên quan gián tiếp

Những văn bản liên quan trực tiếp tới án văn là những văn bản có những quy định trực tiếp về ngôn ngữ án văn, như: các Bộ Luật Tố tụng và các Nghị định quy định về hình thức và nội dung của án văn

Các Bộ Luật tố tụng quy định cụ thể về nội dung và bố cục của án văn ở từng cấp khác nhau Ví dụ như, Điều 224 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định về Bản án:

1 Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2 Trong bản án cần phải ghi rõ: ngày, giờ, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa ; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án; họ tên của Kiểm sát viên, họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần xã hội, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam;

họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của bị cáo; họ tên của người bào chữa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ

án, người đại diện hợp pháp của họ

3 Trong bản án phải trình bày việc phạm tội của bị cáo, phân tích những chứng

cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có phạm tội hay không và nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ Luật hình sự, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý thế nào Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và phải giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ Phần cuối cùng của bản án ghi những quyết định của tòa án và quyền kháng cáo đối với bản án

Điều Luật trong Bộ Luật Tố tụng hình sự mới chỉ chú ý tới nội dung của bản

án Điều 238 Bộ Luật Tố tụng dân sự có thêm quy định về bố cục của bản án như sau:

“2 Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định của tòa án, phần quyết định.”

Trang 22

Bản án phúc thẩm còn có thêm nội dung về quá trình giải quyết vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị

Ngoài các Bộ Luật Tố tụng, còn phải kể đến một văn bản khác có liên quan trực tiếp đến án văn Đó là Nghị quyết 04/2004/HĐ-TP, ngày 5 tháng 11 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao (sau đây sẽ gọi tắt là Nghị quyết 04), hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ

Luật Tố tụng hình sự 2003 và Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31 tháng 3 năm

2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao (sau đây sẽ gọi tắt là Nghị quyết 01) Nghị quyết 04 có quy định cụ thể về bố cục của một bản án hình sự sơ thẩm như sau:

2 Về Điều 224 của Bộ Luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)

2.1 Toà án ra bản án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bản án phải có ba phần như sau:

a Phần mở đầu Trong phần này phải ghi đầy đủ các vấn đề theo quy định tại khoản 2 Điều 224 của BLTTHS

b Phần nội dung Trong phần này có hai phần nhỏ như sau:

- Phần thứ nhất là phần “nhận thấy”, trong đó phải trình bày các hành vi phạm tội của bị cáo mà Viện kiểm sát truy tố; số của cáo trạng; ngày, tháng, năm ra cáo trạng; tên Viện Kiểm sát truy tố bị cáo; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ Luật Hình

sự và mức hình phạt mà Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Cuối cùng của phần này ghi: “Sau khi xem xét, kiểm tra những tài liệu, chứng cứ tại phiên toà, qua việc xét hỏi và tranh luận tại phiên toà” và chuyển sang phần thứ hai

- Phần thứ hai là phần “xét thấy”, trong đó phân tích những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội đối với các hành vi mà Viện Kiểm sát

đã truy tố đối với bị cáo; nếu xác định bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo Điểm,

K hoản, Điều Luật nào của Bộ Luật Hình sự; tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và hướng xử lý Nếu bị cáo không phạm tội thì phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không phạm tội và giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp cho họ

Trang 23

c Phần quyết định Trong phần này ghi những quyết định của Toà án Nếu bị cáo phạm tội thì ghi tuyên bố bị cáo phạm tội gì; áp dụng điểm, khoản, điều luật của

Bộ Luật Hình sự để xử phạt bị cáo và hình phạt cụ thể; các biện pháp tư pháp; án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm Cuối cùng là ghi quyền kháng cáo đối với bản án

Ngoài nội dung ghi trên liên quan đến ngôn ngữ án văn, Nghị quyết còn có thêm một mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo Mẫu bản án này quy định một cách chi tiết hơn về tổ chức văn bản của bản án, những khuôn mẫu cố định dùng chung cho tất cả các bản án hình sự sơ thẩm Ví dụ quy định về thể thức từ phần “Nhận thấy” đến “Xét thấy” như sau:

Nghị quyết 01 cũng kèm theo một mẫu bản án dân sự sơ thẩm sử dụng cho tất

cả các tòa án xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Trong đó còn có thêm phần hướng dẫn chi tiết về việc

sử dụng mẫu bản án sơ thẩm theo từng đề mục

Như vậy các Bộ Luật tố tụng và Nghị định không quy định cụ thể, rõ ràng về việc sử dụng ngôn ngữ trong án văn mà chỉ đưa ra những quy định về cấu trúc và nội dung của án văn Nhưng chính cấu trúc và những nội dung này lại quy định cách thức

Trang 24

sử dụng ngôn ngữ và tổ chức ngôn bản của án văn nói chung và của từng bộ phận trong án văn nói riêng

Bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trực tiếp tới ngôn ngữ án văn còn có những văn bản liên quan gián tiếp Đó là Thông tư 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 6 tháng 5 năm 2005 của Liên tịch Bộ Nội vụ - Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và trình bày văn bản (gọi tắt là Thông tư 55) Phạm vi và đối tượng áp dụng Thông tư 55 là những văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và bản sao văn bản; được áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và đơn vị vũ trang nhân dân Như vậy án văn cũng thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư 55 Nội dung Thông tư 55 quy định cách thức và kỹ thuật trình bày văn bản rất chi tiết, cụ thể về cỡ chữ, kiểu chữ, khổ giấy, vị trí trình bày các thể thức…Đặc biệt, Thông tư 55 có quy định về việc sử dụng ngôn ngữ trong văn bản, như:

- Sử dụng ngôn ngữ viết, cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu;

- Dùng từ ngữ phổ thông; không dùng từ ngữ địa phương và từ ngữ nước ngoài nếu không thực sự cần thiết Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung thì phải được giải thích trong văn bản;

- Không viết tắt những từ, cụm từ không thông dụng Đối với những từ, cụm từ được sử dụng nhiều lần trong văn bản thì có thể viết tắt nhưng các chữ viết tắt lần đầu của từ, cụm từ phải được đặt trong ngoặc đơn ngay sau từ, cụm từ đó;

- Việc viết hoa được thực hiện theo quy tắc chính tả tiếng Việt;

- Khi viện dẫn lần đầu văn bản có liên quan, phải ghi đầy đủ tên loại, trích yếu nội dung văn bản; số, ký hiệu văn bản; ngày, tháng, năm ban hành văn bản và tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản (trừ trường hợp đối với luật và pháp lệnh); trong các lần viện dẫn tiếp theo, có thể ghi tên loại và số, ký hiệu của văn bản đó

Như vậy, Thông tư 55 quy định về chuẩn ngôn ngữ sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính tiếng Việt

Thông tư 01/2011/TT-BNV, ngày 19 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính (gọi tắt là Thông tư 01) là văn bản pháp luật mới nhất hiện nay có liên quan gián tiếp tới ngôn ngữ án văn Thông tư

Trang 25

01 chủ yếu đề cập đến kĩ thuật trình bày văn bản hành chính, bao gồm khổ giấy, kiểu trình bày văn bản, định lề trang văn bản, vị trí trình bày các thành phần thể thức…

Ví dụ quy định về thể thức và kĩ thuật trình bày Quốc hiệu trong Thông tư 01

Điều 11 Nội dung văn bản của Thông tư 01 có những quy định về việc sử

dụng ngôn ngữ trong văn bản hành chính như: Dùng từ ngữ tiếng Việt Nam phổ thông

(không dùng từ ngữ địa phương và từ ngữ nước ngoài nếu không thực sự cần thiết) Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung thì phải được giải thích trong văn bản; chỉ được viết tắt những từ, cụm từ thông dụng, những từ thuộc ngôn ngữ tiếng Việt dễ hiểu…

Những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tới án văn sẽ là những tư liệu cần thiết để người nghiên cứu tham khảo, lấy căn cứ xác định tính chất, mức độ chuẩn của án văn

1.8 Tiểu kết

Những vấn đề chung được trình bày trong chương một là những vấn đề về án văn và ngôn ngữ án văn Về khái niệm và tên gọi, chúng tôi dựa vào hai nguồn tư liệu đáng tin cậy là Từ điển Luật học và Từ điển tiếng Việt để xác định chính xác đối

tượng nghiên cứu Trong đó, chúng tôi lựa chọn án văn làm tên gọi chung cho đối

tượng, bao gồm cả các quyết định có giá trị như một bản án

Trang 26

Đặc điểm cần lưu ý thứ hai khi nghiên cứu ngôn ngữ án văn là phải xác định vị trí của án văn trong hệ thống văn bản pháp luật Chúng tôi đã so sánh đối chiếu ba dạng cơ bản của văn bản pháp luật là văn bản cá biệt, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản có tính chất chủ đạo ở ba khía cạnh: nội dung, hiệu lực và mục đích giao tiếp của văn bản Từ đó, chúng tôi xác định án văn thuộc dạng văn bản cá biệt với những đặc thù như: Án văn phải do cơ quan có thẩm quyền là tòa án các cấp ban hành, xử lý các hành vi hoặc quan hệ pháp luật phát sinh từ một vụ việc cụ thể về tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi hay quan hệ đó

Ngoài ra, chúng tôi cũng chỉ ra bốn đặc trưng pháp lý tiêu biểu của án văn: Án văn luôn nhân danh nhà nước; án văn được một Hội đồng xét xử thảo luận, thông qua

và tuyên án công khai tại phòng xử án; án văn được viết thành văn bản và giao án theo đúng quy định; án văn đã được tuyên bố thì không được sửa đổi, bổ sung trừ trường hợp có sai sót rõ ràng về số liệu và chính tả Bốn đặc trưng này ảnh hưởng đến

sự lựa chọn ngôn từ và tổ chức văn bản của án văn, khiến cho ngôn ngữ án văn mang những nét riêng

Bên cạnh việc xác định vị trí của án văn trong hệ thống văn bản pháp luật, chúng tôi cũng xác định vị trí của ngôn ngữ án văn trong hệ thống ngôn ngữ luật pháp Ngôn ngữ án văn thuộc dạng ngôn ngữ viết (phân biệt với dạng nói), nằm trong

hệ thống ngôn ngữ thủ tục pháp luật và phân biệt với ngôn ngữ của các tài liệu trong

hồ sơ vụ án

Ngôn ngữ án văn có những nét riêng về hoàn cảnh và mục đích giao tiếp Về hoàn cảnh giao tiếp, ngôn ngữ án văn xử lý mối quan hệ pháp luật với nhiều vai giao tiếp khác nhau Trong đó, vai quyền lực/vai tác động là vai của người phát – người đại diện cho luật pháp, đại diện cho quyền lực của nhà nước và vai chịu sự tác động

là vai của người nhận – những cá nhân hay pháp nhân có quan hệ pháp luật trực tiếp được gọi ra trong bản án Về mục đích giao tiếp, khi được công bố, án văn thực hiện một hành động xã hội Hành động đó làm thay đổi hiện thực ngoài văn bản, kết thúc một quá trình xét xử và có thể làm phát sinh một quá trình xét xử khác Chính những đặc trưng về hoàn cảnh và mục đích giao tiếp như vậy mà ngôn ngữ án văn phải vừa

Trang 27

đơn giản, dễ hiểu lại vừa mang tính chuyên môn cao; phải có tính chính xác, khách quan và có tính thuyết phục

Cuối cùng, trong chương này chúng tôi cũng đề cập đến những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới ngôn ngữ án văn

Đó là những Bộ Luật Tố tụng, Nghị định 04, Nghị định 01, Thông tư 55, Thông tư 01

có những quy định về tổ chức văn bản và sử dụng ngôn từ trong án văn Những quy định này giúp chúng tôi xác định tiêu chuẩn để tìm hiểu những vấn đề ngôn ngữ còn xuất hiện trong án văn

Chúng tôi đã điểm lại những nội dung chính được trình bày trong chương một Sau đây chúng tôi đi vào nội dung cụ thể là những kết quả trong quá trình nghiên cứu

về ngôn ngữ án văn tiếng Việt

Trang 28

CHƯƠNG 2 - ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ÁN VĂN TIẾNG VIỆT

Chương hai có nhiệm vụ chỉ ra đặc điểm sử dụng ngôn từ và tổ chức ngôn bản trong án văn tiếng Việt Án văn tiếng Việt có một cấu trúc khá đặc biệt và chính cấu trúc này quy định sự lựa chọn sử dụng các phương tiện ngôn ngữ phù hợp với tính chất, mục đích giao tiếp của từng bộ phận trong cấu trúc Vì vậy chúng tôi không sắp xếp các đề mục của chương theo một trật tự thông thường (tức là sắp xếp theo các cấp độ ngôn ngữ: từ, ngữ pháp, văn bản) mà có sự thay đổi nhỏ để tiện cho việc nghiên cứu và theo dõi Chúng tôi sẽ đưa đề mục nghiên cứu về tổ chức văn bản của

án văn lên đầu tiên và sau đó là thứ tự các đề mục sắp xếp theo cấp độ và bình diện ngôn ngữ

Trong chương này, chúng tôi không chủ trương chỉ ra toàn bộ những phương tiện ngôn ngữ được sử dụng trong án văn Chúng tôi chỉ tìm hiểu và phân tích những nét đặc biệt trong việc lựa chọn và ưu tiên sử dụng loại phương tiện từ ngữ, ngữ pháp nào đấy để phục vụ cho mục đích giao tiếp của án văn và vai trò của nó trong việc đảm bảo những đặc trưng của án văn như: tính khách quan, minh bạch, tính thuyết phục, tính đơn nghĩa, tính chặt chẽ…Những phương tiện ngôn ngữ mà chúng tôi nhắm tới là những phương tiện có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thành công của

án văn Chúng tôi cũng không có ý định đi sâu vào lĩnh vực lý thuyết của những vấn

đề được nêu ra mà chỉ khái quát những nội dung chính mà chúng tôi đã chọn lựa để làm cơ sở cho việc triển khai vấn đề Vì vậy những vấn đề lý thuyết nêu ra không được tách riêng thành một mục mà sẽ được trình bày gộp trong phần triển khai nội dung

2.1 Đặc điểm tổ chức văn bản trong án văn

2.1.1 Cấu trúc của án văn

Cấu trúc thể loại văn bản là những cấu trúc ngầm ẩn mà theo đó nó quyết định việc triển khai các đơn vị từ vựng, ngữ pháp trên bề mặt văn bản để phục vụ cho các mục đích giao tiếp riêng mà văn bản phải hoàn thành Có hai loại cấu trúc nằm trong

Trang 29

cấu trúc của thể loại văn bản là cấu trúc hóa nhận thức, hay còn gọi là cấu trúc phát

triển nhận thức, quyết định việc triển khai ý nghĩa chính của văn bản và cấu trúc thể loại tiềm năng quyết định triển khai toàn bộ văn bản Án văn có đầy đủ hai loại cấu

trúc trên

2.1.1.1 Cấu trúc thể loại tiềm năng của án văn

Các văn bản đều được phát triển dựa trên những cấu trúc tương tự có thể quy nạp lại thành một dạng chung điển hình cho thể loại văn bản đó Cấu trúc như vậy được gọi là cấu trúc thể loại tiềm năng Cấu trúc thể loại tiềm năng quyết định đến việc triển khai toàn bộ văn bản

Cấu trúc thể loại tiềm năng trong án văn được quy định một cách rõ ràng trong các Bộ Luật Điều 238, Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định về Bản án sơ thẩm:

1.[…]

2 Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định của tòa án, phần quyết định

3 Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý

vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký tòa án, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng tranh chấp; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử

4 Trong phần nội dung vụ án và nhận định của tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, khởi kiện của cơ quan, tổ chức; đề nghị, yêu cầu phản tố của bị đơn; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhận định của tòa án; điểm, khoản và điều luật của văn bản quy phạm pháp luật mà tòa án căn

cứ để giải quyết vụ án

Trong nhận định của tòa án phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Trang 30

5 Trong phần quyết định phải ghi rõ các quyết định của tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp

có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó

Dựa vào quy định trong các Bộ Luật Tố tụng và dựa vào những bản án trong thực tế xét xử, chúng tôi thấy có thể phân chia và định danh lại cho từng bộ phận trong cấu trúc thể loại tiềm năng của án văn một cách chi tiết như sau:

- Bộ phận tiền văn bản, gồm: Quốc hiệu; tên cơ quan xét xử và định danh bản

án (số hiệu bản án, ngày/tháng/năm xét xử, vụ việc)

- Phần mở đầu văn bản: Đây là phần thể hiện tính pháp lý và hiệu lực pháp luật

của bản án; xác định bối cảnh, khuôn khổ mà vụ án diễn ra, mô tả về danh phận của những người tham gia tố tụng, bao gồm:

Cơ sở pháp luật: Nhân danh nhà nước, cơ quan đại diện cho nhà nước và thành phần đại diện cơ quan

Ví dụ (2):

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Với hội đồng xét xử gồm có:

riêng (chỉ viết chữ cái đầu của danh từ riêng), chẳng hạn: Bà Nguyễn Thị Hai viết tắt là bà N T H Để tiện theo dõi, nếu

ví dụ là một câu, một chuỗi câu quá dài chúng tôi sẽ lược bớt phần nội dung không liên quan đến vấn đề đang được đề

cập tới Phần lược bớt sẽ được đặt trong dấu […], chẳng hạn: Xét kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng […] Trong

lỗi viết hoa) ngoại trừ trường hợp đó là những ví dụ minh họa cho lỗi sử dụng từ ngữ không chuẩn theo chính tả

Trang 31

Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Luật

Chức vụ: Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao

Và các Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao:

1 Bà Nguyễn Thị Minh Tuấn

2 Bà Vũ Thị Minh Thủy Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Thủy

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao: Bà Trịnh Thị Hồng Bốn,

Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao

Cơ sở thực tiễn: Cơ sở thực tiễn của án văn nêu lý do và căn cứ đưa vụ án ra xét

xử, tính chất và cấp độ của việc xét xử và những người tham gia tố tụng

Ví dụ (3):

Vào các ngày 23, 27 tháng 10 năm 2009, tại phòng xử án, Tòa án Nhân dân

T hành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số

142/2009/HN-PT ngày 08/10/2009, về việc “Ly hôn và tranh chấp tài sản”

Do bản án hôn nhân gia đình số 40/2009/HNGĐ-ST ngày 14/8/2009 của Tòa án Nhân dân quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo Theo Quyết định đưa vụ

á n ra xét xử số 743/2009/QĐ-PT ngày 20/10/2009 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: […]

Bị đơn:[…]

[…]

(Ngữ liệu B37, tr.1)

- Phần nội dung: Nội dung của án văn được chia thành ba phần nhỏ là phần

Nhận thấy (trình bày tóm tắt nội dung của vụ án), Xét thấy (lập luận, phân tích, đánh

giá của cơ quan đại diện), Quyết định (đưa ra phán xét phân xử vụ án)

- Phần kết thúc: Đây là phần nêu quyền kháng cáo của đương sự, hiệu lực thi

hành của bản án, người có thẩm quyền ký tên đóng dấu và nơi nhận bản án

Từ những nhận xét nêu trên, chúng tôi khái quát lại sơ đồ bố trí các thành phần thể thức của án văn như trong Bảng 2.1

Trang 32

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí các thành phần thể thức của án văn

Tên cơ quan ban hành Quốc hiệu

Định danh văn bản

Cơ sở pháp luật và đại diện

Cơ sở thực tiễn, căn cứ và thành phần tham dự

Nhận thấy

Xét thấy

Quyết định

Quyền kháng cáo và hiệu lực thi hành

2.1.1.2 Cấu trúc phát triển nhận thức của án văn

Cấu trúc phát triển nhận thức là cấu trúc biểu hiện cách thức khai triển tư duy

mà văn bản dựa vào đó để khai triển ý Nó là cấu trúc đã được quy ước hóa giữa các thành viên của một cộng đồng chuyên môn nào đó và được thường xuyên sử dụng để khai triển văn bản dưới một số biến dạng khác nhau Như vậy nó là cấu trúc trình bày với tư cách là cơ chế ngầm điều tiết việc bố trí các đơn vị từ vựng, ngữ pháp trong văn bản

Trang 33

Bản án thể hiện quá trình tư duy của cơ quan đại diện pháp luật, căn cứ vào thực tiễn, căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho mục đích sau cùng là đưa

ra những phán xét công bằng, hợp lý vừa có tính thuyết phục cao, vừa thể hiện được tính quyền lực Vì vậy phần nội dung chính của văn bản được trình bày theo cấu trúc phát triển nhận thức

Cấu trúc phát triển nhận thức của bản án qua hai bước theo đúng như quá trình

nhận thức thông thường “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, “từ tư duy

trừu tượng đến thực tiễn”:

Bước 1: Từ Nhận thấy -> Xét thấy

Phần “Nhận thấy” ghi lại một cách khách quan nội dung của vụ án, bao gồm diễn biến của vụ án trước khi Tòa xét xử và tiến trình xét xử vụ án Những nội dung khách quan trình bày trong phần “Nhận thấy” được xem xét kỹ lưỡng và kết hợp với những quy định của pháp luật; tòa án sẽ đưa ra kết luận cho từng phần, từng nội dung

cụ thể Quá trình tư duy này được thể hiện rõ trong phần “Xét thấy” Như vậy từ

Nhận thấy” đến “Xét thấy” thể hiện bước một của quá trình nhận thức vấn đề

Những điều nêu trong phần “Nhận thấy” là những điều mà tòa án nhận biết được bằng trực quan, và những điều nêu trong “Xét thấy” là kết quả của quá trình tư duy

Bước 2: Từ Xét thấy -> Quyết định

Từ những nhận định, kết luận thể hiện trong phần “Xét thấy”, dựa trên cơ sở thực tiễn và quy định của pháp luật, tòa án đưa ra những phán quyết cuối cùng kết thúc

một quá trình xét xử Những phán quyết ấy được thể hiện trong phần “Quyết định” có

giá trị như một hành động, một mệnh lệnh buộc phải thi hành

Như vậy, cấu trúc phát triển nhận thức trong án văn giúp cho nội dung bản án trở nên minh xác, chặt chẽ và có tính thuyết phục cao

2.1.2 Các phương tiện liên kết trong án văn

Văn bản không phải là một phép cộng đơn thuần giữa các câu mà giữa các câu trong văn bản phải có những sợi dây liên hệ chặt chẽ Sợi dây liên kết ấy tạo nên

tính liên kết cho văn bản Tính liên kết của văn bản thể hiện ở hai mặt: liên kết hình

thức và liên kết nội dung Hai mặt này có mối liên hệ mật thiết với nhau: liên kết nội

Trang 34

dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung

Trong luận văn này chúng tôi tạm gác lại mặt thứ hai của tính liên kết trong án văn và đi vào tìm hiểu mặt liên kết hình thức với những phương thức liên kết được biểu hiện bằng những phương tiện ngôn ngữ cụ thể Theo khảo sát của chúng tôi, án văn sử dụng nhiều phương thức liên kết khác nhau như: phép lặp, phép tuyến tính, phép nối Mỗi phương thức liên kết này lại có những phương tiện liên kết cụ thể thể hiện vai trò khác nhau trong án văn

2.1.2.1 Phép lặp

Phép lặp là phương thức liên kết thể hiện ở việc lặp lại trong kết ngôn những yếu tố đã có trong chủ ngôn Phương tiện ngôn ngữ thể hiện sự liên kết trong phương thức lặp được gọi là lặp tố Tùy thuộc vào tính chất của lặp tố mà phương thức lặp chia làm ba dạng: lặp từ vựng, lặp ngữ pháp và lặp ngữ âm Trong án văn, dạng thức lặp ngữ âm không xuất hiện hoặc không được sử dụng như một phương tiện liên kết mà chỉ có dạng thức lặp từ vựng và lặp ngữ pháp

- Phép lặp từ vựng: Đây là một dạng thức của phương thức lặp mà ở đó chủ tố

và lặp tố là những yếu tố từ vựng (từ, cụm từ)

Lặp từ vựng là phương tiện liên kết quan trọng nhất góp phần vào việc làm cho

án văn rõ ràng, tránh mơ hồ và sai quy chiếu Phương tiện liên kết này có ở tất cả các bản án, trải dài trên toàn văn bản và còn có mặt nhiều lần trong một cặp phát ngôn

Từ vựng được lặp lại nhiều nhất trong án văn là danh từ hay cụm danh từ Trong đó,

danh từ/cụm danh từ được lặp lại nhiều hơn cả là danh từ/cụm danh từ chỉ người hay

cơ quan, tổ chức Án văn là kết quả xét xử một vụ việc cụ thể liên quan đến những cá

nhân hay tổ chức cụ thể Do đó, án văn thường lặp lại đích danh tên người, tên tổ chức liên quan Tuy nhiên, để cho việc diễn đạt đỡ rườm rà, trong án văn có sử dụng phép lặp bộ phận, tức là lặp tố chỉ là một bộ phận chính của chủ tố Ví dụ như trường hợp của danh từ riêng Danh từ riêng chỉ tên người trong án văn thường đi kèm với

danh từ chỉ đơn vị như ông/bà, anh/chị hoặc trong án hình sự danh từ riêng của bị cáo

không có danh từ chỉ đơn vị đi kèm thì khi lặp lại danh từ riêng, lặp tố chỉ còn danh

Trang 35

từ chỉ đơn vị + tên, tên hoặc danh từ chỉ đơn vị, họ và tên đệm được lược bỏ (ký hiệu

Φ đánh dấu vị trí của yếu tố được lược bỏ)

Ví dụ:

(4) Dương Minh Chính có quan hệ yêu thương với Phạm Thị Ủy từ năm 2002, nhưng bị Phạm Thành Thái là chú của Φ Ủy cương quyết ngăn cản Φ Thái đã nhiều lần hăm dọa đòi giết Φ Chính Vì vậy giữa Φ Thái và Φ Chính phát sinh mâu thuẫn

(Ngữ liệu A11, tr.3) (5) Anh Lê Anh Huy và chị Lê Thị Mỹ Duyên quen biết từ năm 2006 qua mạng Internet Trong thời gian quen biết, anh Φ Huy có nhiều lần gởi tiền cho chị Φ Duyên Theo anh Φ Huy, chị Φ Duyên đã hứa kết hôn với anh Φ, lợi dụng tình cảm hỏi mượn tiền, anh Φ mới gởi về cho chị Φ Duyên nhiều lần với tổng số tiền là

11 320,38 Bảng Anh

(Ngữ liệu C41, tr.3) (6) Đại diện công ty TNHH Trường Sanh trình bày: Công ty Trường Sanh đăng

ký kinh doanh ngày 01/8/2001 với ngành nghề sản xuất, gia công mộc mỹ nghệ và dân dụng; mua bán máy móc thiết bị ngành lâm nghiệp, xây dựng, công nghiệp; dịch

vụ tang lễ Công ty Trường Sanh là chủ sở hữu kiểu dáng áo quan và bà T.H.Đ là tác giả thiết kế Công ty Trường Sanh và công ty Ý Thiên đều là những công ty gia đình Tiền thân của công ty Trường Sanh là cơ sở sản xuất gia đình có từ trước năm 1975 với ngành nghề kinh doanh là dịch vụ tang lễ, sản xuất và bán áo quan Do vậy, công

ty Trường Sanh là bên nắm bí quyết kĩ thuật, nhân lực về thiết kế kiểu dáng áo quan Trên thực tế, công ty Trường Sanh đã sản xuất áo quan và bán trên thị trường từ trước khi liên doanh với ông Kou Chi Sheng để thành lập công ty Nhã Quán

Phép lặp danh từ thay cho việc dùng đại từ luôn là một phương tiện liên kết ưa dùng trong án văn nhằm tăng tính chính xác và chặt chẽ, tránh những nhầm lẫn có thể

Trang 36

có nếu như dùng đại từ thay thế khi quy chiếu Bảng 2.23 dưới đây cho thấy danh từ riêng có dày đặc trong án văn

Bảng 2.2 Thống kê số lượt xuất hiện của danh từ riêng/số câu

trong án văn Ngữ liệu 4

70 Ông

Nguyễn Đức Thông

69

Công ty Bảo Hiểm An Giang

21 Công ty

Trường Sanh

51 Bà Phan

Thị Thanh Thu

42

Tuy nhiên, tần số lặp lại của các danh từ/cụm danh từ dày đặc và việc thiếu vắng các đại từ thay thế khiến cho án văn rườm rà, đơn điệu

- Phép lặp cấu trúc cú pháp (phép lặp ngữ pháp): Đây là một dạng thức của

phương thức lặp thể hiện ở việc lặp lại trong kết ngôn cấu trúc của chủ ngôn và có thể

lặp lại cả một số hư từ mà chủ ngôn đã sử dụng

Trong án văn, phép lặp cấu trúc cú pháp chủ yếu được sử dụng để liên kết các đoạn văn với nhau Lặp cấu trúc cú pháp ở đầu mỗi đoạn, xác định phạm vi nội dung được trình bày trong đoạn tiếp theo có quan hệ tương liên với đoạn trước Có các kiểu cấu trúc lặp như sau:

(Theo) X trình bày/ cho rằng: (X: danh ngữ chỉ người)

Xét A thấy rằng: (A: nội dung một vụ việc cụ thể)

Về B,(B: danh ngữ chỉ đối tượng)

Ví dụ:

Trang 37

(7) Người làm chứng trình bày:

Ông N.V.M trình bày : Thửa đất nêu trên ông chuyển nhượng cho bà T.T.K.C Khoảng năm 2004, […]

Ông N.M.H trình bày: Có chứng kiến việc thỏa thuận giữa bà K.C và bà T.C

và việc hai bà cãi nhau về số tiền 10 triệu đồng

Bà P.T.L trình bày: Bà có nghe bà K.C nói là cho bà N.T C ở nhờ đất

Bà H.T.Ch trình bày: Bà có cho bà N.T C vay số tiền 30 triệu để chuyển nhượng đất của bà K.C, khi đến giao tiền hai bên không có làm biên nhận […]

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Th và ông Th cùng thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con mà ông Th cấp dưỡng hàng tháng […]

(Ngữ liệu B37, tr.5) Lặp cấu trúc cú pháp có tác dụng duy trì chủ đề, tạo tính rõ ràng minh bạch, giới hạn nội dung cho phần trình bày Nhờ phép lặp này mà nội dung của vụ việc được tách bạch khiến người đọc, người nghe dễ theo dõi Nó không chỉ có tác dụng nhấn mạnh đến phạm vi nội dung trong đoạn mà còn tạo ra cái nền để làm rõ sự khác biệt giữa các phần khác nhau của chủ đề

Trang 38

2.1.2.2 Phép nối

Sau phép lặp, phép nối có vai trò quan trọng trong việc liên kết nội dung của án văn Phương tiện ngôn ngữ liên kết câu thuộc phép nối là những kết tố Trong án văn, những phương tiện của phép nối rất đa dạng nhưng chủ yếu vẫn là các từ và cụm từ làm thành phần chuyển tiếp, có thể là chuyển tiếp giữa các câu, hoặc chuyển tiếp giữa các phần, các đoạn khác nhau của văn bản

Thành phần chuyển tiếp có thể là những tổ hợp/quan hệ từ biểu thị ý nguyên nhân – sự kiện, sự kiện – kết quả Nhóm từ ngữ tiêu biểu của nhóm này là : Vì, bởi

vì /bởi lẽ/bởi vậy, do đó, cho nên, như vậy Nhóm quan hệ từ này xuất hiện chủ yếu

trong phần “Xét thấy” Nguyên nhân là do đặc trưng lập luận của án văn, vừa phải

đưa ra kết luận, nhận định và vừa giải thích cho những kết luận, nhận định đó mới tạo

được sự thuyết phục và mới có cơ sở để “Quyết định” Có thể nói rằng hầu như bất cứ

kết luận nào mà Hội đồng đưa ra đều kèm theo nó là quan hệ từ chỉ nguyên nhân, kết quả Nó không chỉ có tác dụng liên kết các phát ngôn lại với nhau mà còn giúp người đọc nhận thức sâu hơn về nội dung, ví dụ:

(10) Nay ông T và chị B.T không đồng ý trả đất theo yêu cầu của ông Ng mà đề nghị tòa án căn cứ vào trụ đá phía sau đất và hàng rào do phía ông T làm hiện nay

để xác định ranh đất cho hai bên là không có cơ sở Bởi vì, ngoài việc ông T cho rằng đã tìm thấy 01 trụ đá ranh cũ ở phía sau hậu đất thì không có chứng cứ gì khác

để chứng minh là ranh đất của ông nằm theo trụ đá mà ông tìm được

(Ngữ liệu C45, tr.5)

(11) Vì n ếu coi đây là hợp đồng lao động thì cả hai bên đã ký kết vi phạm các quy định về hình thức và cả nội dung của hợp đồng lao động Do đó hợp đồng lao động nêu trên là hợp đồng vô hiệu

(Ngữ liệu G68, tr.7)

(12) Thời gian gần đây đã liên tiếp xảy ra nhiều vụ án giết người với những mâu thuẫn nhỏ, không lớn trong sinh hoạt hàng ngày Vì vậy, cần xử lý bị cáo nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội

(Ngữ liệu A17, tr.5)

Trang 39

(13) Do đó, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp văn bằng bảo hộ độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho Công ty Trường Sanh đối với 14 hồ sơ đăng ký kiểu dáng công nghiệp do Công ty Nhã Quán đã nộp là phù hợp với chính sự thỏa thuận của các đương sự Cho nên, dù các kiểu dáng công nghiệp này do ai sáng tạo ra, nhưng Công

ty Nhã Quán đã thỏa thuận chuyển nhượng cho Công ty Trường Sanh đăng ký bảo hộ độc quyền thì quyền sở hữu đối với các kiểu dáng công nghiệp này thuộc về Công ty Trường Sanh

(Ngữ liệu D63, tr.8) Thành phần chuyển tiếp có thể là những tổ hợp/quan hệ từ có quan hệ bổ sung,

như: ngoài ra, hơn nữa, mặt khác, vả lại

Ví dụ:

(14) Hơn nữa phía ông Ng cũng không thừa nhận đây là trụ đá ranh Diện tích đất ông T được cấp là 4.000m 2 nhưng thực tế diện tích chỉ có 2.228m 2

Căn cứ vào công văn số 800/PTNMT-NC ngày 27/10/2008 của Phòng tài nguyên và môi trường huyện Cao Lãnh ghi nhận: “[…]” Mặt khác, vào năm 1990, khi ông Ng tiến hành làm hàng rào và trồng cây ăn trái thì ông T cũng không tranh chấp mà để ông Ng sử dụng

Thành phần chuyển tiếp có thể là cụm từ có cấu tạo của một quán ngữ, như: Vì

các lẽ trên, Bởi các lẽ trên, Từ những nhận định trên…Đây là những cụm từ xuất

hiện như một khuôn mẫu có tác dụng liên kết hai phần của nội dung là “Xét thấy” và

Quyết định”, ví dụ:

(17) Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Trang 40

Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 537/2008/DSPT ngày 30/9/2008 của Tòa án Nhân dân tỉnh Bến Tre về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà N.T.L với bị đơn là chị Ph.T.T

(Ngữ liệu H71, tr.3)

Thành phần chuyển tiếp có thể là quan hệ từ có ý nghĩa tương phản như tuy

nhiên để kết nối hai hay nhiều nội dung đối lập nhau Nhờ đó Hội đồng xét xử có cơ

sở đưa ra những nhận định, kết luận có tính thuyết phục hơn Ví dụ:

(18) Như vậy, với quy định trên thì việc đặt tên cơ sở Hưng Thịnh không vi phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh

Tuy nhiên , việc đặt tên cơ sở Hưng Thịnh lại dẫn đến việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ về tên thương mại và không đảm bảo các điều kiện bảo hộ về tên thương mại được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ, là văn bản Luật chuyên ngành bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ […]

(Ngữ liệu D62, tr.5)

(19) Tuy nhiên trong quá trình xét xử của tòa án bà T đã tự động chuyển quyền

sử dụng đất từ tên bà sang qua cho ông Th tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số […] khi không có ý kiến của ông S là không phù hợp Vì thế cấp phúc thẩm có điều chỉnh một phần trong nội dung quyết định, ông Th, ông S liên hệ cơ quan chức năng

để chuyển quyền sử dụng đất từ ông Th sang qua ông S

( Ngữ liệu B20, tr.4) Những từ và cụm từ làm thành phần chuyển tiếp này giúp cho án văn trở nên mạch lạc, lập luận chặt chẽ và có tính thuyết phục hơn

Với đặc trưng vừa đưa ra thông tin vừa phải có những đánh giá, nhận định và kết luận về từng nội dung cụ thể, lại vừa đưa ra những quyết định mang tính chất mệnh lệnh, người viết án nhất thiết phải làm công việc nối kết các sự việc lại với nhau thành một chỉnh thể thống nhất Đặc biệt việc lập luận và đưa ra kết luận cần phải có sự liên kết chặt chẽ với nội dung sự việc Vì vậy nếu không có sự góp mặt của phép nối với những tổ hợp/quan hệ từ làm thành phần chuyển tiếp thì án văn không những rời rạc, khó tiếp nhận mà còn giảm đi tính thuyết phục, tính chặt chẽ và

rõ ràng

Ngày đăng: 19/02/2014, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1996), Ngữ pháp tiếng Việt , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
2. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Gilian Brown & George Yule, Phân tích diễn ngôn (Trần Thuật dịch), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
7. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt , Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
8. Phan Mậu Cảnh (2000), “Xung quanh kiểu phát ngôn tỉnh lược trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ , (8), trang 16 – 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung quanh kiểu phát ngôn tỉnh lược trong tiếng Việt”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 2000
9. Nguyễn Đức Dân (1996), Logic và tiếng Việt , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
10. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
11. Simon C. Dik (2005), Ngữ pháp chức năng (nhóm biên dịch: Nguyễn Văn Phổ, Trần Thủy Vịnh, Nguyễn Hoàng Trung, Đào Mục Đích, Nguyễn Thanh Phong), Nxb Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng
Tác giả: Simon C. Dik
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2005
12. Nguyễn Đăng Dung, Hoàng Trọng Phiến (1997), Hướng dẫn soạn thảo văn bản , Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn soạn thảo văn bản
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1997
13. Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thị Khế (1995), Nhà nước và pháp luật đại cương , Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật đại cương
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thị Khế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
14. Đỗ Văn Đại (2009), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
15. Đỗ Văn Đại (2009), Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
16. Đỗ Văn Đại (2010), Tuyển tập các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực trọng tài thương mại Lao động, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các bản án, quyết định của tòa án trong lĩnh vực trọng tài thương mại
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Năm: 2010
17. Vũ Xuân Đoàn (2003), “Tổ chức văn bản hợp đồng thương mại quốc tế”, Ngôn ngữ & đời sống , (6), trang 9 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức văn bản hợp đồng thương mại quốc tế”, "Ngôn ngữ & đời sống
Tác giả: Vũ Xuân Đoàn
Năm: 2003
18. Đinh Văn Đức (1986), N gữ pháp tiếng Việt – từ loại , Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1986
19. Đinh Văn Đức, Kiều Châu (1998), “Góp thêm đôi điều vào việc nghiên cứu danh ngữ tiếng Việt”, Ngôn ngữ , (1), tr.39 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm đôi điều vào việc nghiên cứu danh ngữ tiếng Việt”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Đinh Văn Đức, Kiều Châu
Năm: 1998
20. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt , Nxb Giá o dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
21. Hoàng Văn Hành (1983), “Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt”, Ngôn ngữ , (4), trang 26 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1983
22. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
23. Nguyễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp , Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Điểm khác nhau giữa ba loại văn bản: Văn bản quy phạm pháp - ngôn ngữ án văn tiếng việt
Bảng 1.1. Điểm khác nhau giữa ba loại văn bản: Văn bản quy phạm pháp (Trang 16)
Bảng 1.2. Các tiểu loại của ngôn ngữ luật pháp - ngôn ngữ án văn tiếng việt
Bảng 1.2. Các tiểu loại của ngôn ngữ luật pháp (Trang 19)
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí các thành phần thể thức của án văn - ngôn ngữ án văn tiếng việt
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí các thành phần thể thức của án văn (Trang 32)
Bảng 2.2. Thống kê số lượt xuất hiện của danh từ riêng/số câu - ngôn ngữ án văn tiếng việt
Bảng 2.2. Thống kê số lượt xuất hiện của danh từ riêng/số câu (Trang 36)
Bảng 2.4. Thống kê số lượt xuất hiện của trạng ngữ/câu   trong  phần “Nhận thấy” và “xét thấy” của án văn - ngôn ngữ án văn tiếng việt
Bảng 2.4. Thống kê số lượt xuất hiện của trạng ngữ/câu trong phần “Nhận thấy” và “xét thấy” của án văn (Trang 66)
Bảng 2.5. Bảng kê động từ ngôn hành và câu ngôn hành - ngôn ngữ án văn tiếng việt
Bảng 2.5. Bảng kê động từ ngôn hành và câu ngôn hành (Trang 73)
Bảng 2.6. Các phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái đạo nghĩa - ngôn ngữ án văn tiếng việt
Bảng 2.6. Các phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái đạo nghĩa (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w