Dựa vào những bước tăng trưởng vượt bậc của ngành công nghiệp chế biến gỗ như vậy, thế giới đã có những tiêu chuẩn quy định các phương pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm đồ gỗ cho từng sả
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
THUYẾT MINH DỰ THẢO TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
Tên tiêu chuẩn: SẢN PHẨM ĐỒ GỖ - PHƯƠNG PHÁP RÚT MẪU
KIỂM TRA
Chủ trì nhiệm vụ: TS Phạm Tường Lâm
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Lâm nghiệp
Cơ quan quản lý nhiệm vụ: Tổng cục Lâm nghiệp
Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
HÀ NỘI, 2021
Trang 3THUYẾT MINH DỰ THẢO TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
Tên tiêu chuẩn: Sản phẩm đồ gồ - Phương pháp rút mẫu kiểm tra
I THÔNG TIN CHUNG
Tổ chức chủ trì biên soạn: Trường Đại học Lâm nghiệp
Thời gian xây dựng: 03/2021-12/2022
II TÓM TẮT TÌNH HÌNH ĐỐI TƯỢNG TCVN; LÝ DO VÀ MỤC ĐÍCH XÂY DỰNG
2.1 Tình hình đối tượng tiêu chuẩn
2.1.1 Tình hình đối tượng tiêu chuẩn ngoài nước
Nguyên liệu gỗ đã và đang được con người sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực trong cuộc sống và được coi là một trong những nguyên liệu chính trong ngành xây dựng và nội thất Sản lượng các loại gỗ được sử dụng chính trên toàn cầu đã tăng mạnh từ năm 2016 cho đến nay với tốc độ tăng trưởng từ 3% đến 6% mỗi năm Các loại gỗ chính được sử dụng rộng rãi trên thế giới phải kể đến các loại gỗ như gỗ tròn,
gỗ xẻ, gỗ tấm và các loại viên gỗ nén Những khu vực phát triển ngành công nghiệp gỗ
là những quốc gia ở châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Mỹ và châu Âu, đặc biệt là khu vực Đông Âu với tốc độ tăng trưởng kinh tế tích cực và năng lực sản xuất vượt trội trong lĩnh vực sản xuất năng lượng sinh học Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), năng lực sản xuất trong ngành công nghiệp gỗ đã dần hồi phục trong giai đoạn năm 2010 - 2016 sau khi chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2008 Tốc độ tăng trưởng của ngành gỗ bắt đầu xu hướng tăng trưởng bền vững kể từ sau năm 2016 và xu hướng tích cực này vẫn tiếp tục được duy trì do sự phát triển của kinh tế toàn cầu nói chung cũng như nhu cầu về năng lượng tái tạo gia tăng
Nước sản xuất đồ nội thất lớn nhất trên thế giới là Trung Quốc, với 39% sản lượng đồ nội thất trên toàn thế giới, theo sau là Đức, Ba Lan, Ý và Việt Nam Thị trường sản xuất đồ nội thất lớn khác phải kể đến là Hoa Kỳ, Đức, Ý, Ấn Độ, Ba Lan
và Việt Nam Theo thống kê cho thấy, từ năm 2009 đến 2018, sản lượng đồ gỗ ở Châu
Á và Thái Bình Dương tăng hơn gấp đôi trong khi những thay đổi ở các khu vực khác
là tương đối nhỏ Năm 2018, hơn một nửa sản lượng đồ nội thất thế giới đã tập chung
ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương Dựa vào những bước tăng trưởng vượt bậc của ngành công nghiệp chế biến gỗ như vậy, thế giới đã có những tiêu chuẩn quy định các phương pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm đồ gỗ cho từng sản phẩm đồ gỗ cụ thể khác nhau Từ đó, sẽ giúp cho việc quản lý và đánh giá chất lượng sản phẩm đồ gỗ một cách thống nhất, bài bản và có hệ thống.
Trên thế giới hiện nay đã có một số tiêu chuẩn về phương pháp thử đồ gỗ cụ thể như sau:
- ISO 19833:2018 Furniture — Beds — Test methods for the determination of
stability, strength and durability Đồ nội thất - Giường - Xác định độ ổn định, độ bền
cơ học và độ bền mỏi.
1
Trang 4- ISO 7171:2019 Furniture — Storage units — Test methods for the
determination of stability – Đồ nội thất – Tủ lưu trữ - Phương pháp thử độ ổn định và
độ bền cơ học của sản phẩm dạng tủ.
- ISO 9221-2:2015 Furniture — Children's high chairs — Part 2: Test methods.
- ISO 10131-2:1997 Foldaway beds — Safety requirements and tests — Part 2:
Test methods.
- ISO 21015:2007 Office furniture — Office work chairs — Test methods for
the determination of stability, strength and durability.
- ISO 21016:2007 Office furniture — Tables and desks — Test methods for the
determination of stability, strength and durability.
- SN/T 2419-2010 进出口家具检验规程 (Quy trình kiểm tra đồ nội thất xuất nhập khẩu).
đã tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp phát triển.
Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập và mở cửa nền kinh tế đã tạo điều kiện mở rộng thị trường, tăng giá trị xuất khẩu, khuyến khích các ngành công nghiệp phát triển, trong đó có ngành công nghiệp chế biến gỗ Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay, ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng
kể, phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm góp phần tạo nguồn thu nhập cho đất nước nói chung và tạo công ăn việc làm cho người dân nói riêng.
Các sản phẩm gỗ chế biến ngày càng trở nên đa dạng hơn, có mẫu mã và chất lượng sản phẩm ngày càng phù hợp hơn với cả thị trường trong nước và xuất khẩu Từ chỗ chỉ tập trung để tái xuất khẩu sang một nước thứ ba, đến nay các sản phẩm gỗ chế biến của Việt Nam đã có mặt ổn định ở trên 120-150 nước và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới với nhiều doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu sang các thị trường dành cho người tiêu dùng Ngay cả các thị trường khó tính nhất, đòi hỏi chất lượng cao như:
2
Trang 5Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc… Hiện cũng chiếm tỷ trọng hơn 50% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam.
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, Chính phủ Việt Nam ngày càng chú trọng phát triển ngành lâm nghiệp, đây là một trong những ngành trụ cột quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Kim ngạch xuất ngành gỗ tăng từ 3,4 tỷ USD trong năm 2010 lên 11,5 tỷ USD vào năm 2019 Đạt mục tiêu 13,22 tỷ USD trong năm
2020, hướng đến mục tiêu xuất khẩu 25 tỉ USD vào năm 2025, tương ứng mới mức tăng trung bình hơn 20% mỗi năm.
Việc các nhà nhập khẩu lớn của thế giới chuyển hướng chiến lược đa dạng hoá thị trường nhập khẩu đồ gỗ, thay vì chỉ phụ thuộc vào một số thị trường quen thuộc trước đây cũng đang mở ra những cơ hội và tiềm năng phát triển rất lớn cho ngành chế biến gỗ Việt Nam Theo dự báo, Việt Nam có cơ hội lớn để mở rộng thị trường gỗ và các sản phẩm gỗ trên thế giới Ngành gỗ với kim ngạch xuất khẩu 13,22 tỷ USD trong năm 2020, nếu có giải pháp đúng và chính sách hỗ trợ hiệu quả thì các doanh nghiệp ngành gỗ có thể nâng mức kim ngạch xuất khẩu đạt từ 15 đến 20 tỷ USD trong những năm tiếp theo.
Bên cạnh những lợi thế và thuận lợi, ngành chế biến gỗ, lâm sản Việt Nam hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Cụ thể là xuất khẩu gỗ và sản phẩm
gỗ tiềm năng tuy lớn nhưng sức ép cạnh tranh đang ngày càng gia tăng, đặc biệt từ phía Trung Quốc, Đài Loan và các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia…Vì chất lượng và mẫu mã sản phẩm đồ gỗ Việt Nam còn hạn chế, chưa thật sự phong phú,
đa dạng, do vậy còn thiếu sức cạnh tranh Nhiều năm qua, ngành chế biến gỗ, lâm sản mặc dù phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững Tăng trưởng của ngành chủ yếu dựa vào xuất khẩu nhưng phần lớn lại chỉ là gia công, phụ thuộc nhiều vào sự đặt hàng và thiết kế mẫu mã từ khách hàng nước ngoài Mặt khác việc kiểm soát chất lượng sản phẩm trong nội tại các nhà máy sản xuất và mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu đang là một trong những khó khăn thường trực của ngành công nghiệp chế biến gỗ và sản xuất đồ nội thất hiện nay Vì vậy, việc xây dựng một tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng cho sản phẩm đồ gỗ là cần thiết và cấp bách Theo tìm hiểu hiện trong nước, để kiểm tra chất lượng sản phẩm đồ gỗ, mỗi đơn vị sản xuất lại có cách thức kiểm tra sản phẩm khác nhau Chủ yếu sử dụng tiêu chuẩn nước ngoài, nếu sử dụng tiêu chuẩn Việt Nam thì phải sử dụng TCVN 5372:1991 Đồ gỗ - Phương pháp thử, tiêu chuẩn này đã được xây dựng cách đây 30 năm, do đó các phương pháp thử không còn được phù hợp với yêu cầu thực tế về chất lượng đồ gỗ nội thất hiện tại Đồng thời tiêu chuẩn này có những chỉ tiêu đánh giá không chi tiết cụ thể và một số chỉ tiêu đến thời điểm hiện tại không còn hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan.
Hiện nay, tại Việt Nam để kiểm tra chất lượng của sản phẩm đồ gỗ, đã có những tiêu chuẩn liên quan đã được công bố như sau:
Trang 62.2 Lý do xây dựng tiêu chuẩn
Ngành công nghiệp gỗ Việt Nam nói chung, ngành sản xuất đồ gỗ nói riêng trong những năm qua đạt rất nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và thành tựu đã đạt được, còn gặp rất nhiều hạn chế như xuất khẩu gỗ và sản phẩm
gỗ tiềm năng tuy lớn nhưng sức ép cạnh tranh đang ngày càng gia tăng, đặc biệt từ phía Trung Quốc, Đài Loan và các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia , chất lượng và mẫu mã sản phẩm đồ gỗ Việt Nam còn hạn chế, chưa thật phong phú, đa dạng, do vậy còn thiếu sức cạnh tranh Nhiều năm qua, ngành chế biến gỗ, lâm sản mặc dù phát triển nhanh nhưng không bền vững Tăng trưởng của ngành này chủ yếu dựa vào xuất khẩu nhưng phần lớn lại chỉ là gia công, phụ thuộc nhiều vào sự đặt hàng
và thiết kế mẫu mã từ khách hàng nước ngoài Ngoài ra, việc quản lý về chất lượng sản phẩm cũng đặt ra cho doanh nghiệp những bài toán khó giải trong giai đoạn này.
Kiểm tra, đánh giá chất lượng đồ gỗ một cách không thống nhất và tự phát sẽ khiến doanh nghiệp và nhà đầu tư phải bỏ ra nhiều công sức và chi phí quản lý nhằm đánh giá được chất lượng sản phẩm trong sản xuất, đặc biệt là hàng xuất khẩu, hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu của khách hàng, mà không thể đưa ra giải pháp hiệu quả
và thuyết phục khách hàng trong việc kiểm soát chất lượng sản phẩm
Do nhu cầu về kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm đồ gỗ tại các nhà máy sản xuất trong nước và nhu cầu cho đồ gỗ xuất khẩu là rất lớn, cần thiết phải có tiêu chuẩn thử nghiệm để đánh giá chất lượng của sản phẩm đồ gỗ Từ đó thống nhất phương thức kiểm tra chất lượng của sản phẩm đồ gỗ tại các nhà máy sản xuất và chế biến gỗ trong nước, giúp hài hòa tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn Quốc tế Mặc dù tại Việt Nam năm 1991 đã có tiêu chuẩn TCVN 5372:1991 Đồ gỗ - Phương pháp thử Tuy nhiên, tiêu chuẩn này đã được xây dựng và áp dụng 30 năm, các phương pháp thử không còn được phù hợp với yêu cầu, chất lượng đồ gỗ nội thất hiện tại mà quốc tế quy định Đồng thời tiêu chuẩn này có những chỉ tiêu đánh giá không chi tiết cụ thể và một số chỉ tiêu đến thời điểm hiện tại không còn hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan Do đó, cần thiết phải kiểm tra, rà soát tiêu chuẩn TCVN 5372:1991, cập nhập những chỉ tiêu trong các tiêu chuẩn mới của Việt Nam và Thế giới Điều chỉnh tiêu chuẩn cũ phù hợp với những yêu cầu ngày càng cao của sản phẩm đồ gỗ trong nước và xuất khẩu.
2.3 Mục đích xây dựng tiêu chuẩn
Xây dựng, soát xét tiêu chuẩn “Đồ gỗ - Phương pháp thử” từ tiêu chuẩn TCVN 5372:1991 là rất cần thiết đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ gỗ hiện nay Tiêu chuẩn góp phần nâng cao giá trị của sản phẩm đồ gỗ phục vụ nhu cầu trong nước
và xuất khẩu.
III GIẢI THÍCH NHỮNG NỘI DUNG CỦA DỰ THẢO TCVN
4
Trang 7Bản dự thảo TCVN: Sản phẩm đồ gỗ - Phương pháp rút mẫu kiểm tra
3.1 Nêu tóm tắt những chương, phần chính của tiêu chuẩn
Nội dung của bản dự thảo tiêu chuẩn gồm phần lời nói đầu, phạm vi tiêu chuẩn
và phần nội dung chính của tiêu chuẩn Phần nội dung chính của tiêu chuẩn gồm 7 mục gồm:
Mục 7 Báo cáo thử nghiệm
3.2 Giải thích những quy định trong tiêu chuẩn
3.2.1 Danh mục tài liệu làm căn cứ xây dựng tiêu chuẩn
- TCVN 5372:1991 Đồ gỗ - phương pháp thử
- GB/T 28202 - 2011 家具工业术语 (Furniture industry terminology)
- ISO 7171: 2019 Furniture — Storage units — Test methods for the determination of stability (Đồ nội thất – Tủ lưu trữ - Phương pháp thử xác định độ ổn định)
- ISO 7170 Furniture — Storage units — Determination of strength and durability ( Đồ nội thất – Tủ lưu trữ - Độ bền cơ học và độ bền mỏi)
- EN 1730:2012 Furniture - Tables - Test methods for the determination of stability, strength and durability (Đồ nội thất – Bàn – Phương pháp thử xác định độ ổn định, độ bền cơ học và độ bền mỏi)
- TCVN 10772-1: 2015 (ISO 7174-1:1988) Đồ nội thất – Ghế - Xác định độ ổn định – Phần 1: Ghế tựa và ghế đẩu
- ISO 7173:1989 Furniture — Chairs and stools — Determination of strength and durability (Đồ nội thất - Ghế và ghế đẩu - Xác định độ cơ học và độ bền mỏi)
- ISO 19833:2018 Furniture — Beds — Test methods for the determination of stability, strength and durability (Đồ nội thất - Giường - Phương pháp thử để xác định
độ ổn định, độ bền cơ học và độ bền mỏi)
3.2.2 Các căn cứ trong nội dung dự thảo tiêu chuẩn
1) Phạm vi áp dụng (mục 1): được điều chỉnh bổ sung trên cơ sở tiêu chuẩn: TCVN 5372:1991 Đồ gỗ - phương pháp thử.
2) Tài liệu viện dẫn (mục 2): Bổ sung thêm mục này so với tiêu chuẩn gốc, do tiến hành soát xét TCVN 5372:1991 nên cần thiết bổ sung mục tài liệu viễn dẫn để cập nhật các phương pháp thử mới cho tiêu chuẩn.
5
Trang 83) Thuật ngữ và định nghĩa (mục 3): Bổ sung thêm mục thuật ngữ và định nghĩa so với tiêu chuẩn gốc Được xây dựng dựa trên TCVN 12624-1 và GB/T 28202 - 2011 家具 工业术语 (Furniture industry terminology) có điều chỉnh bổ sung.
4) Chuẩn bị mẫu thử (mục 4): Có điều chỉnh bổ sung
5) Thiết bị, dụng cụ (mục 5): Bổ sung thêm mục mới trong dự thảo
6) Phương pháp thử (mục 6): Có điều chỉnh bổ sung căn cứ vào các tiêu chuẩn viện dẫn sau:
ISO 7170 Furniture — Storage units — Test methods for the determination of
strength, durability and stability (Đồ nội thất - Tủ đựng đồ - Phương pháp xác định độ bền cơ học, độ ổn định và độ bền mỏi)
ISO 7173 Furniture — Chairs and stools — Determination of strength and
durability (Đồ nội thất - Ghế và ghế đẩu - Xác định độ bền cơ học và độ bền mỏi)
ISO 19833 Furniture — Beds — Test methods for the determination of stability,
strength and durability (Đồ nội thất - Giường - Phương pháp thử để xác định độ
ổn định, độ bền cơ học và độ bền mỏi)
EN 1730 Furniture - Tables - Test methods for the determination of stability,
strength and durability (Đồ nội thất – Bàn – Phương pháp thử xác định độ ổn định, độ bền cơ học và độ bền mỏi)
7) Báo cáo thử nghiệm: có điều chỉnh so với tiêu chuẩn cũ
3.3 Nêu tính ưu việt và những điểm cần chú ý của dự thảo tiêu chuẩn đối với các
cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý dự thảo
Nêu tính ưu việt của tiêu chuẩn:
Tiêu chuẩn TCVN 5372:2022 là tiêu chuẩn được xây dựng dựa trên tiến hành soát xét tiêu chuẩn TCVN 5372:1991 Tiêu chuẩn được xây dựng làm căn cứ để tiến hành thử nghiệm các tính chất và chất lượng cơ bản của một số các sản phẩm đồ gỗ điển hình như (tủ đựng đồ, bàn, ghế, giường), đây là tiêu chuẩn làm căn cứ để kiểm tra chất lượng của sản phẩm đồ gỗ, đặc biệt là đồ gỗ phục vụ xuất khẩu.
Những điểm cần chú ý của dự thảo:
6
Trang 9a) Bổ sung mục phạm vi áp dụng (mục 1)
b) Bổ sung mục tài liệu viện dẫn (mục 2)
c) Bổ sung mục thuật ngữ và định nghĩa (mục 3)
d) Chỉnh sửa chuẩn bị mẫu thử (mục 4)
Mối tương quan với các tiêu chuẩn quốc tế: Dự thảo tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn phổ biến Quốc tế hiện nay:
- GB/T 28202 - 2011 家具工业术语 (Furniture industry terminology)
- ISO 7171: 2019 Furniture — Storage units — Test methods for the determination of stability (Đồ nội thất – Tủ lưu trữ - Phương pháp thử xác định độ ổn định)
- ISO 7170 Furniture — Storage units — Determination of strength and durability ( Đồ nội thất – Tủ lưu trữ - Độ bền và độ bền lâu)
- EN 1730:2012 Furniture - Tables - Test methods for the determination of stability, strength and durability (Đồ nội thất – Bàn – Phương pháp thử xác định độ ổn định, độ bền và độ bền lâu)
- TCVN 10772-1: 2015 (ISO 7174-1:1988) Đồ nội thất – Ghế - Xác định độ ổn định – Phần 1: Ghế tựa và ghế đẩu
- ISO 7173:1989 Furniture — Chairs and stools — Determination of strength and durability (Đồ nội thất - Ghế và ghế đẩu - Xác định độ bền và độ bền lâu)
- ISO 19833:2018 Furniture — Beds — Test methods for the determination of stability, strength and durability (Đồ nội thất - Giường - Phương pháp thử để xác định
độ ổn định, độ bền và độ bền lâu)
Mối tương quan với các tiêu chuẩn trong nước:
- TCVN 5372:1991 Đồ gỗ - phương pháp thử
5 Các dự kiến sửa đổi, bổ sung, thay thế tiêu chuẩn có liên quan đến dự thảo tiêu
chuẩn Khi đề cập đến việc sửa đổi, bổ sung, thay thế liên quan đến các tiêu chuẩn
quy chuẩn hiện hành, cần nêu rõ những tiêu chuẩn chương mục nào hoặc điều nào cần thay đổi, hoặc hủy bỏ cũng như thời hạn phải thực hiện việc thay thế này.
Tiêu chuẩn TCVN 5372:2022 được tiến hành soát xét căn cứ vào tiêu chuẩn gốc TCVN 5372:1991 Các thay đổi bổ sung của bản dự thảo tiêu chuẩn so với tiêu chuẩn gốc được trình bầy trong Bảng 1 dưới đây.
7
Trang 11Bảng 1: Nội dung soát xét đề nghị sửa đổi dự thảo tiêu chuẩn TCVN 5372:2022 so với tiêu chuẩn gốc TCVN 5372:1991
A Định dạng tiêu chuẩn
1-2: 2008 XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN - PHẦN 2:
QUY ĐỊNH VỀ TRÌNH BÀY VÀ THỂ HIỆN NỘIDUNG TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
B Cấu trúc
1-2: 2008 XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN - PHẦN 2:
QUY ĐỊNH VỀ TRÌNH BÀY VÀ THỂ HIỆN NỘIDUNG TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
C Nội dung
chuẩn Quốc gia thực hiện năm
2021 Tên tiêu chuẩn là: Sản phẩm
đồ gỗ - Phương pháp rút mẫu kiểmtra, tuy nhiên căn cứ vào nội dungtiêu chuẩn, đề nghị giữ nguyên têntheo tiêu chuẩn gốc
2 Lời nói đầu
TCVN 5372: 1991 do Hội Lâm nghiệp Việt Nam biên soạn,
Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị và được Ủy
ban Khoa học Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ)
ban hành;
Tiêu chuẩn này được chuyển đổi năm 2008 từ Tiêu chuẩn Việt
Nam cùng số hiệu thành Tiêu chuẩn Quốc gia theo quy định tại
khoản 1 Điều 69 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và
Lời nói đầu
TCVN 5372:2022 thay thế TCVN 5372:1991TCVN 5372:2022: do Trường Đại học Lâm nghiệpbiên soạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượngthẩm định, Bộ khoa học và Công nghệ công bố
Thay thế lời nói đầu bằng cụm từ “TCVN 5372:2022 thay thế TCVN5372:1991
TCVN 5372:2022: do Trường Đạihọc Lâm nghiệp biên soạn, BộNông nghiệp và Phát triển nôngthôn đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng thẩm định,
9
Trang 12điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày
1/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật
Bộ khoa học và Công nghệ côngbố.”
3 ĐỒ GỖ - PHƯƠNG PHÁP THỬ
Wooden furniture – Test methods
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định các kích thước
cơ bản, các khuyết tật gỗ và gia công, độ ẩm của gỗ, độ ổn định,
Tiêu chuẩn này không áp dụng cho bàn ghế vănphòng
Bổ sung mục 1: Phạm vi áp dụng
Các tài liệu viện dẫn sau đây là cần thiết để áp dụngtiêu chuẩn này Đối với các tài liệu viện dẫn ghi nămcông bố thì áp dụng bản được nêu Đối với các tàiliệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụngphiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung(nếu có)
TCVN 107721 (ISO 71741) Đồ nội thất – Ghế Xác định độ ổn định – Phần 1: Ghế tựa và ghế đẩu
TCVN 107722 (ISO 71742) Đồ nội thất Ghế Xác định độ ổn định- Phần 2: Ghế cơ cấu nghiênghoặc ngả khi ngả hoàn toàn và ghế bập bênh
-Bổ sung mục 2 tài liệu viễn dẫn
10
Trang 13TCVN 12624-1 Đồ gỗ - Phần 1: Thuật ngữ và địnhnghĩa
ISO 7170 Furniture — Storage units — Test methodsfor the determination of strength, durability andstability (Đồ nội thất - Tủ đựng đồ - Phương phápxác định độ bền cơ học, độ ổn định và độ bền mỏi)ISO 7173 Furniture — Chairs and stools —Determination of strength and durability (Đồ nội thất
- Ghế và ghế đẩu - Xác định độ bền cơ học và độ bềnmỏi)
ISO 19833 Furniture — Beds — Test methods forthe determination of stability, strength and durability(Đồ nội thất - Giường - Phương pháp thử để xác định
độ ổn định, độ bền cơ học và độ bền mỏi)
EN 1730 Furniture - Tables - Test methods for thedetermination of stability, strength and durability(Đồ nội thất – Bàn – Phương pháp thử xác định độ
ổn định, độ bền cơ học và độ bền mỏi)
Trong Tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ vàđịnh nghĩa trong TCVN 12624-1 và các thuật ngữ
và định nghĩa sau
Bổ sung mục 3: Thuật ngữ và địnhnghĩa
11
Trang 14Thử nghiệm độ ổn định (Stability Test)
Thử nghiệm khả năng chống lật của mẫu thử dướitác dụng của tải trọng
2.4
Thử nghiệm độ bền cơ học (Strength test)
Thử nghiệm mô phỏng tải trọng mà mẫu thử cóthể chịu được trong điều kiện sử dụng bình thường
và sử dụng sai thói quen
2.5
Thử nghiệm độ bền mỏi (Durability test)
Thử nghiệm độ bền của đồ gỗ trong điều kiện sử
12
Trang 15dụng nhiều lần và chịu tải nhiều lần.
2.6
Tủ đựng đồ (Storage units)
Đồ gỗ dạng hộp dùng để cất trữ, chứa đựng vậtdụng, tài liệu…
Ghế văn phòng (Office chair)
Ghế đơn dùng cho văn phòng
2.9
Lô hàng đồ gỗ (Batch of furniture)
Lô hàng đồ gỗ là một lượng sản phẩm cùng loại,cùng hạng chất lượng, và do cùng một đơn vị sảnxuất
2.10
Khuyết tật tự nhiên (Inherited defects)
Là các hiện tượng không bình thường về cấu tạo
13
Trang 16bên trong của gỗ (như sự tồn tại của cành, nhánh,thớ nghiêng, thớ xoắn, thớ chun, hai tấm, u tíchnhựa; và về hình dạng bên ngoài của thân cây nhưthân cong, thót ngọn, bạnh vè, thân dẹt) do cácđiều kiện hoàn cảnh như khí hậu, đất, ánh sánghay đặc tính di truyền của loài cây, hoặc do sự tácdụng tổng hợp của cả hai nhân tố bên trong và bênngoài mà tạo thành.
2.11 Khuyết tật phát sinh (Developed Defects)
Là khuyết tật của đồ gỗ gặp phải sau khi gỗ đượcgia công, chế biến thành phẩm như: nứt dọc, congvênh, vết xước, hở mối ghép mộng
5 1 Lấy mẫu
1.1 Lô hàng đồ gỗ là một lượng sản phẩm cùng loại, cùng
hạng chất lượng, và do cùng một đơn vị sản xuất
1.2 Mẫu được lấy ngẫu nhiên ở các điểm khác nhau trong lô
theo số lượng mẫu được quy định trong bảng 1:
đồ gỗ với số lượng mẫu thử cần lấy được quy địnhtrong bảng 1
Bảng 1: Quy định số lượng mẫu thử
14