1. Trang chủ
  2. » Tất cả

UBND T8 - DA nguon nhan luc

16 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 190,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhận thức của các cấp, các ngành về tầm quan trọng của nhân lực đối với phát triển kinh tế

Trang 1

TỈNH ỦY LAI CHÂU

*

(Dự thảo lần 2)

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Lai Châu, ngày tháng 8 năm 2016

ĐỀ ÁN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH LAI CHÂU GIAI ĐOẠN 2016 – 2020

Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được Đảng ta coi đây

là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Trong những năm qua, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhận thức của các cấp, các ngành về tầm quan trọng của nhân lực đối với phát triển kinh tế- xã hội được nâng lên; các giải pháp, nhiệm vụ về phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được cụ thể hóa bằng các chương trình, chính sách, hành động cụ thể, góp phần từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cụ thể:

Cơ cấu lao động có chiều hướng chuyển biến tích cực, tăng dần tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng lao động trong nông nghiệp Trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật của lực lượng lao động tăng qua từng năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn tăng từ 32,5% năm 2011 lên 40,11% năm 2015, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 22,5% lên 29,2% Hệ thống giáo dục - đào tạo phát triển nhanh về quy mô trường, lớp; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học được tăng cường đầu tư xây dựng Chất lượng giáo dục ở các cấp, bậc học chuyển biến tích cực; tỷ lệ học sinh chuyển lớp, chuyển cấp, thi đỗ đại học, cao đẳng tăng lên qua từng năm Công tác xã hội hóa giáo dục- đào tạo và huy động nguồn lực đầu tư cho giáo dục đạt được nhiều kết quả Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức, viên chức được quan tâm; đến hết năm 2015, cán bộ, công chức

có trình độ từ đại học trở lên đạt 73,69 %, viên chức đạt 31,67 %; cán bộ, công chức có trình độ cử nhân, cao cấp lý luận chính trị đạt 20,18%, viên chức đạt 0,75% Hệ thống cơ sở vật tư y tế, thể dục, thể thao toàn tỉnh từng bước được củng cố và mở rộng, cơ bản đáp ứng công tác chăm sóc sức khỏe, hoạt động thể dục thể thao của cộng đồng

Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh vẫn còn những mặt hạn chế: tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, cơ cấu lao động chưa phù hợp với

Trang 2

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thiếu lao động có chuyên môn, kỹ thuật cao ở các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, y tế, công nghiệp, xây dựng… Hiệu quả đào tạo nghề thấp, chưa gắn với tái cơ cấu sản xuất và giải quyết việc làm; ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lao động chưa cao; Chất lượng giáo dục phát triển chưa đồng đều, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa; việc phân luồng học sinh sau THCS còn chậm; trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và năng lực công tác của một

bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Chế độ chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài của tỉnh chưa đủ mạnh, hiệu quả Công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe; hoạt động thể dục thể thao chưa được quan tâm đúng mức

Từ những hạn chế nêu trên, để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố quyết định thắng lợi trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và hoàn thành tốt các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã đề ra, việc xây dựng Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Lai Châu giai đoạn 2016-2020 là rất cần thiết

Đề án được xây dựng dựa trên các căn cứ: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 16/10/2015 của Đảng bộ tỉnh Lai Châu lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015-2020; Nghị quyết số 35/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh Lai Châu về Quy hoạch phát triển nguồn lực tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011-2020

Đề án triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh Lai Châu; đối tượng là toàn bộ người lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế và cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc trong hệ thống chính trị Thời gian thực hiện Đề án từ năm 2016 đến năm 2020

PHẦN I

Thực trạng số lượng, chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011-2015

I TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH

Trong những năm qua, với sự đoàn kết, thống nhất, quyết tâm chính trị cao trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, MTTQ và các tổ chức đoàn thể Đảng bộ, nhân dân các dân tộc

Trang 3

trong tỉnh đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, phát huy lợi thế, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức để đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng Nền kinh

tế của tỉnh phát triển khá toàn diện, đạt được nhiều kết quả vượt bậc Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 7,9%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp: 23,55%; công nghiệp - xây dựng: 29,48%; dịch vụ: 46,97% GRDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 18,2 triệu đồng, tăng 1,85 lần so với năm 2010

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư và cải thiện nhất là hạ tầng giao thông; hệ thống đô thị được xây dựng khang trang,

hiện đại Hạ tầng giáo dục, y tế tiếp tục được đầu tư và hoàn thành nhiều công

trình quan trọng Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện, đồng bộ, hiệu quả; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện

II THỰC TRẠNG SỐ LƯỢNG, CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC

1 Thực trạng số lượng và phân bố nguồn nhân lực

Dân số tỉnh Lai Châu năm 2015 là 430.960 người tăng 37.230 người so với năm 2011; có 20 dân tộc cùng sinh sống, trong đó các dân tộc: Thái, Mông, Dao, Kinh chiếm trên 80% dân số toàn tỉnh Tốc độ tăng trưởng dân số là 1,81%/năm; mật độ dân số bình quân toàn tỉnh đến năm 2015 là 47,52 người/km2

Dân số phân bố không đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, lao động chủ yếu tập trung nhiều ở khu vực nông thôn là 356.550 người chiếm 82,74%, thành thị là 74.410 người chiếm 17,26% Tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh đã có dấu hiệu mất cân bằng trong những năm vừa qua, đến năm 2015 tỷ số giới tính khi sinh hiện nay 109,19 bé trai/100 bé gái, tuy nhiên điều này không ảnh hưởng lớn

cơ cấu dân số theo giới tính chung toàn tỉnh; giới tính nam có 218.920 người (chiếm 50,2%), nữ là 212.040 (chiếm 49,2%)

Năm 2015, toàn tỉnh có 251.600 người đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân (chiếm 98,3% LLLĐ), chiếm 58,3% so với dân số, trong đó: lao động khu vực thành thị 42.870 người, lao động khu vực nông thôn 208.730 người; lao động nữ 126.100 người, lao động nam 125.500 người

Số lượng cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh hiện nay cơ bản đáp ứng yêu cầu công việc và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đến hết năm

2015 toàn tỉnh có 23.244 cán bộ, công chức, viên chức các cấp, tăng 1.838 người so với năm 2011; trong đó: Cán bộ, công chức có 2.740 người; viên chức

có 18.275 người; cán bộ, công chức cấp xã có 2.229 người

Trang 4

2 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực

a) Trình độ học vấn của nguồn nhân lực

Trình độ học vấn nguồn nhân lực từng bước được nâng lên; tỷ lệ lao động

có việc làm không biết chữ trong tổng số người có việc làm chiếm 31,31%, giảm 6% so với năm 2011; tỷ lệ lao động có việc làm đã tốt nghiệp trung học cơ sở là 16,18%, tốt nghiệp trung học phổ thông là 16,81%, lần lượt tăng 1,87% và 4,17% so với năm 2011 Tuy nhiên trình độ học vấn nhân lực của tỉnh vẫn ở mức tương đối thấp so với mặt bằng chung của cả nước

b) Trình độ chuyên môn – kỹ thuật của nhân lực

Trình độ chuyên môn - kỹ thuật của nguồn nhân lực từng bước được cải thiện; tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo giảm từ 67,5% năm 2011 xuống còn 59,89% năm 2015; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 32,5% năm 2011 lên 40,11% năm 2015, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chiếm 29,25%, tăng 6,75%

Cơ cấu lao động theo ngành lĩnh vực giai đoạn 2011-2015 có chiều hướng chuyển dần từ các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản sang các ngành công nghiệp – xây dựng, dịch vụ Năm 2015 lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 76,0%, giảm 3,4%; ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 9,1%, tăng 1,6%; ngành dịch vụ chiếm 14,9%, tăng 1,8% so với năm 2011

Trình độ chuyên môn - kỹ thuật của nguồn nhân lực thời gian qua đã được cải thiện nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu, số lao động có trình độ chuyên môn giỏi, tay nghề bậc cao chưa nhiều, chủ yếu vẫn là lao động phổ thông Phần lớn lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp như trồng cao su, trồng rừng, trồng chè và trong các công trình trọng điểm như: xây dựng các nhà máy thuỷ điện, cầu đường bộ, khai thác khoáng sản chủ yếu là cán bộ kỹ thuật, công nhân bậc cao ở các doanh nghiệp thuộc các Bộ, ngành Trung ương, người ngoài tỉnh vào làm việc tại tỉnh

c) Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện hiệu quả Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được nâng lên về mọi mặt; trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đều tăng so với năm 2011(1), cụ thể:

Về trình độ học vấn: Tỷ lệ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ học vấn tốt nghiệp THPT chiếm 94,04% tăng 0,25%; viên chức chiếm

Trang 5

91,29%, tăng 0,6%; cán bộ, công chức cấp xã chiếm 53,9%, tăng 21,6% Số chưa tốt nghiệp trung học phổ thông chủ yếu nằm ở các vị trí như nhân viên bảo vệ, phục vụ, lái xe

Về trình độ chuyên môn: Cán bộ, công chức có trình độ đại học và sau đại học chiếm 73,69 %, tăng 18,29%; viên chức có trình độ đại học và sau đại học chiếm 31,67%, tăng 11,09%; cán bộ, công chức cấp xã có trình độ đại học trở lên chiếm 20,65%, tăng 12,65%

Trình độ lý luận chính trị: Cán bộ, công chức có trình độ cử nhân, cao cấp lý luận chính trị chiếm 20,18%, tăng 7,08%, trung cấp chiếm 28,14%, tăng 17,06%; viên chức có trình độ cử nhân, cao cấp lý luận chính trị chiếm 0,75%, tăng 0,26%, trung cấp chiếm 6,56%, tăng 4,75%; cán bộ, công chức cấp xã có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên chiếm 42,8% tăng 23,9%

so với năm 2011

3 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực

a) Tình hình công tác giáo dục

Trong những năm qua nền giáo dục của tỉnh đã có những bước phát triển toàn diện; quy mô trường lớp học phát triển nhanh, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học cơ bản đáp ứng sự phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh; quy mô các trường dân tộc nội trú, mô hình trường bán trú được mở rộng, phát triển; đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên đảm bảo về số lượng và chất lượng Chất lượng giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, biên giới từng bước được nâng lên; tỷ lệ huy động học sinh ra lớp, chuyển lớp, chuyển cấp, thi đỗ tốt nghiệp THPT tăng so với năm 2010(2) Tích cực huy động các nguồn lực để xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, hiện toàn tỉnh có 92 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 21,3%; 100%

xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; giữ vững chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở

2()

Năm học 2015-2016 toàn tỉnh có 431 trường với 6.719 phòng học, tăng 30 trường, 1.299 phòng học so với năm học 2010-2011, trong đó có 09 trường dân tộc nội trú; 94 trường phổ thông dân tộc bán trú Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn 99,02%, tăng 2,02%; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo (từ 3-5 tuổi) đạt 98,7%, tăng 11,4 %; tỷ lệ học sinh Tiểu học đi học đúng độ tuổi đạt 98,7%; huy động 96,8% học sinh hoàn thành

TCCN, Trung cấp nghề tăng 7,7% (73,3% vào lớp 10, 13,4 % học TCCN, TCN) , tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2015 đạt 94,31%, tăng 2,17 %; GDTX đạt 94,86%, tăng 6,49 % so với năm học 2010-2011

Trang 6

Bên cạnh những kết quả đạt được, nền giáo dục của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn: Kết quả huy động và duy trì sỹ số học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông chưa cao; tình trạng học sinh bỏ học vẫn diễn ra ở các cấp học; chưa thực hiện tốt việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở; tỷ lệ học sinh giỏi, học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, đỗ vào các trường cao đẳng, đại học còn thấp Một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng trường, lớp học hạn chế, trong khi quy mô trường lớp học phát triển nhanh, nhu cầu đầu tư lớn; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia còn thấp

b) Hiện trạng hệ thống các cơ sở đào tạo

Tỉnh đã quan tâm chỉ đạo củng cố, sắp xếp tổ chức hợp lý hệ thống các trường, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh, huyện quản lý theo ngành, lĩnh vực, mở rộng trường, lớp; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quy mô đào tạo, bồi dưỡng Hệ thống cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh được củng cố kiện toàn, cơ

sở vật chất, trang thiết bị được quan tâm đầu tư; năng lực đào tạo từng bước được nâng lên Toàn tỉnh hiện có 01 trường Cao đẳng Cộng đồng; 01 trường Trung cấp nghề; 01 trường Trung cấp y;18 cơ sở dạy nghề, trong đó 12 cơ sở công lập và 6 cơ sở đào tạo nghề ngoài công lập; 01 trường Chính trị tỉnh và 08 Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh đã tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch mở lớp theo quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt; đề xuất việc liên kết với các trường đại học, học viện và các cơ sở đào tạo khác trong nước để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và đào tạo nghề cho người lao động

c) Kinh phí dành cho công tác đào tạo nguồn nhân lực

Kinh phí thực hiện chương trình phát triển nguồn nhân lực được xây dựng trên cơ sở các quy định hiện hành và được tổng hợp trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hàng năm, kế hoạch đầu tư công trung hạn Tỉnh đã tập trung huy động các nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương và nguồn vốn khác để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở

đào tạo Tổng số vốn đã bố trí trong giai đoạn 2011-2015 là 473.605 triệu đồng, trong đó: kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nhân lực 135.160 triệu

đồng; kinh phí đầu tư các cơ sở đào tạo là 326.597 triệu đồng, kinh phí khác liên quan đến công tác nâng cao chất lượng nhân lực là 11.848 triệu đồng ( gồm kinh phí phát triển chương trình dạy nghề, giáo trình dạy nghề, phát triển đội ngũ giáo viên, mua sắm thiết bị dạy nghề )

d) Thực trạng chính sách khuyến khích phát triển, thu hút nguồn nhân lực

Trang 7

Trong những năm qua, ngoài việc tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chế độ, chính sách chung của cả nước về khuyến khích phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tỉnh đã ban hành nhiều chế độ chính sách thu hút nguồn nhân lực; hỗ trợ đào tạo đối với cán bộ, công chức đi học và thu hút những người tình nguyện đến Lai Châu công tác; chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 5 năm qua, tỉnh đã hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho 886 lượt đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và thu hút được 18 người Kết quả thực hiện những chính sách trên góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng nhân lực của tỉnh trong thời gian qua Tuy nhiên do điều kiện là tỉnh miền núi khó khăn, nguồn lực có hạn nên các chính sách của tỉnh chưa đủ mạnh để thực sự phát huy hiệu quả, tạo bước chuyển biến có tính đột phá trong sử dụng và thu hút nhân lực, nhân tài

e) Kết quả công tác đào tạo nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2015

Tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các cơ sở đào tạo xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực theo đúng đối tượng, tiêu chuẩn quy định, phù hợp với vị trí việc làm, đáp ứng nhu cầu phát triển trong thời kỳ mới Kết quả trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh đã cử đi đào tạo, bồi dưỡng 35.590 lượt cán bộ, trong đó đào tạo văn hóa: 304 người; đào tạo chuyên môn: 3.408 người (sau đại học: 291 người, đại học: 2.527 người, cao đẳng: 178 người, trung cấp: 412 người); Lý luận chính trị: 5.147 người (cử nhân, cao cấp 704 người, trung cấp 4.209 người; sơ cấp 234 người); quản lý nhà nước: 2.763 người; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ: 23.968 lượt người(3) Trong 5 năm, toàn tỉnh có 9.408 sinh viên (trong đó: đại học có 6.497 sinh viên, cao đẳng có 2.126 sinh viên, trung cấp chuyên nghiệp có 785 sinh viên) đi học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trong cả nước theo các hình thức tuyển thẳng, thi tuyển, xét tuyển, đào tạo theo địa chỉ và liên kết đào tạo Đào tạo nghề cho 27.856 nghìn người với 26 loại ngành nghề, trong đó: Đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 03 tháng 27.117 người (chiếm tỷ lệ 97,3%); trung cấp nghề

743 người (chiếm tỷ lệ 2,7%)4

4 Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe, luyện tập thể dục, thể thao 5

3 Nguồn số liệu từ Sở Nội vụ và Ban Tổ chức Tỉnh ủy

4 Số liệu do Sở Lao động &TBXH cung cấp

5 Theo đánh giá của Sở Y tế và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 8

Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của nhân lực trong những năm qua được quan tâm thực hiện; Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm củng

cố, kiện toàn, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế từng bước được đầu tư, đảm bảo cung ứng thuốc thiết yếu, vật tư y tế cho công tác khám chữa bệnh cho nhân dân Triển khai thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về y tế; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 28,1% năm 2010 xuống khoảng 22,9% năm

2015, chất lượng thể lực và tuổi thọ trung bình của nhân dân các dân tộc từng bước được nâng lên, hiện tuổi thọ trung bình tỉnh Lai Châu đạt 65 tuổi Vệ sinh

an toàn thực phẩm có sự chuyển biến tích cực; các dịch vụ y tế ngày một đa dạng, từng bước đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nguồn nhân lực

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng ngày càng được phát triển rộng và

đi vào chiều sâu thông qua phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; hiện toàn tỉnh có 23,26% dân số tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên, 265 câu lạc bộ và điểm tập luyện thể dục, thể thao cơ sở Thể dục thể thao trường học được quan tâm chỉ đạo, việc dạy học môn thể dục trong các trường thực hiện đúng quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo, trên 50% các trường có hoạt động ngoại khoá

III ĐÁNH GIÁ CHUNG

1 Kết quả nổi bật đạt được

Trong 5 năm qua, công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được quan tâm; các cấp ủy Đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị vào cuộc Các cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh được mở rộng và phát triển; chất lượng giáo dục được nâng lên Trình độ học vấn, chuyên môn, chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động không ngừng được nâng cao; chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện, tỷ lệ lao động qua đào tạo, tập huấn được nâng lên qua từng năm; đội ngũ cán bộ công chức, viên chức tăng cả về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu công việc, yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và nâng cao thực thi công vụ Công tác chăm sóc sức khỏe, phong trào rèn luyện thể dục thể thao từng bước được quan tâm

2 Hạn chế, yếu kém

Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, nhân lực của tỉnh vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn và trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản với năng suất lao động thấp Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực thấp hơn so với vùng và cả nước Các cơ sở đào tạo hạn chế về số lượng và

Trang 9

chưa đa dạng ngành nghề Hiệu quả đào tạo nghề thấp, chưa gắn với tái cơ cấu sản xuất và giải quyết việc làm, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lao động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Công tác bảo vệ, chăm sóc nâng cao sức khỏe, luyện tập thể dục thể thao chưa thường xuyên

Công tác xã hội hóa, chính sách thu hút nhân lực chưa thực sự phát huy hiệu quả Việc huy động và bố trí các nguồn vốn đầu tư cho cơ sở giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của tỉnh còn hạn chế, nguồn lực chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước, trong khi tỉnh còn nhiều mục tiêu ưu tiên khác cần phải triển khai thực hiện nên việc huy động và bố trí nguồn vốn cho phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một thách thức không nhỏ đối với tỉnh

3 Nguyên nhân hạn chế, yếu kém

a) Nguyên nhân khách quan

Lai Châu là một tỉnh miền núi, biên giới, địa hình chia cắt phức tạp, xa các trung tâm kinh tế lớn, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội còn nhiều khó khăn, do

đó hạn chế trong việc thu hút, tuyển dụng nhân tài

Đặc thù của tỉnh là tỷ lệ dân số ở khu vực nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao với trình độ học vấn và dân trí chưa đồng đều do đó việc

áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp nhiều khó khăn

b) Nguyên nhân chủ quan

Trách nhiệm của một số cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể đối với công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chưa cao Công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của một số cơ quan, đơn

vị chưa được quan tâm đúng mức Nhận thức về sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nhân dân nhất là vùng sâu, vùng xa chưa cao, một số phong tục tập quán còn lạc hậu, học sinh chủ yếu là người dân tộc thiểu số (chiếm gần 90%), nhiều em nhận thức còn chậm

Các cơ sở đào tạo nghề hầu hết mới được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, việc đầu tư về trang thiết bị và đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được nhu cầu Công tác đào tạo chủ yếu được thực hiện qua hình thức đào tạo nghề lưu động, phần nào ảnh hưởng đến chất lượng

Công tác xã hội hóa, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, đoàn thể trong công tác đào tạo, dạy nghề và giải quyết việc làm còn hạn chế, hiệu quả thấp Chính sách thu hút nhân lực nhất là trong các ngành: giáo dục-đào tạo, y tế, công nghệ thông tin chưa đủ mạnh, trong khi đó nhân lực có tay nghề, trình độ chuyên môn chuyển công tác ra ngoài tỉnh trong những năm gần đây đang có chiều hướng gia tăng

Trang 10

PHẦN II

Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Lai Châu giai đoạn 2016-2020

I MỤC TIÊU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC

1 Mục tiêu tổng quát

Phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tạo ra lực lượng lao động có sức khỏe, trí tuệ, đạo đức, tác phong làm việc khoa học, công nghiệp, có trình độ, kỹ năng, kỹ thuật ngày càng cao Chú trọng xây dựng, đào tạo, cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý có năng lực, phẩm chất đạo đức, phong cách làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu thực thi công vụ

2 Mục tiêu cụ thể đến năm 2020:

- Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về số lượng, đảm bảo chất lượng và cơ cấu lao động hợp lý: Lao động khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 69,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm 11,6% và dịch vụ chiếm 18,9%

- Mỗi năm đào tạo nghề cho 6.300 lao động; tạo việc làm mới cho trên 7.000 lao động nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 50%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trên 37%

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo ngành: Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 26,94%; Công nghiệp- Xây dựng chiếm 3,98%; Dịch vụ chiếm 19,73%

- Giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở; huy động trẻ từ 3

đến 5 tuổi ra lớp đạt trên 98% (trong đó trẻ 5 tuổi đạt trên 99%); tỷ lệ huy động

trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt trên 99%; tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào học lớp 6 đạt trên 98%; huy động trên 67% học sinh tốt nghiệp trung học cơ

sở vào học lớp 10 cả hai hệ

- Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 38,4%; Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt trên 98%, tốt nghiệp THPT đạt 97% trở lên, tốt nghiệp bổ túc THPT đạt từ 90% trở lên; Tăng cường phân luồng học sinh, hàng năm thu hút ít nhất 15% số học sinh tốt nghiệp THCS, THPT hai hệ vào học nghề

- Tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng đạt trên

80%, trong đó đại học đạt trên 30% (tính theo tỷ lệ số học sinh trúng tuyển trên

số học sinh dự thi).

Ngày đăng: 18/04/2022, 07:56

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w