1. Trang chủ
  2. » Tất cả

THUYẾT-MINH

5 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 88,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂNTỐI CAO THANH TRA Số: 456/VKSTC-T1 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 02 tháng 11 năm 2017 THUYẾT MINH Dự thảo Quyết địn

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỐI CAO

THANH TRA

Số: 456/VKSTC-T1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 02 tháng 11 năm 2017

THUYẾT MINH

Dự thảo Quyết định sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy chế công tác thanh tra trong ngành Kiểm sát nhân dân

Quy chế công tác thanh tra trong ngành Kiểm sát nhân dân được ban hành kèm theo Quyết định số 59/QĐ-VKSTC-T1 ngày 22/02/2016 của Viện trưởng

VKSND tối cao (gọi tắt là Quy chế 59) được áp dụng và triển khai thực hiện đến

nay thời gian đã được hơn một năm Qua quá trình thực hiện, một số quy định của Quy chế 59 thấy cần thiết phải sửa đổi, bổ sung để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ kiện toàn hệ thống thanh tra của Ngành

Thực hiện chỉ đạo của Viện trưởng VKSND tối cao, Thanh tra VKSND tối cao đã nghiên cứu và đề xuất sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy chế công tác thanh tra trong ngành Kiểm sát nhân dân như sau:

1 Về thẩm quyền quyết định thanh tra đột xuất

Điểm a khoản 2 Điều 8 của Quy chế 59 quy định: Chánh Thanh tra quyết định thanh tra đột xuất sau khi báo cáo và được sự đồng ý của Viện trưởng VKSND cấp mình

Trên thực tế, không phải các căn cứ để quyết định thanh tra đột xuất luôn luôn rõ ràng, đầy đủ, cần phải thu thập, củng cố thêm; để có cơ chế kiểm tra, xác minh, củng cố thông tin làm căn cứ trước khi quyết định thanh tra đột xuất, Ban soạn thảo đề xuất sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 8 của Quy chế 59 như sau:

“Trong trường hợp cần thiết, khi có căn cứ được quy định tại Khoản 2 Điều 7 của Quy chế này, Chánh Thanh tra báo cáo và được sự đồng ý của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp mình thì cử tổ công tác tiến hành kiểm tra, xác minh ban đầu về nội dung các thông tin phản ánh

Kết quả kiểm tra, xác minh làm cơ sở để Chánh Thanh tra báo cáo Viện trưởng cấp mình quyết định tiến hành hoặc không tiến hành thanh tra đột xuất theo dấu hiệu vi phạm”

2 Về thời hạn thanh tra

Khoản 1 Điều 15 của Quy chế 59 quy định:

“Thời hạn thực hiện một cuộc thanh tra được quy định như sau:

“a) Cuộc thanh tra do Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành

Trang 2

ngày Đối với cuộc thanh tra đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày;

b) Cuộc thanh tra do Viện kiểm sát nhân cấp tỉnh tiến hành không quá 10 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày”

Thực tế, từ năm 2016 đến nay phát sinh nhiều cuộc thanh tra đột xuất với phạm vi rộng, nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, thời hạn thanh tra được quy định tại khoản 1 Điều 15 chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc thanh tra

Vì vậy, Ban soạn thảo đề xuất sửa đổi thời hạn thanh tra tại khoản 1 Điều

15 của Quy chế 59 tối đa theo thời hạn thanh tra được quy định tại khoản 1 Điều

45 Luật Thanh tra năm 2010, như sau:

1 “Thời hạn thực hiện một số cuộc thanh tra được quy định như sau: a) Cuộc thanh tra do Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành không quá 60 ngày làm việc thực tế tại đơn vị được thanh tra, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá 90 ngày làm việc thực tế tại đơn vị được thanh tra Đối với cuộc thanh tra đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều nội dung, lĩnh vực, nhiều địa phương thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá 150 ngày làm việc thực tế tại đơn vị được thanh tra ;

b) Cuộc thanh tra do Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tiến hành không quá 45 ngày làm việc thực tế tại đơn vi được thanh tra, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá 70 ngày làm việc thực tế tại đơn

vị được thanh tra”

3 Về chủ thể xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm và Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác thanh tra

Đoạn 2 của điểm a, c khoản 1 Điều 16 của Quy chế 59 quy định kế hoạch thanh tra hàng năm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh phải bám sát vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác thanh tra của Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Tuy nhiên, đến nay hệ thống thanh tra Ngành đã có ở ba cấp (tối cao, cấp cao, cấp tỉnh) Vì vậy, cần thiết phải sửa đổi điểm a, c khoản 1 Điều 16 của Quy chế hiện hành như sau:

“1 Đối với kế hoạch thanh tra hàng năm

a)…

Ngoài những căn cứ nêu trên, kế hoạch thanh tra hàng năm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh còn căn cứ vào Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác thanh tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

c) …

Trang 3

Kế hoạch thanh tra hàng năm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh được trình để Viện trưởng cấp mình phê duyệt trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác thanh tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao”

4 Về việc báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra

Điều 21 Quy chế hiện hành chỉ quy định trách nhiệm của Trưởng Đoàn thanh tra phải xây dựng Báo cáo kết quả thanh tra, chưa quy định trách nhiệm của thành viên Đoàn thanh tra phải báo cáo kết quả với Trưởng Đoàn, vì vậy để

cụ thể hóa trách nhiệm của thành viên Đoàn, cần thiết phải bổ sung khoản 4 Điều 21 như sau:

“4 Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra

a Trong thời hạn theo yêu cầu của Trưởng Đoàn, các thành viên Đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản với Trưởng Đoàn về kết qủa thực hiện nhiệm vụ được giao và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, khách quan, trung thực của nội dung báo cáo đó

b Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra phải

có các nội dung chính sau đây:

- Nhiệm vụ được phân công, kết quả kiểm tra, xác minh từng nội dung thanh tra;

- Kết luận rõ đúng, sai về từng nội dung đã được kiểm tra, xác minh, nêu

rõ hành vi vi phạm được phát hiện qua thanh tra (nếu có); chỉ rõ quy định của pháp luật làm căn cứ để kết luận đúng, sai;

- Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm;

- Kiến nghị, đề xuất biện pháp khắc phục, xử lý vi phạm đối với cơ quan,

tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm; những kiến nghị đề xuất khác nếu có”

5 Về việc ký ban hành kết luận thanh tra

Khoản 1 Điều 22 của Quy chế 59 quy định như sau: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra và tài liệu kèm theo, người

ra quyết định thanh tra chỉ đạo Trưởng Đoàn thanh tra xây dựng, hoàn thiện dự thảo kết luận và ban hành kết luận thanh tra”

Quy định trên dẫn đến cách hiểu chưa thống nhất ai là người có thẩm quyền

ký ban hành kết luận thanh tra, nên cần thiết sửa đổi khoản 1 Điều 22 như sau:

“Trên cơ sở báo cáo kết quả thanh tra và tài liệu kèm theo, người ra quyết định thanh tra chỉ đạo Trưởng Đoàn thanh tra xây dựng, hoàn thiện dự thảo kết luận thanh tra Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được ý kiến chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm

Trang 4

hoàn thiện dự thảo kết luận thanh tra để trình người ra quyết định thanh tra xem xét, ký ban hành”

6 Về thẩm quyền giải quyết đối với quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định kỷ luật công chức, người lao động do Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết

Khoản 2 Điều 37 của Quy chế 59 quy định: “Đối với khiếu nại do Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng phát hiện có vi phạm và các quyết định kỷ luật đối với công chức, người lao động trong Ngành bị khiếu nại thì Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết.”

Ở đây chưa quy định rõ thẩm quyền giải quyết đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 hay lần 2, do vậy, cần thiết sửa đổi khoản 2 và bổ sung thêm khoản 3, Khoản 4 Điều 37 của Quy chế như sau:

“2 Thanh tra VKSND tối cao, Thanh tra VKSND cấp cao, Thanh tra VKSND cấp tỉnh giúp Viện trưởng VKSND cấp mình giải quyết khiếu nại lần đầu đối với Quyết định giải quyết khiếu nại do Viện trưởng VKSND cấp mình ban hành nhưng bị khiếu nại

3 Thanh tra VKSND tối cao giúp Viện trưởng VKSND tối cao giải quyết khiếu nại lần hai đối với các quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng tiếp tục khiếu nại lần hai

4 Khiếu nại liên quan đến Thanh tra, công chức của Thanh tra do Viện trưởng VKSND cùng cấp quyết định phân công đơn vị, cá nhân tham mưu giải quyết”

7 Trách nhiệm của Thanh tra trong giải quyết tố cáo

Khoản 1 Điều 46 Quy chế hiện hành quy định “Thanh tra giúp Viện trưởng VKSND cấp mình giải quyết tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật, …” là chưa cụ thể, chi tiết Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 14 Luật Tố cáo thì Viện trưởng VKSND có thẩm quyền “giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp”, do vậy cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 46 cho phù hợp với Luật tố cáo như sau

“ 1 Thanh tra giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp mình giải quyết tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện công vụ, nhiệm vụ, kỷ luật nghiệp vụ, kỷ luật nội vụ, phẩm chất đạo đức của công chức, viên chức, người lao động trong Ngành thuộc đối tượng của Thanh tra được quy định tại Điều 5 của Quy chế này

Tố cáo đối với lãnh đạo, công chức Thanh tra do Viện trưởng VKSND cùng cấp quyết định phân công đơn vị, cá nhân tham mưu giải quyết”

8 Quy định về báo cáo đột xuất mà Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh phải thực hiện

Trang 5

- Theo điểm a khoản 2 Điều 58 Quy chế 59 quy định Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện báo cáo đột xuất đối với những vi phạm nghiêm trọng kỷ luật nghiệp vụ, công vụ và việc xử

lý vi phạm của công chức, viên chức, người lao động trong Ngành

Hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng có phản ánh những thông tin có dấu hiệu vi phạm của công chức, viên chức, người lao động trong Ngành Để tham mưu kịp thời cho Lãnh đạo VKSND tối cao trong việc trả lời Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cơ quan báo chí, đồng thời làm rõ, chấn chỉnh, xử lý kịp thời về những vi phạm của công chức, viên chức, người lao động trong Ngành (nếu có), xét thấy cần thiết bổ sung báo cáo nội dung thông tin vi phạm của công chức, người lao động trong Ngành được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng tại điểm a khoản 2 Điều 58 Quy chế 59 như sau:

“a Báo cáo về những vi phạm kỷ luật nghiệp vụ, công vụ, việc xử lý vi phạm và những thông tin có dấu hiệu vi phạm được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với công chức, người lao động thuộc cấp mình quản lý”

- Để phục vụ công tác theo dõi, tổng hợp báo cáo kết quả công tác thanh tra trong Ngành, xét thấy cần thiết bổ sung điểm d khoản 3 Điều 58 như sau:

“d Các văn bản về việc đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra của đối tượng thanh tra; các văn bản về việc xử lý các vấn đề phát sinh sau thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Thanh tra VKSND cấp cao, Thanh tra VKSND cấp tỉnh”

Trên đây là những nội chính của dự thảo sửa đổi, bổ sung Quy chế công tác thanh tra trong ngành Kiểm sát nhân dân

CHÁNH THANH TRA

Phan Văn Tâm

Ngày đăng: 18/04/2022, 08:01

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w