1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số vấn đề về tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng của nó và một số biện pháp để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của tỷ giá hối đoái trong giai đoạn hiện nay

24 1,1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 89,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong kinh tế học khi phân tích về tỷ giá hối đoái,ngời ta thờng sử dụng các kí hiệu sau : * e-Tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ tính theo đồng tiền nớc ngoài * E-Tỷ giá hối đoái của đồng

Trang 1

Lời nói đầu

Chúng ta biết rằng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô là yêu cầu cần thiết để

tăng trởng kinh tế và là mục tiêu hàng đầu, tập trung các chính sách kinh tếcủa chính phủ Một trong những công cụ mà chính phủ sử dụng để tác độngvào nền kinh tế đó là chính sách tỉ giá

Tỷ giá hối đoái xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thơng mại quốc tếtrên cơ sở sản xuất, trao đổi và sử dụng những lợi thế khác nhau trong phâncông lao động quốc tế Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi màcác quá trình quốc tế hoá đã bao trùm tất cả các hoạt động sản xuất kinhdoanh và trong cuộc sống thì sự gia tăng của hiệp tác quốc tế nhằm phát huy

và sử dụng những lợi thế so sánh của mình làm cho việc quản lý tỷ giá hối

đoái ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế của mỗi quốc gia Vì vậyviệc quản lý tỷ giá hối đoái đòi hỏi phải có sự quan tâm sâu sắc của chính phủ

để có thể đa ra những chính sách tỷ giá hợp lý nhất, phù hợp với điều kiện củanền kinh tế để có thể cạnh tranh đợc trên thị trờng quốc tế từ đó đạt đợc mụctiêu phát triển kinh tế

Để có thể hiểu biết thêm về tỷ giá hối đoái, về những ảnh hởng của nó

đến thị trờng, đến nền kinh tế vĩ mô, trong khuôn khổ đề tài này, em xin trình

bày một số vấn đề về tỷ giá hối đoái, ảnh hởng của nó và một số biện pháp

để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của tỷ giá hối đoái trong giai đoạn hiện nay Trong đề án này có những nội dung chính nh sau:

Chơng I : Tổng quan chung về hệ thống tỷ giá hối đoái

Chơng II: Hệ thống tỷ gía hối đoái ở Việt Nam

Chơng III: Những giải pháp hoàn thiện tỷ giá hối đoái

Vì chuyên môn và kiến thực tế còn hạn chế cộng với những hạn chếtrong việc thu thập tài liệu, do đó trong đề án này không tránh khỏi nhữngkhiếm khuyết Vì vậy, em mong đợc sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô và cácbạn, giúp em có cách nhìn sâu hơn về vấn đề và hoàn thành tốt hơn cho nhữngcông trình tiếp theo

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến quýbáu của các thầy, cô giáo trong khoa đặc biệt là thầygiáo-Tiến sĩ Nguyễn HữuTài và cô giáo Cao Thị ý Nhi cùng tập thể bạn bè đã giúp em hoàn thành đề

Trang 2

I Một số vấn đề về tỉ giá hối đoái và các khái niệm có

liên quan.

Để có thể đi sâu nghiên cứu tỷ giá hối đoái, trớc hết chúng ta cần phảixem xét một số khái niệm có liên quan đến vấn đề này

1 Thị trờng ngoại hối và tỷ giá hối đoái.

Vì các nớc khác nhau thì sử dụng những đồng tiền khác nhau hay nhữngphơng thức thanh toán khác nhau nên khi muốn mở rộng quan hệ thơng mạiquốc tế thì cần phải có một nơi để có thể trao đổi tiền giữa các nớc với nhau,

đó chính là thị trờng ngoại hối Nh vậy thị trờng ngoại hối là thị trờng quốc tếtrong đó đồng tiền quốc gia này có thể đổi lấy tiền của quốc gia khác

Thông thờng tỷ giá hối đoái đợc hiểu là số lợng đơn vị nội tệ cần thiết đểmua một đơn vị ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối; là hệ số quy đổi của một

đồng tiền này sang một đồng tiền khác đợc xác định bởi mối quan hệ cungcầu trên thị trờng tiền tệ Trong kinh tế học khi phân tích về tỷ giá hối đoái,ngời ta thờng sử dụng các kí hiệu sau :

* e-Tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ tính theo đồng tiền nớc ngoài

* E-Tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ

Chính sách tỷ gá hối đoái của mỗi quốc gia thờng liên quan đến sức cạnhtranh quốc tế của quốc gia đó Nếu e giảm tức là giá trị của đồng nội tệ giảmthì giá cả của hàng hoá trong nớc sẽ rẻ tơng đối so với giá cả của hàng hoá ởnớc ngoài, vì thế xuất khẩu sẽ có xu hớng tăng, nhập khẩu có xu hớng giảm,khả năng cạnh tranh của quốc gia này tăng lên

2 Tỷ giá hối đoái thực tế.

Khả năng cạnh tranh còn gọi là tỷ giá hối đoái thực tế Để hiểu đợc vấn

đề này phải phân biệt đợc tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực

Tỷ giá hi đoái danh nghĩa là một khái niệm tiền tệ phản ánh mức giá tơng đốicủa hai đồng tiền trong khi tỷ giá hối đoái thực lại phản ánh mức giá tơng đốigiữa hai loại hàng hoá Chính xác hơn, tỷ giá hối đoái thực là mức giá tơng đốicủa những hàng hoá mậu dịch tơng ứng với các hàng hóa phi mậu dịch Nhvậy điểm cân bằng của tỷ giá thực sẽ tơng ứng với giá so sánh giữa hàng hoáthơng mại hoá và hàng hoá không thơng mại hoá đem lại đồng thời sự cânbằng nội và cân bằng ngọai Cân bằng nội có nghĩa là thị trờng hàng hoákhông thơng mại hoá đợc thanh toán liên tục, cân bằng ngoại có nghĩa là thâmhụt cán cân vãng lai đợc tài trợ một cách bền vững từ luồng vốn nớc ngoài.Một trong những nhân tố quan trọng nhất của tỷ giá hối đoái thực (RER)

là vị trí cạnh tranh quốc tế của quốc gia có đồng tiền tơng ứng Tỷ giá hối đoáithực giảm xuống phản ánh mức tăng chi phí sản xuất của những hàng hoá mậudịch trong nớc Nếu không có sự tăng giá tơng ứng ở các quốc gia khác thì

Trang 3

việc đó đồng nghĩa với việc suy giảm vị trí cạnh tranh đó : họ sản xuất hànghoá mậu dịch kém hiệu quả hơn các nớc khác.

3 Các nhân tố tác động lên quá trình hình thành tỉ giá.

Trên thực tế, sự hình thành quan hệ tỷ giá là tác động của nhiều yếu tốkhách quan và chủ quan Tuy có những mâu thuẫn trong phơng pháp nghiêncứu, tiếp cận và đánh giá vai trò, tính chất, phơng thức cờng độ, tốc độ tác

động của các yếu tố cụ thể, song nhìn chung có một số yếu tố quan trọng, trựctiếp cấu thành NP và tác động lên quá trình hình thành tỷ giá hối đoái, đó là :-Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nớc

-Trạng thái cán cân thanh toán ảnh hởng đến cung cầu ngoại tệ, thôngqua đó tác động lên mức tỉ giá và kéo theo sự dao động của tỷ giá lệch khỏisức mua của đồng tiền

-Chênh lệch mức giá giữa các nớc, giữa thị trờng tín dụng nội địa và quốctế

-Thực trạng hoạt động của các thị trờng tài chính, ngoại hối và các xu ớng nghiệp vụ đầu cơ ảnh hởng đến tỷ giá

h Hệ số tín nhiệm đối với các đồng tiền trên thị trờng Tài chính trong nớc

và quốc tế

- Các phơng thức, công cụ điều chỉnh, các chính sách can thiệp của Nhà nớc

- Các cú sốc kinh tế, chính trị xã hội và các chính sách lớn của Nhà nớctrong lĩnh vực kinh tế, tài chính tiền tệ

II. Các hệ thống tỷ giá

Tỷ hối đoái có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả các đối tợng tham giavào các giao dịch đối ngoại cho dù đó là nhà thơng mại hay nhà đầu t Tỉ giáhối đoái cũng có vaii trò trung tâm trong chính sách tiền tệ trong đó tỉ giá cóthể là mục tiêu hay công cụ hay chỉ đơn thuần là một chỉ số phụ thuộc vàocơ chế chính sách của mỗi quốc gia Mức độ can thiệp khác nhau của nhà nớckhác nhau đến tỉ giá hối đoái đã tạo nên những cơ chế tỉ giá hối đoái khácnhaugiữa các quốc gia Có hai cơ chế tỉ giá cơ bản là: cơ chế tỉ giá hối đoái cố

định (vào vàng, vào một đồng tiền hay một nhóm đồng tiền) và cơ chế tỉ giáthả nổi (tỉ giá đợc xác định dựa vào cung cầu trên thị trờng) Mỗi quốc giatrong một thời kì khác nhau có sự lựa chọn khác nhau về mức độ cố định thảnổi tỉ giá hối đoái hay có sự dung hoà nào đó về sự cố định hay thả nổi tỉ giáhối đoái Điều này đã đa đến các nguyên tắc khác nhau về điều hành tỉ giá hối

đoái hay các chính sách có liên quan khác của mỗi quốc gia Sự khác nhau đó

đã tạo nên sự đa dạng về cơ chế tỉ giá hối đoái ở trên thế giới

1 Chế độ tỷ giá cố định.

Trang 4

Mục đích của quan điểm giữ tỷ giá cố định là phải giữ tỷ giả hối đoái ổn

định để kiềm chế lạm phát ở mức thấp và củng cố niềm tin của dân chúng vào

đồng tiền nội địa Khi sử dụng chế độ tỷ giá cố định ngời ta có thể sử dụngcác hệ thống sau:

* Chế độ bản vị vàng :

Trong chế độ này chính phủ của mỗi quốc gia cố định giá vàng tính bằngtiền nớc họ và duy trì khả năng chuyển đổi đồng tiền trong nớc thành vàngchính phủ sẽ mua và bán vàng nhiều bằng mức mà nhân dân muốn giao dịchtại giá trị ngang giá này và chính phủ tuân theo quy tắc nhằm gắn liền đồngtiền trong nớc với số vàng nhà nớc có Chính phủ chỉ có thể phát hành tiềnbằng cách mua vàng của công chúng, tức là nếu công chúng chuyển đổi tiềngiấy của họ thành vàng thì lợng tiền lu hành sẽ giảm đi Dới chế độ bản vịvàng khả năng của chính phủ trong việc tăng mức cung tiền bị hạn chế nghiêmngặt bởi yêu cầu là chỉnh phủ phải nắm giữ một giá trị vàng tơng đơng trongkho bạc

Chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định, đồng tiền rất ít khi bị mất giá,việc thanh toán nợ nần giữa các quốc gia cũng đợc thực hiện bằng vàng nh vậy

nó thực sự đẩm bảo một cơ chế tự động điều chỉnh sự mất cân đối trong thơngmại và thanh toán quốc tế Vì vậy chế độ này đã đợc sử dụng hầu nh suốt thế

kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở các nớc Bản vị vàng có một u điểm lớn và một nhợc

điểm đáng kể Bằng cách gắn chặt, nếu không phải là hoàn toàn mức cung tiềnnội địa với mức dự trữ vàng, bản vị vàng thực sự đã loại trừ việc phát hành tiềnliên tục trên quy mô lớn và tỉ lệ lạm phát một cách thờng xuyên cao Tuynhiên do cơ chế chủ yếu để phục hồi công ăn việc làm đầy đủ là sự giảm giá

và tiền lơng nội địa mà phải mất nhiều năm để điều chỉnh hoàn toàn theo mứcgiảm đáng kể về tổng cầu cho nên thời kì của bản vị vàng là thời kì trong đócác nền kinh tế riêng lẻ dễ bị tổn thơng dẫn tới những giai đoạn suy thoái lâudài và sâu sắc

2 Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods :

Dới chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đợc cố định một cáchvô thời hạn Bây giờ chúng ta sẽ bàn về hệ thống điều chỉnh hạn chế, trong đócác tỷ giá hối đoái thông thờng đợc cố định nhng một đôi lúc các nớc đợcphép thay đổi tỷ giá hối đoái của mình Hệ thống này đợc ra đời gần cuối thếchiến thứ hai trong một hội nghị đa quốc gia đợc tổ chức ở Brentton WoodsNew Hampshire để hoạch định" một hệ thống tỷ giá hối đoái có trật tự thuậnlợi cho luồng thơng mại tự do" Theo hệ thống này tỉ giá chính thức giữa đồngtiền của các nớc thành viên đợc hình thành trên cơ sở so sánh hàm lợng vàngcủa đô la Mĩ (1 USD= 0,888671 gram vàng) và chỉ đợc phép dao động trongbiên độ 1% của tỉ giá chính thức đã đợc đăng kí tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF vìthế hệ thống tỉ giá này còn đợc biết với đến với tên gọi bản vị đôla Theo chế

Trang 5

độ bản vị đô la, các đồng tiền đợc chuyển đổi theo đôla chứ không phải theovàng Tại mức tỷ giá hối đoái cố định, các ngân hàng trung ơng cam kết muahoặc bán đôla từ nguồn dự trữ ngoại hối hoặc lợng đôla hiện có của họ Họcam kết can thiệp vào thị trờng ngoại hối để bảo vệ tỷ giá hối đoái cố địnhtheo đồng đôla.

Sự khác nhau căn bản giữa bản vị vàng và bản vị đôla là ở chỗ không còn

sự đảm bảo đổi lại 100% đối với đồng tiền nội địa, các chính phủ có thể inthêm tiền để làm tăng sức cạnh tranh trong nớc Nếu tình trạng thâm hụt ngânsách kéo dài chính phủ phải dùng ngày càng nhiều dự trữ ngoại hối của mình

để trang trải cho thâm hụt, thì cuối cùng đất nớc sẽ cạn kiệt dự trữ ngoại hối,lúc đó nhà nớc sẽ phải phá giá tỉ giá hối đoái của mình chuyển sang một nớc giátrị ngang giá thấp hơn theo đôla để cố gắng tăng thờng xuyên sức cạnh tranh vàloại trừ sự mất cân đối cơ bản trong thanh toán quốc tế

Tỷ giá hối đoái cố định, nếu bền vững hay đợc coi là bền vững thì sẽ tạocho các doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch và tính toán giá, nh vậy sẽ thúc

đẩy đầu t và thơng mại quốc tế; tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự hạn chế đốivới chính sách tiền tệ trong nớc vì do tỷ giá hối đoái cố định nên khôngkhuyến khích sự luân chuyển vốn vào hay ra khỏi quốc gia và do đó khôngcần thiết phải có sự quan tâm thờng xuyên của ngân hàng trung ơng Tỷ giáhối đoái cố định sẽ là tối u nếu các ngân hàng trung ơng có thể thực hiện đợc

sự điều chỉnh cho tới mức tỉ giá tơng đối cân bằng và thực hiện việc cố định tỉgiá ở mức đó; cơ chế tỉ giá cố định trực tiếp đặt ra sự tuân thủ đối với chínhsách tiền tệ và có thể đợc coi là phù hợp trong tình huống các công cụ tàichính và thị trờng tài chính cha phát triển đủ mức cho sự vận hành của chínhsách tiền tệ theo cơ chế thị trờng

Tuy nhiên tỷ giá hối đoái cố định trong trờng hợp thiếu tin cậy sẽ bị ảnhhởng rất lớn của đầu cơ, điều này có thể dẫn tới sự phá vỡ hoàn toàn sự ổn

định tiền tệ, ổn định kinh tế hay ảnh hởng tới dự trữ ngoại hối; tỉ giá hối đoái

cố định có thể làm ngời ta phải từ bỏ đầu cơ, do đó thị trờng sẽ buồn tẻ, khó

có thể xác định đâu là tỉ giá hối đoái tối u, hay hợp lý cho một nền kinh tế,mặc dù cả chính phủ và nhân hàng trung ơng đều cần thiết phải hiểu hơn aihết đâu là mức cân bằng Tỉ giá hối đoái danh nghĩa cố định có thể là quantrọng nhng nó không quyết định tỉ giá hối đoái thực tế mà nó chỉ đợc coi làchỉ số hay mục tiêu quan trọng mà thôi Duy trì tỉ giá hối đoái cố định đòi hỏingân hàng trung ơng phải luôn sẵn sàng can thiệp vào thị trờng ngoại hối để

đảm bảo mức tỉ giá hối đoái cố định.Tuy nhiên, khó có thể đa ra về mức độcần can thiệp nh thế nào để tác dộng vào nền kinh tế nhằm đạt đợc mục tiêucan thiệp Ngân hàng trung ơng cần thiết phải duy trì một mức nhất định về dựtrữ ngoại hối, nh vậy chi phí về quản lý tài sản sẽ lớn Tỉ giá hối đoái này cũngphụ thuộc vào chính sách tiền tệ của quốc gia khác, và đó là điều đôi khi gâybất lợi do việc gắn đồng tiền bản tệ vào một đồng ngoại tệ nào đó

Trang 6

* Tỷ giá hối đoái thả nổi:

Là tỷ giá hối đoái đợc hình thành trên cơ sở diễn biến cung cầu Có hailoại tỷ giá thả nổi là thả nổi tự do và thả nổi có quản lý Chúng ta biết rằngnền kinh tế cân bằng dài hạn là phải cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài (tức là

đầy đủ việc làm, xuất khẩu ròng bằng không và tài khoản vãng lai cân bằng)Nhu cầu nhập khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng trong nớc và tỷ giá hối đoáithực tế Nhu cầu xuất khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng ở nớc ngoài và tỉ giáhối đoái thực tế Do đó khi nền kinh tế trong nớc và nớc ngoài đều ở trong tìnhtrạng cân đối hoặc ở mức sản lợng tiềm năng,thì chỉ có một tỉ giá chính thứcduy nhất đồng thời tơng ứng với sự cân bằng bên ngoài.ở bầt kì mức tỉ giá hối

đoái nào cao hơn nền kinh tế nội địa cũng có sức cạnh tranh kém hơn Nhậpkhẩu sẽ cao hơn và xuất khẩu sẽ thấp hơn, nền kinh tế sẽ bị thâm hụt trong tàikhoản vãng lai Ngợc lại ở bất kì một mức tỷ giá hối đoái thực tế nào thấp hơnvới xuất khẩu cao hơn và nhập khâủ thấp hơn, nền kinh tế nội địa sẽ có mộtkhoản thặng d trong vãng lai Chỉ có một tỉ giá hối đoái thực tế duy nhất tơngứng với sự cân đối bên trong và bên ngoài

Khi tỷ giá thả nổi tự do, thì không có sự can thiệp nào trên thị trờngngoại hối và không có khoản chuyển nhợng ròng về tiền giữa các nớc với nhauvì cán cân thanh toán luôn bằngkhông Và về lâu dài, tỉ giá hối đoái danhnghĩa sẽ phải điều chỉnh để đạt tới mức tỉ giá hối thực tế duy nhất cần thiếtcho sự cân đối bên trong và bên ngoài trong sự cân bằng dài hạn

Ưu điểm của tỷ giá hối đoái thả nổi là nó đợc hình thành trên cơ sở cungcầu trên thị trờng Qua cơ chế thị trờng các nguồn lực đợc phân bổ một cáchthành công và có hiệu quả Cung cầu nội tệ và ngoại tệ sẽ đợc tự cân bằng trênthị trờng Ngân hành trung ơng sẽ không cần cũng nh không có phải có tráchnhiệm can thiệp vào thị trờng hối đoái mà chủ yếu thực hện theo yêu cầu củakhách hàng Nhìn chung, tình hình thị trờng trong nớc sẽ không bị ảnh hởngbởi các luồng vốn bên ngoài và vì vậy ngân hàng trung ơng có thể theo đuổichính sách tiền tệ một cách độc lập không phụ thuộc vào chính sách tiền tệcủa quốc gia khác

Tuy nhiên cơ chế này cũng có những nhợc điểm vì thị trờng luôn có rủi

ro, nhiều khi quá tải sẽ dẫn đến tỉ giá hối đoái không ở mức phù hợp với cácchỉ số kinh tế cơ bản của nền kinh tế, thậm chí tồn tại trong thời gian khá dài.Hơn nữa khuynh hớng của tỉ giá trong tơng lai sẽ không chắc chắn, điều đó sẽkhó khăn trong việc lập kế hoạch và tính toán giá cả Những biến động khôngchắc chắn của tỉ giá hối đoái có thể đợc khắc phục bằng các công cụ phòngtránh rủi ro(nh hợp đồng kỳ hạn, quyền lựa chọn) nhng sẽ gây ra thay đổi rấtlớn trong giá thành sản phẩm Mặt khác sự tự do hoạt động của chính sáchtiền tệ trong nớc có thể bị lợi dụng, chẳng hạn nh chính phủ, do không cótrách nhiệm phải ngăn chặn sự mất giá của đồng tiền, nên có thể dễ thực hiệnviệc lạm phát qua đờng ngân sách và tiền tệ

Trang 7

Nh vậy trong chừng mực nào đó có thể nói rằng tỉ giá hối đoái thả nổihay cố định cũng đều có những u điểm và hạn chế Việc lựa chọn một cơ chế

tỉ giá cố định hay thả nổi ở mức nào đó chắc chắn sẽ phụ thuộc vào từng quốcgia với những diều kiện kinh tế và thị trờng khác nhau hay nói chung là phụthuộc vào lý do riêng nhằm mục đích phát huy những điểm mạnh và khắcphục những hạn chế của mỗi cơ chế ở mỗi môi tròng kinh tế xã hội khác nhau.Những quốc gia chủ trơng thả nổi tỉ giá hối đoái cho rằng: Nếu áp dụng cơchế này, thị trờng ngoại hối có tính minh bạch cao, thị tròng hoạt động hiệuquả, và hơn nữa thị trờng phải để tự nó tự điều chỉnh Chính sách tiền tệ phải

đợc thiết lập một cách độc lập, phù hợp với tình hình kinh tế trong n ớc (nghiã

là đạt đợc sự ổn định mức giá chung của nền kinh tế), và tỉ giá hối đoái cầnphải đợc thả nổi theo bất kì hớng nào mà do thực tế đem lại mức tỉ giá hối

đoái đó

Trong khi đó , những quốc gia chủ trơng cố định tỉ giá (tức là chủ trơnggắn vào một hay một số đồng tiền chủ chốt, hoặc các đối tác kinh doanh chínhcủa nớc đó) với mục tiêu dung hoà các yếu tố chính trị, kinh tế và thơng mại.Các nhà kinh tế công nhận tầm quan trọng và lợi ích của việc gắn đồng tiềnnày trong việc thực hiện một chính sách tiền tệ chặt chẽ và tỉ giá hối đoái cố

định đợc a thích hơn bất kì một dạng thả nổi nào, vì tỉ giá hối đoái cố địnhkhông đợc coi là công cụ độc lập hữu hiệu của chính sách tiền tệ trong dàihạn Những lợi ích do tỉ giá cố định đem lại đợc coi là nhiều hơn cái giá phảitrả cho những hậu quả mà nó gây ra cho nền kinh tế

Các nhà nghiên cứu về tỉ giá hối đoái thờng tập trung vào vai trò của tỉgiá trong việc bảo đảm cho nền kinh tế một mức sản lợng kinh tế cao, trong

điều kiện có rất nhiều bất ổn, hay các cú sốc trong nớc và quốc tế tác động

đến nền kinh tế Và vì vậy, các nhà khoa học cho rằng, cơ chế tỉ giá hối đoáithả nổi có khả năng đối phó tốt nhất đối với các cú sốc trong một nền kinh tế.Vì sự thay đổi tỉ giá hối đoái sau mỗi cú sốc sẽ là cách hữu hiệu nhất nhằmkhôi phục lại mức sản lợng trở lại trạng thái cân bằng Trong khi đó các nhàkinh tế học cũng thừa nhận cơ chế tỉ giá hối đoái cố định có khả năng đối phómột cách tốt nhất với sự mất cân đối về tiền tệ của nền kinh tế, vì rằng sự tănghay giảm ra từ dự trữ ngoại hối sẽ làm giảm sự tác động của sự mất cân đốitiền tệ Tuy nhiên có ý kiến cho rằng những nớc có nền kinh tế mở cửa cao thìnên sử dụng tỷ giá hối đoái cố định, vì với cơ chế tỉ giá thả nổi thì có rất nhiều

sự biến động của tỷ giá hối đoái danh nghĩa mọt cách mạnh mẽ, tác động đếngiá thành sản phẩm, giá cả hàng hoá mạnh đến mức mà không có một sự thay

đổi nào của tỉ giá hối đoái nào có thể điêù chỉnh đợc, thậm chí chỉ `là mứcmong muốn; tuy nhiên sự mở cửa của nền kinh tế lại cần thiết phải duy trì chế

đô tỉ giá hối đoái thả nổi nhằm đảm bảo để cho chính sách tiền tệ không bị

ảnh hởng bởi các cú sốc từ bên ngoài trong chừng mực mà bản thân nền kinh

tế cần phải đối phó

Trang 8

3 Sự can thiệp của nhà nớc vào hệ thống tỉ giá hối đoái.

Hệ thống tỷ giá hối đoái do ngân hàng trung ơng trực tiếp can thiệp làcan thiệp theo trách nhiệm (trong trờng hợp tỉ giá cố định) và can thiệp tự do(áp dụng với cả tỉ giá cố định và thả nổi)

Ngân hàng trung ơng có thể sử dụng một số công cụ khác nhau để tác

động vào nền kinh tế thông qua cơ chế về tỉ giá hối đoái Công cụ thứ nhất cóthể sử dụng là lãi suất chiết khấu, việc tăng giảm lãi suất chiết khấu có thể làm

ảnh hởng đến cung cầu tiền vì thế sẽ làm ảnh hởng đến tỉ giá hối đoái Khingân hàng trung ơng tăng lãi suất chiết khấu các ngân hàng thơng mại sẽ phảităng tỉ lệ dự trữ thực tế và làm cho mức cung tiền giảm, và nh vậy sẽ tác độngtới tỉ giá hối đoái Thứ hai là ngân hàng trung ơng có thể tác động vào tỉ giáhối đoái bằng cách mua bán ngoại tệ trên thị trờng, khi mà giá của đồng nội tệgiảm so với đồng ngoại tệ ngân hàng trung ơng có thể đem ngoại tệ ra bánnhằm cứu giá trị của đồng bản tệ Ngợc lại khi giá trị của đồng tiền nớc ngoàigiảm mà muốn làm tăng tỉ trọng xuất khẩu ngân hàng trung ơng có thể làmtăng giá trị của đồng tiền nớc ngoài bằng cách mua thêm nhiều ngoại tệ trênthị trờng ngoại hối làm cho cầu ngoại tệ tăng lên thì có thể làm cho tỉ giá hối

đoái chuyển dịch

Một công cụ nữa mà ngân hàng trung ơng có thể sử dụng nữa là phá giá

đồng tiền Phá giá hay nâng giá là việc giảm bớt hay tăng lên tỉ giá hối đoái

mà đợc chính phủ cam kết ủng hộ, đây là một phơng pháp điều chỉnh tỉ giáhối đoái danh nghĩa (theo hớng làm giảm giá nội tệ so với đồng ngoại tệ) Ph-

ơng pháp này đã đợc khẳng định về mặt lý thuyết và đã đợc hầu hết các nớctrên thế giới áp dụng

Trong ngắn hạn, khi giá cả và tiền lơng điều chỉnh một cách chậm chạpviệc phá giá làm tăng giá trong nớc của hàng nhập khẩu và làm giảm giá ngoàinớc của hàng xuất nớc đó Cả hai loại tác động này đều cải tiến mức cạnhtranh quốc tế, các nguồn lực sẽ đợc thu hút vào nền kinh tế nội địa và đặc biệt

là đợc thu hút vào các ngành xuất khẩu mà giờ có thể cạnh tranh có hiệu quảhơn trên thị trờng nớc ngoài Tuy nhiên việc phá giá có thể không cải thiện đ-

ợc tài khoản vẵng lai trong thời gian trớc mắt thậm chí có thể dẫn đến thâmhụt nhng khi xét về lâu dài, khi những ngời mua và ngời bán điều chỉnh lợngxuất khẩu và nhập khẩu thì sẽ tạo ra thặng d trong tài khoản vãng lai của cáncân thanh toán

Trong dài hạn, nếu nền kinh tế không thực sự phát triển, việc phá giá sẽlàm tăng mức tiền lơng và giá danh nghĩa để cho phù hợp với mức giá nhậpkhẩu cao hơn làm cho tất cả các biến số thực tế khác không thay đổi Cuốicùng là phá giá sẽ không có tác động gì cả

Nh vậy phá giá thờng đợc các chính phủ sử dụng để điều chỉnh kinh tếtrong ngắn hạn, nhng nếu không xem xét một cách kĩ lỡng thì việc phá giá sẽ

Trang 9

gây ra những hậu quả khôn lờng Thứ nhất phá giá sẽ làm tăng lạm phát vì nólàm tăng giá vật t, thiết bị nhập,thu hẹp lãi của các doanh nghiệp sản xuất, sẽ

ảnh hởng đến nguồn thu tài chính và làm cho lạm phát sẽ khó kiểm soát hơn,

đồng thời lạm phát tăng sẽ làm tăng tỷ giá, càng phá giá càng không kiểm soátnổi tiền tệ Thứ hai là phá giá sẽ dẫn đến tăng giá hàng nhập, hạn chế tốc độphát triển kinh tế, tăng tỉ lệ thất nghiệp Mặt khác khi nội tệ giảm giá sẽ làmcho nhiều chủ đầu t dịch chuyển tài sản từ nội tệ sang đồng ngoại tệ, lúc nàycầu về ngoại tệ tăng cũng có nghĩa là giá nội tệ ngày càng giảm Để cân bằnglại và kiềm chế lạm phát thì chính phủ phải tăng lãi suất tiền gửi nội tệ, tức làlãi suất tín dụng cho sản xuất tăng, hạn chế tốc độ tăng trởng, lạm phát tăng,tất cả các tình hình trên tác động xấu đến xuấtt khẩu

Một số nớc thực hiện phá giá vã đã thất bại nh Mê-xi-cô là một điển hình: Năm1976, tỷ giá tăng từ 12,5 Peso /1USD tới 22 Peso /1 USD, song do tỉ lệlạm phát khá cao nên nhập khẩu gia tăng đáng kể, làm cho tỉ giá thực giảm,

do vậy cán cân thơng mại vẫn bị thâm hụt.Đến năm 1982, Me–xi–cô gặpkhó khăn trong thanh toán nợ, thâm hụt tài chính là 15 % GDP, lạm phát lêntới 59 % Khi đó chính phủ lại quyết định phá giá một lần nữa, nhng kết quả là

tỉ giá hối đoái thực giảm xuống,cán cân thơng mại xấu đi và sau đó một thoàigian việc phá giá đồng bản tệ từ 3283 Pêso /1 USD lên 7200 Pêsô /1 USD đãlàm cho cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính càng trở nên trầm trọng (hàngchục tỉ đôla chạy ra nớc ngoài, gánh nặng nợ nớc ngoài tăng 57 %, chỉnh phủphải vay 20 tỉ đôla để hỗ trợ kinh tế trong điều kiện bất lợi ).Nguyên nhân là

do việc phá giá diễn ra trong lúc lạm phát đang ở mức rất cao, thâm hụt thơngmại rất lớn và nguồn vốn nớc ngoài giảm mạnh

Nếu quốc gia thực hiện việc phá giá vào thời điểm tỉ giá hối đoái thực

đang trong tình trạng nội tệ bị đánh giá quá cao, thì việc phá giá sẽ có hiệuquả trong việc lấy lại mức cân bằng tỉ giá hối đoái Và nếu việc phá giá này đikèm với những chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp, thì sẽ gây đợc hiệu ứng tíchcực trung hạn hay dài hạn đối với tỉ giá hối đoái thực Do vậy việc phá giádanh nghĩa làm cho E tăng trong tỉ giá hối đoái thực nhằm cố gắng loại bỏtình trạng mất cân bằng thông qua hình thức tạo ra sự giảm giá trong thực tế,nhng phải không có bất kì mức tăng tơng ứng nào của giá Mức tăng này cóthể phát sinh từ các chính sách mở rộng tín dụng, các chính sách tài khoá mởrộng, tiền lơng Nếu việc phá giá danh nghĩa đợc thực hiện đồng thời với cácchính sách thắt chặt tiền tệ và tài chính không đi đôi với chỉ số tiền lơng thìchắc chắn sẽ đạt đợc sự giảm giá trên thực tế và khiến cho tỉ giá hối đoái thựctrở về mức cân bằng

Nh vậy không phải phá giá cũng mang lại kết quả nh ý muốn có khikhông đẩy mạnh đợc xuất khẩu mà lại gây ra hiệu quả khó lờng Mặt khác,xuất khẩu tăng hay giảm không chỉ phụ thuộc vào tỉ giá mà còn phụ thuộc vàonhiều nhân tố khác, ví dụ nh đồng YEN tăng giá liên tục so với đồng USD

Trang 10

trong mấy thập kỉ qua nhng hàng hoá của Nhật vẫn tiệp tục cạnh tranh trên thịtrờng quốc tế và cả thị trờng Mĩ là bởi vì hàng hoá của Nhật có chất lợng cao

và giá thành thấp

Về nguyên tắc, cũng có một số phơng pháp khác có thể sử dụng thay thếcho biện pháp phá giá đồng tiền, mặc dù không phải lúc nào cũng đạt đợc mọikết quả mong muốn Các biện pháp đó là đánh thuế nhập khẩu đồng thời với

hỗ trợ xuất khẩu; duy trì chế nhiều tỉ giá hối đoái danh nghĩa và các chínhsách về thu nhập

Trang 11

Chơng II

Hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

I Sơ lợc về hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam từ năm

1955 đến nay.

Trong giai đoạn từ năm 1955 đến 1989, mặc dù nhiều nớc trên thế giới

đang áp dụng cơ chế thả nổi và thả nổi có quản lý, nhng các nớc xã hội chủnghĩa, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nớc luôn can thiệp mạnh vàomọi mặt hoạt động kinh tế, thì quả thực cơ chế hối đoái thả nổi không thể tồntại, và phát huy tác dụng, thay vào đó là tỉ giá cố định, Việt Nam cũng khôngnằm ngoài khuôn khổ đó Tỉ giá chính thức của VND đợc công bố vào ngày

25 / 11 / 1955, là tỷ giá giữa VND và đồng nhân dân tệ trung quốc là 1NDT

=1470 VND và giữa đồng Việt Nam với đồng Liên Xô là 1 Rúp bằng 735

đồng Việt Nam Tỷ giá này đợc xác định bằng cách so sánh giá bán lẻ của 34mặt hàng tiêu dùng tại thủ đô và một số tỉnh khác giữa hai nớc nhằm giả quyếtnhu cầu thanh toán giữa hai nớc trong những năm kháng chiến chống Pháp.Sau đó các tỷ giá giữa đồng Việt Nam với các nớc khác đợc thiết lập dựa trên

tỷ giá đó Bên cạnh tỷ giá chính thức (tỷ giá mậu dịch), nhà nớc còn đa ra hailoại tỷ giá khác là tỷ giá phi mậu dịch và tỉ giá kết toán nội bộ (tỷ giá giữa các

đơn vị có thu chi ngoại tệ với ngân hàng ngoại thơng) Nh vậy hệ thống tỉ giá

ở Việt Nam trong giai đoạn này là chế độ đa tỷ giá, tỷ giá đợc xác định trên ý

đồ phục vụ kế hoạch của nhà nớc, các quyết định này không xuất phát từ nhucầu thực tại của nền kinh tế thị trờng trong và ngoài nớc, tỷ giá giữ vai trò thụ

động, cha phải là công cụ điều chỉnh kinh tế vĩ mô thực sự Chính vì vậy, hệthống tỷ giá này đã gây không ít khó khăn cho việc quản lý đều hành của nhànớc trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, kinh tế đối ngoại, đồng thời để lại hậu quảnghiêm trọng cho nền kinh tế Sở dĩ có tình trạng nh vậy là vì một số nguyênnhân, thứ nhất là do việc sử dụng tỷ giá kết toán nội bộ trong quản lý ngânsách nhà nớc làm cho việc tính toán và thu chi ngân sách bị sai lệch nghiêmtrọng, công tác điều hành ngân sách nhà nớc khó khăn, làm giảm hiệu quảhoạt động của ngân sách nhà nớc Từ năm 1970 đến 1980 hàng năm Liên Xôviện trợ cho nớc ta khoảng 15 % thu nhập của cả nớc, bình quân từ 1,2 đến 1,5

tỉ rúp trong 1 năm nếu tính theo tỉ giá kết toán nội bộ thì số viện trợ này khoảng1/3 tổng thu ngân sách, nhng nếu tính sức mua trên thị trờng của đồng rúp thì tỉtrọng này vào khoảng 60–70 % Vì vậy nhu cầu đổi mới cơ chế tỉ giá nóiriêng,đổi mới lĩnh vực tài chính tiền tệ nói chung, trở thành vấn đề cấp bách vìnếu để tỉ giá cũ làm cho việc bù lỗ nhập khẩu vợt mức chịu đựng của ngân sáchnhà nớc, thủ tiêu động lực xuất khẩu

Sau đại hội toàn quốc lần thứ VI, nhà nớc bắt đầu thực hiện công cuộc

đổi mới nền kinh tế, từng bớc xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, chuyển

Trang 12

dần sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc Đây là thời kì có sựchuyển biến mạnh mẽ trong t duy quản lý và diều hành kinh tế của nhà nớc,nhất là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ.

Tỷ giá hối đoái, khâu đột phá có vai trò cực kì quan trọng trong cải cách

đợc đặc biệt quan tâm Tháng 3/1989 Nhà nớc chính công bố xoá bỏ tỉ giá kếttoán nội bộ, xoá bỏ mội chế độ trợ giá cho các hoạt động ngoại th ơng Tỷ giáchính thức đuợc Ngân hàng nhà nớc chính thức công bố căn cứ vào chỉ số lạmphát, lãi suất trên thị trờng, cán cân thanh toán, tham khảo diễn biến giá trênthị trờng tự do và giá vàng trên thị trờng quốc tế và trong nớc Trên cơ sở tỉ giánày, các ngân hàng thơng mại xây dựng cho mình một tỉ giá dùng để giao dịchhàng ngày với biên độ giao động cho phép Nhìn chung những giải pháp trên

đã góp phần cải thiện phần nào tình hình trên thị trờng ngoại hối, xoá bỏ tìnhtrạng bất hợp lý trong mua bán thanh toán, đặc biệt trong lĩnh vực nhập khẩu.Sau năm 1990, tuy đã có những cải cách nhất định về mặt tỷ giá nhng tỷgiá vẫn có những biến động mạnh mà điển hình là cơn sốc tỷ giá vào năm

1991, đồng Việt Nam bị mất giá 60 % so với đôla Mĩ Nguyên nhân chính là

do ảnh hởng của tình hình cán cân thanh toán quốc tế, sự thâm hụt tài chínhcủa chính phủ và mức độ lạm phát nặng nề ở Việt Nam chính vì vậy vào cuốinăm 1991 đầu năm 1992 chính phủ đã can thiệp để nâng giá đồng Việt Namtrên thị trờng ngoại tệ Sự can thiệp này có mục đích chống lạm phát bằngcách giữ cho hàng nhập khẩu đợc ổn định vì từ năm 1990 trở lại đây, ViệtNam đã nhập khẩu một số lợng lớn lợng nguyên, nhiên vật liệu để đáp ứng nhucầu phát triển và mở rộng sản xuất trong nớc, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm củanông nghiệp Nếu để giá của đồng nội tệ tiếp tục giảm tất yếu sẽ làm cho giáthành sảm phẩm sản xuất trong nớc tăng bởi vì các yếu tố đầu vào đã tăng Trong

điều kiện nền kinh tế có nhiều nhân tố gây bất ổn địnhkhác thì việc giá thànhhàng hoá nhập khẩu tăng cao sẽ là nhân tố kích thích lạm phát

Cuối năm 1992, nguồn ngoại tệ do ngoại kiều gửi về Việt Nam khá lớnlàm tăng cung về ngoại tệ, mặt khác ngân hàng nhà nớc kiên trì quan điểm ổn

định tỉ giá bằng cách can thiệp vào thị trờng ngoại tệ, nhu cầu về ngoại tệ củacác doanh nghiệp cơ bản đợc đáp ứng, lạm phát gần nh đợc chặn lại, tạo lòngtin cho dân chúng và sự ổn định của đồng tiền Việt Nam, giải toả đợc tâm lý

đầu cơ đó là những nguyên nhân cơ bản nhất khiến cho xu hớng lên giá của

đồng Đô la sẽ bị chặn lại, tỉ giá VND/USD không những không tăng mà còngiảm xuống Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại trong viêc điều chỉnh này về tỷgiá hối đoái quá mạnh đã gây sức rất ép lớn đối với sản xuất công nghiệp vànông nghiệp Trung Quốc là một bạn hàng quan trọng của Việt Nam và là mộtthị trờng vừa lớn lại vừa gần Tỉ giá hối đoái do thị trờng quy định của TrungQuốc đã bị phá giá mạnh kể từ giữa năm 1991, biến động khoảng từ 6-8NDT / 1 đô la và có thời gian ngắn lên 10 NDT

Ngày đăng: 19/02/2014, 09:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w