Cuộc khủng hoảng này đã gây ra nhữngbiến động trong nội các chính phủ một số nước và đe doạ sự ổn định củanhững nước láng giềng khác trong khu vực.Việt nam là một nước trong khu vực do v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI
ĐỀ ÁN
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS NGUYÊN DUY BỘT
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN ĐĂNG LÂM
Lớp :
HÀ NỘI - 2001 LỜI NÓI ĐẦU
Trang 2Vào thời điểm phần lớn các nước trên thế giới đang chuẩn bị hànhtrang bước vào thế kỷ XXI Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Áxảy ra là một cú xốc lớn làm đảo lộn tình hình chung ở một số nước về cácmặt kinh tế chính trị và xã hội Cuộc khủng hoảng này đã gây ra nhữngbiến động trong nội các chính phủ một số nước và đe doạ sự ổn định củanhững nước láng giềng khác trong khu vực.
Việt nam là một nước trong khu vực do vậy không thể tránh khỏi cơnlốc xoáy của cuộc khủng hoảng, ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực kinh tế
- xã hội đã làm chững lại công cuộc đổi mới và phát triển đất nước
Tuy vậy nếu so với các nước trong khu vực chúng ta ít bị ảnh hưởnghơn so với họ vì thị trường tài chính Việt Nam chưa phát triển, khi xảy rakhủng hoảng chúng ta chưa có thị trường chứng khoán Các luồng vốn đầu
tư vào Việt Nam có độ an toàn cao hơn do chủ yếu là FDI và ODA
Cuộc khủng hoảng đã đi qua được gần 4 năm nhưng nó còn để lại chođất nước những thách thức cam go, vấn đề đặt ra là tự do hoá thương mại
và toàn cầu hoá là điều tất yếu xảy ra, nhưng khi đã tham gia vào toàn cầuhoá ảnh hưởng của khủng hoảng dây chuyền sẽ không loại trừ một nướcnào nhưng mức độ ảnh hưởng còn tuỳ thuộc vào các nước, các chính sáchkinh tế của từng nước
Với mục tiêu phát triển thương mại Việt Nam hội nhập với nền kinh tếkhu vực và thế giới tăng nhanh tốc độ công nghiệp hoá hiện đại hoá ổnđịnh bền vững kinh tế và tăng trưởng tốc độ cao, chúng ta cần có những đốisách chiến lược phù hợp án dụng cho nền kinh tế cũng như những biệnpháp phòng chống khủng hoảng một khi nó xảy ra
Do vấn đề này còn quá mới mẻ đối với nước ta và khối lượng kiếnthức còn hạn hẹp trong bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót Emmong nhận được những nhận xét và góp ý của thầy để hoàn thành bài viếttốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn.
Trang 3CHƯƠNG I
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHÂU Á
I- DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á
Sau một vài năm ủ bệnh các vấn đề kinh tế ở một số nước Châu Á.Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á đã bùng nổ vào ngày 2/7/1997 ở TháiLan Sau đó lan rộng nhanh chóng sang các nước ở Đông Nam Á và ởĐông Bắc Á Ở Thái Lan hiện tượng này xuất hiện vì hai lý do sau:
Thứ nhất Thái Lan là một trong những nền kinh tế điển hình trong vàithập kỷ qua của Châu á có dòng vốn đầu tư ra nước ngoài quá lớn (lên tới40%) Thứ hai đồng tiền lưu hành của Thái Lan đồng bạt trong nhiều năm
đã gắn chặt với đồng đô la Mỹ theo tỷ giá hối đoái chính thức 25 bạt = 1 đô
la, đã bị giảm giá dưới áp lực quốc tế tai hại bởi những nhà đầu cơ, nhữngông chủ ngân hàng, những quĩ công ty và những nhà quản lý quĩ tương trợ
Kể từ đó đồng bạt cứ được giảm dần so với đồng đô la đến giữa tháng12/1997 tỷ giá hối đoái giữa đồng bạt và đô là 42bạt/1đô la, đầu tháng1/1998 nó giao động mức 5472 bạt/1đô la Hai biến cố này đã bắt đầu hànghoạt những biến động kinh tế , chính trị, xã hội của nước này Đầu tiên làviệc đóng cửa của 1/3 cơ quan ngân hàng tài chính trong nước và sau đó là
sự yêucầu và thông qua sự trợ giúp hệ thống tài chính Thái Lan 17 tỷ đô la
do quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) tổ chức, sự đóng góp của một số quốc gia kháctrong đó có Úc 1 tỷ đô la
Những biến cố này dã dẫn đến sự thay đổi trong chính phủ Thái Lan.Những diễn biến ở Thái Lan chỉ là cái đầu tiên trong những biến cốbất lợi quan trọng trong hệ thống tài chính Châu Á đến hết năm 1997 vàtiếp tục biến động trong năm 1998 Maylaysia là nước thứ 2 ở Châu Á.Cuối năm 1997 chịu sự tấn công vào đồng tiền (đồng Ringgit) trên thịtrường tài chính quốc tế Điều này đã dẫn đến sự mát giá của đồng Ringgithơn 30% (488 Ringgit/1đô la đầu năm 1998) và sự phản đối của chính phủMalaysia về khả năng âm mức quốc tế của những kẻ đầu cơ tiền tệ nhằmgây hại cho nền kinh tế và sự tăng trưởng Tiếp đó lại là cuộc khủng hoảng
Trang 4trầm trọng hơn đã xảy ra trong hệ thống ngân hàng của Inđônêxia ĐồngRupi của Inđônêxia mất giá xuóng mức khoảng 10.000 đến 10.700 Rupi/1
đô la Mỹ (đầu tháng 1/1998) mặc dù đã có sự trợ giúp 38 tỷ đô la của IMF
và việc phải đóng cửa một số ngân hàng trong nước Tình hình đang xấu đicủa Inđônêxia lại tăng lên gấp bội khi cháy rừng xảy ra, gây ra vấn đề môitrường nghiêm trọng trong vài tháng cho chính Inđônêxia và các quốc gialáng giềng ở Đông Nam á
Hàn Quốc là nước thứ 4 ở Châu á phải gánh chịu cuộc khủng hoảng(tháng 12/1997) đồng tiền mất giá lớn nhưng được sự trợ giúp lớn nhất củaIMF (57 tỷ đô la Mỹ) Đầu tháng 1/1998 đồng Pêsô (PS) của Philipin đãgiảm 46,5 PS/1 đô la Mỹ Hồng Kông và Việt Nam cũng phải chịu ảnhhưởng lan toả của cuộc khủng hoảng Hồng Kông giảm giá trị tiền tệ 33%
và Việt Nam 20%
Cuộc khủng hoảng này cũng đã ảnh hưởng đến các quốc gia khác nhưTrung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Bắc Mỹ và liên minh Châu Âu Tácđộng của chính khủng hoảng tài chính Châu Á lúc đầu chỉ ở khu vực sau đó
đã lan rộng ra toàn cầu với những hậu quả tai hại ảnh hưởng tới tăng trưởngkinh tế, việc làm, thương mại ở những nước đang phát triển
II- NGUYÊN NHÂN CUỘC KHỦNG HOẢNG
Do mối đe dọa của chính sách tiền tệ chặt chẽ của Nhật Bản với tỷ lệlãi suất cao hơn, bắt nguồn trong tháng 5/1997 từ khi các tổ chức tiền tệ củaNhật Bản biết rằng đồng Yên Nhật đang mất gái đang đe doạ vị trí kinh tếcủa Nhật Bản và giải pháp đơn giản và hiển nhiên trong thực hiện chínhsách tiền tệ là nâng cao mức lãi suất Do vậy những nhà đầu tư quốc tế đểđảm bảo sự an toàn khả năng đầu tư Họ đã bán đồng tiền Đông Nam Á vàchuyển danh mục đầu tư từ nước này sang Nhật Bản hay nơi khác Sựchuyển hướng đầu tư của họ đã làm cho các công ty nước ngoài lớn trongkhu vực cũng trở nên hoang mang và vội vã chuyển thu nhập bằng nội tệsang đô la Mỹ Cũng thời gian này các công ty địa phương cũng đổ xô tớiđổi những đồng tiền ổn định hơn như đồng Yên Nhật, đô la Mỹ Trong tìnhhình như vậy đồng bạt Thái Lan, Ringgit Malaysia, Rupi Inđônêxia vàđồng uôn Hàn Quốc bị dư cung thiếu cầu dẫn đến giảm giá trị nội tệ, thị
Trang 5trường trong nước kém hấp dẫn và sự sụp đổ của thị trường chứng khoán làđiều tất nhiên.
Mặt khác, do sự tăng đột ngột đã được tính trước tỷ lệ lãi suất, đầutiên là Canađa để làm dịu nền kinh tế nóng bỏng của mình (1/10/1997) sau
đó là nhóm 67 các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD.Tốc độ tăng trưởng của Mỹ cũng khong giữ vững nổi do vậy cũng tăng tỷ
lệ lãi suất rồi đến Đức và một số nước Châu Âu cũng làm theo Sự thựcviệc tăng tỷ lệ lãi suất của Mỹ là một đòn mạnh nhấn chìm đồng tiền Châu
Á … Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng là do cách điều hành củachính phủ các nước Châu Á vì lý do chính trị hơn là kinh tế, đã hướng đầu
tư sang lĩnh vực ưu tiên và cả đầu tư nước ngoài vào trong nước cũng tậptrung đầu tư theo khuynh hướng công nghiệp theo yêu cầu của chính phủ,thậm chí ở những ngành không có tiềm năng kinh tế cho việc tập trung đầu
tư hay không mang lại lợi tức cho việc đầu tư Ở Thái Lan đầu tư nướcngoài vào lĩnh vực kinh tế tư nhân chiếm một tỷ trọng khá lớn nhưng cácdoanh nghiệp tư nhân trong nước lại chuyển số vốn đó ra đầu tư ở nướcngoài một cách ồ ạt khiến chính phủ không kiểm soát được Điều này đãdẫn đến hiện tượng nợ nước ngoài của Thái Lan chủ yếu rơi vào doanhnghiệp tư nhân Một nguyên nhân nữa là do chính sách tỷ giá cố định trựctiếp hoặc gián tiếp mà các tổ chức tiền tệ ở Châu Á đều áp dụng là thắt chặthoặc cố định đồng tiền của họ với sự chuyển động của đô la Mỹ Việc làmnày dẫn đến việc nhiều công ty có rủi ro lớn về tiền tệ ở Châu Á mà không
lo ngại gì về chúng Họ từ chối mục bảo hiểm qua việc mua cổ phiếu giá trịđầu tư phòng trường hợp hối đoái giảm Thực tế ở những nước này phí bảohiểm rất cao và rất tốn Khi tỷ giá biến động đôi chút thay vì tin vào sự ổnđịnh của đồng tiền họ lại đổ xô đi mua ngoại tệ làm cho tình hình tài chínhcủa Đông Nam Á trở nên kém hấp dẫn hơn Bên cạnh đó những nhà đầu cơcũng đóng vai trò lớn trong cuộc khủng hoảng Họ vay một số lượng tiềntrong nước và đổi sang một loại tiền mạnh hơn, mạo hiểm đánh cuộc rằngđồng tiền địa phương sẽ giảm giá trị và như vậy họ sẽ mua lại với mức giá
rẻ lợi nhuận thu được theo chênh lệch giá Việc đầu cơ này có sự tham giacủa một số chủ ngân hàng làm cho cuộc khủng hoảng càng lan toả rộng
Trang 6Cuộc khủng hoảng đã làm phơi bày mặt trái của một vài thập kỷ tăngtrưởng kinh tế vượt bật ở Châu Á và những khó khăn mà các nước Đông áphải đối mặt về cơ bản phát sinh vì sự yếu kém trong hệ thống tài chính vàtrong sự quản lý Sự kết hợp của quá trình giám sát lĩnh vực tài chínhkhông đầy đủ, sự đánh giá và quản lý rủi ro tài chính yếu kém, sự duy trì tỷgiá hối đoái tương đối cố định khiến cho các ngân hàng và các công ty phảivay vốn một lượng lớn vốn quốc tế, phần lớn trong số đó là ngắn hạn bằngngoại tệ và không được bảo hiểm Theo năm tháng lượng vốn nước ngoàinày có xu hướng được sử dụng để tài trợ cho những khoản đầu tư chấtlượng kém hơn.
Mặc dù chi tiêu của lĩnh vực tư nhân và các quyết định tài trợ đã dẫnđến cuộc khủng hoảng nhưng các vấn đề về quản lý lại làm nó trầm trọnghơn, rõ ràng nhất là sự tham gia của chính phủ vào lĩnh vực tư nhân vàthiếu sự minh bạch trong hạch toán của các công ty về tài chính cũng nhưviệc cung cấp các dữ liệu tài chính và kinh tế Những diễn biến trong cácnền kinh tế phát triển như sự tăng trưởng yếu kém ở Châu âu và Nhật Bảnvốn đã gây ra sự thiếu vắng các cơ hội đầu tư hấp dẫn và khiến lãi suất ởnhững nền kinh tế này giữ ở mức thấp nhất, cũng góp phần gây nên cuộckhủng hoảng
Sau khi cuộc khủng hoảng nổ ra ở Thái Lan với hàng loạt các cú tấncông có tính chất đầu tư vào đồng bạt, sự lây nhiễm đã truyền đến các nềnkinh tế khác trong khu vực, gây áp lực đối với tỷ giá hối đoái ở các thịtrường mới nổi lên bên ngoài khu vực và đe doạ tỷ lệ tăng trưởng của thếgiới
III- TÍNH CHẤT CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG.
Cuộc khủng hoảng được đặc trưng bởi 3 tính chất sau:
Thứ nhất, giống như những cuộc khủng hoảng những năm 80 tại Mỹ
la tinh, khủng hoảng ở Mêhicô năm 1994, về thực chất cuộc khủng hoảngChâu Á là một cuộc khủng hoảng mang tính cơ cấu với sắc thái tài chínhtiền tệ rất đậm nét, chứ không phải là khủng hoảng chu kỳ hay sự đổ vỡmột mô hình phát triển nào Cuộc khủng hoảng khởi phát từ lĩnh vực tàichính tiền tệ và được khắc phục chủ yếu nhờ những giải pháp nhằm làm
Trang 7lành mạnh hoá và hoàn thiện hệ thống tài chính tiền tệ của mỗi khu vực,nhất là bảo đảm sự cân đối cơ cấu vốn huy động, cơ cấu đầu tư, cơ cấu sảnxuất, xuất khẩu v.v…
Thứ hai, cuộc khủng hoảng mang tính Quốc tế sâu sắc cả về những
nguyên nhân, các tác động lan truyền lẫn những nỗ lực nhằm vượt quakhủng hoảng Tính chất quốc tế còn thể hiện ở những thông điệp - cảnh báochung mà nó đưa ra cho các nước đang phát triển về chính sách tài chínhtiền tệ trong quá trình công nghiệp hoá và phát triển đất nước
Thứ ba, cuộc khuảng hoảng diễn ra theo tính chất làn sóng, lan toả
từng đợt đuổi bắt nhau, định chế lẫn nhau như "Hiệu ứng Đôminô" và bắtđầu tư những chấn động tại các nước "Trung tâm nhạy cảm" không cố định
ở khu vực Bùng nổ từ cú "sốc tỷ giá" ngày 2/7/1997 tại Thái Lan, quaPhilipine rồi Indonesia, sang Hàn Quốc và Nhật Bản, xu hướng chuyểndịch các trung tâm khủng hoảng này sau càng phát tán những mầm mốnglây nhiễm rộng và sâu hơn, đe doạ kéo theo những tổn thất và đòi hỏinhững phối hợp quốc tế rộng lớn và mạnh mẽ hơn, tốn kém hơn với thờigian khắc phục dài hơn Điều này cho thấy sự gia tăng ngày càng cao vềmức độ tương tác lẫn nhau và ý nghĩa của các sự kiện, các vấn đề kinh tếcủa mỗi nước tuỳ thuộc vào vị thế của chúng trong bối cảnh khi nền kinh tếthế giới đang vận động theo định hướng tự do hoá và toàn cầu hoá
IV- NHỮNG TÁC ĐỘNG HAI MẶT CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG.
Mỗi nước và khu vực, tuỳ theo thực tế của mình, cảm nhận những tácđộng của cuộc khủng hoảng ở mức độ khác nhau Song nhìn chung có thểphân biệt các tác động ấy theo 2 hướng: các tác động tiêu cực và các tácđộng tích cực
1 Các tác động tiêu cực.
Hậu quả tiêu cực mà cuộc khủng hoảng gây ra là rõ ràng, toàn diện vàhết sức nặng nề cho mỗi quốc gia bị khủng hoảng, cho khu vực và cho cảthế giới
- Trước hết, hậu quả dễ nhận thaýa nhất và phổ biến nhất trong toànkhu vực tại các trung tâm khủng hoảng, chính là sự mất ổn định của đồng
Trang 8tiền và của các thị trường tiền tệ của mỗi nước và khu vực: là sự giảm sútcác luồng vốn nước ngoài đổ vào mỗi nước và toàn khu vực; là sự giảm sútngay cả đầu tư trong nước do lãi suất cao và yếu tố lòng tin; từ đó, làmgiảm sút tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước này và toàn khu vực, toàn thếgiới nói chung đi đôi với gia tăng tình trạng thất nghiệp và lạm phát cao;cũng như làm tăng nợ nước ngoài bằng ngoại tệ do sự mất giá của đồng bản
tệ và do phải thu hút thêm các khoản tín dụng quốc tế mới để vượt quakhủng hoảng
- Cuộc khủng hoảng cũng đánh dấu sự kết thúc một giai đoạn tăngtrưởng kinh tế nhanh, kéo dài hàng thập kỷ và dựa chủ yếu vào các nguồnvốn nước ngoài của các nước đang phát triển khu vực, để chuyển sang mộtgiai đoạn mới đặc trưng bởi nhịp độ tăng trưởng ôn hoà hơn, thận trọnghơn và dựa vào sức mình nhiều hơn Nhịp độ tăng trưởng trung bình năm
1998 của toàn khu vực giảm đi khoảng 2-3% so với năm 1997 Trong đó, 3nước Thái Lan, Indonesia va Malaixia tăng trưonửg âm; Nhật Bản sẽ cómức tăng trưởng bằng 0 do khủng hoảng ở Châu Á tăng trưởng của Mỹgiảm từ 0,5-1% trong năm nay, EU giảm 0,3%, Mỹ la tinh giảm 1,5%, còntốc độ tăng của thương mại toàn cầu cũng giảm đi từ 2-3% so với năm1997
- Cuộc khủng hoảng đã gây thiệt hại cho các nước Châu Á ít nhất 300
tỷ USD, bằng khoảng 20% GDP của các nước bị khủng hoảng và làm thiệthại chung cho toàn thế giới khoảng 500 tỷ USD Có tới trên 150 tỷ USDđầu tư tài chính đã rút khỏi Đông Nam Á Các nhà đầu tư nước ngoài giảmsút niềm tin, FDI đổ vào Châu Á bị sụt giảm mạnh và tiếp tục ở mức thấptrong một số năm tới Hiệu quả của cuộc khủng hoảng lòng tin cũng sẽkhiến cho các nhà đầu tư nước ngoài rụt rè, thận trọng hơn khi đầu tư vàocác nơi khác
- Sự phát giá bản tệ đã làm tăng các chi phí dịch vụ nợ và chất thêmgắng nặng nợ nần lên vai các côgn ty - con nợ, làm tăng tình trạng mất khảnăng thanh toán, phá sản của chúng nhất là đối với các công ty phục vụ thịtrường trong nước, nhu cầu giảm sút nhanh chóng Ở Indonesia, do phá giátiền tệ, tỷ lệ nợ ngân hàng nước ngoài/GDP đã nhảy từ 35% lên 140 Hầu
Trang 9hết các ngân hàng và công ty của Indonesia hiện nay đã được coi là lại phásản Phá giá bản tệ ở những nước có tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu cao (nhưThái Lan lên tới 42% giá trị sản phẩm xuất khẩu), làm gia tăng chi phí nhậpkhẩu đẩy giá thành lên cao, giảm giá cạnh tranh của sản phẩm trên thịtrường Điều cũng không thể tránh khỏi là tình hình bong bóng bất độngsản vỡ tung, các ngân hàng rơi vào tình trạng gánh chịu một đống nợ khóđòi hoặc gìn giữ bất đắc dĩ một lượng tài sanr thế chấp ngày càng mất giá
và khó bán Vì lo sợ về tình trạng mất khả năng thanh toán của các con nợ,các chủ nợ và các chủ đầu tư nước ngoài thít chặt hầu bao, dự trữ ngoại hốiquốc gia ngày càng giảm và IMF trở thành cải cọc đỡ chủ yếu nhất để nềnkinh tế các nước khủng hoảng khỏi bị chìm…
- Cũng cần chỉ ra rằng, khủng hoảng không chỉ làm tăng nhanh chónglượng người thất nghiệp ở các nước khu vực (chẳng hạn, sẽ tăng gấp đôitrong năm 1998 so với năm 1997 ở Thái Lan, Hàn Quốc và Indonesia…)
mà còn ở các nước bạn hàng của họ do sự thu hẹp qui mô nhập khẩu vìkhủng hoảng
Lạm phát gia tăng sẽ làm giảm mức sống thực tế của người làm công
ăn lương, những căng thẳng và bất ổn định xã hội cũng vì thế mà tăng lê
2 Các tác động tích cực.
"Trong cái rủi có cái may", cuộc khủng hoảng không chỉ hoàn toàngây tác hại cho các nước khu vực Theo tạp chí FEER 26/3/1988, Tổngthống Hàn Quốc, ông Kim Dae Jung khẳng định.: "Tôi muốn biến cuộckhủng hoảng này thành một cơ hội để cải biến nền kinh tế nước tôi, đưa nólên trình độ của thế giới" Những tác động tích cực của cuộc khủng hoảng
có thể qui tụ ở những khía cạnh sau;
Thứ nhất, việc chuyển sang chính sách tỷ giá linh hoạt sẽ giúp các
chính phủ giảm thiểu được lượng ngoại tệ can thiệp để giữ giá bản tệ nhưtrước đó, giúp tăng dự trữ quốc gia và về lâu dài, với đồng bản tệ rẻ sẽkhuyến khích và tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu, từ đó cải thiện nhữngcân đối tài chính của đất nước
Trang 10Thứ hai, nhiều nước (Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Philipin…) sẽ
nhận được lượng tín dụng quốc tế chính thức với khối lượng lớn để phục
vụ các mục tiêu cải cách và phát triển kinh tế (mặc dù với lãi suất khá cao
và kèm theo những điều kiện ngặt nghèo bắt buộc khác) Cuộc khủnghoảng cũng giúp định hướng lại và cải thiện cơ cấu đầu tư, lành mạnh hoáhơn nền tài chính quốc gia Các khoản chi kém hiệu quả bị điều chình, cắtgiảm: các dự án tư nhân được khuyến khích, quá trình tư nhân hoá, giảmthiểu khu vực Nhà nước, giảm bớt sự độc quyền, sự can thiệp và bao cấpcủa chính phủ trong khu vực kinh doanh được xúc tiến tích cực hơn, kiênquyết hơn, rộng khắp hơn Có thể nói, cuộc khủng hoảng như một cú
"động" mạnh để xốc lại cơ cấu kinh tế cho cân bằng, hợp lý và hiệu quảhơn; tạo ra sức ép buộc các chủ đầu tư - kinh doanh phải thay đổi thích ứngvới tình hình mới, thúc đẩy xuất hiện những sp chủ lực có sức cạnh tranhxuất khẩu cao hơn Toàn bộ nền kinh tế (cả quốc gia lẫn khu vực), sau khivượt qua giai đoạn khó khăn nhất của khủng hoảng, có định hướng thịtrường nhiều hơn, đầy đủ, sâu sắc và hoàn thiện hơn, do đó có hiệu quả vàsức cạnh tranh cao hơn
Thứ ba, cuộc khủng hoảng ít nhiều góp phần và là dịp để chính phủ
và nhân dân mỗi nước khu vực cũng như các tổ chức tài chính tiền tệ quốc
tế "xem lại mình", bổ khuyết những thiếu sót cả về chính sách, thể chế lẫn
về những nhân tố con người… từ đó tạo ra những xung lực tích cực mớicho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững cả ở cấp quốc gia, khu vực vàquốc tế với tư cách là một chính thể hữu cơ Quá trình tự do hoá và toàncầu hoá sẽ được đẩy lên một nấc mới, một phần nhờ các chương trình điềuchỉnh kinh tế rộng rãi theo hướng này ở các nước khu vực "uống thuốc củaIMF"; một phần nhờ sự chuẩn bị chu đáo hơn, thận trọng hơn, và thích hợphơn của mỗi nước; phần nữa nhờ xuất hiện những cơ chế thúc đẩy và giámsát mới mang tính khu vực như là sự bổ sung chức năng của IMF và các tổchức tài chính tiền tệ quốc tế và khu vực, đồng thời là kết quả của sự hợptác giữa các nước khu vực trong nỗ lực vượt qua khủng hoảng
Ngoài ra, tác động của cuộc khủng hoảng còn thể hiện trong cả việclàm chuyển dịch nhất định vai trò và vị thế kinh tế - chính trị truyền thống
Trang 11của các cường quốc tại khu vực như Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Châu Âucũng như bản thân các nước ASEAN với tư cách một cộng đồng.
Trang 12CHƯƠNG II
ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Là một quốc gia nằm trong khu vực khủng hoảng lại trong bối cảnhquốc tế hoá cao như hiện nay, rõ ràng Việt Nam không thể tránh khỏinhững tác động trực tiếp và gián tiếp, ngắn hạn và dài hạn, tốt và xấu của
nó đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước
Trước hết cần nhận thấy có hai điểm khác biệt chủ chốt ảnh hưởngđến mức độ và phương thức tác động của khủng hoảng đối với Việt Nam:thứ nhất, các thị trường tài chính Việt Nam vừa chưa phát triển vừa kémhoà nhập với các thị trường khu vực và quốc tế; thứ hai, cơ cấu các luồngvốn chảy vào Việt Nam có độ an toàn cao hơn do chủ yếu là FID và ODA.Đồng thời, theo quan điểm của IMF cũng cần nhận thấy hiện có một
số điểm tương đồng khá rõ nét giữa Việt Nam với các nền kinh tế đangchịu khủng hoảng trong khu vực; thứ nhất, Việt Nam đang có mức thâmhụt cán cân vãng lai cao (9% GDP năm 1997); thứ hai, có sự duy trì ổnđịnh kéo dài tỷ giá VNĐ và đã có sự tăng giá miễn cưỡng VNĐ so vớiUSD, cũng như có sự gia tăng sức ép trên các thị trường ngoại hối; thứ ba,
có các tín hiệu rõ ràng gia tăng sự căng thẳng trong hệ thống ngân hàngViệt Nam; thứ tư, có tín hiệu về suy giảm tình trạng tài chính của nhiềudoanh nghiệp trong đó có sự vay nợ đáng kể bằng USD Ngoài ra còn cómột số điểm dễ nhận thấy khác nữa như độ trì trệ của thị trường bất độngsản, sự lúng túng trong chuyển dịch và cải thiện cơ cấu xuất khẩu, tìnhtrạng thất nghiệp khá cao, tình trạng hiệu quả đầu tư xã hội thấp và tínhnăng động của thị trường chưa cao, các thiết chế thị trường chưa phát triểnđầy đủ, tiêu dùng xa xỉ và dự trữ ngoại tệ mỏng… Đây chính là những
"Tiếp điểm" nhạy cảm truyền dẫn và cộng hưởng tác động tiêu cực củakhủng hoảng khu vực đến nền kinh tế Việt Nam