- Xét về thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo lãnh thổ, điểm a khoản 1 bộ Luật tố tụng dân sựu quy định như sau: “Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHÂN
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
GIẢNG VIÊN: Trần Thị Lệ Hằng
Sinh viên: Phùng Thị Khánh Linh
Mã sinh viên: 220001111
Lớp: Luật D2020A
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ
NỘI KHOA: KHXH&NV
TIỂU LUẬN THAY THẾ HỌC
PHẦN
Dùng cho ngành: Luật Môn: Luật Thương Mại 2
Giảng viên bộ môn: Trần Thị Lệ Hằng Họ và tên SV: Phùng Thị Khánh
Linh Lớp: Luật D2020A
Mã sinh viên: 220001111
ĐỀ 5
Bài 1 (3 điểm): Phân tích sự khác biệt giữa hình thức giải quyết tranh chấp bằng
thương lượng và hòa giải Theo anh (chị) điểm khác biệt nào là cơ bản nhất, tại sao?
Bài 2 (3 điểm): Bài tập tình huống
Ngày 10/9/2021 chi nhánh công ty S tại Hà Nội (công ty S có trụ sở chính tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên) được sự uỷ quyền của công ty đã ký hợp đồng số 02/HĐ/ TPĐ-SL với công ty T (trụ sở chính tại quận Hai Bà Trưng) về việc bán 500 chiếc tủ lạnh HITACHI model R-15A4BK, sản xuất tại Thái Lan, đơn giá 3tr/chiếc Theo hợp đồng bên mua phải thanh toán đầy đủ trong vòng 07 ngày kể từ ngày giao hàng Ngày 7/11/2021, bên bán đà giao đủ hàng cho bên mua, nhưng công ty T mới thanh toán 500 triệu Ngày 25/02/2022 sau nhiều lần khiếu nại không thành, bên bán quyết định khởi kiện Hỏi:
Xác định nguyên đơn, bị đơn trong tình huống trên
Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp? Vì sao?
Yêu cầu của nguyên đơn bao gồm:
Buộc công ty T bồi thường các thiệt hại phát sinh do bên bán phải vay vốn ngân hàng đê nhập hàng, tính theo lãi suất tiền vay ngân hàng là 1% tháng
Phạt do vi phạm hợp đồng là 10% tồng gtrị hợp đồng là l,5 tỷ x 10% = 150 triệu Nhận xét về yêu cầu của nguyên đơn
Trang 3Bài 3 (4 điểm): Anh (chị) hãy bình luận về Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng Tòa án Hạn chế và một số kiến nghị
Trả lời
Câu 1:
Giải quyết tranh chấp băng thương lượng
Giái quyết tranh chấp bằng hoà giải
Khái niệm -Thương lượng là phương thức
giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo
gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần
có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên thứ ba nào
-Hòa giải thương mại là phương
thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định
pháp luật
Cách thức
giải quyết
- Là sự thoả thuận giữa các bên - Thông qua người trung gian là
hoà giải viên
Tính bảo
mật
- Có tính bí mật tuyệt đối, chỉ hai bên xảy ra tranh chấp biết
- Có tính bí mật tương đối vì còn
có bên thứ ba là hoà giải viên Nhưng trong phương thức này tính bảo mật vẫn cao hơn so với bên toà án
Khả năng
lựa chọn
người phán
quyết
- Do hai bên tự đi đến thuận với
nhau
- Có khả năng lựa chọn người giải
quyết tranh chấp ( gọi là hoà giải viên)
Đặc điểm -Thương lượng là sự thỏa thuận
giữa các bên trong tranh chấp
-Có sự xuất hiện của người trung gian đóng vai hỗ trợ để tìm
phương án giải quyết tranh chấp Chủ thể -Thương lượng là sự thỏa thuận
giữa các bên trong tranh chấp
-Hòa giải là thỏa thuận giữa các bên và hòa giải viên trong tranh chấp
Trang 4Về ưu điểm -Đơn giản, nhanh chóng, ít tốn
kém, bảo vệ được bí mật kinh doanh của các bên tranh chấp
-Có khả năng thành công cao hơn
Về nhược
điểm
-Không có sự ràng buộc, khả năng thực thi phụ thuộc vào sự
tự nguyện của các bên
-Tốn kém chi phí, bí mật kinh doanh có thể bị ảnh hưởng, khả năng thực thi phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên
Điểm khác nhau cơ bản giữa hai phương thức này đó chính là vai trò của người thứ ba
Ở phương thức hoà giải thì vai trò của người thứ ba (do các bên tranh chấp tự do lựa chọn) chỉ mang tính hỗ trợ, giúp đỡ các bên thoả thuận với nhau, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp phát sinh Đặc biệt là bên thứ ba với tính chất trung gian hoà giải phải có vị trí độc lập đối với các bên Điều đó thể hiện rõ bên thứ ba không ở vị trí xung đột lợi ích với các bên hoặc không có những lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong các bểntong các
vụ việc đang có tranh chấp Bên thứ ba tham gia làm trung gian hoà giải thường
là những cá nhân, tổ chức có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm về những
vụ việc có liên quan đến các vụ việc phát sinh Người thứ ba làm trung gian hoà giải không có quyền quyết định hay áp đặt bất cứ vấn đề gì nhằm ràng buộc các bên tranh chấp Quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp khi
họ thống nhất được ý chí với nhau về việc giải quyết vụ tranh chấp trên cơ sở hướng dẫn, trợ giúp của người thứ ba
Câu 2:
- Nguyên đơn trong tình huống trên là: Công ty S
- Bị đơn trong tình huống trên là công ty T
Trang 52 Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Toà án nơi đặt trụ sở chính của
bị đơn
- Xét về thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo lãnh thổ, điểm a khoản 1 bộ Luật
tố tụng dân sựu quy định như sau: “Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn
là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và
32 của Bộ luật này”
3 Việc công ty S Buộc công ty T bồi thường các thiệt hại phát sinh do bên bán phải vay vốn ngân hàng đê nhập hàng, tính theo lãi suất tiền vay ngân hàng là 1% tháng là hoàn toàn đúng bởi lẽ theo điều 306 bộ Luật Thương Mại năm 2005 quy
định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán quy định “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ
và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”
Tuy nhiên việc công ty S phạt công ty T do vi phạm hợp đồng là 10% tồng gía trị hợp đồng là l,5 tỷ x 10% = 150 triệu là không có căn cứ pháp lý Trong bộ Luật thương mại 2005 có quy định mức phạt trong trường hợp vi phạm hợp đồng là khôg quá 8% giá trị hợp đồng trự trường hượp quy định tại điều 266 bộ luật này Việc phạt công ty T 10% giá trị hợp đồng là hoàn toàn sai
Câu 3:
Trong kinh doanh thương mại các chủ thể rất khó có thể để tránh cho việc mâu thuẫn không xảy ra Đó là những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các
bên trong mối quan hệ cụ thể, có thể kể đến như: Mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ; cho thuê, cho thuê mua; xây dựng; vận chuyển hàng hóa; mua bán trái phiếu, cổ phiếu; đầu tư tài chính, ngân hàng Giải quyết vấn đề này ta có rất nhiều biện pháp nhưng biện pháp tối cao nhất và mang tính bắt buộc đối với các bên đó
chính là: “ Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng Toà án”
Tuy nhiên trong biện pháp này vẫn mang một số những hạn chế nhất định, chính
Trang 6vì vậy trong đề tài đi tìm hiểu này em xin phép được nêu ra những hạn chế và một
số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn vấn đề này
1 Khái niệm
Tranh chấp, là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh Vì vậy giải
quyết tranh chấp phát sinh được coi là đòi hỏi tự thân của các quan hệ kinh tế Ta
có thể hiểu rằng: giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa chọn các hình thức biện pháp thích hợp để giải toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được Theo nền kinh tế thị trường đang trên đà phát triển mạnh thì việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
– Nhanh chóng, thuận lợi không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh
– Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh
– Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường
– Kinh tế nhất, ít tốn kém nhất
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng toà án ( một trong
những biện pháp giải quyết tranh chấp trong kinh doanh) là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân dân quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết bắt buộc các bên xảy ra tranh chấp có nghĩa
vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế, hay nói cách khác , các tranh chấp kinh doanh, thương mại được giao cho Tòa án giải quyết theo trình tự gọi là Tố tụng Tòa án
2 Thẩm quyền của toà án
Thứ nhất, thẩm quyền theo vụ việc: Khi việc xảy ra tranh chấp không thể giải
quyết được bằng biện pháp hoà giải việc giải quyết tranh chấp bằng toà án là biện pháp cuối cùng, nó mang tính bắt buộc đối với các chủ thể, tuy nhiên sẽ có nhữnhg tranh chấp không thuộc thẩm quyền xử lí của toà và toà không xử lí Chính vì vậy
Trang 7điều quan trọng nhất đó chính là xác đinh thẩm quyền của toà án trong giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại Tại điều 30 bộ Luật tố tụng dân sự đã quy định những tranh chấp mà toà án giải quyết:
“1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
3 Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công
ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
5 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”
Thứ hai, thẩm quyền theo cấp: Với vụ tranh chấp đó thì toà án cấp nào sẽ có thẩm
quyền để xử lí, giải quyết Bởi vì trên thực tế có rất nhiều các toà án( cấp tối cao, cấp cao, cấp huyện, cấp tỉnh… ) theo đó ta phải đảm bảo được hai yếu tố đó chính là: đảm bảo hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm), cấp trên liền kề trực tiếp ( trừ GDT, TT) Vấn đề này được quy định rõ tại điều 20, 19, 37, 44 bộ Luật tổ chức TAND năm 2015
Thứ ba, thẩm quyền của toà án chuyên trách: Tạo toà án nhân dân các cấp, thì sẽ
có những toà án chuyên trách, ta sẽ phải xác định toà án chuyên trách nào sẽ có thẩm quyền xử lí
Thứ tư, thẩm quyền theo lãnh thổ: Có rất nhiều địa phương khác nhau, phạm vi
lãnh thổ sẽ được xác định bằng cách xác định tất cả các thẩm quyền 1, 2, 3 khi đó
Trang 8ta sẽ có thể tìm ra một cách rạch ròi toà án ở địa phương nào sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó
Và cuối cùng đó chính là thẩm quyền giải quyết theo sự lựa chọn của nguyên đơn
3 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp thương mại bằng toà án
Thứ nhất, giải quyết tranh chấp bằng toà án được tiến hành khi mà việc áp dụng
cơ chế thương lượng, hoà giải không có hiệu quả và các bên tranh chấp cũng không thoả thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài
Ví dụ:Công ty A xác nhận, kí hợp đồng với công ty B về việc giao bán cho công
ty A 500 bao xi măng xây dựng Ngày giao hàng được xác định trong hợp đồng
là ngày 21/03/2018 và giao toàn bộ số xi măng bên công ty A đã kí trong hợp đồng là 500 bao Tuy nhiên đến hạn công ty B mới chỉ giao cho công ty B một nửa
số xi măng ghi trong hượp đồng mua bán là 250 bao Công ty A có báo bên công
ty B giao thiếu và yêu cầu bên công ty B giao đầy đủ vào ngày hôm sau Nhưng công ty B lấy lí do hàng trong xưởng không còn sẵn đợi nhân công hoàn thành cũng phải mất 03 ngày nữa mới xong Nên có xin công ty B gia hạn thêm cho hợp mình 03 ngày nữa sẽ giao đủ nhưng bên công ty A không đồng ý vì như thế sẽ lỡ
kế hoạch, chậm tiến độ thi công của mình nên yêu cầu cong ty B bồi thường và chấm dứt hợp đòng với công ty B Nhưng công ty B không đồng ý Việc hoà giải của hai bên công ty không thành và bên phia công ty A không thoả thuận đưa ra trọng tài và khởi kiện công ty B Việc giải quyết tranh chấp này sẽ được xử lí tại toà án
Thứ hai, đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp bằng toà án là thông
qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết
Ví dụ: Toà án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật, xét về mặt công bằng của tranh chấp để đưa ra phán quyết cuối cùng của mình và bắt buộc các bên phải có nghĩa vụ thực hiện
Thứ ba, phạm vi và thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp trong
kinh doanh được pháp luật các nước quy định khác nhau
Trang 9Ở các nước khác nhau, có thể có sự khác nhau trong việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM Một số nước (Mỹ, Nhật, Hà lan…) trao thẩm quyền xét xử mọi tranh chấp, trong đó có các tranh chấp trong thương mại cho Tòa án thường (Tòa án dân sự) Một số nước khác lại trao thẩm quyền xét xử tranh chấp thương mại cho toà thương mại – Toà chuyên trách trong cơ quan tư pháp (Đức, Pháp, Áo, Bỉ…) Các toà thương mại chỉ xét xử sơ thẩm, nếu có kháng án sẽ được đưa ra xét xử tại toà thượng thẩm dân sự Có nước thành lập hệ thống Tòa án độc lập gọi là Tòa án trọng tài để giải quyết tranh chấp như Cộnh hoà liên bang Nga.Thẩm quyền của các cơ quan tài phán nhà nước ở các quốc gia là khác nhau nhưng tập trung vào các lĩnh vực tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng thương mại ; Tranh chấp liên quan đến tổ chức và hoạt động của công ty; Tranh chấp liên quan
đế việc bảo hộ nhãn hiệu thương mại; Tranh chấp thương mại hàng hải; Tranh chấp phát sinh trong quá trình bảo hộ cạnh tranh và chống cạnh tranh bất hợp pháp; Tranh chấp liên quan đến hoạt động phát hành và kinh doanh chứng khoán
4 Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại bằng toà án
Thực chất tranh chấp kinh tế là một dạng tranh chấp dân sự, tuy nó có những đặc thù và yêu cầu riêng so với những loại tranh chấp khác xong qúa trình cải cách tư pháp của nhà nước Việt Nam đã đáp ứng được những yêu cầu đó Chính vì vậy trình tụe giải quyết tranh chấp thương mại đã được quy định tại bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trình tự giải quyết tranh chấp kinh tế theo thủ tục Tòa án cụ thể như sau:
4.1 Khởi kiện vụ việc
Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm một hoặc các bên tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc này được tiến hành thông qua bộ hồ sơ gồm:
+ Đơn khởi kiện
+ Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Trang 10Trong hồ sơ khởi kiện theo thủ tục Tòa án không có văn bản thoả thuận Tòa án của các bên Bởi nguyên tắc thoả thuận này được xác định theo thoả thuận trọng tài Nếu các bên có thoả thuận trọng tài thì trọng tài giải quyết tranh chấp kinh tế của các bên, ngược lại nếu các bên không có thoả thuận trọng tài thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế thuộc về Tòa án Tuy nhiên trong các trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu; không thể xác định được đối tượng tranh chấp cụ thể
là gì, Hội đồng Trọng tài, Trung tâm Trọng tài nào của Việt Nam có thẩm quyền giải quyết; khi được nguyên đơn cho biết bằng văn bản hay được Tòa án thông báo về việc nguyên đơn đã nộp đơn kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ tranh chấp
mà bị đơn không phản đối hay bị đơn có phản đối nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh là trước đó các bên đã có thoả thuận trọng tài;
có quyết định của Tòa án huỷ quyết định trọng tài thì vụ tranh chấp dù các bên
có thoả thuận trọng tài nhưng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Hồ sơ khởi kiện được gửi tới Tòa án nhân dân cấp huyện đối với các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng
ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
Không phụ thuộc vào giá trị tranh chấp, thời điểm xảy ra tranh chấp mà căn cứ vào chủ thể và nội dung tranh chấp, những tranh chấp giản đơn, không quá phức tạp thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết Đối với các tranh chấp kinh tế khác, các bên tiến hành khởi kiện tại Tòa án kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh Xét về chủ thể và nội dung tranh chấp thì Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền rộng rãi hơn Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế
Điều này cho thấy, dù được coi là một dạng tranh chấp dân sự nhưng tranh chấp kinh tế được xác định là loại tranh chấp phức tạp chứ không phải là tranh chấp đơn giản, phổ thông Đặc biệt, tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài gồm trường hợp một hoặc các bên tranh chấp là tổ chức, cá nhân nước ngoài; sự kiện nảy sinh tranh chấp sảy ra ở nước ngoài và tài sản, hàng hoá tranh chấp đang ở nước ngoài thì không kể nội dung tranh chấp là gì vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết cùa Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Phù hợp thẩm quyền của mình, Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đó là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở Các bên cũng có thể thoả thuận Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn Trường hợp tranh chấp về bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết