UBND TỈNH HÀ NAM UBND TỈNH HÀ NAM SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG ĐỀ ÁN CHUYỂN ĐỔI SỐ TỈNH HÀ NAM ĐẾN NĂM 2025 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 Hà Nam, tháng 3 năm 2022 2 MỤC LỤC MỤC LỤC 2 PHẦN I 8 CƠ SỞ XÂY D[.]
Định nghĩa Chuyển đổi số
Chuyển đổi số 1 là quá trình thay đổi toàn diện về lối sống, phương thức làm việc và sản xuất của cá nhân và tổ chức, dựa trên công nghệ số.
1 Theo Cẩm nang Chuyển đổi số
STT Từ viết tắt Giải thích
1 HĐND Hội đồng nhân dân
2 UBND Ủy ban nhân dân
3 CNTT Công nghệ thông tin
4 LGSP Hệ thống nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh
6 NGSP Hệ thống nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu Quốc gia
7 SOC Trung tâm Giám sát, điều hành an toàn thông tin mạng
8 CBCC Cán bộ công chức
9 Kiến trúc ICT Kiến trúc Công nghệ thông tin và truyền thông
10 CSDL Cơ sở dữ liệu
12 IOC Trung tâm Giám sát, điều hành ĐTTM
13 TTHC Thủ tục hành chính
16 TTDL Trung tâm dữ liệu
17 GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn
18 GTVT Giao thông vận tải
19 TNMT Tài nguyên và môi trường
20 OCOP Mỗi xã một sản phẩm
21 POS Thiết bị bán hàng
22 V-MAP Bản đồ số Việt Nam
23 GIS Hệ thống thông tin địa lý
24 ĐTTM Đô thị thông minh
Tổng thể và toàn diện đều ám chỉ đến mọi khía cạnh, nhưng chuyển đổi số mang tính chất sáng tạo và tiến hóa hơn so với ứng dụng CNTT Ứng dụng CNTT tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình và mô hình hoạt động hiện có để cung cấp dịch vụ sẵn có, trong khi chuyển đổi số đòi hỏi sự thay đổi hoàn toàn về quy trình và mô hình hoạt động, nhằm cung cấp dịch vụ mới hoặc cải tiến dịch vụ hiện tại theo cách thức mới.
Chuyển đổi số không phải chỉ là vấn đề công nghệ mà còn là vấn đề nhận thức và thói quen.
- Xã hội số, cùng với chính phủ số và kinh tế số tạo thành ba trụ cột của một quốc gia số.
Chính phủ số chuyển đổi mọi hoạt động của Chính phủ lên môi trường số, dựa trên dữ liệu và cung cấp dịch vụ mới Sự khác biệt chính giữa Chính phủ số và Chính phủ điện tử là việc sử dụng dữ liệu để ra quyết định, coi dữ liệu như một tài nguyên quan trọng Điều này đánh dấu sự chuyển biến trong cách thức ra quyết định của các cơ quan chính phủ, từ báo cáo giấy sang phân tích dữ liệu định lượng và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau Hệ thống này cho phép kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, giúp người dân chỉ cần cung cấp thông tin một lần, trong khi các doanh nghiệp có thể tận dụng dữ liệu này để phát triển thêm dịch vụ mới.
Kinh tế số là nền tảng kinh tế hiện đại, chủ yếu dựa vào công nghệ số và các nền tảng trực tuyến Nó bao gồm các hoạt động kinh tế diễn ra qua công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử thực hiện trên internet.
Xã hội số bao trùm mọi hoạt động của con người, với động lực chính là công nghệ số Sự gia tăng nhanh chóng của thông tin và dữ liệu đã làm thay đổi mọi khía cạnh của tổ chức xã hội, từ chính phủ đến kinh tế và đời sống người dân Trong nghĩa hẹp, xã hội số bao gồm công dân số và văn hóa số.
Sự cần thiết xây dựng đề án chuyển đổi số
Chuyển đổi số tại các cơ quan nhà nước ở Việt Nam đang diễn ra nhưng chưa đạt được tính toàn diện và chuẩn hóa Chính phủ và các cấp chính quyền đang nỗ lực xây dựng chính phủ điện tử, đồng thời một số thành phố đã bắt đầu triển khai kế hoạch phát triển thành phố thông minh.
Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW nhằm thúc đẩy sự tham gia vào Cách mạng công nghiệp 4.0 Tiếp theo, vào ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” để thực hiện Nghị quyết trên Vào ngày 31/12/2020, Thủ tướng cũng đã ban hành Chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp 4.0 đến năm 2030 và Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo vào ngày 26/01/2021 Cuối cùng, vào ngày 24/9/2021, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 1619/QĐ-TTg để kiện toàn và đổi tên Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử.
Chuyển đổi số là giải pháp then chốt giúp Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa Chương trình chuyển đổi số quốc gia hướng đến tầm nhìn 2030, với mục tiêu xây dựng một quốc gia số ổn định, thịnh vượng và tiên phong trong đổi mới Để đạt được điều này, các cơ quan nhà nước sẽ chuyển đổi toàn bộ hoạt động lên môi trường số, sử dụng công nghệ và dữ liệu để quản lý hiệu quả hơn, đồng thời phát triển Chính phủ số gắn liền với an ninh mạng và bảo vệ chủ quyền số Chương trình tập trung vào ba trụ cột chính: Chính quyền số, Kinh tế số và Xã hội số, với 10 lĩnh vực ưu tiên như y tế, giáo dục và nông nghiệp Để thực hiện chuyển đổi số, cần có những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như nâng cao nhận thức, xây dựng chính sách, phát triển hạ tầng số và nguồn nhân lực.
Doanh nghiệp Việt Nam hiện đang gặp nhiều thách thức trong quá trình chuyển đổi số do trình độ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp Khoảng 80% đến 90% máy móc được sử dụng là nhập khẩu, trong đó gần 80% là công nghệ lạc hậu từ thập niên 1980-1990 Các rào cản chính bao gồm thiếu kỹ năng số và nhân lực, cơ sở hạ tầng yếu kém, nền tảng kỹ thuật số không đủ mạnh và thiếu tư duy kỹ thuật số.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra, các quốc gia trên thế giới đang tích cực thúc đẩy quá trình 'Chuyển đổi số' Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này, và việc thực hiện hiệu quả 'Chuyển đổi số' sẽ giúp đất nước chủ động tham gia vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hướng tới việc trở thành một quốc gia thông minh.
Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Hà Nam, đang đối mặt với những thách thức lớn trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội vàng để Hà Nam phát triển và vượt lên các tỉnh khác thông qua chuyển đổi số Tỉnh Hà Nam quyết tâm thực hiện chuyển đổi số toàn diện, nhằm thay đổi cách sống, làm việc và tương tác của người dân Đề án chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025, với tầm nhìn đến 2030, sẽ xác định rõ nhiệm vụ và giải pháp nhằm thúc đẩy sáng tạo và phát triển công nghệ kỹ thuật số, từ đó nâng cao sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2 Cơ sở xây dựng đề án
- Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư;
Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động nhằm thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị, tập trung vào việc triển khai các chủ trương và chính sách để chủ động tham gia vào Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước;
- Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về đảm bảo an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ;
- Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử;
- Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ vể quản lý, kết nói, và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước;
Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/5/2015 của Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động nhằm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị, tập trung vào việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) Mục tiêu của chương trình là đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và cải cách hành chính trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến 2025;
- Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
"Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030";
- Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 01/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ĐTTM bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030;
Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/06/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử, nhằm hướng tới mô hình Chính phủ số trong giai đoạn 2021 – 2025 và định hướng đến năm 2030 Chiến lược này tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cải thiện dịch vụ công và thúc đẩy sự tham gia của người dân trong quá trình phát triển chính phủ điện tử.
- Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ;
- Quyết định số 2289/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến năm 2030;
Quyết định số 127/QĐ-TTg, ban hành ngày 26/01/2021, của Thủ tướng Chính phủ, đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030 Chiến lược này nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của công nghệ AI tại Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân Mục tiêu chính là tạo ra môi trường thuận lợi cho việc nghiên cứu và ứng dụng AI trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và đời sống hàng ngày.
- Quyết định số 2323/BTTTT-THH ngày 31/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Khung Kiến trúc Chỉnh phủ điện tử Việt Nam, phiên bản 2.0;
Quyết định số 1726/QĐ-BTTTT, ban hành ngày 12/10/2020, của Bộ Thông tin và Truyền thông, đã phê duyệt Đề án xác định bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số Đề án này áp dụng cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cùng với các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, nhằm đánh giá hiệu quả chuyển đổi số trên toàn quốc.
Quyết định số 38/QĐ-BTTTT, ban hành ngày 14/01/2021 bởi Bộ Thông tin và Truyền thông, đã phê duyệt Chương trình thúc đẩy và hỗ trợ chuyển đổi IPv6 cho các cơ quan nhà nước trong giai đoạn 2021-2025 Chương trình này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên Internet, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển công nghệ thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
- Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 14/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam;
Công văn số 797/BTTTT-THH ngày 06/3/2022 của Bộ Thông tin và Truyền thông cung cấp hướng dẫn về các nhiệm vụ quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong năm 2022 Văn bản này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc triển khai các giải pháp công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng nhu cầu phát triển trong kỷ nguyên số.
- Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020- 2025;
Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 15/9/2021 của Tỉnh ủy tập trung vào việc đẩy mạnh cải cách hành chính, với mục tiêu hiện đại hóa nền hành chính và xây dựng chính quyền số Nghị quyết nhấn mạnh cải cách thủ tục hành chính (TTHC), nâng cao chất lượng và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị Đồng thời, nghị quyết cũng đề ra việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong giai đoạn 2021-2025.
Quyết định số 15/2018/QĐ-UBND ngày 20/7/2018 của UBND tỉnh Hà Nam quy định về Quy chế phối hợp trong việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) thông qua dịch vụ bưu chính công ích trên địa bàn tỉnh Quy chế này nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý và phục vụ người dân, đảm bảo tính minh bạch và thuận tiện trong quá trình giải quyết TTHC.
Bối cảnh chung
Thế giới đang trải qua thời kỳ chuyển đổi số, thay đổi cách sống và làm việc của chúng ta Mỗi phút, dữ liệu được chia sẻ với số lượng khổng lồ trên các website và giữa các tổ chức toàn cầu Sự bùng nổ dữ liệu cùng với sức mạnh xử lý máy tính ngày càng tăng cường khả năng ra quyết định trong nhiều hoạt động Chúng ta đang tiến vào kỷ nguyên tự động hóa, được gọi là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Công nghệ tiên tiến đã tác động mạnh mẽ đến hầu hết các ngành nghề và tổ chức, ảnh hưởng từ lập chiến lược, tiếp thị đến quản lý chuỗi cung ứng và dịch vụ khách hàng.
Tình hình chuyển đổi số tại một số trên thế giới
Chính phủ Malaysia đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua việc thành lập tổ chức MEDC (Malaysia Digital Economy Corporation) dưới sự quản lý của Bộ Truyền thông và Đa phương tiện Vào tháng 3 năm 2021, Malaysia đã công bố kế hoạch tổng thể chuyển đổi số nhằm phát triển kinh tế số với 6 chương trình chiến lược chính: chuyển đổi số trong quản trị công, nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế qua chuyển đổi số, xây dựng hạ tầng số, phát triển tài năng số linh hoạt, kiến tạo nền kinh tế số bao trùm, và xây dựng không gian số đáng tin cậy, tuân thủ đạo đức.
Các nhóm chương trình chiến lược này được cụ thể hóa bởi 22 chiến lược và 48 sáng kiến thực thi cấp quốc gia và 28 sáng kiến thực thi cấp ngành.
Kinh nghiệm cho Hà Nam từ mô hình này là cần xem xét một số ít chương trình chiến lược chuyển đổi số, đi kèm với các chiến lược cụ thể và đặc biệt là những sáng kiến thực thi rõ ràng.
Thái Lan đang hướng tới ngành công nghiệp 4.0 bằng cách xác định hai khu vực trọng điểm trong nền kinh tế, được gọi là “First S-Curve” và “New S-Curve” Các khu vực này đại diện cho những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng chậm do bị hạn chế bởi thị trường trong kỷ nguyên mới.
S-Curve đầu tiên bao gồm các doanh nghiệp từ năm lĩnh vực có tiềm năng nâng cao giá trị trong ngắn hạn và trung hạn nhờ vào công nghệ tiên tiến Những lĩnh vực này bao gồm sản xuất ô tô thế hệ mới, điện tử thông minh, du lịch cao cấp và du lịch chữa bệnh, nông nghiệp hiệu quả, công nghiệp sinh học, và đổi mới thực phẩm.
S-Curve mới bao gồm các doanh nghiệp trong năm lĩnh vực: người máy, hàng không vũ trụ, nhiên liệu sinh học và hóa sinh, công nghiệp kỹ thuật số, và trung tâm y tế, tất cả đều cần thời gian dài để phát triển Để thúc đẩy các lĩnh vực này, chính phủ đã triển khai các biện pháp xúc tiến đầu tư vào các Đặc khu kinh tế được chỉ định Chính phủ cam kết cung cấp các chính sách hỗ trợ tài chính như giảm thuế và trợ cấp cho đổi mới, cùng với các chính sách không liên quan đến tài chính như đơn giản hóa thủ tục cấp thị thực cho lao động nước ngoài có tay nghề cao và nới lỏng quy định về sở hữu đất đai cho người nước ngoài.
Phân chia lĩnh vực theo thời gian đầu tư giúp chính phủ xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp cho từng ngành nghề khác nhau.
1.2.3 Trung Quốc Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia (NDRC) đã phát động một chương trình với sự hợp tác của các cơ quan chính phủ khác, các doanh nghiệp hàng đầu, tổ chức tài chính, viện nghiên cứu và hiệp hội công nghiệp, nhằm cung cấp các dịch vụ trực tuyến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm giúp họ hiểu biết hơn về kỹ thuật số Một sáng kiến đã được đề ra tại lễ khai mạc chương trình và hơn 500 biện pháp dịch vụ phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được triển khai nhằm giúp họ giảm chi phí, giảm thời gian chuyển đổi và cải thiện tỷ lệ chuyển đổi thành công
Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, chính phủ Trung Quốc đã hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc áp dụng công nghệ để khôi phục hoạt động Tuy nhiên, chỉ có 25% doanh nghiệp Trung Quốc bắt đầu quá trình chuyển đổi số.
Chương trình này hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc xây dựng chuỗi cung ứng kỹ thuật số, kết hợp các yếu tố như hậu cần, tài năng, công nghệ và vốn một cách hiệu quả hơn Đồng thời, nó cũng giúp các doanh nghiệp tìm kiếm những đột phá trong quá trình nâng cấp và chuyển đổi.
Chuyển đổi số đang có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi ngành nghề và lĩnh vực kinh tế - xã hội, giúp nâng cao năng suất lao động và thay đổi mô hình hoạt động, kinh doanh theo hướng đổi mới sáng tạo Điều này không chỉ thúc đẩy sự phát triển mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Thành tựu phát triển kinh tế-xã hội
- Kiểm soát tốt dịch bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội
Năm 2020, trước tình hình phức tạp của đại dịch COVID-19, toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dân Việt Nam đã đồng lòng, quyết liệt triển khai các biện pháp phòng, chống dịch Các lực lượng y tế, quân đội, công an và ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ, giúp kiểm soát dịch bệnh hiệu quả, ngăn chặn lây lan trong cộng đồng Đồng thời, Việt Nam cũng tích cực hợp tác quốc tế, hỗ trợ nhiều nước trong công tác phòng chống dịch Tổ chức Y tế Thế giới và cộng đồng quốc tế đã đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam, coi đây là một trong số ít quốc gia kiểm soát dịch bệnh thành công với phương pháp hiệu quả và chi phí thấp.
- Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp
Theo Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế-xã hội năm 2020 và 5 năm 2016-
Từ năm 2016 đến 2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 6,8%/năm Mặc dù năm 2020 bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, nhưng trong 9 tháng đầu năm, tăng trưởng vẫn đạt 2,12%, dự kiến cả năm sẽ đạt 2-3% Việt Nam tiếp tục là một trong những quốc gia có mức tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới.
Năm 2021, GDP trong 9 tháng đầu năm chỉ tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước do tình hình dịch bệnh Covid-19 phức tạp, khiến nhiều địa phương kinh tế trọng điểm như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài Đặc biệt, trong quý III/2021, GDP ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm sâu nhất từ trước đến nay, trong đó khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với mức giảm 9,28%, và công nghiệp cùng xây dựng giảm 5,02%.
Trong 5 năm qua, Việt Nam tạo ra hơn 1.200 tỷ USD giá trị GDP Nền kinh tế Việt Nam đã tạo ra được hơn 8 triệu việc làm mới cho người dân, thu nhập bình quân của người dân tăng gần 145% Quy mô GDP tăng 1,4 lần so với năm 2015; GDP bình quân đầu người 2020 ước đạt hơn 2.750 USD; năng suất lao động giai đoạn 2016-2020 tăng 5,8% vượt mục tiêu đề ra; chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 18,6% năm 2011 xuống dưới 4% giai đoạn 2016-2020; xuất nhập khẩu tăng 1,7 lần, xuất siêu 5 năm liên tục; thương mại điện tử tăng 25%, trở thành một kênh phân phối quan trọng của nền kinh tế; du lịch tăng trưởng bình quân gần 30%/năm, đạt
Năm 2019, Việt Nam đón 18 triệu lượt khách quốc tế, tăng hơn 10 triệu lượt so với năm 2015 Kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2016 - 2020 đã tăng từ 176,58 tỷ USD năm 2016 lên gần 281,5 tỷ USD vào năm 2020.
2020 Tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2016 -2020 đạt trung bình khoảng 11,7%/năm.
Chất lượng tăng trưởng đã được cải thiện đáng kể, với năng suất lao động tăng trung bình 5,8% mỗi năm, vượt trội so với giai đoạn 2011-2015 Đồng thời, nợ công cũng giảm từ 63,7% GDP vào đầu nhiệm kỳ xuống còn 55% vào năm 2019, thấp hơn mức an toàn mà Quốc hội quy định.
Xây dựng nông thôn mới đã hoàn thành trước thời hạn gần 2 năm, với khoảng 63% xã đạt chuẩn vào cuối năm 2020, vượt xa mục tiêu 50% Nhiều địa phương đã nỗ lực vươn lên mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của đất nước.
- Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện
Từ năm 2016 đến 2020, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều đã giảm mạnh, từ gần 10% vào năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020 Đồng thời, diện bao phủ bảo hiểm xã hội cũng được mở rộng, tăng hơn 1,3 lần so với năm 2015, đạt gần 33% lực lượng lao động vào năm 2020.
Hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở đã được củng cố, nâng cao năng lực giám sát và kiểm soát dịch bệnh Nền tảng tư vấn khám chữa bệnh trực tuyến kết nối gần 30 bệnh viện tuyến trên với 1.200 cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc, bao gồm cả vùng sâu, vùng xa và hải đảo Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) tăng từ 76,5% năm 2015 lên 90,7% năm 2020 Chất lượng giáo dục phổ thông và đại học cũng tiếp tục được cải thiện, với hình thức dạy và học trực tuyến được triển khai mạnh mẽ trong thời gian giãn cách xã hội.
Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực trong việc phát triển văn hóa và xây dựng con người, với nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và di sản thiên nhiên được công nhận trên thế giới.
Việt Nam hiện có hơn 68 triệu người dùng internet và đang thử nghiệm mạng 5G Chỉ số phát triển con người (HDI) của quốc gia này đang được cải thiện liên tục, xếp vào nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao trên toàn cầu.
Năm 2020, Việt Nam đạt thứ hạng 42/131 trong chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, dẫn đầu nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập Đồng thời, chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam đã tăng 39 bậc so với năm 2016, xếp thứ 49/166 quốc gia và vùng lãnh thổ Bên cạnh đó, chỉ số xếp hạng môi trường kinh doanh cũng cải thiện, từ vị trí 88/183 năm 2010 lên 70/190 vào năm 2019.
Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và chuyển đổi số
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra không ít thách thức cho các quốc gia, tổ chức và cá nhân Sự chuyển mình này đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế và xã hội.
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã tích cực lãnh đạo và chỉ đạo các cấp, ngành tăng cường ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ Điều này nhằm nâng cao năng lực tiếp cận và tham gia chủ động vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị nhằm nâng cao năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ Dựa trên chỉ thị này, các bộ, ngành và địa phương đã triển khai nhiều chính sách để phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử và viễn thông.
Cơ sở hạ tầng viễn thông được xây dựng đồng bộ, góp phần vào sự hình thành và phát triển nhanh chóng của kinh tế số, trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế Công nghệ số được áp dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều hình thức kinh doanh và dịch vụ mới, xuyên quốc gia Những tiến bộ này, dựa trên nền tảng công nghệ số và Internet, không chỉ tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Việc xây dựng chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số được triển khai quyết liệt, bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực.
Mặc dù Việt Nam đã tham gia vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhưng mức độ chủ động vẫn còn thấp Các cơ chế và chính sách hiện hành còn nhiều hạn chế, trong khi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.
Khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, với hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia còn non trẻ và thiếu hiệu quả Quá trình chuyển đổi số quốc gia diễn ra chậm chạp, do hạ tầng hạn chế và nhiều doanh nghiệp chưa chủ động, dẫn đến năng lực tiếp cận và ứng dụng công nghệ hiện đại còn thấp Kinh tế số vẫn còn nhỏ bé, trong khi việc đấu tranh với tội phạm và bảo đảm an ninh mạng gặp nhiều thách thức.
Những hạn chế trong việc nhận thức về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hệ thống chính trị và xã hội chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân chủ quan Sự không thống nhất trong nhận thức và khả năng phân tích, dự báo chiến lược về sự phát triển của khoa học và công nghệ ảnh hưởng đến đời sống kinh tế-xã hội của đất nước vẫn còn yếu kém.
Tư duy xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách cần đổi mới để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn chậm chạp và sức ỳ lớn Quản lý nhà nước gặp nhiều bất cập, chưa theo kịp diễn biến thực tế Sự phối hợp giữa các ban, bộ, ngành và giữa Trung ương với các địa phương chưa chặt chẽ, dẫn đến nhiều khó khăn và vướng mắc chưa được giải quyết kịp thời.
Hiện trạng ứng dụng CNTT
1.1.1 Về cơ chế, chính sách và tuyên truyền, nâng cao nhận thức
Thời gian qua, tỉnh Hà Nam đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước thành các chương trình và kế hoạch nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của các cơ quan nhà nước Điều này không chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội mà còn tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi số tại địa phương.
Công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức về công nghệ thông tin (CNTT) đã được chú trọng, giúp lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, cùng người dân và doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về vai trò và tầm quan trọng của ngành CNTT Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của tỉnh.
Hàng năm, tỉnh tích cực triển khai tuyên truyền và đăng tải thông tin trên Cổng thông tin điện tử và các phương tiện truyền thông khác, nhằm giới thiệu hiệu quả và lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và các tiện ích thông minh cho người dân.
Hiện nay, tất cả các sở, ban, ngành và UBND các cấp đều đã thiết lập mạng cục bộ (LAN) và kết nối Internet Tỷ lệ máy tính trên cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên đạt 100% Các cơ quan cũng đã trang bị máy chủ, tường lửa cứng và thiết bị chống sét để đảm bảo an toàn và ổn định cho hoạt động của mạng LAN.
Tỷ lệ cán bộ, công chức có thể sử dụng máy tính trong giải quyết công việc là 98%. Trung tâm tích hợp dữ liệu:
Trung tâm Tích hợp dữ liệu của tỉnh, được nâng cấp từ năm 2011, hiện đang đối mặt với công nghệ lỗi thời và thiết bị khó thay thế, dẫn đến việc chỉ đáp ứng một phần nhu cầu về số lượng, chất lượng và công nghệ Điều này làm gia tăng nguy cơ mất an toàn thông tin Hiện tại, tỉnh đang triển khai dự án trang bị các thiết bị mới cho Trung tâm, và giai đoạn 1 của dự án đã hoàn thành.
Hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng:
Các Sở, Ban, ngành và UBND huyện, thị xã, thành phố đã lắp đặt khoảng 45 điểm phục vụ cho các cơ quan, tuy nhiên, mức độ sử dụng hiện tại vẫn rất thấp.
- Các cơ quan Đảng và tổ chức: đã triển khai tới tất cả các cấp phường xã.
Hạ tầng hệ thống Hội nghị truyền hình: Hiện có các điểm cầu tại văn phòng tỉnh ủy, văn phòng HĐND tỉnh, văn phòng UBND tỉnh.
Tỉnh đã chú trọng vào việc xây dựng và thuê dịch vụ cho các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu (CSDL) và nền tảng công nghệ dùng chung thống nhất, triển khai theo mô hình tập trung Đồng thời, tỉnh cũng đã ban hành các quy chế và quy định quản lý, vận hành các hệ thống thông tin dùng chung nhằm nâng cao khả năng kết nối, tích hợp và chia sẻ dữ liệu.
Hiện tại, một số phần mềm, CSDL chuyên ngành đã được xây dựng và triển khai tại một số cơ quan như:
- Hệ thống Quản lý các đối tượng người có công của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội;
- Hệ thống thông tin Địa lý (GIS) của Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học vàCông nghệ, UBND tỉnh thành phố Phủ Lý;
- Hệ thống Quản lý kết quả các dự án đề tài khoa học của Sở Khoa học và Công nghệ;
- Hệ thống Quản lý cấp phép khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường;
- Hệ thống Kế toán của tất cả các sở, ban, ngành, huyện, thị xã, thành phố;
- Hệ thống Quản lý cấp phép lái xe, Quản lý phương tiện thủy nội địa của Sở Giao thông Vận tải;
- Hệ thống Quản lý hồ sơ thi tốt nghiệp trung học phổ thông của Sở Giáo dục và Đào tạo;
- Hệ thống Quản lý khám chữa bệnh và thanh toán BHYT cho các cơ sở y tế trên toàn tỉnh;
- Hệ thống Quản lý hộ tịch của Sở Tư pháp;…
Tại tỉnh Hà Nam, 100% cơ sở y tế đã áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý khám chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế (BHYT) Việc này không chỉ tối ưu hóa quy trình khám chữa bệnh mà còn nâng cao hiệu quả quản trị bệnh viện, giảm thiểu sai sót và tăng độ chính xác trong thanh quyết toán BHYT.
Tỉnh đang triển khai nền tảng tích hợp dữ liệu dùng chung (LGSP) để kết nối với Hệ thống NGSP, nhằm khai thác CSDL quốc gia và các hệ thống thông tin từ Trung ương đến địa phương Việc kết nối này bao gồm liên thông phần mềm Quản lý văn bản và điều hành, cũng như tích hợp Cổng Dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử của tỉnh với Hệ thống Bưu chính công ích của Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam qua LGSP.
Kết nối LGSP với NGSP nhằm triển khai liên kết các hệ thống chuyên ngành của các bộ, ngành trung ương trong nhiều lĩnh vực như Kế hoạch và Đầu tư (đăng ký doanh nghiệp), Bảo hiểm xã hội, Tư pháp (đăng ký khai sinh, cấp phiếu lý lịch tư pháp, đăng ký giao dịch đảm bảo), Tài chính (cấp mã ngân sách), Giao thông vận tải (cấp giấy phép lái xe) và Công Thương (thông báo khuyến mại) Sở Thông tin và Truyền thông đã hợp tác với Cục Chứng thực và Bảo mật thông tin cùng Ban Cơ yếu Chính phủ để cấp phát chứng thư số cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân, đồng thời cung cấp chữ ký số trên thiết bị di động cho lãnh đạo các cơ quan tại các cấp địa phương.
Tính đến nay, đã có 300 chứng thư số được cấp cho các cơ quan như sở, ban, ngành, UBND tỉnh, huyện, thị xã, thành phố và các phòng, ban, đơn vị trực thuộc, cùng với 1.200 chứng thư số cho cá nhân lãnh đạo các cơ quan và kế toán 100% các cơ quan, đơn vị đã sử dụng chữ ký số để ký trên văn bản điện tử, đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong công tác quản lý.
1.1.5 Về ứng dụng, dịch vụ Chính quyền điện tử
Phần mềm Quản lý văn bản và điều hành
Phần mềm đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu theo Quyết định số 28/2018/QĐ - TTg, với tính năng tích hợp chữ ký số, giúp thuận tiện trong việc ký số văn bản điện tử Hiện nay, 100% các sở, ban, ngành thuộc UBND huyện, thị xã, thành phố, cùng nhiều xã, phường, thị trấn đã ứng dụng phần mềm này trong công tác chỉ đạo và điều hành hàng ngày Đồng thời, các cơ quan cũng đã thực hiện gửi, nhận văn bản điện tử liên thông trong tỉnh cũng như với các bộ, ngành trung ương qua Trục liên thông văn bản Quốc gia.
Hệ thống thư điện tử được triển khai nhằm đảm bảo cung cấp hộp thư điện tử cho tất cả cán bộ, công chức từ cấp tỉnh đến cấp xã Đặc biệt, có đến 95% cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên thường xuyên sử dụng hệ thống này trong công việc hàng ngày.
Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc đang được thí điểm tại UBND các huyện, thị xã, thành phố với mô hình phòng họp không giấy tờ Đồng thời, hệ thống báo cáo kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam cũng đang được triển khai thử nghiệm để kết nối và nâng cao hiệu quả công việc.
Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ.
Hệ thống hội nghị truyền hình đã được triển khai tại phòng họp trực tuyến của UBND tỉnh, kết nối giữa UBND cấp huyện và UBND cấp xã (bao gồm 6 huyện, thị xã, thành phố với tổng cộng 116 điểm cầu) với Chính phủ Ngoài ra, một số sở, ngành cũng đã thiết lập phòng họp trực tuyến để kết nối với các Bộ, ngành Trung ương.
Ứng dụng CNTT trong phát triển kinh tế
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao cần tập trung vào nông nghiệp thông minh và nông nghiệp chính xác, nhằm gia tăng tỷ trọng của nông nghiệp công nghệ số trong nền kinh tế.
- Thực hiện chuyển đổi số trong nông nghiệp phải dựa trên nền tảng dữ liệu.
Tập trung phát triển hệ thống dữ liệu lớn liên quan đến đất đai, cây trồng, vật nuôi và thủy sản, đồng thời khuyến khích việc cung cấp thông tin về môi trường, thời tiết và chất lượng đất Điều này giúp nông dân cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất và kinh doanh giúp tự động hóa quy trình, quản lý và giám sát nguồn gốc sản phẩm, đảm bảo tính nhanh chóng, minh bạch, chính xác và an toàn vệ sinh thực phẩm Sáng kiến “Mỗi nông dân là một thương nhân, mỗi hợp tác xã là một doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số” được triển khai nhằm định hướng và đào tạo nông dân sử dụng công nghệ số trong sản xuất, cung cấp, phân phối và dự báo nông sản, đồng thời thúc đẩy phát triển thương mại điện tử trong lĩnh vực nông nghiệp.
Chuyển đổi số mạnh mẽ trong quản lý nông nghiệp là cần thiết để nâng cao hiệu quả điều hành, bao gồm việc dự báo và cảnh báo thị trường cũng như quản lý quy hoạch một cách kịp thời.
Nông nghiệp thông minh tại Hà Nam đang hình thành một mạng lưới kết nối cung cầu sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ phát triển nông nghiệp sạch và công nghệ cao Mạng lưới này giúp người dân kiểm soát nguồn gốc thực phẩm từ gieo trồng, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà sản xuất thực phẩm sạch bán sản phẩm với giá hợp lý Nó còn kết nối nông dân với nhau và với các cơ sở nghiên cứu, giúp họ áp dụng kỹ thuật canh tác đúng cách Hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành nông nghiệp sẽ kết nối các cơ sở sản xuất nông, ngư nghiệp và các cơ quan khuyến nông, đảm bảo quản lý hiệu quả ngành nông nghiệp Ngoài ra, hệ thống thông tin phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi và cây trồng sẽ hỗ trợ quyết định trong công tác phòng chống dịch bệnh thông qua mạng nông nghiệp Hà Nam.
Bước đầu tiên trong việc số hóa là hoàn thiện toàn bộ dữ liệu liên quan đến danh lam thắng cảnh, văn hóa truyền thống, khu du lịch, cơ sở dịch vụ du lịch, hướng dẫn viên, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và khách du lịch Điều này sẽ được liên kết chặt chẽ với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia để tạo ra một nền tảng thông tin du lịch toàn diện và hiệu quả.
Phát triển ứng dụng di động tích hợp công nghệ thực tế ảo và trí tuệ nhân tạo, cùng với trợ lý du lịch ảo, nhằm cung cấp thông tin thời gian thực cho người dân, du khách và cơ quan quản lý nhà nước về du lịch.
Khuyến khích các điểm du lịch cung cấp dịch vụ Internet không dây miễn phí cho du khách và tăng cường các dịch vụ thanh toán trực tuyến tại những địa điểm này.
Xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu lớn toàn diện là cần thiết để quản lý hiệu quả lĩnh vực tài nguyên môi trường Đồng thời, triển khai các giải pháp thông minh sẽ giúp cải thiện công tác quan trắc, giám sát, quản lý và xử lý sự cố môi trường, cũng như cung cấp khả năng cảnh báo sớm về thiên tai.
Nâng cấp và mở rộng hệ thống quan trắc môi trường hiện có để khai thác hiệu quả, đảm bảo khả năng tự động thu thập, tiếp nhận thông tin, phân tích và đánh giá Hệ thống này cần đưa ra cảnh báo kịp thời về ô nhiễm môi trường, phục vụ cho công tác chỉ đạo và điều hành.
Chuyển đổi số trong quản lý kết cấu hạ tầng giao thông và phương tiện vận tải là cần thiết, bao gồm việc quản lý người điều khiển phương tiện, đăng ký và quản lý phương tiện, cũng như cấp và quản lý giấy phép lái xe Việc áp dụng nền tảng số sẽ nâng cao hiệu quả quản lý, đảm bảo an toàn giao thông và tối ưu hóa quy trình vận tải.
Phát triển hệ thống giao thông thông minh là cần thiết, đặc biệt trong các đô thị, nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn cho người dân Việc ứng dụng các giải pháp giám sát sẽ đảm bảo an toàn cho các phương tiện giao thông công cộng, góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ và giảm thiểu tai nạn giao thông.
- Triển khai các giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt trong các dịch vụ giao thông, vận tải.
1.2.5 Trong các ngành dịch vụ
Triển khai ứng dụng công nghệ số toàn diện trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, kho bạc và chứng khoán là cần thiết để xây dựng nền tài chính điện tử Việc thiết lập nền tảng tài chính số hiện đại và bền vững sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Các ngân hàng thương mại hiện nay đang phát triển dịch vụ ngân hàng số với mục tiêu đa dạng hóa các kênh phân phối, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tự động hóa quy trình.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực hải quan, thuế và kho bạc nhằm tạo điều kiện thuận lợi, công khai và minh bạch Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp mà còn mang lại lợi ích cho người dân.
Điểm mạnh
Chính quyền tỉnh thể hiện sự năng động, sáng tạo, công khai và minh bạch trong quản lý điều hành, đồng thời nhận được sự đồng thuận từ cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ ngắn hạn cũng như dài hạn.
- Người dân Hà Nam ham học hỏi, năng động, sáng tạo trong học tập và sản xuất.
- Tỉnh Hà Nam chú trọng công tác đảm bảo an toàn thông tin, nâng cao ý thức của người dân.
Tỉnh Hà Nam đứng thứ 17/63 về chuyển đổi số cấp tỉnh và thứ 6 về Chính quyền số năm 2020, cho thấy sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh đối với công tác cải cách hành chính Sự chỉ đạo đồng bộ từ các ngành, cấp và chính quyền địa phương đã được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng phục vụ cho doanh nghiệp và người dân.
- Việc tiếp cận và ứng dụng công nghệ 4.0 đang được tỉnh quan tâm khuyến khích ứng dụng, nhất là trong lĩnh vực y tế, giáo dục và môi trường.
- Vị trí giao thông thuận lợi, tiếp giáp thủ đô Hà Nội.
Điểm yếu
Việc áp dụng hệ thống và ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan Đảng, Mặt trận và tổ chức chính trị, xã hội hiện vẫn còn nhiều hạn chế.
Công nghệ và thiết bị tại Trung tâm dữ liệu hiện đã lỗi thời, không đáp ứng đầy đủ nhu cầu vận hành, triển khai và đảm bảo an toàn thông tin cho các hệ thống và ứng dụng của tỉnh.
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, kinh doanh và quản trị doanh nghiệp hiện vẫn còn bị động Việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt và thương mại điện tử chưa được thực hiện một cách rộng rãi, gây hạn chế cho sự phát triển và hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp.
- Ý thức đảm bảo an toàn thông tin của người dân chưa cao, dễ dàng cung cấp thông tin cá nhân cho các đối tượng lừa đảo.
- Tình trạng cát cứ thông tin vẫn còn tồn tại, nhất là ở các cơ quan nhà nước.
Chính sách tiết kiệm và cắt giảm đầu tư công của Chính phủ đang ảnh hưởng đến việc nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) Nếu Hà Nam không có chiến lược và kế hoạch phát triển CNTT và truyền thông hợp lý, cùng với các khoản đầu tư đột phá trong những năm tới, địa phương này có nguy cơ tụt hậu trong lĩnh vực công nghệ.
Cơ hội
Toàn quốc đang tiến hành chuyển đổi số với sự tham gia mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, theo Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị và các Quyết định 749/QĐ-TTg và 942/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/6/2021.
Mặc dù đại dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế xã hội, nhưng nó cũng tạo ra cơ hội để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.
- Nhiều tập đoàn lớn về viễn thông, CNTT, thương mại điện tử, kinh tế chia sẻ đã có mặt tại Việt Nam.
Nhiều nền tảng số "Make in Vietnam" đã được phát triển, giúp quá trình chuyển đổi số trở nên dễ dàng và tiết kiệm chi phí hơn so với các sản phẩm của các tập đoàn nước ngoài.
Từ năm 2022, Việt Nam đã chính thức ngừng hoạt động mạng di động 2G và triển khai chính sách hỗ trợ người nghèo chuyển sang sử dụng mạng 3G, 4G, mở ra cơ hội tiếp cận công nghệ số cho những đối tượng khó khăn Đồng thời, mạng di động 5G đã được triển khai tại các đô thị lớn và sẽ sớm được mở rộng trên toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền tải dữ liệu lớn một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Thách thức
- Tình trạng thất thoát tri thức, chảy máu chất xám cũng là một thách thức to lớn cho quá trình chuyển đổi số của tỉnh
- Tâm lý ngại thay đổi của người dùng khi chuyển từ phương thức làm việc truyền thống sang ứng dụng công nghệ số.
- Chưa có mô hình chung về chuyển đổi số nên việc lựa chọn phương thức, lộ trình và công nghệ tiềm ẩn nhiều rủi ro.
- Nguy cơ mất an toàn an ninh thông tin luôn hiện hữu và diễn biến phức tạp.
Chuyển đổi công nghệ cũ trong bối cảnh ngân sách hạn chế là một thách thức lớn, đòi hỏi phải đảm bảo tính kế thừa và sự liên thông giữa hệ thống mới và cũ.