1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ubndt_-_bc_tham_tra_huyen_nho_quan_-gui_ubt_xin_y_kien-827cb

37 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 332 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UBND tỉnh Ninh Bình báo cáokết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị xét, công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mớicho huyện Nho Quan năm 2021, như sau: Các tài liệu chứng minh, kết quả thực hiện cá

Trang 1

Số: /BC-UBND

DỰ THẢO

Ninh Bình, ngày tháng 12 năm 2021

BÁO CÁO Kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị xét, công nhận huyện Nho Quan

đạt chuẩn nông thôn mới năm 2021

Căn cứ Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016 của Thủ tướng Chínhphủ ban hành tiêu chí huyện nông thôn mới và quy định thị xã, thành phố trựcthuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới;

Căn cứ Quyết định số 2540/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 của Thủ tướngChính phủ ban hành quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận vàcông bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới; địa phương hoàn thành nhiệm vụxây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;

Căn cứ Thông tư số 35/2016/TT-BNNPTNT ngày 26/12/2016 của BộNông nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện tiêu chí huyện nông thôn mới giaiđoạn 2016-2020;

Trên cơ sở Báo cáo kết quả thẩm tra huyện Nho Quan đạt chuẩn nông thônmới của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn UBND tỉnh Ninh Bình báo cáokết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị xét, công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mớicho huyện Nho Quan năm 2021, như sau:

Các tài liệu chứng minh, kết quả thực hiện các tiêu chí và lấy ý kiến các tổchức, nhân dân được tổng hợp, phân loại, lưu trữ đầy đủ tại tủ tài liệu nông thônmới của huyện; các tiêu chí của huyện đã được Tổ công tác của huyện tổ chức tựđánh giá, báo cáo các sở, ngành của tỉnh thẩm tra, xác nhận đạt chuẩn nông thônmới theo đúng quy định

Hồ sơ đề nghị xét công nhận của huyện Nho Quan đã được UBND huyệnhoàn thành đầy đủ gửi về Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh đúng quyđịnh, gồm:

- Tờ trình số 687/TTr-UBND ngày 16/11/2021 của UBND huyện NhoQuan về việc thẩm tra, đề nghị xét, công nhận huyện Nho Quan đạt chuẩn nôngthôn mới năm 2021;

Trang 2

- Tổng hợp danh sách các xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn huyệnNho Quan;

- Báo cáo số 696/BC-UBND ngày 15/11/2021 của UBND huyện Nho

Quan về kết quả xây dựng nông thôn mới huyện Nho Quan (bản chính, kèm theo

biểu chi tiết kết quả thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới);

- Báo cáo số 695/BC-UBND ngày 15/11/2021 của UBND huyện NhoQuan về tổng hợp ý kiến tham gia của các cơ quan, tổ chức và nhân dân trên địabàn huyện về kết quả xây dựng nông thôn mới và thực hiện các tiêu chí huyệnnông thôn mới;

- Báo cáo số 694/BC-UBND ngày 15/11/2021 của UBND huyện NhoQuan về tình tình thanh toán xây dựng cơ bản trong xây dựng nông thôn mới trênđịa bàn huyện Nho Quan

- Biên bản cuộc họp ngày 16/11/2021 của UBND huyện Nho Quan đề nghịxét, công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới;

- Các hình ảnh và Video clip minh họa kết quả xây dựng nông thôn mớicủa huyện Nho Quan

- Văn bản xác nhận các tiêu chí huyện NTM của các sở, ban, ngành

- Báo cáo số 475/BC-MTTQ-BTT ngày 28/12/2021 của Uỷ ban MTTQViệt Nam tỉnh Ninh Bình về kết quả tổ chức lấy ý kiến sự hài lòng của người dân

về kết quả xây dựng nông thôn mới tại huyện Nho Quan, thành phố Ninh Bìnhnăm 2021

2 Về kết quả thực hiện các điều kiện và tiêu chí huyện nông thôn mới 2.1 Số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo quy định

- Tổng số xã trên địa bàn huyện: 26 xã

- Số xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới: 26 xã

- Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới: 100%

- Số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu là 1 xã

- Số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao là 2 xã

- Số thôn đạt chuẩn khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu là 37 thôn

Đến nay, 26/26 xã đã được các xã đánh giá lại, huyện thẩm tra, các sở,ngành chức năng của tỉnh thẩm định xác nhận đạt chuẩn theo Quyết định số1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số17/2017/QĐ-UBND ngày 16/6/2017 của UBND tỉnh Ninh Bình quy định Bộ tiêu

chí xã đạt chuẩn NTM giai đoạn 2017 - 2020 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.

2.2 Một số kết quả chủ yếu xây dựng nông thôn mới của các xã

2.2.1 Công tác lập quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch

Đến hết năm 2012 đã có 100% số xã được UBND huyện phê duyệt quyhoạch chung xây dựng nông thôn mới Năm 2016, có 100% xã được UBNDhuyện phê duyệt Quy hoạch sản xuất giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn đến năm

Trang 3

2025 Năm 2017-2020, triển khai rà soát điều chỉnh quy hoạch phát triển sản xuấtcho 8 xã phù hợp với Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Bình giaiđoạn 2015-2020 Căn cứ tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ, các xã đã tiếnhành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phù hợp với xu thế phát triển kinh tế-

xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai Năm 2021 các xã

đã hoàn thành việc rà roát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch xây dựng xã nông thônmới đến năm 2030

Căn cứ quy hoạch đã được UBND huyện phê duyệt, các xã đã tiến hành tổchức cắm mốc chỉ giới theo quy hoạch, các Đồ án quy hoạch được công bố côngkhai tại các hội nghị, trên đài truyền thanh của xã Bản đồ quy hoạch được in ấnkhổ lớn trưng bày tại trụ sở UBND xã, nhà văn hóa các thôn, xóm, nơi công cộng

để nhân dân biết, thực hiện; các xã đều ban hành quy chế quản lý, tổ chức thựchiện có hiệu quả quy hoạch và quản lý chặt chẽ quy hoạch đã được phê duyệt, các

xã không có tình trạng vi phạm quy hoạch bị xử lý

Đánh giá chung về tiêu chí quy hoạch (số 1) theo theo Quyết định số

1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Quy hoạch.

2.2.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu

Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được ưu tiên đầu tư, nâng cấp tương đốiđồng bộ và hiện đại, nhất là các lĩnh vực liên quan đến sản xuất, đời sống củangười dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, an sinh xãhội, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân

a) Về giao thông

- Từ khi thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, hệ thống đường

bộ trên địa bàn huyện đã được quan tâm đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp đảmbảo yêu cầu kỹ thuật và kết nối với mạng lưới giao thông của tỉnh và các địaphương, cac tuyến đường trục xã, thôn, xóm, ngõ đã được nhựa hóa, bê tông hóa,đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu sản xuất, dân sinh của người dân

- Từ năm 2012-2021, toàn huyện đã tiếp nhận 67.150 tấn xi măng, đã làmmới được 2.398 tuyến đường, với tổng chiều dài 456 km và cứng hóa 185 kmđường trục chính nội đồng Đến nay, 100% số xã đã có đường tới trung tâm xãđược nhựa hóa, bê tông hóa đạt chuẩn theo quy định; 100% số thôn, xóm cóđường ngõ, xóm bằng bê tông, đường giao thông trục chính nội đồng cơ bảnđược cứng hóa đảm bảo xe cơ giới đi lại thuận đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất vàdân sinh Các xã đã lắp đặt 452 biển báo, chỉ dẫn giao thông; xây dựng 25 kmrãnh thoát nước, vỉa hè; 253 km đường điện chiếu sáng; trồng trên 150 km đườnghoa, cây xanh trên ven các trục đường

- Kết quả cụ thể:

+ Đường liên xã, trục xã: Tổng chiều dài 248,835 km, tỷ lệ đường xã,đường từ xã đến trung tâm huyện được nhựa hóa, bê tông hóa đảm bảo ô tô đi lạithuận tiện quanh năm là 248,835/248,835 km (đạt 100%)

Trang 4

+ Đường trục thôn, liên thôn: Tổng chiều dài 152,104 km, tỷ lệ đường trụcthôn, ngõ xóm được bê tông hóa, đạt chuẩn là 152,104/152,104 km (đạt 100%).

+ Đường ngõ xóm, tổ dân phố: Tổng chiều dài là 410,755 km, tỷ lệ đườngngõ xóm, phố được bê tông hóa, đạt chuẩn là 410,755/410,755 km (đạt 100%)

+ Đường trục chính nội đồng: Tổng chiều dài 207,685 km, đã được cứnghóa đạt chuẩn theo quy định 207,685/207,685 km 100%

+ Trên địa bàn huyện có 104,1km đường đê kết hợp giao thông, đã được bêtông hóa, đảm bảo giao thông thuận tiện và an toàn đê điều trong công tác phòngchống thiên tai

Hiện nay, tất cả các tuyến đường giao thông trên địa bàn huyện lòng đườngkhông bị lấn chiếm; lề đường, vỉa hè không bị che khuất tầm nhìn; công tác duy

tu, bảo trì được thực hiện thường xuyên, nhiều tuyến đường được áp phan nhựa

Đánh giá chung về tiêu chí Giao thông (số 2) theo theo Quyết định số

1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Giao thông.

b) Về thủy lợi

Hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn huyện thường xuyên được đầu tưxây dựng, cải tạo, duy tu, nâng cấp cơ bản đáp ứng yêu cầu tưới tiêu phục vụ sảnxuất và dân sinh

- Trước khi thực hiện xây dựng nông thôn mới, hệ thống thủy lợi trên địabàn huyện còn lạc hậu, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất vàcông tác phòng chống thiên tai Từ năm 2011 đến nay, toàn huyện đã triển khaithực hiện việc lồng ghép các chính sách (công ích thủy lợi) xây dựng, nâng cấptrên 150 công trình thủy lợi các loại (trong đó kiên cố hóa được 360,14km kênhmương, đạt 80%; xây dựng mới và nâng cấp sửa chữa được 54 trạm bơm, 80cống các loại ); Đến nay, 35.358 ha đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn toànhuyện đều đảm bảo tưới, tiêu chủ động (trong đó đất trồng lúa 13.410 ha, đấtthủy sản 548ha; đất lâm nghiệp, đất cây hàng năm khác 21.400 ha) Công tácthủy lợi nội đồng, đắp bờ vùng, bờ thửa, tu bổ sửa chữa, nâng cấp thương xuyên;nạo vét kênh mương, giải tỏa, khơi thông dòng chảy các tuyến kênh hàng nămđều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch; khối lượng đào đắp từ năm 2011-2020 đạt trên1,9 triệu m3

- Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn của các xã, thịtrấn được thành lập và thường xuyên được củng cố, kiện toàn hàng năm, hoạtđộng có hiệu quả Hàng năm đã chủ động xây dựng, phê duyệt và tổ chức thựchiện Kế hoạch phòng chống thiên tai; có phương án ứng phó đối với các loại hìnhthiên tai chủ yếu, thường xuyên xảy ra trên địa bàn, phương án ứng phó với bãomạnh, siêu bão theo phương châm “4 tại chỗ” được phê duyệt theo quy định củaLuật Phòng, chống thiên tai Công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thứccủa cả cộng đồng về các loại hình thiên tai, kinh nghiệm, kiến thức phòng tránh,nhất là việc chủ động phương án ứng phó, khắc phục hậu quả với bão mạnh, siêu

Trang 5

bão để các cấp chính quyền địa phương và người dân biết, chủ động thực hiện,giảm thiểu thấp nhất thiên tai gây ra.

Đánh giá chung về tiêu chí Thủy lợi (số 3) theo theo Quyết định số

1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Thủy lợi.

c) Về điện:

Hệ thống điện nông thôn huyện Nho Quan được đầu tư hoàn chỉnh, phủkhắp địa bàn dân cư nông thôn, bảo đảm cung cấp nguồn điện ổn định, an toàncho sản xuất và kinh doanh Từ năm 2011 đến nay, toàn huyện đã đầu tư nâng

cấp, mở rộng, lắp đặt thêm 250 trạm biến áp (Trạm biến áp cấp cho sinh hoạt: 199

trạm, trạm chuyên dùng cấp cho khách hàng: 51 trạm); làm mới, nâng cấp 201,65

km đường điện trung thế; 460,5 km đường điện hạ thế đảm bảo lưới điện vậnhành an toàn, cung cấp điện liên tục, chất lượng điện đảm bảo theo yêu cầu kĩthuật của hệ thống Kinh phí thực hiện nâng cấp, sửa chữa chủ yếu là vốn củangành điện, người dân đóng góp tiền, ngày công, hiến đất xây dựng hệ thống điệnchiếu sáng đường thôn, ngõ xóm

Đến nay hệ thống điện trên địa bàn huyện bảo đảm theo yêu cầu kỹ thuậtcủa ngành điện, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân Đảmbảo 100% số xã được sử dụng điện từ điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ dân được sửdụng điện thường xuyên, an toàn đạt 100%

Đánh giá chung về tiêu chí Điện (Số 4) theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg

của Thủ tướng Chính phủ: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Điện.

cơ bản có đủ trang bị để dạy học như máy tính, máy chiếu Các trường Tiểu học

và THCS đều xây dựng được tủ sách lớp học, nhiều trường Tiểu học xây dựngđược thư viện thân thiện, tủ sách nhằm phát huy văn hóa đọc trong nhà trường

Về cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện tại của các trường học trên địa bàn

cơ bản đã đáp ứng cho công tác quản lý giáo dục, tổ chức dạy và học ở các cấphọc

Trang 6

Đến nay, toàn huyện có toàn huyện có 1.366/1.420 phòng học kiên cố đạt96,2%; 81/81 trường học đạt chuẩn quốc gia, đạt 100% (trong đó: Mầm non:28/28 trường đạt chuẩn, đạt 100%; Tiểu học: 26/26 trường đạt chuẩn, đạt 100%;THCS: 26/26 trường đạt chuẩn, đạt 100%); 22/81 trường đạt chuẩn quốc gia mức

độ 2 đạt tỉ lệ 27,2% (trong đó 03 trường Mầm non, 01 trường THCS, 01 trường

Tiểu học & THCS, 17 trường Tiểu học).

Đánh giá chung về tiêu chí Trường học (Số 5) theo theo Quyết định số

1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Trường học.

e) Về cơ sở vật chất văn hóa

Năm 2011, toàn huyện có 14/26 xã có nhà văn hóa, sân thể thao (đạt tỷ lệ53,8%); 226/274 thôn, xóm, bản có nhà văn hóa, sân thể thao thôn (đạt tỷ lệ82,5%) Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựngnông thôn mới, cơ sở vật chất văn hóa, thể thao trên địa bàn huyện đã được quantâm đầu tư với sự tham gia đóng góp tích cực của nhân dân bằng tiền mặt và cônglao động Đến nay, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ huyện đến xã, thôn,bản đã được đầu tư, xây dựng đáp ứng cơ bản nhu cầu sinh hoạt văn hóa, thểthao, vui chơi giải trí trên địa bàn huyện, kết quả cụ thể như sau:

- Về nhà văn hóa xã: Xây mới 21 nhà, cải tạo, nâng cấp 5 nhà văn hóa xã.Đến nay, 26/26 xã có nhà văn hóa đạt chuẩn với diện tích từ 300 m2 trở lên với quy

mô 200 chỗ ngồi trở lên, có sân khấu, các phòng chức năng theo quy định, đượctrang thiết đầy đủ các thiết bị âm thanh, ánh sáng, quạt, bàn ghế, bục, tượng Bác,bục phát biểu, thiết bị phòng cháy chữa cháy, bảng nội quy, quy định đủ điều kiệnphục vụ sinh hoạt văn hóa văn nghệ, sinh hoạt chính trị, tổ chức các sự kiện quantrọng của địa phương

- Về công trình thể thao cấp xã: 26/26 xã (đạt tỷ lệ 100%) có khu thể thaođang hoạt động đảm bảo về diện tích, các trang thiết bị phục vụ cho việc tậpluyện các môn thể thao (bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, ) và các sự kiện thểthao tập thể của xã

- Về nhà văn hóa - khu thể thao thôn, xóm, bản: qua hơn mười năm triểnkhai thực hiện, toàn huyện đã xây mới, nâng cấp 263/274 nhà văn hóa thôn, xóm,bản; đến nay đã có 274/274 (đạt tỷ lệ 100%) thôn, xóm, bản có địa điểm sinh hoạtvăn hóa, thể thao Trong đó có 273/274 thôn, xóm, bản có nhà văn hóa gắn liền vớikhu thể thao thôn, riêng thôn 12 xã Sơn Thành đăng sinh hoạt chung tại nhà vănhóa liên thôn tại thôn 11 (trước đây 2 thôn đều thuộc Làng Ác – xã Sơn Thành).Nhà văn hóa thôn, xóm, bản có từ 80 chỗ ngồi trở lên, có thiết bị âm thanh, ánhsáng, tủ sách, bàn ghế, bục tượng Bác, bục phát biểu, quạt và treo bảng nội quy,khẩu hiệu đáp ứng yêu cầu sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng củacác khu dân cư

Trang 7

Đánh giá chung về tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa (Số 6) theo Quyết định

số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa.

f) Về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn

Từ năm 2011 đến nay, đã đầu tư sửa chữa, xây mới 10 chợ tại các xã Toànhuyện hiện nay có 14 chợ (01 chợ hạng II trung tâm huyện và 13 chợ hạng IIItrên địa bàn xã các xã); các chợ đều được đầu tư xây dựng đầy đủ các hạng mụccông trình; trang bị, lắp đặt biển, tên chợ, nội quy, thiết bị phòng cháy chữa cháy,cân đối chứng, khu vệ sinh… Các chợ đều có Ban quản lý tổ chức điều hành cáchoạt động; bố trí bãi gửi xe đảm bảo an toàn, trật tự giao thông Hệ thống chợnông thôn trên địa bàn huyện đã góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, chuyểndịch cơ cấu kinh tế và tạo việc làm cho lao động nông thôn đảm bảo vệ sinh môitrường và văn minh thương mại, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Đến nay, 26/26 xã đạt chuẩn nông thôn mới của huyện đã lập quy hoạch hệthống cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn ở vị trí phù hợp, đáp ứng tốt nhu cầubuôn bán trao đổi hàng hóa, tiêu thụ nông sản phục vụ sản xuất và dân sinh củanhân dân

Đánh giá chung về tiêu chí Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn (số 7) theo

Quyết định số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí

Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn.

g) Về thông tin và truyền thông

- Về xã có điểm phục vụ bưu chính: Tất cả các xã trong huyện đều có 01

điểm phục vụ bưu chính đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ bưu chính của các tổchức, cá nhân tại địa phương như nhận gửi bưu phẩm, bưu kiện, chuyển phátnhanh, phát hành báo… Ngoài ra còn cung cấp các dịch vụ khác như chuyển tiềnnhanh, tiết kiệm bưu điện, chi trả lương hưu và BHXH, thu BHXH tự nguyện,bán bảo hiểm ô tô, xe máy… Các điểm phục vụ bưu chính có biển hiệu, nhânviên phục vụ và thùng thư công cộng hoạt động theo quy định

- Về xã có điểm dịch vụ viễn thông, internet: 100% số xã có hạ tầng mạng

viễn thông, mạng internet băng thông rộng, hầu hết các gia đình đều có sử dụngmạng internet phục vụ nhu cầu thông tin, giải trí, văn hóa, văn nghệ của nhândân Hạ tầng kỹ thuật viễn thông, internet của các nhà cung cấp dịch vụ internet đạttiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng của khách hàng,đảm bảo hoạt động ổn định Các xã đều có điểm cung cấp dịch vụ truy nhậpInternet với đường truyền tốc độ cao

- Về hệ thống đài truyền thanh và hệ thống loa đến các thôn: Trước năm

2011, hệ thống truyền thanh của các xã phần lớn được có công suất thấp, sử dụngdây dẫn lưỡng kim nên chất lượng đường truyền và chất lượng âm thanh kém Đếnnay, 26/26 xã đều có Đài truyền thanh được trang bị hệ thống tiếp sóng 4 cấp; 100%

số thôn, xóm của các xã có hệ thống loa, cụm loa ngoài trời hoạt động ổn định,thường xuyên đổi mới nội dung tuyên truyền, thông tin kịp thời các chủ trương,

Trang 8

đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các thông tin về tìnhhình kinh tế xã hội, sản xuất, an ninh quốc phòng của địa phương.

- Về xã có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành:

100% số xã trong huyện có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý

và điều hành; ứng dụng phần mềm ioffice, phần mềm igate cổng dịch vụ công trựctuyến trong quản lý văn bản và điều hành công việc hoạt động thông suốt từ huyệnđến các xã, thị trấn

Đánh giá chung về tiêu chí Thông tin và truyền thông (số 8) theo Quyết định số

1980/QĐ-TTg: huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Thông tin và truyền thông.

h) Về nhà ở dân cư

- Huyện Nho Quan đã thực hiện tốt chính sách nhà ở cho người nghèo theochính sách của Chính phủ, vận động từ các nguồn giúp xóa nhà tạm dột nát,khuyến khích nhân dân xây dựng nhà đạt chuẩn

- Năm 2011, toàn huyện trên 35% tỷ lệ hộ có nhà ở dân cư đạt tiêu chí của

Bộ Xây dựng, nhiều địa phương trong huyện còn nhà tạm, nhà dột nát

- Sau 10 năm xây dựng NTM, Những năm vừa qua, kinh tế - xã hội nông

thôn có sự phát triển vượt bậc, đời sống vật chất, tinh thần không ngừng đượcnâng lên, người dân quan tâm đầu tư xây mới, nâng cấp nhà ở, các công trình phụtrợ ngày càng khang trang, sạch đẹp Bên cạnh đó, huyện đã thực hiện tốt chínhsách nhà ở cho người nghèo, hộ gia đình chính sách theo chính sách của Chínhphủ, tăng cường vận động các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, con em thành đạt

xa quê chung tay, góp sức xây dựng nhà ở cho các hộ nghèo, đối tượng chínhsách; tuyên truyền, vận động nhân dân xây mới, cải tạo, nâng cấp nhà ở, công

trình ao, vườn, chuồng trại chăn nuôi theo tiêu chí “3 sạch” Đến nay, toàn huyện

đã xóa bỏ được hơn 563 nhà tạm, nhà dột nát, tỷ lệ nhà ở dân cư trên địa bànhuyện đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng là 98%, trên địa bàn huyệnkhông còn nhà tạm, nhà dột nát; 26/26 xã có tỷ lệ nhà ở đạt chuẩn là 95%

Đánh giá chung về tiêu chí Nhà ở dân cư (số 9) theo Quyết định số

1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Nhà ở dân cư.

2.2.3 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân

a) Về nông, lâm nghiệp, thủy sản

Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, ngành…tình hình sản xuất nôngnghiệp trên địa bàn huyện Nho Quan đã có những chuyển biến tích cực, thay đổi

rõ rệt, chuyển dịch theo hướng hàng hóa, sản xuất nông nghiệp theo hướng hànghóa phát triển mạnh, tốc độ tăng giá trị sản xuất đến năm 2020 đạt 5,07%, tăng4,07% so với chỉ tiêu đại hội nhiệm kỳ 2015-2020, ước tính khu vực nông, lâm,

thủy sản chiếm 24,42% trong cơ cấu kinh tế (giảm 6,34% so với năm 2015) Giá trị sản phẩm trên 1 ha canh tác năm 2020 đạt 101,3 triệu đồng (tăng 17,3 triệu đồng

so với năm 2015; tăng 55,3 triệu đồng so với năm 2010)

Trang 9

Thực hiện Nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ huyện Nho Quan lần thứXXVII, nhiệm kỳ 2020-2025, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấungành nông nghiệp, trong đó chính sách tích tụ ruộng đất, khuyến khích các hộgia đình, doanh nghiệp tích tụ ruộng đất bằng các hình thức khác nhau như: liênkết theo nhóm hộ, dồn đổi đất cho nhau hoặc cho doanh nghiệp thuê, thầu đất cóthời hạn theo quy định để hình thành các ô thửa lớn, các vùng sản xuất trồng trọt,chăn nuôi, thủy sản,… Đến nay, trên địa bàn huyện đã có 09 doanh nghiệp tậptrung, tích tụ ruộng đất dưới hình thức thuê đất của các hộ dân để sản xuất vớitổng diện tích đất tích tụ được khoảng 200 ha, thời hạn thuê từ 5-10 năm, câytrồng chính được sản xuất là cây dược liệu và rau, củ, quả an toàn ; phát triểnchăn nuôi gia súc, gia cầm và con nuôi đặc sản Giá trị sản xuất trồng trọt trên 01

ha đất canh tác của các mô hình tích tụ bình quân đạt từ 140-250 triệu đồng.Huyện luôn quan tâm tạo cơ chế thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trongquá trình tổ chức sản xuất, nhất là việc áp dụng cơ giới hoá, ứng dụng khoa họccông nghệ trong sản xuất, đặc biệt là công nghệ cao, sản xuất theo hướng hữu cơ,từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung Chú trọng các hình thứcliên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm, sản xuất theo chuỗi giá trị; đồng thời xâydựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, chỉ dẫn địa lý, đẩy mạnh các hoạt độngxúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, kết quả thực hiện các lĩnhvực cụ thể như sau:

- Sản xuất trồng trọt có bước phát triển mạnh, theo hướng nâng cao giá trị,gắn với việc phát triển các nhóm cây trồng chủ lực theo lợi thế của từng địaphương, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung Đến hết năm

2021, diện tích trồng cây hàng năm là 17.508,5ha (giảm 4.892,5ha so với năm2015; giảm 7.754,5ha so với năm 2010), trong đó: cây lương thực có hạt là13.035,7ha (giảm 2.082,3 ha so với năm 2015; giảm 3.688,3ha so với năm 2010);sản lượng lương thực có hạt 74.367 tấn, vượt 4.367 tấn so với kế hoạch (cây lúa10.921,6ha; cây ngô 2.114,1ha); cây màu 4.472,8ha Toàn huyện đẩy mạnh ứngdụng cơ giới hóa vào khâu sản xuất như: làm đất, cấy lúa, thu hoạch sản phẩm,đến nay cơ bản diện tích đất trồng lúa đã được làm đất bằng máy, diện tích lúa thuhoạch bằng máy gặt đập liên hoàn tăng theo hàng năm từ 20% năm 2014, 50%năm 2015, 90% năm 2017 và đạt 95% năm 2021, góp phần giảm chi phí sản xuấttăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác, giảm áp lực lao động, tăngnăng suất, giá trị sản phẩm

Trên địa bàn huyện đã hình thành các vùng sản xuất nhóm cây trồng chủlực và cây trồng đặc sản của địa phương như: vùng sản xuất lúa/gạo ở hầu hết các

xã vùng bán sơn địa (vùng ven) và vùng chiêm trũng của huyện; vùng sản xuấtcây Na (Na rải vụ), cây Dứa tập trung tại xã Phú Long; vùng sản xuất cây Míachủ yếu tập trung tại các xã Kỳ Phú, Phú Long, Cúc Phương; vùng sản xuất câydược liệu (trà hoa vàng) tập trung chủ yếu tại các xã Gia Lâm, Cúc Phương; vùngsản xuất rau-củ-quả an toàn, chủ yếu tập trung tại các xã Lạng Phong, ĐồngPhong, Phú Sơn,… nhóm cây trồng đặc sản của địa phương như: vùng sản xuất

Trang 10

lúa đặc sản, chất lượng cao (Nếp Hạt cau) chủ yếu tập trung tại các xã Kỳ Phú,Thanh Lạc; vùng sản xuất cây Bùi Kỳ Lão tại xã Kỳ Phú,

- Toàn huyện có 17.687,12 ha đất rừng, trong đó (đất rừng đặc dụng 11.248ha; đất rừng phòng hộ 3.500,9 ha; đất rừng sản xuất 2.938,22 ha); tỷ lệ che phủrừng đạt 37% Huyện luôn tập trung quản lý tốt diện tích rừng hiện có, thực hiệntốt công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng, không

để xảy ra các vụ việc vi phạm nghiêm trọng xâm hại đến tài nguyên rừng Bìnhquân, hàng năm toàn huyện khai thác và trồng mới được khoảng 350 ha rừng sảnxuất tiêu thụ được 40.000-50.000 m3 gỗ rừng trồng sản xuất và cây phân tán

Đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây lâm nghiệp có giá trị kinh tếcao như: cây Dổi xanh, cây Quế, cây Lát hoa, cây Sưa đỏ ; mô hình trồng rừngkết hợp với trồng xen canh cây dược liệu dưới tán hoặc phát triển con nuôi đặcsản như: ong mật, gà thả đồi đã đem lại hiệu quả kinh tế cao; nhân rộng các môhình kinh tế trang trại đồi rừng, nhất là các mô hình nông lâm kết hợp (VAC), đặcbiệt đã hình thành vùng sản xuất cây Bùi Kỳ Lão tại xã Kỳ Phú

- Chăn nuôi tiếp tục chuyển dịch theo hướng trang trại, gia trại, an toàn sinhhọc Các con nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao gắn với thế mạnh của từng địaphương được huyện chỉ đạo phát triển nhân rộng theo mô hình kinh tế trang trại,gia trại, với các con nuôi đặc sản như: Hươu, Nai, Ong mật, Nhím, Lợn bản địa,…được nhân rộng, đem lại hiệu quả kinh tế cao

Thống kê số lượng đàn gia súc, gia cầm đến năm 2021, toàn huyện có1.454.591 con gia súc, gia cầm, trong đó có 6.181 con trâu, 16.776 con bò,73.475 con lợn, 10.049 con dê, 1.348.110 con gia cầm Ngoài ra trên địa bànhuyện hình thành vùng chăn nuôi các sản phẩm chủ lực như chăn nuôi gà laiĐông tảo thương phẩm tại xã Gia Sơn, Xích Thổ, Đồng Phong; vùng chăn nuôicác con nuôi đặc sản vùng miền có giá trị kinh tế cao, nổi bật như: nuôi Hươu saotại xã Cúc Phương, Kỳ Phú, Phú Long, quy mô khoảng 2.000-2.500 con, cho thunhập từ 20-25 triêu đồng/con/năm; nuôi Ong mật tại các xã: Cúc Phương, KỳPhú, Phú Long, Xích Thổ, Thạch Bình , quy mô trung bình từ 1.500-2.000 tổ,cho thu nhập ổn định từ 2-2,5 triệu đồng/tổ/năm,…

- Trong những năm qua sản xuất thủy sản phát triển mạnh, nhất là ở các xãvùng chiêm trũng, chuyển từ sản xuất tận dụng sang thâm canh, ứng dụng côngnghệ cao nên năng suất, sản lượng, giá trị sản xuất thủy sản tăng cao, tập trungvào giống thủy sản nước ngọt truyền thống như: cá trắm, chép, trôi Đến nay,toàn huyện có 3.700 ha nuôi trồng thủy sản (tăng 737 ha so với năm 2010), có 03hợp tác xã, 15 tổ hợp tác nuôi trồng thuỷ sản Được sự quan tâm của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đãđầu tư, xây dựng, hình thành các vùng chuyên canh thủy sản tại các các xã SơnThành (107 ha); vùng chuyên canh thủy sản tại xã Quỳnh Lưu (từ 35-40 ha).Theo kế hoạch số 19/KH-UBND ngày 19/02/2019 của UBND tỉnh Ninh Bình,

Trang 11

huyện đã hình thành vùng nuôi trồng thủy sản tại xã Văn Phong, quy mô từ 10-30

ha, sản lượng thu hoạch 50-150 tấn/năm

b) Về hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp

- Đến hết năm 2015, các HTX đã hoàn thành Đại hội chuyển đổi, tổ chứclại theo Luật HTX năm 2012 Sau khi chuyển đổi, năng lực hoạt động của cácHTX từng bước được củng cố và nâng lên Đến nay, toàn huyện có 463 HTX,trong đó có 30 HTX nông nghiệp, 33 HTX ngành hàng Trung bình mỗi HTX thựchiện từ 4 -5 khâu dịch vụ (dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp, tưới tiêu, bảo vệthực vật, nạo vét kênh mương, ), ngoài ra còn mở rộng một số khâu dịch vụ mớinhư: dịch vụ thu hoạch, dịch vụ liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm với cácdoanh nghiệp… Các HTX ngành hàng đã tổ chức tốt quá trình sản xuất và bao tiêucác sản phẩm: rau, củ, quả, dược liệu, thủy đặc sản cho các thành viên

- Hàng năm, các Hợp tác xã Nông nghiệp KD&DV xây dựng kế hoạch,phương án sản xuất kinh doanh trên cơ sở nghị quyết của Đại hội thành viên; chủđộng liên kết với các doanh nghiệp trong việc cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo

vệ thực vật…, đảm nhận tốt khâu dịch vụ làm đất, thủy nông bảo vệ sản xuất, tíndụng nội bộ, thu hoạch bằng máy Các Hợp tác xã Nông nghiệp chủ động ký kết hợpđồng với các doanh nghiệp để tổ chức sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Tổ chức sản xuất (số 13) trong

Bộ tiêu chí xã nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Tổ chức sản xuất.

150 lao động) Hiện nay có trên 80% lao động sau học nghề có việc làm ổn định vớithu nhập bình quân đạt từ 4 - 8 triệu đồng/người/tháng Các ngành nghề đào tạo chủyếu như: da giầy, may công nghiệp, đan lát, thủ công mỹ nghệ, thêu ren, nôngnghiệp công nghệ cao Chất lượng đào tạo nghề nông thôn từng bước được nânglên, kiến thức và tay nghề người lao động được cải thiện, từng bước chuyển dịch cơcấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Những lao động sau học nghềnông nghiệp đều tổ chức sản xuất hiệu quả hơn, thu nhập cao hơn, nhất là những chủtrang trại, gia trại Kết quả thực hiện:

- Năm 2020, giải quyết việc làm tăng thêm cho 2.568 lao động; xuất khẩulao động 170 người Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động có việclàm đạt 65%

- Tỷ lệ người có việc làm trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia laođộng năm 2011 đạt 65% Đến năm 2020 tỷ lệ người có việc làm trong độ tuổi lao

Trang 12

động có khả năng tham gia lao động đạt 92%; năm 2021, số lao động có việc làmthường xuyên trên địa bàn huyện đạt 95%.

- Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo nghề: Năm 2011 là 30% đến hếtnăm 2020 lao động qua đào tạo đạt 50%; năm 2021 ước đạt 65%

Các chương trình phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và đào tạo nghề đã gópphần quan trọng tạo thêm nhiều việc làm ổn định và tăng thu nhập cho người laođộng nông thôn, đồng thời góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu laođộng và tạo thêm nhiều nguồn lực để xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Lao động có việc làm (số 12)

trong Bộ tiêu chí xã nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Lao động có việc làm.

e) Về thu nhập và tỷ lệ hộ nghèo

- Về thu nhập

Là huyện miền núi có xuất phát điểm thấp, cơ cấu lao động nông nghiệpchiếm tỷ lệ cao, sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên thu nhậpcủa người dân thấp (năm 2011 thu nhập bình quân đầu người toàn huyện mới đạt

12 triệu đồng/người/năm) Được sự quan tâm của các cấp các ngành, Huyện ủy,HDND, UBND huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo ban hành các chính sách vàthực hiện đồng bộ các giải pháp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuấthàng hóa đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa các loại giống mới

có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất đại trà, huy động tối đa các nguồn lực đểphát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản hàng hóa, đảm bảo an toàn thựcphẩm, khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương; đẩy mạnh phát triển côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất khẩu lao động, đào tạo nghề,giới thiệu việc làm ở các doanh nghiệp trong và ngoài huyện để nâng cao thu nhậpnhân dân Bên cạnh hỗ trợ của nhà nước, các hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chínhsách, người có công còn được các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm, con em quê hương,dòng họ quan tâm giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần để vươn lên thoát nghèo, nângcao thu nhập

Đến hết năm 2020, 26/126 xã đều có mức thu nhập bình quân đạt từ 50triệu đồng/người/năm trở lên; thu nhập bình quân toàn huyện đạt 51 triệuđồng/người/năm

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Thu nhập (số 10) trong Bộ tiêu

chí xã nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Thu nhập.

- Về tỷ lệ hộ nghèo

Trong những năm qua huyện luôn quan tâm, chỉ đạo các cấp, các ngànhthực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, huy động tối đa các nguồn lực, nhất lànguồn xã hội hóa để giúp đỡ, hỗ trợ các hộ nghèo, cận nghèo xây dựng nhà ở,phát triển sinh kế, giải quyết việc làm; thực hiện tốt chính sách ưu đãi người cócông, trợ giúp xã hội Công tác an sinh xã hội của huyện luôn được đảm bảo, các

Trang 13

chính sách và giải pháp giảm nghèo được các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyệnđến cơ sở quan tâm, triển khai đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực như: hỗ trợ về nhà ở;

hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách vay vốn lãi suất ưu đãi, đào tạonghề, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, phát triển kinh tế vùng khókhăn, xuất khẩu lao động, phát triển ngành nghề góp phần quan trọng cải thiện,nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự

an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Hàng năm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện luôn giảm, năm 2011 tỷ lệ hộnghèo toàn huyện chiếm tới 11,69% (theo tiêu chí cũ); đến cuối năm 2020 tỷ lệ

hộ nghèo giảm xuống còn 2,49% (theo tiêu chí đa chiều)

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Hộ nghèo (số 11) trong Bộ tiêu

chí xã nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Hộ nghèo.

2.2.4 Về phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường

a) Về giáo dục và đào tạo

Đến nay toàn huyện có 100% số xã đã hoàn thành chương trình phổ cậpgiáo dục, xóa mù chữ; duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ em 5tuổi; đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục THCSmức độ 3 và xóa mù chữ mức độ 2 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục theohọc các loại hình THPT, bổ túc THPT, trung cấp, học nghề năm 2020 đạt bìnhquân trên 95%; năm 2021 số người trong độ tuổi lao động có việc làm qua đàotạo đạt trên 65%

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Giáo dục và Đào tạo (số 14)

trong Bộ tiêu chí xã nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Giáo dục và Đào tạo.

b) Về y tế

- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế:

Huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, củng

cố mạng lưới y tế cơ sở đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh, chămsóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Toàn huyện có 27 trạm y tế, từ năm 2011 đếnnay đã xây dựng mới 07 trạm y tế xã; xây dựng thêm phòng và nâng cấp 20 trạm

y tế Cơ sở vật chất được kiên cố hóa đạt chuẩn, đủ các giường, phòng chức năngđáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn 100% các trạm y tế

xã có đầy đủ trang thiết bị cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh chăm sóc sứckhỏe ban đầu của nhân dân

- Về cán bộ y tế:

Cán bộ các trạm y tế thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng nâng caotrình độ về chuyên môn, y đức; hiện tại trên địa bàn huyện có 23/27 trạm y tế cóbác sĩ làm công tác khám chữa bệnh thường xuyên tại trạm và 04 trạm y tế xã,thị trấn có bác sĩ làm việc luân phiên 02 buổi/tuần; có các y sỹ, nữ hộ sinh trình

Trang 14

độ cao đẳng, trung cấp; điều dưỡng, dược sỹ cao đẳng, trung cấp đảm bảo quyđịnh của Bộ Y tế Các xã đều tích cực triển khai Bộ tiêu chí quốc gia về Y tế giaiđoạn 2011-2020, đến nay có 27/27 xã, thị trấn được UBND tỉnh công nhận đạt

Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020

- Các chỉ số cơ bản đánh giá xã đạt chuẩn quốc gia về y tế trong tiêu chí Nông thôn mới:

Các xã đã tích cực tổ chức triển khai thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về Y tế

xã giai đoạn đến năm 2020 Đến nay, đã có 26/26 xã (100%) đạt Bộ tiêu chí quốcgia về y tế xã giai đoạn đến 2020

+ Năm 2011, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế toàn huyện mới đạt54,8% Công tác tuyên tuyền, vận động người dân tham gia Bảo hiểm y tế đượcquan tâm đẩy mạnh Đến hết năm 2020, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế

toàn huyện đạt 94,5% (bình quân hàng năm tăng 3,8%).

+ Từ năm 2011 đến nay, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cânnặng theo tuổi giảm dần theo các năm Năm 2011 là 16,95% đến năm 2021 giảmcòn 10,2% Chương trình quốc gia về dinh dưỡng đã được các ban, ngành, đoànthể của huyện phối hợp chặt chẽ với ngành y tế tuyên truyền sâu rộng tới các cơ

sở, phụ nữ mang thai và cho con bú để thay đổi nhận thức, hành vi, tạo điều kiệntốt nhất cho sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Y tế (số 15) trong Bộ tiêu chí xã

nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Y tế.

c) Về Văn hóa

Trong những năm qua Huyện ủy, UBND huyện đã tập trung chỉ đạo xâydựng môi trường văn hóa nông thôn mới an toàn, lành mạnh, con người NhoQuan văn hóa - văn minh, thân thiện, mến khách thông qua việc tuyên truyền,giáo dục chính trị tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, nhân cách và nếp sống văn hóa mớicho các tầng lớp nhân dân và đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và người laođộng; kiên quyết đấu tranh chống các hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực,thiếu trách nhiệm, chống suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống Bảo tồn và pháthuy các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể Toàn huyện hiện có 317 di tích trongdanh mục kiểm kê, trong đó có 61 di tích đã được xếp hạng (11 di tích cấp quốcgia và 50 di tích cấp tỉnh); 03 di tích đang hoàn thiện hồ sơ trình UBND tỉnh xếphạng di tích cấp tỉnh; trung bình mỗi năm có từ 2-3 di tích được xếp hạng

Huyện đã thành lập được 07 CLB văn hóa, văn nghệ dân tộc Mường; 274

tổ, đội, nhóm văn hóa, văn nghệ tại các thôn, xóm, bản duy trì hoạt động thườngxuyên, hiệu quả Huyện thường xuyên phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hìnhNinh Bình làm các phóng sự, chuyên đề về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóadân tộc Mường Các lễ hội truyền thống được duy trì tổ chức hằng năm, thu hútđông đảo đồng bào tham gia

Trang 15

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng trên địa bàn huyện diễn ra sôi nổi,thu hút đông đảo người dân tham gia; đến hết năm 2020, toàn huyện số người tậpthể dục thường xuyên chiếm 30,5%, số gia đình thể thao chiếm 25%, số Câu lạc

bộ thể thao toàn huyện là 223 CLB hoạt động thường xuyên đáp ứng nhu cầu vềtập luyện thể thao của người dân

Phong trào thi đua xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa, thôn (xóm, bản) vănhóa, khu dân cư nông thôn mới kiểm mẫu, gia đình văn hóa được các cấp, cácngành và Nhân dân quan tâm hưởng ứng, chất lượng phong trào ngày càng đượcnâng lên Năm 2011, toàn huyện có 171/274 thôn, xóm, bản được công nhậndanh hiệu văn hóa, đạt tỷ lệ 62,4%; 33.733 hộ gia đình đạt gia đình văn hóa; 124

cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa Đến năm 2020, có 251/274thôn, xóm, bản được công nhận danh hiệu văn hóa, đạt 91,6%; 38.552 hộ đạtdanh hiệu gia đình văn hóa, đạt 84,9%; 129 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạtchuẩn văn hóa; 26/26 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới theo quy định

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Văn hóa (số 16) trong Bộ tiêu

chí xã nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Văn hóa.

d) Về môi trường và an toàn thực phẩm

Năm 2011, trên địa bàn huyện có 27 công trình cấp nước sinh hoạt, vận hànhđảm bảo việc cấp nước sinh hoạt cho 32.329 hộ/46.185 hộ; tỷ lệ hộ dân trên địabàn huyện sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 98%; số cơ sở sản xuất kinh doanh đảmbảo quy định thủ tục môi trường 452/2.563 cơ sở, đạt 17,6% Các địa phương cókhu nghĩa trang nhân dân tập trung được quản lý chặt chẽ và sử dụng an toàn.Việc mai táng được thực hiện theo quy chế quản lý nghĩa trang của UBND xã,phù hợp với phong tục tập quán của địa phương hầu hết các nghĩa trang chưa đượcquản lý, thực hiện theo quy hoạch 100% số xã đạt tiêu chí đường làng, ngõ xóm,cảnh quan từng hộ xanh - sạch - đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môitrường, diện mạo nông thôn ngày thêm sạch sẽ, văn minh Kết quả cụ thể:

- Về nước sạch: Năm 2020, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch, nước hợp

vệ sinh toàn huyện đạt 98%, trong đó tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch tậptrung đạt trên 70%

- Về bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: Đếnnay trên địa bàn huyện có 2.563 cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ; trong đó có

452 cơ sở sản xuất kinh doanh đã có thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường theo

quy định (64 cơ sở được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt, xác nhận; 101

cơ sở được UBND huyện, 287 cơ sở nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình được UBND xã xác nhận kế hoạch/cam kết/đề án bảo vệ môi trường theo quy định) Các cơ sở

sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng lập hồ sơ, thủ tục về môitrường đã thực hiện thu gom, xử lý chất thải theo quy định, thực hiện các giảipháp bảo vệ bảo vệ môi trường, không có đơn thư, khiếu nại về môi trường

Trang 16

- Về bảo vệ môi trường làng nghề: Trên địa bàn huyện có 3 làng nghề, 100%các làng nghề đều thực hiện đúng quy hoạch Nhìn chung công tác bảo vệ môitrường ở các làng nghề đang hoạt động, không có phát sinh nước thải sản xuất, chỉ

có nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình sản xuất làng nghề Các làng nghề đượcphê duyệt phương án đều thành lập tổ tự quản và ban hành quy chế hoạt động, cóđầy đủ hồ sơ pháp lý về bảo vệ môi trường 100% các hộ tham gia sản xuất củalàng nghề ý thức tự giác bảo vệ môi trường, thực hiện đúng các quy định về bảo vệmôi trường do đó không có cơ sở nào bị xử phạt trong lĩnh vực môi trường

- Về xây dựng cảnh quan nông thôn: Thực hiện cuộc vận động “Toàn dânđoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và hoàn thành nhiệm vụ xâydựng nông thôn mới, ngày 20/7/2020 UBND huyện có Văn bản số 1085/UBND-VPĐP phát động đợt cao điểm ra quân trồng cây xanh, hoa ven đường giao thông,đến nay, toàn huyện đã trồng được 250 km đường cây xanh, hoa trên 231 tuyếnđường giao thông nông thôn Phong trào tổng vệ sinh môi trường khu dân cư,đường làng, ngõ xóm, khu công cộng được phát động thường xuyên và được nhândân hưởng ứng tích cực; 100% số xã đạt tiêu chí đường làng, ngõ xóm, cảnh quantừng hộ xanh - sạch - đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường, diện mạonông thôn ngày thêm sạch sẽ, văn minh

- Về nghĩa trang và mai táng: 26/26 xã có khu nghĩa trang nhân dân tậptrung được quản lý chặt chẽ và sử dụng an toàn 100% các nghĩa trang xây mớiđược thực hiện theo quy hoạch đảm bảo các yêu cầu tiêu chí về bảo vệ môi trường.Việc mai táng được thực hiện theo quy chế quản lý nghĩa trang của UBND xã, phùhợp với phong tục tập quán của địa phương

- Về thu gom và xử lý chất thải rắn, nước thải sinh hoạt: 100% các xã đều có

đề án thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt được phê duyệt Các thôn,bản đều đã thành lập tổ thu gom rác với 109 người hoạt động thường xuyên để thugom rác từ hộ gia đình ra các vị trí tập kết để chở đi xử lý theo quy định Đến nay

có 23/26 xã đã ký hợp đồng với Trung tâm vệ sinh môi trường đô thị huyện để vận

chuyển rác lên khu xử lý chung của tỉnh tại thành phố Tam Điệp để xử lý (có 3 xã

Cúc Phương, Xích Thổ, Gia Sơn địa bàn dân cư rộng, các xã đang triển khai cho các thôn phân loại, thu gom rác tại hộ gia đình để thu gom xử lý bằng phương pháp đốt) Tỷ lệ rác thải sinh hoạt được thu gom xử lý đạt trên 80%

Hệ thống tiêu, thoát nước trong khu dân cư được nhân dân đầu tư dọc theocác tuyến đường Nước thải sinh hoạt của các cơ sở sản xuất kinh doanh được thugom xử lý theo quy định đảm bảo an toàn cho môi trường trước khi thoát ra hệthống tiêu thoát nước chung

- Về tỷ lệ hộ dân có nhà tiêu, nhà tắm, bể nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch: Toàn huyện có 43.876 hộ (đạt 95%) hộ gia đình có nhà tiêu, nhà

tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo có đủ 3 công trình hợp vệsinh môi trường, trong đó: có 44.799 hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh (đạt 97%); có45.261 hộ có nhà tắm hợp vệ sinh (đạt 98%), có 45.723 hộ bể chứa nước hợp vệ

Trang 17

sinh (đạt 99%) Hầu hết các hộ dân trong huyện cơ bản thực hiện tốt cuộc vậnđộng “5 không, 3 sạch” do Hội phụ nữ tỉnh Ninh Bình phát động.

- Về chăn nuôi có chuồng trại đảm bảo vệ sinh môi trường: Chuồng trại

chăn nuôi của các hộ gia đình, các trang trại, gia trại đều nằm tách biệt, độc lậpriêng khu vực sinh hoạt, xây dựng hầm khí sinh học hoặc hồ khí sinh học để xử lýchất thải và cung cấp chất đốt Các trang trại, gia trại, hộ gia đình thuộc đối tượnglập hồ sơ môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; Có6.208/6.208 hộ (đạt 100%) hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinhmôi trường

- Về cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm tuân thủ quy định về an toàn thực phẩm: Từ năm 2011 đến nay, các đơn vị đã phối hợp tổ chức tập huấn, cấp giấy

chứng nhận kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh thú y cho các đốitượng kinh doanh, buôn bán, chế biến nông, thủy sản và giết mổ gia súc, gia cầm,đồng thời rà soát, đánh giá, hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệsinh thú y, an toàn vệ sinh thực phẩm Đến nay, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chếbiến lương thực, thực phẩm được cấp chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinhthực phẩm, đạt 100%

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thựcphẩm (số 17) trong Bộ tiêu chí xã nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-

TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm.

2.2.5 Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị-xã hội vững mạnh và giữ gìn an ninh, trật tự xã hội

a) Về xây dựng hệ thống chính trị-xã hội vững mạnh

- Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ ở cơ sở được tổ chức tốt và đạt chuẩn theoquy định Đội ngũ cán bộ cơ sở cơ bản có đủ năng lực, trách nhiệm và nhiệt tìnhtrong chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và các nhiệm vụphát triển kinh tế, xã hội ở địa phương

- Đến nay, 100% cán bộ, công chức xã đạt chuẩn theo quy định; 26/26 xã có

đủ các tổ chức theo quy định; 100% Đảng bộ xã đạt danh hiệu từ “Hoàn thành xuấtsắc nhiệm vụ”, “hoàn thành tốt nhiệm vụ” và “Hoàn thành nhiệm vụ” trở lên; có10/27 chính quyền xã, thị trấn đạt danh hiệu “Chính quyền cơ sở vững mạnh” đạt37,1%, 17/27 chính quyền đạt danh hiệu Chính quyền khá đạt 62,9%; 100% tổchức đoàn thể chính trị của xã đạt danh hiệu tiên tiến trở lên

- Về tiếp cận pháp luật: 100% số xã được công nhận đạt chuẩn tiếp cậnpháp luật theo Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chínhphủ; công tác bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình được quan tâm,chỉ đạo tích cực

- Công tác bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình tại các xã trênđịa bàn huyện Nho Quan được quan tâm thực hiện hiệu quả, 26/26 xã có tỷ lệ nữtham gia cấp ủy đạt trên 30%, trong đó có 03 Bí thư Đảng ủy và 01 Chủ tịch

Trang 18

UBND xã là nữ; 26/26 xã có phụ nữ thuộc hộ nghèo, phụ nữ khuyết tật được tạođiều kiện vay vốn ưu đãi từ các chương trình; trong nhiều năm liền huyện không

có trường hợp tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, bạo lực gia đình

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Hệ thống chính trị và tiếp cận phápluật (số 18) trong Bộ tiêu chí xã nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg:

Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật.

b) Về đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn

- Tình hình an ninh trật tự tại các xã trên địa bàn huyện luôn được giữ vững

ổn định Công tác quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn luôn được cấp

ủy đảng, chính quyền các xã quan tâm chỉ đạo tích cực, hiệu quả, tạo môi trường

an toàn để phát triển kinh tế - xã hội Triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số05-CT/TW ngày 14/10/2006 của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh quốc gia trongtình hình mới, gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới ở địa phương, cơ sở

- Hàng năm có 100% số xã đạt loại Khá trở lên trong phong trào toàn dânbảo vệ ANTQ Tình hình vi phạm pháp luật hàng năm đều được kiềm chế vàgiảm, xây dựng xã đạt tiêu chuẩn an toàn về ANTT, không còn xã thuộc xã trọngđiểm, phức tạp về ANTT Lực lượng Công an xã được củng cố, kiện toàn, đầunăm 2020 huyện Nho Quan đã hoàn thành việc bố trí Công an chính quy tại các xã,thị trấn Sau khi được triển khai, lực lượng Công an chính quy đã kịp thời tham mưucho cấp ủy, chính quyền ban hành và triển khai nhiều kế hoạch, biện pháp nghiệp vụnhằm đảm bảo tình hình ANTT tại địa bàn Do đó tình hình ANTT có những chuyểnbiến tích cực, rõ nét; tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật giảm rõ rệt, được cấp ủy,chính quyền địa phương và nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao

- Ban Chỉ huy quân sự và Dân quân các xã được xây dựng trong sạch,vững mạnh, đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng Các xã đã hoàn thành tốt cácchỉ tiêu về quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận

an ninh nhân dân vững chắc

Đánh giá chung kết quả thực hiện tiêu chí Quốc phòng và an ninh (số 19)

trong Bộ tiêu chí xã nông thôn mới theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg: Huyện Nho Quan có 26/26 xã đạt chuẩn tiêu chí Quốc phòng và an ninh.

2.6 Ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân

Quá trình xét công nhận các xã đạt chuẩn NTM, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốcViệt Nam huyện đã tổ chức lấy ý kiến hài lòng của người dân ở các xã kết quảđều đạt trên 90% trở lên

3 Về kết quả thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới

3.1 Tiêu chí số 1 về Quy hoạch

a) Yêu cầu của tiêu chí: Có quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện đượcphê duyệt (Đạt)

b) Kết quả thực hiện tiêu chí

Ngày đăng: 18/04/2022, 07:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng   hóa   tập   trung; hoặc   có   mô   hình sản xuất theo chuỗi giá trị, tổ chức liên kết   từ   sản   xuất   đến   tiêu   thụ   các sản phẩm chủ lực của huyện - ubndt_-_bc_tham_tra_huyen_nho_quan_-gui_ubt_xin_y_kien-827cb
Hình th ành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung; hoặc có mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, tổ chức liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ các sản phẩm chủ lực của huyện (Trang 36)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w