Đây là một con số đáng kinh ngạc và cũng là minh chứng cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Vinamilk có sự tắng trưởng đột biến bất chấp sự ảnh hưởng của thời kỳ khủng hoàn
Trang 1II Phân tích khái quát kết quả kinh doanh:
Bảng phân tích khái quát kết quả kinh doanh:
(Đơn vị tính: VNĐ)
nghiên cứu)
Biến động (Kỳ NC/Kỳ gốc) Giá trị Tỷ lệ
(%)
1 Tổng DT hoạt động KD 6,675,031,000 8,380,563,000 1,705,532,000 25.551
2 Các khoản giảm trừ DT 26,838,000 171,581,000 144,743,000 539.321
10 LNT từ HĐKD 865,427,000 1,315,090,000 449,663,000 51.959
11 GVĐĐ (= GVHB + CPBH
+ CPQLDN) 6,958,758,000 6,961,081,000 2,323,000 0.033
13 Tsf CPBH (= CPBH/DTT) 0.14663 0.128189829 -0.018440171 -12.576
14 Tsf CP QLDN (= CP
17 LN kế toán trước thuế 955,381,000 1,371,313,000 415,932,000 43.536
18 LN sau thuế TNDN 963,448,000 1,250,120,000 286,672,000 29.755
Năm 2008 nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất kinh doanh của bất kỳ một công ty nào, và Vinamilk cũng vậy Lạm phát tăng cao làm cho các chi phí phát sinh trong doanh nghiệp tăng bình quân 26.5 %, đặc biệt là chi phí quản lý doanh nghiệp tăng lên tới 45.845% Hơn nữa, cũng chịu hậu quả của tình hình suy thoái kinh tế trên toàn cầu, sức mua trong cũng như ngoài nước giảm mạnh Tuy nhiên, vượt lên trên những điều đó Công ty Vinamilk vẫn đạt được một số kết quả hết sức khả quan: Doanh thu thuần năm 2008
Trang 2đạt 8,208,982,000 VNĐ, tăng hơn 23% so với năm 2007 (với Doanh thu thuần chỉ 6,648,193,000 VNĐ); lợi nhận gộp từ hoạt động kinh doanh năm 2008 cao hơn năm
2007 là 785,592,000 VNĐ tương ứng với 43.345 % Sự tăng trưởng vượt trội này chủ yếu là do công ty tăng giá bán trong khi chi phí đầu vào trên thị trường lại giảm (trong
10 tháng năm 2008, giá sữa bột nguyên kem chỉ còn 3,400 USD/tấn, sữa bột gầy còn 2,800- 3,000 USD/tấn), tăng tính hiệu quả kinh tế nhờ quy mô sản xuất (giá đơn vị sản phâ,r thấp hơn) và tái cơ cấu sản phẩ; dẫn đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu thuần tăng hơn 16% so với cùng kỳ năm 2007 Đây là một con số đáng kinh ngạc và cũng là minh chứng cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Vinamilk có
sự tắng trưởng đột biến bất chấp sự ảnh hưởng của thời kỳ khủng hoàng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới Việt Nam
Nguyên nhân đáng chú ý của thành quả trên là do trong khi các tập đoàn đối thủ đang có xu hướng lấn sân dang các mảng kinh doanh phi tuyền thống thì Vinamilk vẫn trung thành với mảng nghề chính thống của mình, là chế biến thực phẩm với định hướng phát triển 3 dòng sản phẩm trụ cột: sữa, café và bia
Chi phí bán hàng của công ty năm 2008 so với năm 2007 chỉ tăng 7.95% Mức tăng này không có sự thay đổi đáng kể, nhưng trong khi đó chi phí quản lý lại có sự gia tăng đột biến Biến động chi phí quản lý năm 2008 so với 2007 lên tới 45.845% Không chỉ vậy, chi phí tài chính năm 2008 tăng gấp hơn 6 lần năm 2007 Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sự biến động của lợi nhuận thuần Tuy nhiên, do lợi nhuận gộp tăng cao, nên lợi nhuận thuần vẫn tăng một cách đáng kể
Từ bảng phân tích khái quát kết quả kinh doanh, ta nhận thấy, tỷ suất chi phí bán hàng trong kì giảm, điều này phản ánh việc quản lý chi phí bán hàng của Vinamilk tương đối tốt Nhờ có sự thay đổi về mô hình tổ chức quản lý theo hướng chuyên nghiệp hóa, các đơn vị sản xuất được thay đổi cơ cấu tổ chức theo hướng tinh giản tối
đa các bộ phận gián tiếp, tập trung vào quản lý sản xuất đồng bộ, hiệu quả Đồng thời công ty đã tổ chức thực hiện việc rà soát cũng như sắp xếp lại cơ cấu nhân sự, tinh gọn nhân sự ở các bộ phận gián tiếp, chủ yếu tập trung nhân sự cho bộ phận bán hàng và sản xuất trực tiếp, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện định mức lao động hàng tháng, cắt giảm tối đa chi phí lao động đến mức có thể Hơn nữa, Công ty còn triển khai hàng lọat
Trang 3các biện pháp tiết kiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh Các biện pháp này một mặt đã giúp Vinamilk gia tăng khả năng cạnh tranh của các dòng sản phẩm của mình trong điều kiện tình hình thị trường có nhiều biến động và đầy khó khăn như trong năm 2008
Do lợi nhuận thuần tăng nên tỷ lệ LNT/DTT và tỷ lệ LNT/GVĐĐ năm 2008 đều tăng so với năm 2007, các con số đó là hơn 23% và gần 52% Hai tỷ lệ trên đã cho thấy hoạt động sản suất kinh doanh nói chung cũng như khả năng kiểm soát của chủ doanh nghiệp đối với toàn bộ hoạt động này và hiệu quả sử dụng đồng vốn tương đối tốt, bất chấp tác động của khủng hoảng kinh tế Do đó, Vinamilk cần phát huy hơn nữa lợi thế này của mình để quản lý tốt hai loại chi phí này
Ta thấy, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế của công ty năm 2008 tăng hơn 43%
so với năm 2007; tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế của Vinamilk không còn được cao nhu thế bởi từ năm 2008 trở đi, công ty không còn được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp Loại thuế này chỉ được miễn trong 4 năm vì Vinamilk niêm yết cổ phiếu vào năm 2003
và các doanh nghiệp niêm yết chỉ được miễn thuế trong vòng 4 năm
Trong năm 2008 lạm phát tăng cao dẫn đến lãi suất vay vốn ngân hàng tăng rất cao, chi phí lãi vay của doanh nghiệp cũng tăng lên hơn 131% so với năm 2008, điều này đẩy tất cả các doanh nghiệp Việt Nam vào tình huống vô cùng khó khăn Tuy nhiên, trong tình hình đó Vinamilk đã sử dụng hợp lý nguồn vốn trước đây của mình để
ổn định sản xuất, duy trì tốc độ tăng trưởng và đạt được kết quả gia tăng doanh thu tăng 25.55% so với năm 2007