Việt Nam là một trong rấtnhiều quốc gia cũng đã nhận thức đợc vấn đề này hết sức sâu sắc, thấy đợc tầmquan trọng của ngành công nghiệp điện tử đối với sự phát triển của đất nớc thậm chíc
Trang 1A lời mở đầu
Sau hơn 13 năm tiến hành công cuộc đổi mới, coi phát triển kinh tế là nhiệm
vụ trọng tâm, bằng nhiều chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc, nền kinh tếnớc ta đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn với những bớc đi khá vững vàng, bộ mặtcủa đất nớc từng bớc thay đổi, đời sống của nhân dân ngày càng đợc nâng cao cả vềvật chất và tinh thần Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, đặc biệt là từ saucuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, nền kinh tế nớc ta có dấu hiệu tăng trởng chậmlại, sức mua xã hội giảm sút, thị trờng trong nớc thu hẹp, tổng cầu nền kinh tế giảmsút mạnh.v.v và đáng nói hơn cả đó là những khó khăn và yếu kém trong ngànhcông nghiệp - ngành có phần đóng góp vài tổng sản phẩm quốc dân chiếm tỉ trọnglớn nhất
Có thể nói, công nghiệp là một ngành có qui mô, cơ cấu hoạt động cũng nh cơcấu tổ chức khá lớn và hết sức đa dạng, phức tạp, bao gồm rất nhiều lĩnh vực, phạm
vi khác nhau Do đó trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin đề cập đến ngànhcông nghiệp điện tử - ngành công nghiệp vừa cũ lại vừa mới đối với Việt Nam Cũ
là bởi vì trên thế giới, các nớc đã tiếp cận và khai thác ngành này với một mức độngày càng cao, với sự ra đời của các sản phẩm ngày một phong phú, ngày một hiện
đại và đáp ứng nhu cầu ngày một tăng lên của con ngời Việt Nam là một trong rấtnhiều quốc gia cũng đã nhận thức đợc vấn đề này hết sức sâu sắc, thấy đợc tầmquan trọng của ngành công nghiệp điện tử đối với sự phát triển của đất nớc thậm chícũng đã sử dụng các sản phẩm của ngành công nghiệp điện tử song rất đáng tiếcViệt Nam lại cha thể đạt đợc trình độ và tốc độ phát triển nh vậy
Chúng ta cha có những sản phẩm điện tử thật sự là của chúng ta, có chăng đócũng chỉ là những sản phẩm điện tử dân dụng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
và trên thực tế chỉ là một ngành công nghiệp tơng đối nhỏ với sự tăng trởng đáng kểchỉ diễn ra trong một số ít lĩnh vực sản phẩm trong khi ngành công nghiệp điện tử
đợc coi là một ngành chủ đạo trong nền kinh tế và phát triển ngành này sẽ đồngthời tạo điều kiện cho phát triển các ngành khác có liên quan Đó là lí do tại sao tôinói ngành này còn mới đối với Việt Nam và đó cũng chính là lí do mà tôi chọn đề
tài '' Đầu t trực tiếp nớc ngoài với phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam từ năm 1988 đến nay - Thực trạng và giải pháp'' để nghiên cứu Nội dung
bài viết này gồm
Phần I : Lý luận chung
Phần II : Tình hình FDI vào lĩnh vực CNĐT từ năm 1988 đến nay
Phần III : Một số giải pháp thu hút và sử dụng FDI cho phát triển CNĐT
Việt Nam hiện nay
B Nội dung.
Phần I : Lý luận chung
I - Lý luận chung về điện tử:
1 Khái niêm, đặc điểm và vai trò đầu t phát triển.
1.1 Khái niệm:
Trang 2Thuật ngữ “ Đầu t “ ( Investment ) có thể đợc tiếp cận từ nhiều góc độkhác nhau Chẳng hạn, đứng trên góc độ tài chính, đầu t là chuỗi hoạt động chitiêu để chủ đầu t thu về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời.
Đứng trên góc độ tiêu dùng, đầu t đợc hiểu là hình thức hạn chế tiêu dùng hiệntại để thu đợc mức tiêu dùng nhiều hơn trong tơng lai.v.v.Tuy nhiên, chúng ta cóthể hiểu “ Đầu t “ theo nghĩa chung nhất nh sau:
Đầu t là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại có thể là tiền,tài nguyên thiên
nhiên,sức lao động và trí tuệ để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về cáckết quả nhất định trong tơng lai lớn hơn nguồn lực bỏ ra để đạt đợc các kết quả
đó
Có thể coi tất cả các hoạt động trên đều là đầu t nếu chỉ đứng trên giác độtừng cá nhân hoặc đơn vị đã bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động này song nếuxét trên toàn bộ nền kinh tế thì không phải tất cả các hoạt động trên đây đều đemlại lợi ích cho nền kinh tế và đợc coi là đầu t của nền kinh tế Vì vậy đầu t pháttriển hay đầu t trên giác độ nền kinh tế là quá trình sử dụng vốn đầu t để tái sảnxuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất - kĩ thuật thông quacác hoạt động xây dựng nhà cửa, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt máy mócthiết bị trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác và thực hiệncác chi phí phục vụ cho sự phát huy tác dụng trong một chu kì hoạt động của cáccơ sở vật chất kĩ thuật này
1.2 Những đặc điểm của đầu t phát triển.
Xuất phát từ khái niệm và bản chất của đầu t phát triển, chúng ta có thểthấy hoạt động này có những đặc điểm rất khác biệt với các loại hình đầu t khác
Thứ nhất, do đây là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế
nên bao giờ cũng đòi hỏi một số vốn rất lớn, lao động vật lực lớn và nằm khê
đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu t Đúng nh vậy, trên phạm vi nền kinh tế,vốn đầu t cho bất kì một công trình nào cũng đòi hỏi một khoản chi phí rất lớnngay từ giai đoạn xuất hiện ý đồ về một dự án đầu t cho đến khi dự án đi vàohoạt động Song song với chi phí về vốn lại là một khoản chi phí về lao động.Phải nói rằng đầu t cho phát triển cần một lợng lao động lớn và có nhiều kinhnghiệm cũng nh trình độ chuyên môn và tất nhiên đáp ứng đợc yêu cầu đó phải
có chi phí Đặc biệt là tất cả khoản chi phí và vốn này không vận động và nằmkhê đọng trong suốt thời gian đầu t Do đó hậu quả sẽ là không thể tránh khỏinếu đầu t không hiêụ quả, kế hoạch đầu t không rõ ràng Đây là cái giá phải trảkhá lớn của đầu t phát triển
Thứ hai, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu t cho đến khi thành
quả của nó phát huy tác dụng thờng kéo dài trong nhiều năm tháng có thể là 5năm, 10 năm thậm chí vĩnh viễn và trong khoảng thời gian này việc thực hiện
đầu t sẽ chịu ảnh hởng của rất nhiều biến động Một công trình đợc đầu t chonền kinh tế thờng có qui mô rất lớn và nh đã nói ở trên là đòi hỏi một lợng vốnrất lớn Vậy thì việc thực hiện đầu t cần một khối lợng thời gian lớn để nghiêncứu, tìm hiểu, khai thác, tìm ra những yếu điểm của dự án để có thể khắc phục,tối thiểu hoá chi phi, tránh thất thoát, lãng phí về mọi mặt và hơn cả là bảo đảmchất lợng Do đó, bất cứ một công trình nào đợc xây dựng cho xã hội đều cần cóthời gian ngay từ những khâu đơn giản đầu tiên
Thứ ba, chúng ta vẫn biết sản phẩm của công cuộc đầu t phát triển thờng
là sản phẩm công cộng, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội và ngay cả từ mục
đích xuất phát để có đợc sản phẩm đó không phải là mục đích lợi nhuận Vì thế,
đầu t phát triển có thời gian hoạt động để có thể thu hồi vốn đã bỏ ra đối với cáccơ sở nghiên cứu kĩ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thờng kéo dài nhiều nămtháng và do đó không thể tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực củacác yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế.v.v và cũng dothời gian vận hành các kết quả đầu t thờng dài nên yếu tố phát sinh ảnh hởng đếnkết quả của đầu t là không lờng trớc đợc, và sau đó, chính ảnh hởng này lại kéo
Trang 3dài thêm thời gian thu hồi vốn của sản phẩm đầu t thậm chí làm giảm khả năngthu hồi so với ban đầu khi mà thời gian làm mất đi giá trị sử dụng của công trình.
Điều này một phần đã lí giải tại sao có những công trình công cộng vĩnh viễnkhông có khả năng thu hồi vốn hoặc thanh lý
Thứ t, sản phẩm đầu t phát triển thờng là những công trình hoặc hạng mục
công trình phục vụ lợi ích cho toàn xã hội, là kết quả của cả một thời gian dàinghiên cứu tìm hiểu, lập kế hoạch, lập bản thống kê, thi công.v.v với một lợngvốn là rất lớn nên đó phải là sản phẩm có chất lợng tốt nhất, phục vụ đợc lâunhất Điều này đã tạo cho đầu t phát triển có thêm một đặc điểm nữa đó là cácthành quả của hoạt động đầu t phát triển có gía trị sử dụng lâu dài nhiều năm, cókhi hàng trăm, hàng ngàn năm, có khi tồn tại vĩnh viễn nh các công trình kiếntrúc nổi tiếng thế giới
Thứ năm, các thành quả của hoạt động đầu t là các công trình xây dựng sẽ
hoạt động ở ngay nơi mà nó đợc tạo dựng nên Do đó các điều kiện địa lý địahình tại đó có ảnh hởng lớn đến quá trình thực hiện đầu t cũng nh tác động saunày của các kết quả của đầu t Công trình, sản phẩm của đầu t phát triển bao giờcũng đặt ở vị trí mà nó có thể phát huy tác động của mình là phục vụ tối đa nhucầu của toàn xã hội và tất nhiên sẽ phải chịu ảnh hởng của tất cả các yếu tố bất
định cả về thời gian, khí hậu, địa hình, môi trờng tập quán của ngời dân, các điềukiện kinh tế xã hội.v.v,nó không chỉ ảnh hởng trong thời gian thực hiện đầu t màngay cả sau này khi các thành quả của đầu t phát triển phát huy tác dụng cũngvẫn chịu ảnh hởng của các yếu tố nh vậy
Thứ sáu, do thời gian thực hiện đầu t và vận hành các kết quả đầu t thờng
kéo dài nên đầu t phát triển bao giờ cũng chịu một mức rủi ro cao.Những rủi ronày là không thể tránh khỏi,có thể do chủ quan và khách quan.Và cũng chính vì
điều này mà các thành quả, kết quả của hoạt động đầu t do đó thờng có độ trễ vềmặt thời gian tức là đầu t tại thời điểm này song phải sau một thời gian nhất địnhmới phát huy tác dụng, mang lại những ảnh hởng vừa tích cực, vừa tiêu cực với
dự án
Trên đây là những đặc điểm đặc trng của đầu t phát triển, vừa là yếu điểmcũng lại vừa là u điểm đối với các đối tợng sử dụng Do vậy, để đảm bảo chocông cuộc đầu t đạt đợc hiệu quả kinh tế xã hội cao cần làm tốt công tác chuẩn
bị đầu t, sự chuẩn bị này đợc thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu t Điềunày có nghĩa là công cuộc đầu t phải tiến hành đầu t theo dự án mới có hiệu quả
1.3 Vai trò của đầu t phát triển.
Từ việc xem xét bản chất của đầu t phát triển, các lý thuyết kinh tế,các lý thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lý thuyết kinh tế thị trờng đều coi
đầu t phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sựtăng trởng
* Nếu xét trên phạm vi của toàn bộ nền kinh tế của đất nớc, vai trò của
đầu t phát triển đợc thể hiện thông qua năm vấn đề chính:
Một là, đầu t vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu Có
thể thấy, đầu t là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nềnkinh tế Đối với tổng cầu, tác động của đầu t là ngắn hạn Với tổng cung cha kịpthay đổi, sự tăng lên của đầu t làm tổng cầu tăng lên làm sản lợng cân bằng vàgiá cả đầu vào của đầu t tăng lên Trong khi đó về phiá cung, khi các thành quảcủa đầu t phát huy tác dụng thì kéo theo đờng tổng cung dài hạn tăng lên làmcho sản lợng tiềm năng tăng nhng giá cả sản phẩm giảm Điều này cho phép tăngtiêu dùng và do đó lại kích thích sản xuất, tăng tích luỹ,tăng thu nhập,nâng caomức sống cho mọi thành viên trong xã hội
Trang 4Hai là, đầu t có tác động hai mặt đến sự ổn định về kinh tế. Nh đã nói ở
trên thì đầu t tác động đến tổng cung và tổng cầu không đồng thời về mặt thờigian Mỗi một sự thay đổi dù rất nhỏ của đầu t, tăng hay giảm, đều cùng một lúcvừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của một quốcgia Chẳng hạn, tăng đầu t sẽ làm tăng cầu về các yếu tố của đầu t, làm giá củacác hàng hoá có liên quan tăng đến một mức độ nào đó dẫn đến lạm phát Lạmphát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống lao động khó khăn, thâm hụt ngân sách,kinh tế phát triển chậm.v.v, nhng mặt khác, tăng đầu t lại làm tăng nhu cầu củacác yếu tố có liên quan, thúc đẩy sản xuất ngành này phát triển, tạo điều kiệncho sự phát triển kinh tế
Ba là, Đầu t có tác động đến tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế
Trang 5Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy:
ở các nớc phát triển, thừa vốn thiếu lao động nên ICOR thờng lớn ( 5- 7 ) vốn
đợc sử dụng nhiều để thay thế cho lao động do sử dụng công nghệ hiện đại cógiá cao Còn ở các nớc chậm phát triển, do thừa lao động thiếu vốn nên có thể
và cần sử dụng lao động để thay thế cho vốn, sử dụng công nghệ kém hiện đại sẽlàm cho ICOR thấp (2-3 )
Bốn là, đầu t có tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều này là
hoàn toàn đúng bởi lẽ khi tăng hay giảm đầu t trong một ngành, một lĩnh vực nào
đó tất yếu kéo theo việc tăng hay giảm tốc độ tăng trởng tơng ứng ở các ngànhhoặc lĩnh vực đó Có thể thấy xu thế ngày nay là tăng đầu t vào các ngành côngnghiệp và dịch vụ.Còn với ngành nông, lâm, ng nghiệp do hạn chế về nhiều mặtnên muốn đạt đợc tốc độ tăng trởng nh mong muốn ( 9- 10%) là hết sức khókhăn Nh vậy, chính sách đầu t quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ởcác quốc gia nhằm đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế Còncơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác động cân đối về phát triển giữa các vùng, phát huytối đa có thể các lợi thế so sánh của vùng để phát triển với kết quả cao nhất
Năm là, đầu t có tác dụng tăng cờng khoa học và công nghệ của đất nớc.
Khoa học và công nghệ là trung tâm của CNH và đầu t là điều kiện kiên quyết
của sự phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của mỗi quốc gia Chúng tavẫn biết rằng, có hai con đờng cơ bản để có đợc công nghệ sử dụng là tự nghiêncứu phát minh tìm ra công nghệ thích hợp hoặc nhập công nghệ từ nớc ngoài.Song dù bằng cách nào, bằng con đờng nào cũng cần phải có chi phí và chi phílại là hệ quả tất yếu của đầu t Mọi phơng án đổi mới, cải tạo công nghệ khônggắn với nguồn đầu t là phơng án không khả thi
* Nếu xét trên phạm vi các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ :
Đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở Để tạo lập cơ
sở ban đầu nh đất đai, máy móc, thiết bị cấu trúc hạ tầng, tiến hành các công tácxây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trongmột chu kỳ của các cơ sở vật chất kĩ thuật tạo ra.v.v cần có đầu t,để duy trì sựhoạt động của toàn bộ cơ sở hạ tầng sau một thời gian vận hành cũng cần có đầu
t, để cải tiến qui mô, kết cấu hoạt động của toàn bộ cơ sở cho phù hợp với xu thếhiện đại cũng cần có đầu t Ngay cả các cơ sở vô vị lợi để tồn tại và duy trì sựhoạt động cũng cần có các chi phí thờng xuyên, đó cũng là đầu t
Trang 62 Khái niệm, vai trò của FDI.
Vốn cho đầu t phát triển có thể thu hút và huy động từ những nguồn: trong
n-ớc hoặc ngoài nn-ớc Nh chúng ta cũng đã biết là các công trình xây dựng côngcộng thì thờng đòi hỏi vốn lớn song khả năng thu hồi vốn rất chậm, thậm chíkhông có Do đó rất nhiều thành phần kinh tế trong nớc không có khả năng hoặckhông muốn tham gia Vốn cho đầu t phát triển chủ yếu là của Nhà nớc và vốnnớc ngoài Có thể nói nguồn vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất cho đầu t phát triểnchính là vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài
Vậy đầu t trực tiếp nớc ngoài là gì ?
2.1 Khái niệm về FDI
Đầu t trực tiếp nớc ngoài ( Foriegn Direct Investment – FDI ) là hoạt độngkinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển t bản giữa các quốcgia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thứcnhất định trong đó ngời chủ đầu t tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành,quản lý và sử dụng vốn đầu t
2.2 Vai trò của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Đầu t nớc ngoài nói chung và đầu t trực tiếp nớc ngoài nói riêng là một hoạt
động kinh tế đối ngoại có vị trí vai trò hết sức to lớn, nó đã, đang và tất yếu sẽtrở thành xu hớng của thời đại Đặc biệt với các nớc đang phát triển, ở giai đoạn
đầu gặp khó khăn rất lớn về vốn thì FDI có thể xem là “ cú hích “ để phát triểnkinh tế, đẩy các nớc ra khỏi quĩ đạo của vòng luẩn quẩn, từng bớc hội nhập vàonền kinh tế thế giới Nguy cơ tụt hậu không cho phép các nớc đang phát triển đ-
ợc châm trễ hay có sự lựa chọn nào khác Thực tiễn và kinh nghiệm nhiều nớccho thấy, quốc gia nào thực hiện chiến lợc kinh tế với bên ngoài sẽ tạo đợc tốc
độ tăng trởng kinh tế cao Vai trò của FDI đợc thể hiện cụ thể nh sau:
* FDI với chuyển giao công nghệ (CGCN).
Một trong những vai trò quan trọng của FDI là CGCN Chuyển giao côngnghệ mang một ý riêng không chỉ là nhập khẩu công nghệ đơn thuần mà còn cảphần kĩ năng vận hành công nghệ đó, sửa chữa, bảo hành, nắm vững các nguyên
lý, mô phỏng và phát triển nó Thông qua các hình thức của FDI, giữa các nớc đã
có sự chuyển giao công nghệ và bổ sung công nghệ cho nhau Các hình thứcchuyển giao công nghệ thờng có lợi cho cả hai bên chuyển giao và tiếp nhậncông nghệ Qua đó các kinh nghiệm sản xuất tiên tiến, các bằng sáng chế, các bíquyết về kĩ thuật, nhãn hiệu hàng hoá mới, kiểu dáng công nghiệp đã đợc chuyểngiao giữa các bên
* FDI tác động đến cán cân thơng mại
FDI có tác động tích cực đến cán cân thơng mại của các nớc Một đặc điểmcủa các nớc Châu á là thông qua FDI để có các công nghệ mới cho sản xuấthàng hoá có giá trị cao hơn cho xuất khẩu Điều này hoàn toàn khác với các nớcphát triển, ở đó sản xuất hàng hoá có giá trị cao cho xuất khẩu thu đợc bằng sửdụng các yếu tố đầu t nớc ngoài Các nớc công nghiệp mới ở Châu á ngày cànggia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu chủ yếu do lắp ráp các máy móc hoặc cácthiết bị từ phụ tùng, linh kiện nhập khẩu Với các nớc phát triển thì thông quaFDI có thể tạo ra ngành công nghiệp mới Ví dụ công ty Motorola chấp nhậnchuyển giao công nghệ chất bán dẫn cho Toshiba và Toshiba giúp đỡ công tynày thâm nhập vào thị trờng Nhật Bản
* FDI cho phép chuyển giao kinh nghiệm và kĩ năng quản lý.
Có thể nói, thông qua các xí nghiệp liên doanh, FDI đã tạo ra môi trờng và
điều kiện tốt để tiếp thu những kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp Và khi làm
Trang 7việc trong các công ty có vốn đầu t nớc ngoài, đội ngũ cán bộ quản lý đã đợc dàotạo bồi dỡng các khoá học ngắn hạn do các công ty nớc ngoài tổ chức, do đó, cóthể tiếp cận với những phơng pháp và kĩ năng quản lý mới, tiếp thu và nâng caotrình độ quản lý, đáp ứng nhu cầu mới của nớc ngoài và làm việc có hiệu quảhơn.
* FDI với tăng trởng và phát triển kinh tế.
Đối với tất cả các quốc gia kể cả các quốc gia phát triển cũng nh đang pháttriển thì đầu t đợc coi là chìa khoá của sự tăng trởng và phát triển Mà lợng vốncần cho đầu t luôn là một yêu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia và trong đó FDI đóngmột vai trò hết sức quan trọng với sự tăng trởng và phát triển kinh tế
Vốn đâu tICOR = -
Mức tăng GDPNếu ICOR không đổi thì mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vốn đầu t từ đócàng khẳng định vai trò của FDI với tăng trởng và phát triển
Ngoài các vai trò đã trình bày ở trên, FDI còn đóng góp vào việc xây dựngcơ sở hạ tầng cho nền kinh tế nh thông tin liên lạc, đờng xá, bến cảng.v.v, HĐHcác cơ sở sản xuất trong nớc Sản phẩm của các hình thức đầu t trực tiếp nớcngoài thờng có chất lợng cao trên thị trờng nội địa và có thể thay thế hàng nhậpkhẩu đáp ứng nhu cầu trong nớc Mặt khác, FDI còn kích thích thị trờng nội địaphát triển tạo môi trờng cạnh tranh trong nớc của các nhà kinh doanh đồng thời
đóng góp một phần ngân sách rất lớn thông qua thuế, tác động tới hai mặt cung
và cầu của nền kinh tế Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốtrong đó bao gồm khung luật pháp và chính sách phát triển kinh tế xã hội củamột nớc
II Điện tử - ngành công nghiệp mũi nhọn trong
phát triển kinh tế.
Trang 81.Vài nét về công nghiệp điện tử.
CNĐT là ngành đã đợc chú ý và phát triển từ lâu song hiện nay chỉ có một
số nớc là đứng đầu trong lĩnh vực này Ngành điện tử tin học là ngành kỹ thuật công nghệ cao hàng đầu trên thế giới, đây cũng là ngành đã góp phần mang lại
sự thần kỳ về phát triển kinh tế cho các nớc Đông Bắc á và những con rồng Châu á trong thập kỷ 80 - 90 Ngành CNĐT trên thế giới và ngành công nghệ thông tin liên quan đã đạt đợc sự phát triển mạnh mẽ trong 20 năm qua Với tốc
độ tăng khoảng 10% năm, năm 1998 thị trờng điện tử thế giới ớc tính đạt khoảng
1000 tỷ USD
Tuy nhiên trong thập kỷ 90, ngành điện tử sản xuất các sản phẩm gia dụng
nh đã chuyển sang thời kỳ khác, chững lại, trong khi tin học lại đang phát triển
nh vũ bão và nằm trong tay các công ty đa quốc gia của Mỹ Ngày nay, ở hầu hếtcác nớc công nghiệp hoá, ngành CNĐT đang phát triển nhanh và nó có tác dụng không nhỏ tới các ngành công nghiệp khác và toàn bộ nền kinh tế Điều này không chỉ đúng với các nớc công nghiệp hoá mà còn đúng với các nớc đang pháttriển nh Việt Nam
Ngành CNĐT là một trong những ngành " chủ đạo " trong nền kinh tế Một trong các nguyên nhân để nó đợc xem là ngành " chủ đạo " là do việc ứng dụng công nghệ điện tử và các công nghệ liên quan vào các ngành khác sẽ giúp cho việc tạo ra các sáng chế, tăng năng suất và tạo ra nhiều thị trờng mới, nhiều việc làm mới Do đó mà Chính phủ nhiều nớc đã tập trung vào ngành CNĐT và ngành thông tin viễn thông hơn là bất cứ ngành nào khác trong những năm 80 - 90
2.Vai trò của FDI đối với ngành CNĐT.
Để tạo đợc tốc độ tăng trởng, phát triển nhanh đối với tổng thể nền kinh
tế của một quốc gia nói chung cũng nh để có thể phát triển đợc ngành CNĐT - ngành giữ vai trò " chủ đạo " của mỗi nớc nói riêng, từng bớc đuổi kịp và hội nhập với các trong khu vực và trên thế giới, bên cạnh các nguồn vốn khác thì FDI là một nhân tố quan trọng với các nớc đang phát triển và cả nớc phát triển
Có thể thấy trong lĩnh vực CNĐT thì FĐI đóng một vai trò nhất định đem lại những tác động tích cực cho cả nớc đầu t và nớc nhận đầu t
Một trong những vai trò hết sức quan trọng của FDI với CNĐT là vấn đề
về CGCN Ngành CNĐT là ngành đòi hỏi công nghệ cao, kỹ thuật cao, lao động
cần chuyên môn, cần độ chính xác và chất lợng cao.v.v.Để phát triển lĩnh vựcnày một cách hiệu quả thì cần phải có những công nghệ hiện đại, đáp ứng nhucầu ngày một cao của xã hội loài ngời Có hai con đờng để có đợc công nghệ cao
đó là : Tự nghiên cứu sáng tạo ra những công nghệ phù hợp hoặc là nhập khẩunhững công nghệ của nớc ngoài đáp ứng đợc nhu cầu và điều kiện sản xuất trongnớc Song dù là bằng con đờng nào cũng cần có vốn và thông qua FDI là lớnnhất
Có thể nói rằng, FDI thông qua CGCN đem lại lợi ích cho cả hai bên Vớinớc đầu t (chủ yếu là các nớc phát triển) thì FDI thờng giúp họ bổ sung, hoànthiện công nghệ, họ có điều kiện để xuất khẩu những công nghệ trung gian vàviễn thông hoặc chuyển giao những công nghệ đã lạc hậu trong nớc.Với nớcnhận đầu t (chủ yếu là các nớc đang phát triển)trình độ công nghệ lạc hậu thìFDI lại đợc coi là phơng tiện để nhập công nghệ có trình độ cao hơn từ bênngoài, những công nghệ đã qua thử nghiệm, tránh rủi ro và tiết kiệm đợc thờigian,chi phí nghiên cứu thị trờng, nhu cầu sản phẩm
Trang 9Thứ hai, đó là vai trò của FDI trong lĩnh vực xuất và nhập khẩu của ngành CNĐT đặc biệt đối với nớc nhận đầu t
FDI cho phép các nớc nhận đầu t tạo ra đợc những sản phẩm điện tử đápứng ngày càng nhiều hơn nhu cầu của ngời sử dụng với chất lợng cao hơn, đadạng hơn về mẫu mã, chủng loại và còn hớng ra thị trờng nớc ngoài, tạo cho sảnphẩm có chỗ đứng mới trên thị trờng quốc tế Không những thế FDI còn tạo điềukiện cho các nớc nhận đầu t có thể nhập phụ tùng, linh kiện, dây chuyền sản xuấtcủa nớc ngoài mà không gặp trở ngại nào Với điều kiện sản xuất mới thì nhữngsản phẩm điện tử có thể thay thế đợc hàng hoá nhập khẩu và trên hết là tạo ranhững khâu sản xuất mới và những lĩnh vực mới trong ngành CNĐT
Thứ ba,CNĐT cũng nh sản phẩm điện tử luôn đòi hỏi một lợng chất xám cao Vì vậy cũng cần nhắc đến ở đây vai trò của FDI với việc phát triển nguồn nhân lực và tạo thêm nhiều việc làm mới cho nớc nhận đầu t
Do yêu cầu khách quan của công việc mà ngời lao động luôn đợc đào tạomột cách có hệ thống và đồng thời bản thân họ cũng phải nâng cao trình độ nghềnghiệp và các lĩnh vực khác có liên quan của mình FDI cũng tạo ra điều kiện vàmôi trờng tốt để ngời lao động có thể tiếp thu đợc những kiến thức cần thiết nhbồi dỡng cho họ những kỹ năng quản lý tiên tiến, kinh nghiệm xây dựng đánhgía dự án.v.v.Về phần các nhà đầu t, thông qua FDI họ có thể tiết kiệm đợc chiphí thuê cán bộ quản lý và nhân viên nớc ngoài sang các nớc sở tại mà vẫn đảmbảo hiệu quả
Ngoài ra FDI còn có một số vai trò khác nh tạo thêm nguồn vốn hoạt độngcho ngành điện tử, cho phép khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú, đadạng ở các nớc khác v.v Ngày nay, khi sự phát triển của thế giơí không ngừngtăng lên thì phát huy lợng vốn đầu t FDI đối với CNĐT đã và đang trở thành xuthế của thời đại hiện nay
Phần II
Tình Hình FDI Vào Lĩnh Vực Công Nghiệp Điện tử
từ Năm 1988 Đến Nay.
I - Tổng quan về công nghiệp điện tử ở Việt Nam.
Cho đến nay, ngành CNĐT của Việt Nam vẫn còn là một ngành côngnghiệp tơng đối nhỏ với sự tăng trởng đáng kể chỉ diễn ra trong một số lĩnh vựcsản phẩm Chẳng hạn, trong năm 1996, giá trị sản xuất của các ngành thiết bị
điện và điện tử, radio, ti vi và thiết bị truyền thông vào khoảng 300 triệu USD,chiếm 3% tổng giá trị sản xuất công nghiệp Việt Nam Nhng giá trị sản xuấthàng năm của ngành điện tử Việt Nam từ đó đến nay vẫn đang tăng nhanh hơncác ngành công nghiệp khác Các công ty chủ chốt trong ngành điện tử ViệtNam vẫn là loại nhỏ và vẫn cha có khả năng cạnh tranh với các công ty điện tử ởcác nớc láng giềng
Trang 10tác lắp ráp tơng đối đơn giản.Trong số các công ty điện tử, khoảng 1/2 là thuộc
sở hữu của chính phủ TW và chính quyền cấp tỉnh trên nhiều vùng khác nhaucủa đất nớc Ngoài ra còn có 17 công ty là liên doanh, 14 công ty là hoàn toànthuộc sở hữu nớc ngoài, 50 doanh nghiệp ( chiếm khoảng 1/3 số công ty đầu t )
là thuộc sở hữu t nhân của ngời Việt Nam Các công ty t nhân này chủ yếu vậnhành các trang thiết bị lắp ráp qui mô nhỏ hoặc cung cấp các dịch vụ kĩ thuậtkhác nhau So với phần lớn các nớc khác, thì các công ty t nhân trong nớc thuộcngành CNĐT là rất ít
1.2 Việc làm.
Trong ngành CNĐT có khoảng 16.000 ngời đang làm việc và trong số đó
có khoảng 70% đang làm việc trong các công ty nhà nớc, 18% làm việc trongcác công ty nớc ngoài và 12% làm việc trong khu vực t nhân trong nớc
1.3 Về vốn đầu t.
Tổng vốn đầu t vào ngành CNĐT Việt Nam vào khoảng 700 triệu USD.Các doanh nghiệp lớn thuộc sở hữu của Chính phủ TW và chính quyền tỉnh cólợng vốn ít nhất với vốn đầu t đợc ớc lợng vào khoảng 30 triệu USD,chỉ chiếm 4-5% tổng vốn đầu t trong CNĐT Lợng vốn đầu t của các doanh nghiệp thuộc sởhữu t nhân gấp 3-4 lần so với các doanh nghiệp nhà nớc 92% vốn đầu t vàongành điện tử Việt Nam là do các công ty 100% vốn nớc ngoài hoặc các công ty
có một phần vốn nớc ngoài đầu t vào
1.4 Về sản phẩm.
Tại Việt Nam, có thể nói, hàng điện tử tiêu dùng ( đồ gia dụng ) chiếm uthế trong chủng loại sản phẩm của ngành điện tử với khoảng 40% tổng giá trị sảnxuất của ngành điện tử Trong đó, sản lợng thiết bị thông tin liên lạc chiếmkhoảng 1/3 tổng sản lợng và máy tính ( bao gồm cả phần mềm và dịch vụ liênquan ) chiếm khoảng 15% tổng sản lợng, hàng điện tử công nghiệp ( bao gồm cảlinh kiện và nguyên liệu liên quan ) chiếm khoảng 13% tổng sản lợng
Đến năm 95, hàng điện tử gia dụng đã tăng với tốc độ nhanh, lên tới 30%mỗi năm trong vài năm trở lại đây Tuy nhiên, cũng từ năm 1995, sản lợng ti vi
và đồ điện gia dụng khác “ sản xuất tại Việt Nam” có nhịp độ giảm hàng nămbằng mức tăng hàng năm trớc đây Năng lực sản xuất ti vi của Việt Nam ớc tínhhiện nay là trên 2 triệu cái/ năm, song thị trờng trong nớc chỉ tiêu thụ đợc 0,7triệu cái / năm Hiện nay có khoảng 6 triệu ti vi đang đợc sử dụng tại Việt Nam.Xuất khẩu đang tăng lên nhng ở mức thấp và không đạt tới mức có thể giúp cáccông ty hiện có tận dụng công suất Ngoài ti vi, các công ty điện tử Việt Namcũng lắp ráp một khối lợng đồ gia dụng nh radio cassette, stereo và VCRs Tronglĩnh vực này, năng lực sản xuất trong nớc cũng vợt quá nhu cầu hiện tại
1.5 Về lĩnh vực sản xuất hàng điện tử.
Cho đến nay, loại hình lắp ráp đang chiếm u thế:
- Ti vi màu các loại : 2000000 chiếc/năm
- Ti vi đen trẵng : 1600000 chiếc/năm
- Radio, cassette các loại : 700000 chiếc/năm
- Đèn hình : 1600000 chiếc/năm
- Linh kiện điện tử các loại : 804000000 sản phẩm/ năm
Phần lớn hoạt động chế tác đợc thực hiện trên cơ sở hợp đồng dới dạng muabản quyền của đối tác nớc ngoài, bao gồm thiết kế nguyên bản sản phẩm, cáchtrang bị và tổ chức dây chuyền sản xuất Hiện nay, Việt nam không có phát triểnthiết kế gốc và chế tác mang tính thơng mại, cũng vẫn cha hề có nhãn mang tínhthơng mại đáng kể cho các mặt hàng điện tử gia dụng lẫn điện tử công nghiệp.Các công ty thuộc sở hữu Nhà nớc đang cố gắng chuyển sang chế tác thiết bịgốc ( OEM ) và chế tác thiết kế gốc chứ không phải là chế tác hợp đồng nữa, nh-
ng cha có nỗ lực thực tế phát triển các thiết kế nh thế trong giai đoạn này.Trong
Trang 11bốn năm qua, mô hình sản xuất này hầu nh không thay đổi Khoảng 70% tổng sốradio,cassette và ti vi bán tại Việt Nam là sản xuất trong nớc, chủ yếu sử dụnglinh kiện và các đầu vào khác của nớc ngoài Khoảng 80% hàng điện tử gia dụngkhác sản xuất trong nớc đợc lắp ráp trên cơ sở mua bản quyền ở cấp độ CKD ( Complete knock down), các mặt hàng điện tử trong nớc còn lại khác đợc lắpráp ở cấp độ SKD ( Semi knock down ) hoặc IKD ( Incomplete knock down ).
Đứng đầu trong lĩnh vực lắp ráp sản phẩm là lắp ráp bảng vi mạch ( chủ yếucho hàng điện tử gia dụng ) và loại hình này trở thành một hoạt động kinh doanh
đang phát triển tại Việt Nam bao gồm hàn lên khung các linh kiện điện nh điốtbán dẫn ( Transistor diodes ), biến áp, trấn lu và có thể tạo ra những năng lực chếtác mới Thêm vào đó, chi phí lao động ở Việt Nam tơng đối thấp cũng tạo điềukiện cho các công ty chế tạo của đất nớc có lợi thế hơn so với các nớc trong khuvực
Ngoài ra còn có một ngành công nghiệp hỗ trợ nhỏ nhng mạnh mẽ là đónggói và vận chuyển sản phẩm cuối cùng đã bắt đầu hình thành Tuy nhiên, cácngành công nghiệp hỗ trợ khác chỉ chủ yếu là chế tác những sản phẩm có giá trịthấp và dịch vụ liên quan ( ăng ten đơn giản đợc sản xuất ở Việt Nam và ngànhcông nghiệp chất dẻo đợc hình thành để sản xuất hộp cho ti vi và cho thiết bịviễn thông di động )
1.6 Về vấn đề thơng mại và thị trờng tiêu thụ sản phẩm điện tử.
Trớc năm 1993, các công ty điện tử Việt Nam đã xuất khẩu sang các nớcthuộc Liên Xô và Đông Âu Tuy nhiên, trong vài năm qua, các công ty điện tửnhà nớc và các công ty điện tử t nhân thuộc sở hữu của ngời Việt Nam không cómặt hàng xuất khẩu
Các công ty liên doanh và các công ty 100% vốn nớc ngoài xuất khẩu một ợng hạn chế hàng điện tử với 2 loại chủ yếu hiện nay: Thứ nhất là điện tử giadụng với mặt hàng chính là ti vi Liên doanh Daewoo Hanel đã xuất khẩu đợc tấtcả trên 100.000 ti vi màu sang Đông á và Trung Đông Tuy nhiên, một số trongnhững mặt hàng xuất khẩu này nhằm phục vụ chiến lợc tiếp thị trong nớc: kháchhàng Việt Nam đợc thuyết phục rằng những sản phẩm do các công ty trong nớcsản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế và có khả năng xuất khẩu Chẳng hạn nh ti vi giáthấp ''sản xuất tại Việt Nam'' đợc phân phối với số lợng hạn chế trên thị trờngNhật Bản.Loại thứ hai mang tính thơng mại lớn hơn,đợc mở rộng cả ở thị trờngtrong nớc và khu vực Việt Nam không xuất khẩu các thiết bị bán dẫn, thiết bịviễn thông, máy văn phòng, đồ dân dụng và các sản phẩm điện tử tiêu dùngkhác Việt Nam không có khả năng chiếm lĩnh đợc dù chỉ một phần nhỏ trọng l-ợng linh kiện điện tử đợc bán ra trong khu vực Còn ở Philipin, các thiết bị bándẫn đợc sản xuất từ nhiên liệu nhập khẩu, là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩuhàng đầu trong năm 96 với tổng giá trị là 4 tỉ USD (chiếm 40% tổng giá trị xuấtkhẩu của ngành điện tử và 20% tổng giá trị xuất khẩu cả nớc)
l-Còn thị trờng tiêu thụ trong nớc của Việt Nam vẫn còn thấp bởi ngời tiêudùng vẫn cha thể xoá bỏ hẳn t tởng thích đồ ngoại Họ sẵn sàng trả giá cao hơn
để sử dụng đợc đồ nhập khẩu
Các chuyên gia về điện tử - tin học có nhận xét nh sau:
+Điện tử - tiêu dùng chỉ là một dạng tơng tự nh gia công chế biến baogồm các công đoạn chính, nhập linh kiện lắp ráp, tiêu thụ Thị trờng chủ yếu làtrong nớc nên đến nay khả năng cung ứng đã vợt quá cầu ( hơn 30% khả năngtiêu thụ ) và phân ngành này không hấp dẫn điện tử nớc ngoài nh trớc
+Với sản xuất linh phụ kiện hiện nay cũng đã có một số linh phụ kiện đợcsản xuất ( chủ yếu ở dạng lắp ráp ) tại Việt Nam: đèn hình TV, tụ điện, điệntrở.v.v nhng lại bị cạnh tranh gay gắt vì giá hàng nhập giảm mạnh trong bối cảnhkhủng hoảng khu vực Bên cạnh đó, chính sách bảo hộ lại mâu thuẫn với xu thế
Trang 12hội nhập nên một số doanh nghiệp phải giảm số lợng để tồn tại tạm thời Thực tếnày cũng khiến các nhà đầu t không muốn đầu t vào lĩnh vực này.
Tóm lại, trong bối cảnh hiện nay cần phát triển thêm u đãi và không hạnchế phân ngành với điện tử nớc ngoài trong ngành CNĐT
II - Tình hình đầu t trực tiếp nớc ngoài vào ngành
CNĐT ở Việt Nam trong thời gian qua.
Ngành CNĐT của Việt Nam nói chung từ những năm đầu của thập kỉ 80
đến nay cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, ngành điện tử nớc ta đã cónhững bớc phát triển hết sức nhanh chóng Từ chỗ nớc ta cha có đợc một dự ánsản xuất sản phẩm điện tử đến nay chúng ta đã có đợc nhiều dự án điện tử vớidây chuyên công nghệ tơng đối hiện đại, sản phẩm điện tử bớc đầu đã đáp ứng đ-
ợc nhu cầu trong nớc và một phần đem xuất khẩu Đạt đợc những thành qủa trên
là nhờ sự đóng góp rất lớn của FDI trong lĩnh vực CNĐT Để đánh giá đợc vaitrò của FDI với CNĐT nói riêng và nền kinh tế nói chung, đặc biệt là đề ra đợccác giải pháp trong thời gian tới, chúng ta sẽ xem xét cụ thể thực trạng các dự ánFDI trong ngành CNĐT thời gian qua
1.Qui mô cơ cấu
Từ năm 1988 đến năm 1997, nớc ta đã có 22 dự án đầu t nớc ngoài vàongành CNĐT ( kể cả trong và ngoài khu Công nghiệp ) đợc cấp giấy phép( chiếm 9% tổng số dự án đã đầu t vào nớc ta trong thời gian qua, với tổng sốvốn đầu t đăng kí là 334,5 triệu USD Riêng trong lĩnh vực CNĐT, nhìn chungcác dự án triển khai đúng tiến độ cam kết, không có dự án nào bị rút giấy phép
đầu t và hầu hết phía nớc ngoài là các tập đoàn và các công ty lớn có tiếng trênthế giới về điện- điện tử nh : Mitsubishi,Sony,Toshiba, JVC,Philip, Samsung,LG,Singer ,có tiềm năng rất lớn về tài chính, công nghệ và buộc phải giữ chữ tíntrong kinh doanh Cho đến nay,ta đã có 39 dự án đang hoạt động trong lĩnh vựcnày (trong đó có 17 liên doanh và 22 doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài)với tổngvốn đăng ký 740,5 triệu USD,vốn pháp định là 276,8 triệu USD
Trang 13Vốn thựchiện
Đây có thể nói là tốc độ thu hút vốn cao nhất so với các ngành khác Năm 1993
có dự án của công ty điển hình Orien – Hanel với vốn đầu t 178.584.000 USD,năm 1994 thì vốn đầu t có giảm 49% và các năm 1996-1997, vốn đầu t vàocác dự án này giảm một cách đáng kể so với các năm trớc năm 1996 giảm 94%
so với năm 1995, năm 1997 giảm 40% so vói năm 1996 Đây là do tác động củacuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu á Trong các năm 1996, 1997,1998,không chỉ giảm về tổng số vốn đầu t mà còn giảm vả về số dự án đợc cấp giấyphép đâu t.Năm 1996, có 4 dự án đợc cấp giấy phép, năm 1997 còn 1 dự án, năm
1998 đầu 1999 không có dự án nào đợc cấp giấy phép Trong quy mô vốn đầu tnày thì tỉ lệ vốn đầu t thực hiện trong giai đoạn 1990-1997 trung bình 54,87%
Đây là một tỉ lệ cao đối với việc thực hiện một dự án ĐTNN ở nớc ta
Quy mô vốn bình quân một dự án là 18.987.586 USD, nh vậy đây làngành có vốn đầu t rất lớn so với các ngành khác vì các dự án đầu t có hàm lợngcông nghệ cao Nhìn chung, các dự án điện tử có quy mô trung bình và lớn trừmột số sự án năm 1996 do bắt đầu chịu ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tàichính và dự án năm 1990 do mới bắt đầu chủ trơng mở cửa thu hút vốn đầu t nớcngoài, các chủ đầu t còn e dè Nhng thời gian qua, các chủ đầu t ngày càng tin t-ởng vào thị trờng Việt Nam, số lợng các dự án đầu t ngày càng tăng lên và quymô dự án cũng gia tăng Và trong thời gian tới, quy mô vốn đầu t chắc chắn sẽcòn tăng lên
t của phía Việt Nam Có thực tế này là do chủ trơng của Nhà nớc muốn tham giavào ngành điện tử - ngành mũi nhọn, then chốt trong chiến lợc phát triển kinh tếcủa quốc gia Tuy nhiên đây là điều cha hợp lý trong cơ cấu công nghiệp Việtnam bởi vì Nhà nớc cha đa ra đợc một chính sách khuyến khích hợp lý với các tổchức kinh tế ngoài quốc doanh trong việc liên doanh với các đối tác nớc ngoài,cha tập trung, khai thác đợc tiềm năng trong nớc
Trang 14chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ Thực tế trên chứng tỏ môi trờng đầu t của ngànhCNĐT ở nớc ta cha đủ sức hấp dẫn với các nhà đầu t đặc biệt là Mĩ - quốc giatập trung khối lợng lớn công nghệ điện tử, có trình độ phát triển vợt bậc, trình độquản lý tốt.
Vốn đầu t phân theo quốc giaQuốc gia Số dự
Hàn Quốc với 7 dự án, có tổng vốn đầu t vào ngành CNĐT chiếm 42,12%
và chiếm 31,82% tổng số dự án là một yếu tố thuận lợi vì Hàn Quốc là một trongbốn con rồng Châu á, lại là quốc gia có trình độ công nghệ tiên tiến trong lĩnhvực CNĐT với những tập đoàn điện tử lớn và tiềm năng về tài chính cũng nhkhoa học công nghệ lớn Nớc đứng thứ hai về vốn đầu t vào Việt Nam là NhậtBản (chiếm 39,05% tổng vốn đầu t, 22,73% tổng số dự án) Tuy nhiên, việc xếploại danh sách các nớc đầu t vào Việt Nam trong lĩnh vực CNĐT chỉ mang tínhtơng đối vì qua các năm, vị trí hàng đầu cũng có thay đổi
Một trong những đối tác nớc ngoài quan trọng đối với ngành CNĐT ViệtNam là các nớc thuộc khối Nics, đây là các nớc công nghiệp mới tuy xét vềkinh nghiệm quản lý và trình độ công nghệ hơn ta rất nhiều nhng so với các nớccông nghiệp phát triển(idcs)còn kém xa.Hiện nay theo ớc tính trên thế giới cókhoảng 98% vốn đẩu t raa nớc ngoài là của các nớc idcs và chỉ có 2% là củacác nớc nics Đây là một điều khó khăn với Việt Nam trong việc cạnh tranhvềxuất khẩu với các công ty khác
sở hạ tầng còn thấp kém, các khu công nghiệp, khu chế xuất cha phát triển Mặtkhác trong quan hệ với các cơ quan chức năng, bên nớc ngoài cha có nhữngthông tin rõ ràng Do đó, trong thời gian đầu họ rất a chuộng hình thức liêndoanh(từ năm 88 đến năm 97 chiếm tới 61% tổng số dự án FDI vào ngànhCNĐT ) Tuy nhiên về lâu dài, sau một thời gian hoạt động tại Việt nam, họ sẽchuyển sang hình thức 100% vốn đầu t nớc ngoài(chiếm 56,42% tổng số dự àncủa ngành)
Qua hình thức liên doanh,Việt nam có thể học hỏi đợc kinh nghiệm quản
lý, nâng cao trình độ lao động, nắm bắt đợc các công nghệ cần thiết mà tự mình
Trang 15không thể có đợc, đồng thời có thể phân chia lợi nhuận theo tỉ lệ vốn góp, chiễmlĩnh đợc thị trờng thông qua đối tác nớc ngoài Thời gian tới, xu hớng các dự ántheo hình thức 100% vốn nớc ngoài sẽ gia tăng, điều này là tất yếu bởi vì các chủ
đầu t nớc ngoài muốn điều hành xí nghiệp một cách độc lập, có quyền tự quyếttrong các hoạt động của công ty và một phần là doViệt Nam không có đủ nănglực tài chính để tham gia vốn góp Tuy nhiên, chính phủ cần phải có chủ trơng đadạng hoá các hình thức đầu t để nhằm thu hút và huy động nhiều vốn đầu t hơn
đích hoạt động của bản thân Fujitsu trên toàn thế giới Nó là hoạt động kinhdoanh có tính chất ''nội bộ'' chứ không mang tính ''buôn bán'' Vì thế, tác độngcủa nhà máy này đối với nguồn cung cấp cho ngành điện tử Việt nàm là rất hạnchế, thậm chí bằng không Sản phâm của nhà máy đợc chuyển tới các nhà máykhác trong khu vực và đầu vào cho nhà máy tại Việt nam đợc đa từ nớc ngoàivào
Có thể nói rằng, bằng cách trở thành một ''nhà chế tác hợp đồng'' tại địaphơng cho các doanh nghiệp điện tử Việt nam, nhà máy của Fujitsu có thể thựchiện đợc một mục tiêu quan trọng để phát triển ngành điện tử trong tơng lai vàcác doanh nghiệp Việt nam có thể thu đợc lợi nhuận nhờ các dịch vụ sản xuất đ-
ợc chuyên môn hoá cao của Fujitsu.Nếu có thể dễ dàng tiếp cận đợc với các đầuvào có công nghệ tiên tiến, các doanh nghiệp Việt nam sẽ có khả năng cạnhtranh cao hơn trên thị trờng khu vực và quốc tế
4.2 Viettronics Biên Hoà
Một trong số những doanh nghiệp điện tử trong nớc vừa có thể là ngờimua các dịch vụ sản xuất theo hợp đồng của các công ty nớc ngoài, vừa là nhàcung cấp các dịch vụ sản xuất nhất định chính là Viettronics Biên hoà Đây làmột doanh nghiệp nhà nớc lắp ráp hàng điện tử dân dụng khá hiện đại phục vụthị trờng nội địa và có một phần cho thị trờng quốc tế Vietronics Biên Hoà còn
là một nhà sản xuất linh kiện điện tử Hiện tại công ty này hoạt động kiểu mộtnhà máy sản xuất theo hình thức '' gửi hàng'',có nghĩa là việc phát triển sản phẩm
và thiết kế kỹ thuật là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện: phần lớn máymóc thiết bị và hầu nh toàn bộ linh kiện đều do các công ty này cung cấp Khihợp đồng kết thúc và không còn hợp đồng nào khác đang đợc triển khai thì BiênHoà phải trả lại toàn bộ máy móc thiết bị
Nếu nhu cầu về sản lợng mạch và lắp ráp sản phẩm cuối cùng trong ngànhCNĐT tăng lên thì một công ty nh Viettonics Biên Hoà có thể trở thành một nhàchế tác hợp đồng của Việt Nam, có lĩnh vực hoạt động riêng cạnh tranh đợc vớicác nhà sản xuất có công nghệ hiện đại hơn thậm chí có thể trở thành một công
ty có nhãn hiệu riêng Hiện tại Biên Hoà cha có máy móc hiện đại củachính mình
Giai đoạn này, Chính Phủ cần tạo điều kiện để phát triển một số ít nhà sảnxuất nhằm phục vụ trớc tiên cho nhu cầu trong nớc về bảng mạch.Với Biên Hoà,liên kết với một công ty nớc ngoài có thể đem lại máy móc, công nghệ và bíquyết kỹ thuật liên quan, vốn để mua linh liện và một số nguồn khác nữa
5 Kết quả đầu t của khu vực FDI trong CNĐT Việt Nam