1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN đề tài vận dụng tư tưởng hồ chí minh về phương thức đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay

17 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 170,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, có tổ chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng...7 CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ CHÍNH SÁ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

*

Đề Tài

Sinh viên thực hiện:

Phạm Văn Trường Giang MSSV: 20203694 Lớp: Điện tử 03-K65

HÀ NỘI 6-2021 MỤC LỤC Nội dung Trang PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3

2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 3

3 KẾT CẤU ĐỀ TÀI 3

NỘI DUNG ĐỀ TÀI 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHÁCH QUAN VÀ NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 4

Trang 2

1.1.1 Những giá trị truyền thống tạo nên sức mạnh dân tộc 4

1.1.2 Quá trình tổng kết thực tiễn những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam, cách mạng thế giới 4

1.1.3 Tiếp thu quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lê Nin về đoàn kết lực lượng trong Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa 5

1.1.4 Yếu tố chủ quan của Hồ Chí Minh 5

1.2 Những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 6

1.2.1 Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, đảm bảo thành công của cách mạng 6

1.2.2 Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng 6

1.2.3 Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân 6

1.2.4 Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, có tổ chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng 7

CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT KIỀU YÊU NƯỚC HIỆN NAY 9

2.1 Những điểm tích cực 9

2.2 Những điểm còn hạn chế 11

KẾT LUẬN 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam là một quốc gia dân tộc đã hình thành sớm trong quá trình dựng nước và giữ nước Nhân dân Việt Nam có ý thức sâu bền về quyền tự chủ quốc gia dân tộc Quá trình dựng nước và giữ nước đã tạo dựng và phát triển cho dân tộc Việt Nam một nền văn hóa tư tưởng rực rỡ, trong đó chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập và khát vọng tự do là truyền thống của lịch sử Đó

là nền tảng văn hóa tư tưởng của sự hội tụ và đoàn kết dân tộc, là động lực vĩ

Trang 3

đại và duy nhất của nhân dân Việt Nam trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản do chính Người sáng lập trong gần 80 năm đã qua cho phép chúng

ta có thể khẳng định rằng: Trong một quốc gia dân tộc, bao giờ cũng có các giai cấp, tầng lớp xã hội, các tộc người, các tôn giáo khác nhau, song bao giờ cũng có lợi ích chung và cao cả của cả dân tộc Dân tộc Việt Nam dù có nhiều giai cấp xã hội, tộc người và tôn giáo khác nhau, song người Việt Nam đều là con Hồng, cháu Lạc có lịch sử hình thành dân tộc lâu đời, có một cội nguồn văn hóa chung, có chủ nghĩa dân tộc truyền thống vững bền, có lợi ích cao cả

là độc lập, tự do Do đó việc tìm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này là hết sức cần thiết để mỗi chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của minh trong cuộc sống, đối với mọi người, với đất nước Từ đó, giúp chúng ta xác định một cái nhìn đúng đắn về lòng đoan kết, nhân nghĩa trong mỗi con người để tự hoan thiện minh, sống tốt hơn và có ý nghĩa hơn

2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU

Mục đích: Giúp mọi người nhận thức được tầm quan trọng của tinh thần đoàn kết dân tộc Từ đó mỗi cá nhân sẽ tự phát huy hơn nữa những phẩm chất tốt đẹp của bản thân để sống tốt hơn, ý nghĩa hơn

Yêu cầu: Nắm vững được tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

3 KẾT CẤU ĐỀ TÀI

Gồm 2 chương:

Chương 1 Cơ sở khách quan và những luận điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoan kết dân tộc

Chương 2 Sự vận dụng của Đảng và Nhà nước ta về chính sách đối với Việt kiều yêu nước hiện nay

NỘI DUNG ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHÁCH QUAN VÀ NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

1.1 Cơ sở khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Trang 4

1.1.1 Những giá trị truyền thống tạo nên sức mạnh dân tộc

Những giá trị truyền thống dân tộc bao gồm truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh anh dũng bất khuất cho độc lập, tự do; tinh thần nhân nghĩa và tinh thần đoàn kết, sự tương thân, tương ái, vị tha của dân tộc, tinh thần lạc quan, yêu đời; ý thức tự lực, tự cường

Những giá trị truyền thống đó được hình thành, củng cố trong những điều kiện địa lý – chính trị, môi trường tự nhiên, nền kinh tế, cấu trúc xã hội rất đặc trưng của Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử và đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả dân tộc để chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai, địch họa

Những giá trị truyền thống đó đã trở thành tình cảm tự nhiên, một triết

lý nhân sinh, một phép ứng xử và tư duy lý luận, tư duy chính trị, chi phối đạo làm người của người Việt Nam, xuyên suốt chiều dài lịch sử như:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”;

“ Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”;

Tình làng, nghĩa nước; nước mất thì nhà tan”;

“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”;…

Những giá trị truyền thống đó còn được các anh hùng dân tộc ở các thời

kỳ lịch sử khác nhau đúc kết nâng lên thành phương pháp đánh giặc giữ nước như: phương pháp nuôi dưỡng sức dân và sử dụng sức quân của Trần Hưng Đạo: “trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”; phương pháp tập hợp lực lượng và sức mạnh nhân dân của Nguyễn Trãi và hai cụ Phan: “Dựng gậy làm cờ, tập hợp bốn phương manh lệ”, “chở thuyền

là dân, lật thuyền cũng là dân”;…

Hồ Chí Minh đã sớm tiếp thu được những giá trị truyền thống của dân tộc, thấy rõ được sức mạnh của dân tộc, những quan điểm nhân sinh và phương pháp đánh giặc của cha ông kết hợp với những giá trị thời đại để chuyển thành hệ thống quan điểm cách mạng của mình

1.1.2 Quá trình tổng kết thực tiễn những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam, cách mạng thế giới.

Từ việc tổng kết các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh rút ra kết luận: Vận mệnh của đất nước đòi hỏi một lực lượng cách mạng mới có khả năng đề ra được đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử và những yêu cầu của thời đại, có đủ sức quy tụ, tập hợp lực lượng của cả dân tộc vào cuộc đấu tranh

Trang 5

chống thực dân, đế quốc, phong kiến và xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững

Từ việc tổng kết các phong trào cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh rút ra kết luận: Cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp là những cuộc cách mạng “chưa đến nơi”, vì sao cách mạng thành công, nhân dân vẫn bị áp bức, bóc lột và nghèo nàn Cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnh to lớn, những chưa có sự lãnh đạo đứng đắn, chưa có đoàn kết, chưa có tổ chức Chỉ có cuộc cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để vì: “… Cách mệnh rồi thì quyền trao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” và nó đã để lại bài học kinh nghiệm về việc huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo trong việc giành và giữ chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ xã hội mới

Nhưng phong trào cách mạng ở các nước phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ đã đem lại bài học bổ ích về việc tập hợp lực lượng yêu nước tiến bộ để tiến hành cách mạng Những kết luận trên đã giúp Người chuẩn bị những nhân tố cần thiết cho việc lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng của mình

1.1.3 Tiếp thu quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lê Nin về đoàn kết lực lượng trong Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa

Chủ nghĩa Mác - Lê Nin phát hiện ra quy luật xã hội là sản xuất vật chất, nhờ đó phát hiện ra vai trò quyết định sự phát triển xã hội của quần chúng nhân dân Sự vận động của xã hội luôn gắn với một giai cấp nhất định

mà giai cấp đó đứng ở một trung tâm của thời đại Thời đại ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp đứng ở trung tâm thời đại mới, có lợi ích phù hợp với lợi ích của nông dân và các giai tầng lao động khác, vì thế giai cấp công nhân

là giai cấp lãnh đạo cách mạng, tổ chức đoàn kết mọi giai tầng xã hội, đoàn kết cả dân tộc, cả quốc tế, các dân tộc bịáp bức để thủ tiêu Chủ Nghĩa Tư Bản, xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, Chủ Nghĩa Cộng Sản

Để đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng, trước hết phải thiết lập liên minh công nông, lấy đó làm nòng cốt, sau đó sẽ đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng bên trong và bên ngoài Bác viết: Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể,

là tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết, tập hợp các lực lượng cách mạng trên thế giới vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc

1.1.4 Yếu tố chủ quan của Hồ Chí Minh

Là người có lòng yêu nước thương dân vô bờ bến, trọng dân, tin dân, kính dân, hiểu dân, trên cơ sở nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý Người luôn chủ trương thực hiện dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ Vì vậy người được dânyêu, dân tin, dân kính phục

Trang 6

Đó chính là cơ sở của mọi tư tưởng sáng tạo của Hồ Chí Minh, trong đó

có tư tưởng đại đoàn kết của Người

1.2 Những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 1.2.1 Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, đảm bảo thành công của cách mạng.

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của

nhân dân ta Người cho rằng: “Muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động, phải tự cứu lấy mình bằng đấu tranh vũ trang cách mạng, bằng cách mạng vô sản.”

Chiến lược đó được tổng kết thành những luận điểm có tính chân lý như: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”

“Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”

“Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết,

Thành công, thành công, đại thành công!”

Tuy nhiên trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau trong cộng đồng các dân tộc Nhưng đại đoàn kết luôn được Người nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng

1.2.2 Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, vì Đảng là lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam Sức mạnh của đảng là ở sự đoàn kết nhất trí và sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân đoàn kết trong tất cả các tổ chức chính trị xã hội và trong toàn xã hội

Mục tiêu là “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”, nhiệm vụ là tuyên truyền, huấn luyện làm sao cho nhân dân hiểu biết và làm được, ví dụ: “Một

là đoàn kết Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà” Chỉ có như vậy, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng mới trở thành mục tiêu, nhiệm vụ của cả dân tộc và đại đoàn kết dân tộc mới trở thành một đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng trong cuộc đấu tranh tự giải phóng,

là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng

Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đỏi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác thành hiện thực có tổ chức và thành sức mạnh

1.2.3 Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.

Đứng trên lập trường giai cấp công nhân và quan điểm quần chúng, Hồ Chí Minh đã đề cập vấn đề dân và nhân dân một cách rõ ràng, toàn diện, có sức thuyết phục, thu phục lòng người Các khái niệm này có biên độ rất rộng lớn Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm này để chỉ “mọi con dân nước

Trang 7

Việt”, “mỗi một người con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, có tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, không phân biệt “già trẻ, gái, trai, giàu nghèo, quý tiện” Như vậy, dân và nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa được hiểu với tư cách là mỗi con người Việt Nam cụ thể, vừa

là một tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân, với những mối liên hệ cả quá khứ và hiện tại, họ là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc và đại đoàn kết dân tộc thực chất là đại đoàn kết toàn dân

Nói đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung Theo nghĩa đó, nội hàm trong khái niệm đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, nó bao gồm nhiều tầng, nấc, nhiều cấp độ mối quan hệ liên kết qua lại giữa các thành viên, các bộ phận, các lực lượng xã hội của dân tộc từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới…Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói:”Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài…Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc

và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” Từ “ta” ở đây là chủ thể, vừa là Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, vừa là mọi người dân Việt Nam nói chung

Người còn chỉ rõ, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp – dân tộc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng nào, miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ

tổ quốc, không là Biệt gian, không phản bội lại quyền lợi của dân chúng là được Với tinh thần đoàn kết rộng rãi như vậy, Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc tới cách mạng dân chủ nhân dân

và từ cách mạng dân chủ nhân dân tới cách mạng xã hội chủ nghĩa

1.2.4 Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, có tổ chức

là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo Hồ Chí Minh, dân tộc hay quần chúng nhân dân khi chưa được tổ chức và giác ngộ về lợi ích, mục tiêu, lý tưởng thì chỉ là số đông chưa có sức mạnh nhưng khi được tổ chức giác ngộ và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn sẽ trở thành sức mạnh vô địch Quy tụ quần chúng nhân dân vào một tổ chức yêu nước phù hợp với từng bước phát triển của phong trào cách mạng là sự quan tâm ngay từ đầu của Hồ Chí Minh và là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng ta

Tổ chức thể hiện sức mạnh vật chất của khối đại đoàn kết dân tộc chính

là Mặt trận dân tộc thống nhất Mặt trận có thể có tên gọi khác nhau nhưng

Trang 8

tựu trung lại chỉ là một tổ chức chính trị rộng rãi, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và các nhân tố yêu nước ở trong và ngoài nước, phấn đấu vì mục tiêu độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân như: Hội phản đế đồng minh (1930); Mặt trận Dân chủ (1936); Mặt trận nhân dân phản đế (1939); Mặt trận Việt Minh (1941); Mặt trận Liên Việt (1946); Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (1960); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955 và 1976)

Mặt trận dân tộc thống nhất được xây dựng và hoạt động theo những nguyên tắc sau:

Thứ nhất, Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nông (về sau Người nêu thêm là liên minh công – nông – lao động trí óc), dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản

Thứ hai, Mặt trận dân tộc thống nhất hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng

Thứ ba, đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Hồ Chí Minh đã viết: “Đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí Đoàn kết thật sự nghĩa

là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”

Đảng Cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất vừa

là lực lượng lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc Muốn lãnh đạo được, Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại, phải thực sự đoàn kết nhất trí Đảng Cộng sản Việt Nam phải

là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Người viết: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”

Từ đó, Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành ba tầng Mặt trận ở Việt Nam là: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt – Miên – Lào; Mặt trạn nhân dân tiến bộ thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống đế quốc xâm lược

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT KIỀU YÊU NƯỚC HIỆN NAY.

Dân tộc Việt Nam được hiểu là mỗi người dân Việt Nam đang sinh sống, làm ăn ở Việt Nam và những người Việt sinh sống, làm ăn ở nước ngoài

có gốc là người Việt Nam, không phân biệt họ là dân tộc thiểu số hay đa số,

Trang 9

họ theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, không phân biệt họ giàu hay nghèo, họ là nam hay nữ, già hay trẻ Hiện nay ước tính có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đanglàm ăn, sinh sống tại gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 4/5 sống ở các nước công nghiệp phát triển, tập trung ở Mỹ (1,3 triệu), Pháp (300.000), Úc (250.000), Canađa (trên 200.000), Đức (100.000), Nga (100.000)

Đại đoàn kết toàn dân tộc có nghĩa là phải tập hợp được mọi người dân vào một mục tiêu chung Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết

để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ"

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài như: Nghị quyết 08, ngày 29-11-1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; Chỉ thị số 55-CT/TW, ngày 23-3-1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị quyết 08; Nghị quyết

số 36/NQ-TW, ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; Quyết định số110/QĐ-TTg, ngày 23-6-2004 của Thủ tướng Chính phủ thông qua Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết 36 Chính phủ cũng đã quyết định đổi tên Ban Việt kiều Trung ương thành Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài như một cơ quan quản lý trực thuộc Chính phủ

Nghị quyết 36/NQ-TW của Bộ Chính trị khẳng định: “Người Việt Nam

ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước” Để huy động được hết mọi tiềm năng của người Việt Nam ở nước ngoài, Nghị quyết 36 còn nhấn mạnh:

“Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nâng cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc, đoàn kết, đùm bọc yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại với lợi ích chung của dân tộc”

2.1 Những điểm tích cực

Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác cộng đồng đã khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một “bộ phận không thể tách rời”

và là “một nguồn lực” của dân tộc Việt Nam Trong năm qua, Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và

“Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 36” được các cấp các ngành tích cực triểnkhai thực hiện Kết quả đạt được thể hiện trên các mặt:

Trang 10

Thứ nhất, Nghị quyết đã được quán triệt và phổ biến sâu rộng trong và ngoài nước tạo sự chuyển biến cả về nhận thức và hành động Ở trong nước, cộng tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã giành được sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội Uỷ ban đối ngoại Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, Bộ Ngoại giao và nhiều địa phương đặc biệt là các địa phương có nhiều kiều bào ở nước ngoài như TP Hồ Chí Minh, Quảng Nam,

Đà Nẵng, Tiền Giang, Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Lâm Đồng, Hải Phòng đã có văn bản cụ thể hoá các nội dung của Nghị quyết, Chương trình hành động có liên quan đến ngành, địa phương mình Ở nước ngoài, Nghị quyết được các cơ quan đại diện ngoại giao của ta đặc biệt ở các địa bàn có đông người Việt Nam định cư, sinh sống phổ biến rộng rãi đến cộng đồng và được cộng đồng hoan nghênh

Thứ hai, nhiều chính sách, biện pháp đã và đang được rà soát, sửa đổi hoặc ban hành mới theo hướng ngày càng thuận lợi hơn cho bà con kiều bào, đặc biệt là những chính sách nhằm thu hút trí thức, doanh nhân, nhà đầu tư kiều bào về hợp tác với trong nước, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi cho kiều bào nhập xuất cảnh, lưu trú trong đó có việc xem xét miễn thị thực cho một số đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài, mở rộng thêm 2 đối tượng người Việt Nam được mua nhà gắn liền với quyền sử dụng đất ở Việt Nam; cho phép kiều bào mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước; tăng cường thông tin cho kiều bào; đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc kết nối các doanh nhân, trí thức kiều bàovới các tổ chức, doanh nghiệp trong nước, Đồngthời, tiến hành đơn giản hoácác thủ tục hành chính như thủ tục hải quan, xuất nhập cảnh, cư trú đi lại, hợp pháp hoá các loại giấy

tờ, chính sách một giá

Thứ ba, công tác vận động cộng đồng được thúc đẩy mạnh mẽ theo tinh thần đại đoàn kết dân tộc, lấy mục tiêu độc lập dân tộc, dân giàu nước mạnh,

xã hội công bằng dân chủ và văn minh làm điểm tương đồng, chấp nhận những quan điểm khác nhau miễn là không trái với lợi ích chung của dân tộc; không phân biệt quá khứ, chính kiến, hướng tới tương lai; mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước miễn là mong muốn đóng góp vào mục tiêu trên thì đều có chỗ đứng trong khối đại đoàn kết dân tộc Các chuyến về thăm Việt Nam của ông Nguyễn Cao Kỳ, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Nhạc sỹ Phạm Duy và nhiều người khác đã thể hiện chính sách đó và có tác động tích cực tới cộng đồng

Trong các chuyến thăm tới các nước có kiều bào ta sinh sống, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, các Bộ, ngành đều thông báo nội dung Nghị quyết 36 và đề nghị với chính quyền sở tại tạo điều kiện cho bà con ổn định cuộc sốngvà hội nhập xã hội sở tại; đồng thời, tiếp xúc, gặp gỡ động viên bà con làm tròn trách nhiệm đối với nước sở tại và luôn hướng về đất nước, làm nhịp cầu hữu nghị giữa nước mà bà con sinh sống với Việt Nam

Các cơ quan đại diện ngoại giao ta ở nước ngoài đặc biệt tại Hoa kỳ, Canada, Pháp, Lào, Thái, Campuchia, Nga, Bỉ, Đức đã làm tốt công tác vận động cộng đồng, công tác động viên khen thưởng, tổ chức nhiều hoạt động

Ngày đăng: 18/04/2022, 06:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w