1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các giải pháp cơ bản để đổi mới và tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước

38 351 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các giải pháp cơ bản để đổi mới và tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước
Tác giả Phạm Thái Sơn
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Đề án kinh tế chính trị
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 156,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế tồntại vai trò quản lý của Nhà nớc còn nhiều yếu kém, cha thích hợp, đặc biệt là quacuộc khủng hoàn kinh tế Đông Nam á vừa qua, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu đểhoàn thiện v

Trang 1

Phần I - Lời mở đầu

Trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học công nghệ và thông tin, mở cửa

và giao lu hợp tác kinh tế quốc tế là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế củacác quốc gia Trong cơ chế thị trờng tự do cạnh tranh đã cho phép các quốc gia khaithác tối đa các nguồn lực trong nớc, khai thác triệt để các lợi ích so sánh đầu t, lựachọn phơng án sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất Quá trình hội nhập kinh tế đã

đẩy mạnh mức tăng trởng kinh tế của các nớc, đời sống của con ngời ngày càng đợcnâng cao Tuy nhiên, đi cùng với nó, các khuyết tật của cơ chế thị trờng ngày càngthể hiện rõ và có chiều hớng gia tăng, các cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trên quymô lớn gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, khoảng cách chênh lệch giữa ngời giàu

và ngời nghèo ngày càng một tăng,mất công bằng xã hội Trớc tình hình đó, các nớc

đều chọn mô hình phát triển kinh tế có sự quản lý, điều tiết của Nhà nớc để ổn địnhmức tăng trởng kinh tế, phát triển xã hội theo một hớng đã định trớc

ở nớc ta từ đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã chuyển nền kinh tế ViệtNam từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản

lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Cùng với quá trình chuyển đổi là cảquá trình chuyển đổi vai trò quản lý của Nhà nớc đối với nền kinh tế Từ thực tế tồntại vai trò quản lý của Nhà nớc còn nhiều yếu kém, cha thích hợp, đặc biệt là quacuộc khủng hoàn kinh tế Đông Nam á vừa qua, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu đểhoàn thiện vai trò lãnh đạo điều tiết kinh tế của Nhà nớc, nâng cao hiệu quả sản xuất

- kinh doanh, tăng trởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, sao cho vai trò quản

lý của Nhà nớc thích ứng với tình hình hiện nay, là nhân tố quan trọng tạo động lựcthúc đẩy kinh tế phát triển

Trong đề tài này chúng ta nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về vai trò kinh tếcủa Nhà nớc trong cơ chế thị trờng hiện nay ở nớc ta và các biện pháp để nâng caovai trò đó Đây là vấn đề mang tính cấp bách và trọng điểm hiện nay ở nớc ta trongtình hình diễn biến kinh tế thế giới diễn ra vô cùng phức tạp Đề tài đợc trình bày từnhững vấn đề lý luận chung về vai trò kinh tế của Nhà nớc và đi đến thực tiễn hiệnnay ở Việt Nam, các giải pháp cần thực hiện trong quá trình đổi mới Phần kết luận,

đề này tổng kết những vấn đề đã trình bày và trình bày một số ý kiến cá nhân

Phần II - Phần nội dung

Trang 2

I- Lý luận về vai trò kinh tế của Nhà nớc

1.Vai trò kinh tế của Nhà nớc nói chung trong lịch sử.

a Sự ra đời của Nhà nớc từ nguyên nhân kinh tế.

Lịch sử phát triển xã hội loài ngời đến nay đã trải qua bốn hình thái kinh tế - xãhội, đó là: chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa và cao nhất là hìnhthái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa Bắt đầu từ nền sản xuất tự cung, tự cấp, đờisống của con ngời ngày một cải thiện, của cải d thừa đã làm xuất hiện các quan hệ

sở hữu Cùng với thời gian, quan hệ sở hữu ngày càng phát triển, nó phân tách xãhội loài ngời thành hai lớp là giai cấp t sản và vô sản Các hình thức sở hữu cũngngày càng đa dạng và phong phú, quan hệ sở hữu đã gắn các tập đoàn có cùng lợi íchkinh tế với nhau thành các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Sự phát triển của nền sảnxuất xã hội và lực lợng sản xuất ngày càng phân rẽ quyền lực của các giai cấp, tầnglớp trong xã hội Trong xã hội có một giai cấp tiên tiến nhất, nắm trong tay quyềnlực về kinh tế đã đứng lên thành lập Nhà nớc của giai cấp mình nhằm bảo vệ lợi íchtối đa của giai cấp mình đồng thời dung hòa các lợi ích của các giai cấp, tầng lớpkhác, lãnh đạo xã hội phát triển theo mục tiêu, quyền lực của đại đa số các tầng lớpgiai cấp trong xã hội ứng với giai đoạn lịch sử có một giai cấp tiên tiến và thành lậpNhà nớc của giai cấp ấy Trải qua một thời gian dài đã có các hình thức Nhà nớc sau:Nhà nớc chủ nô, Nhà nớc phong kiến, Nhà nớc t bản chủ nghĩa, Nhà nớc xã hội chủnghĩa Nh vậy Nhà nớc ra đời là từ nguyên nhân kinh tế, từ lợi ích kinh tế của cácgiai cấp, tầng lớp trong xã hội

Cũng từ đặc điểm trên cho thấy, Nhà nớc bao giờp cũng bảo vệ lợi ích của mộtgiai cấp nhất định Nhà nớc đợc do một giai cấp cơ bản tiên tiến thành lập ra để phục

vụ quyền lợi kinh tế của mình một cách tối đa nhất Giai cấp lãnh đạo thông qua Nhànớc của giai cấp mình để điều hành, quản lý xã hội, hớng các lợi ích kinh tế về phíagiai cấp mình, bảo đảm lợi ích kinh tế của giai cấp mình thông qua các chính sách,các quy định pháp luật buộc xã hội phải tuân theo

Khi còn giai cấp, còn sự phân chia quyền lợi thì còn có Nhà nớc, chỉ khi nàotrong xã hội mọi ngời đều bình đẳng về quyền lợi kinh tế, xã hội không còn giai cấpthì khi đó Nhà nớc mới mất đi Nhà nớc hình thành từ kinh tế và tồn tại cùng với nềnkinh tế

b Trong mỗi giai đoạn lịch sử, vai trò kinh tế của Nhà nớc có các mức độ

và hình thức biểu hiện khác nhau.

Trang 3

Trớc hết xuất phát từ bản chất của Nhà nớc: Nhà nớc ra đời từ nguyên nhânkinh tế.Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đã tạo tiền đề cho sự phát triển chungcủa toàn xã hội về mọi mặt, hình thành nên các quan hệ sở hữu đa dạng hơn về các tliệu sản xuất, nó phân hoá xã hội loài ngời thành các tập đoàn ngời có lợi ích kinh tếkhác nhau, thành các giai cấp có địa vị kinh tế và xã hội khác nhau Và trong xã hội

đó có một giai cấp tiên tiến nhất và là giai cấp chủ yếu lập nên Nhà nớc của giai cấpmình để lãnh đạo xã hội, đồng thời bảo vệ lợi ích của giai cấp mình dung hoà đếnmức tối đa lợi ích của các giai cấp khác trong xã hội Trong mỗi giai đoạn lịch sử,nền kinh tế xã hội có các mức phát triển khác nhau, lợi ích và địa vị kinh tế - xã hộicủa các giai cấp cũng khác nhau, do đó vai trò điều tiết về kinh tế của Nhà n ớc cũngkhác nhau Song, sự phát triển của một nền sản xuất xã hội gắn liền với sự phát triểncủa lực lợng sản xuất và trình độ sản xuất, các nhận thức và đánh giá về kinh tế củacon ngời ngày càng cao do đó nó đòi hỏi các cơ chế quản lý và các hình thức canthiệp của Nhà nớc vào nền kinh tế phải có sự thay đổi cho phù hợp

Nhà nớc là công cụ của giai cấp thống trị đợc sử dụng để duy trì trật tự xã hộisao cho phù hợp với lợi ích của nó Chức năng ban đầu của Nhà nớc là quản lý hànhchính bao gồm các lĩnh vực chủ yếu sau:

- Quản lý lãnh thổ, thiết lập quan hệ bang giao với các nớc (chức năng đốingoại)

- Quản lý trật tự xã hội, sắp xếp mối quan hệ giữa các cá nhân, giai cấp, cáctầng lớp,các cộng đồng dân tộc sao cho phù hợp với ý chí giai cấp đã sản sinh ra

nó (chức năng đối nội)

Để thực hiện hai chức năng này các Nhà nớc đều phải có những cơ sở kinh tếnhất định Trong lịch sử phát triển các Nhà nớc đã có các phơng pháp khác nhau đểnắm giữ kinh tế nhằm phục vụ chức năng quản lý của mình Lịch sử xã hội loài ngời

đã chứng tỏ rằng trong sự phát triển của mình, do yêu cầu quản lý xã hội, chức năng

quản lý kinh tế của Nhà nớc luôn gắn liền với chức năng quản lý hành chính Trong các Nhà nớc đơng đại không có Nhà nớc nào đứng trên kinh tế hay ngoài kinh tế.

Lịch sử cũng đã chứng minh chức năng kinh tế của Nhà nớc đợc phôi thai ngay từbuổi ban đầu khi Nhà nớc vừa mới chỉ xuất hiện,sau đó mới đợc nhận thức và ứngdụng vào thực tiễn quản lý kinh tế xã hội

Trong thời đại chiếm hữu nô lệ: Nhà nớc chủ nô - kiểu Nhà nớc đầu tiên tronglịch sử đã trực tiếp dùng quyền lực của mình can thiệp vào việc phân phối của cải đ-

Trang 4

ợc sản xuất ra Trong thời đại của Nhà nớc chủ nô, của cải đợc sản xuất ra bởi nhữngngời nô lệ dới sự chỉ huy điều khiển quá trình sản xuất của giai cấp chủ nô, nhngkhối lợng của cải ấy không đợc "phân phối" mà bị giai cấp chủ nô chiếm đoạt bằngbạo lực, các thủ đoạn bạo lực phi kinh tế ở đây đợc sử dụng làm công cụ để chiếm

đoạt, cỡng bấc kinh tế

Trong thời đại phong kiến, Nhà nớc phong kiến không chỉ can thiệp vào việcphân phối của cải mà còn đứng ra tập hợp lực lợng nhân dân xây dựng kết cấu hạtầng cho sản xuất nông nghiệp, khuyến khích quan lại di dân đi mở mang các vùng

đất mới, đề ra các chính sách ruộng đất thích hợp với từng thời kỳ Nhìn chung cáchoạt động diễn ra tự phát, tuy nhiên trong sự khác biệt với các Nhà nớc phong kiếnphơng tây, chức năng quản lý kinh tế đợc các Nhà nớc phong kiến phơng đông nhậnthức sớm hơn

ở Việt Nam, t tởng Nhà nớc can thiệp vào nền kinh tế cũng đợc hình thành rất

sớm Trên thực tế Nhà nớc phong kiến đã can thiệp và đã thu đợc cả những thànhcông và cả không thành công, trong đó sự can thiệp sớm nhất xuất hiện vào triêu đạinhà Lý thế kỷ X trớc công nguyên Với chế độ phong cấp ruộng đất của nhà Lý đãdẫn đến sự hình thành các thái ấp và tất cả các thái ấp phải chịu sự kiểm soát củatriều đình Từ một số ít ruộng đất vĩnh viễn biến thành ruộng t còn phần lớn ruộng

đất phong cấp thuộc quyền sở hữu của Nhà nớc phong kiến Ngời đợc phong chỉ cóquyền chiếm giữ và sử dụng Đó là nguyên tắc phong cấp không triệt để nhằm bảo

vệ chế độ sở hữu của Nhà nớc về ruộng đất và duy trì quyền lực của chính quyềntrung ơng Nh vậy, ngoài các đặc điểm chung với các Nhà nớc phong kiến phơngtây, Nhà nớc phong kiến Việt Nam ngay từ buổi đầu đã ý thức rất rõ về quyền sởhữu và quyền sử dụng ruộng đất nói riêng và của cải nói chung Do đó một mặt traoquyền sử dụng cho quan lại, mặt khác áp dụng các biện pháp để củng cố quyền sởhữu và kiểm soát đợc hoạt động của quan lại, mặt khác áp dụng các biện pháp đểcủng cố quyền sở hữu và kiểm soát đợc hoạt động của quan lại, Nhà nớc cũng liêntục đa ra nhiều biện pháp để kiểm soát, duy trì và củng cố quyền lực của Nhà nớctrung ơng

Trên thế giới vào thế kỷ thứ 15, chủ nghĩa t bản đợc hình thành, quá trình tíchluỹ nguyên thuỷ t bản đợc thực hiện - nền kinh tế thị trờng từng bớc đợc hình thành

Để giúp cho kinh tế phát triển nhanh, giai cấp t sản cần có "bà đỡ" Nói cách khác làcần có sự hỗ trợ của Nhà nớc, chính vì vậy mà vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc tsản ngày càng đợc xác lập và nâng cao.Trớc hết, Nhà nớc t sản đã thực hiện đợc mộtchính sách tiền tệ hết sức nghiêm ngặt, họ tìm mọi cách tích lũy tiền tệ, không cho

Trang 5

tiền tệ chạy ra ngoài Nhà nớc của các nớc t bản trong giai đoạn này đã đề ra luậtbuộc các thơng nhân nớc ngoài không đợc mang tiền ra khỏi nớc họ, chỉ đợc phépmang hàng mà thôi Nhà nớc còn qui định những nơi đợc phép buôn bán để tiện lợicho việc kiểm tra, kiểm soát Trong chính sách ngoại thơng họ dùng hàng rào thuếquan bảo hộ, đánh thuế nhập khẩu cao và thuế xuất khẩu các hàng sản xuất ở trongnớc thấp, chỉ xuất thành phẩm chứ không xuất nguyên liệu, cấm nhập các mặt hàng

xa xỉ phẩm Mặt khác Nhà nớc còn thực hiện việc hỗ trợ cho các thơng nhân trong

n-ớc các phơng tiện vật chất và tài chính khi họ tham gia buôn bán quốc tế Đồng thờiNhà nớc cũng qui định nghiêm ngặt tỷ giá hối đoái, cấm trả cho ngời nớc ngoài caohơn mức qui định của Nhà nớc Nhờ các chính sách đó, các nớc t bản đã tích luỹ đợcmột lợng của cải và tiền tệ đáng kể Vì vậy đầu thế kỷ 18 giai cấp t sản tập trungphát triển mạnh lĩnh vực sản xuất Nhờ áp dụng các kỹ thuật và công nghệ mới, nềnsản xuất ở các nớc t bản phát triển rất nhanh- các nhà t bản đua nhau phát triển cácngành nghề mới và mở rộng qui mô sản xuất Tự do cạnh tranh đã trở thành đòi hỏicấp thiết trong đời sống kinh tế của các nớc này

Nh vậy, qua mỗi thời kỳ, ứng với một trình độ phát triển của sản xuất, mức độcan thiệp của Nhà nớc vào kinh tế là khác nhau và bằng các phơng thức khác nhau.Ngày nay, Nhà nớc tham gia vào quản lý kinh tế nh một tất yếu để tăng hoạt độngsản xuất, kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội, nhờ đó mà có điều kiện đẩy lùikhủng hoảng và tình trạng thất nghiệp

2 Tính tất yếu khách quan của quản lý vĩ mô của Nhà nớc đối với nền kinh tế ở nớc ta.

Chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhànớc là bớc ngoặt quan trọng làm thay đổi đời sống kinh tế, xã hội đất nớc Sự thànhcông hay không của quá trình chuyển đổi quyết định sự thắng lợi hay không của sựnghiệp đổi mới Quá trình đổi mới kinh tế những năm qua cho thấy rằng việc chuyểnnền kinh tế nớc ta vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc là phùhợp với xu hớng phát triển tất yếu khách quan của nền kinh tế, phù hợp với xu hớngquốc tế hoá đời sống kinh tế Chúng ta có thể thấy điều đó nh một tất yếu kháchquan của đất nớc

a Quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nớc:

* Thực trạng nền kinh tế nớc ta tại xuất phát điểm xây dựng XHCN

Kháng chiến thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nớc XHCN, đất nớc ta bắt

đầu xây dựng mô hình kế hoạch hoá tập trung dựa trên hình thức sở hữu công cộng

Trang 6

về t liệu sản xuất Tuy nhiên, sau một thời gian dập khuoôn một mô hình kinh tế chathích hợp và kém hiệu quả, hiện trạng nền kinh tế xã hội đã thay đổi theo chiều hớnghết sức xấu Trong một nền kinh tế cùng một lúc tồn tại cả 3 loại hình kinh tế tự cấp

tự túc, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế hàng hoá Do các quan hệ kinh

tế đã thay đổi rất nhiều, việc áp dụng cơ chế quản lý kinh tế cũ vào điều kiện nềnkinh tế đã thay đổi làm xuất hiện rất nhiều hiện tợng tiêu cực Do chủ quan cứngnhắc không cân nhắc tới sự phù hợp của cơ chế quản lý kinh tế mà chúng ta đãkhông quản lý các nguồn tài nguyên sản xuất của đất nớc, trái lại đã dẫn đến việc sửdụng lãng phí một cách nghiêm trọng các nguồn tài nguyên đó Tài nguyên thiênnhiên bị phá hoại, môi trờng bị ô nhiễm, sản xuất kém hiệu quả, Nhà nớc thực hiệnbao cấp tràn lan Những sự việc đó đã gây ra nhiều hậu quả xấu cho nền kinh tế, sựtăng trởng kinh tế gặp nihều khó khăn, sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bịthâm hụt nặng nề, thu nhập từ nền kinh tế không đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng nămhầu nh khôngcó Vốn đầu t chủ yếu dựa vào vay và viện trợ của nớc ngoài Đến cuốinhững năm 80, giá cả leo thang, khủng hoảng kinh tế đi liền với làm phát cao làmcho đời sống nhân dân bị giảm sút, thậm chí một số địa phơng nạn đói đang rìnhrập Có thể nó thực trạng nền kinh tế nớc ta trớc khi chuyển sang kinh tế thị trờng lànền kinh tế hàng hoá kém phát triển, còn mang nặng tính chất tự cấp, tự túc và chịu

ảnh hởng nặng nền của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Thực trạng đó đợc biểuhiện ở các mặt sau:

Kinh tế hàng hoá còn kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặng tính tự cấp tựtúc ở đây thể hiện ra đó là trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ sản xuấtcòn thấp kém, hệ thống kết cấu hạ tầng, dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội cha đủ đểphát triển kinh tế thị trờng ở trong nớc và cha có khả năng để mở rộng giao lu với thịtrờng quốc tế Cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả, nền kinh tế còn phổbiến là sản xuất nhỏ cho nên cơ cấu kinh tế của nớc ta còn mang nặng đặc trng củamột cơ cấu kinh tế nông nghiệp Hiện tợng độc canh cây lúa vẫn còn tồn tại Ngànhnghề cha phát triển Hơn nữa ở nớc ta cha có thị trờng theo đúng nghĩa của nó: thị tr-ờng ở nớc ta còn là thị trờng ở trình độ thấp, dung lợng thị trờng còn thiếu và cóphần rối loạn Thực trạng đó của thị trờng nớc ta là hậu quả của nhiều nguyên nhânkhác nhau Về mặt khách quan, đó là do trình độ phát triển của phân công lao độngxã hội còn thấp, nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cấp tự túc Về mặt chủ quan

là do những nhận thức cha đúng đắn về nền kinh tế XHCN, do sự phân biệt duy ý chígiữa thị trờng có tổ chức và thị trờng tự do Mặc khác, do quản lý theo chiều dọc-theo chức năng kinh doanh của từng ngành một cách máy móc, cho nên đã dẫn tới

Trang 7

hiện tợng cửa quyền, cắt đứt mối liên hệ tự nhiên giữa các ngành dẫn tới thị trờng bịchia cắt và manh mún.

Năng suất lao động xã hội và thu nhập quốc dân tính theo đầu ngời còn thấp

Điều này nó phản ánh tổng hợp thực trạng kinh tế hàng hoá còn kém phát triển Dotrình độ cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ còn thấp, kết cấu hạ tầng dịch vụ sảnxuất và dịch vụ xã hội còn kém, cơ cấu kinh tế còn mất cân đối, thị trờng trong nớccha phát triển cho nên năng suất lao động xã hội và thu nhập bình quân đầu ngời ởnớc ta còn rất thấp

* Đặc trng của cơ chế kinh tế cũ (cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung).

Cơ chế kế hoạch hoá tập trung có những đặc trng chủ yếu sau:

Nhà nớc quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, điều đóthể hiện ở sự chi tiết hoá các nhiệm vụ do trung ơng giao bằng một hệ thống chỉ tiêupháp lệnh từ một trung tâm Cơ chế quản lý chủ yếu theo lệnh tập trung nhng lại đợc

điều hành bởi nhiều đầu mối của các ngành chức năng do đó nó mang tính chất phântán

Các cơ quan hành chính - kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuấtkinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, nhng lại không chịu trách nhiệm gì về mặtvật chất đối với các quyết định của mình ở đây quan hệ kinh tế là quan hệ giao nộp,thu mua cấp phát Sản xuất và kinh doanh đợc tiến hành gần nh ở khu vực hànhchính sự nghiệp hay hậu cần quân đội Hậu quả của điều này là hết sức nặng nền: nólàm mất sức mạnh của tổ chức thống nhất theo kế hoạch trớc hết đối với Nhà nớc, sựchỉ huy tập trung theo nhiều mối và can thiệp quá sâu vào các doanh nghiệp đã gây

ra gò bó, vớng mắc, cơ chế tập trung trở thành bất lực và buông lỏng cho thực tế tựphát, làm suy yếu, triệt tiêu động lực kinh tế, thậm chí gây tác động nh khuyếnkhích sự ỷ lại, dựa dẫm, lời biếng gây thiệt hại đến tài sản quốc gia, cản trở sản xuấtphát triển Trong điều kiện tồn tại cơ chế giao nộp và cấp phát, dù có nói đến baonhiêu về qui luật giá trị thì đó cũng chỉ là hình thức

Bỏ qua quan hệ hàng hoá - tiền tệ và hiệu quả kinh tế, quản lý nền kinh tế và kếhoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu,

do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức Chế độ bao cấp đợc thực hiện dới các hìnhthức Bao cấp qua giá, bao cấp qua tiền lơng hiện vật và bao cấp qua cấp phát vốncủa ngân sách mà không ràng buộc vật chất đối với ngời đợc cấp phát vốn

Từ những đặc điểm trên đã dẫn đến bộ máy quản lý rất cồng kềnh, có nhiềucấp trung gian và kém năng động, từ đó sinh ra một đội ngũ cán bộ kém năng lực

Trang 8

quản lý, không thạo nghiệp vụ kinh doanh, nhng phong cách thì quan liêu, cửaquyền.

* Những hạn chế của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung.

Việc quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã giúp chúng tagiải quyết đợc một số vấn đề kinh tế- xã hội quan trọng, nhất là việc huy động nhântài, vật lực phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nớc, giải phóng miền Namthống nhất nớc nhà Nhng khi đất nớc đã đợc hoà bình, thống nhất và bớc vào thời

kỳ xây dựng, phát triển kinh tế thì cơ chế quản lý này đã bộc lộ nhợc điểm cơ bản là

nó thiếu động lực cho sự phát triển, điều này thể hiện ở những mặt hạn chế sau đây:

- Một là, nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch tập trung không gắn chặt ngời lao

động với t liệu sản xuất và sản phẩm họ làm ra Việc sản xuất tốt hay xấu không liênquan gì đến quyền lợi của họ, bởi thế họ chẳng quan tâm đến sản xuất Sản xuất xãhội trở nên thiếu động lực phát triển

- Hai là, vì sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo mệnh lệnh của cấp trên nên ngời

lao động và các cơ sở sản xuất kinh doanh không cần thiết phải nghiên cứu, ứngdụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật và công nghệ Bởi vậy cơ sở vật chất

kỹ thuật của nền kinh tế vỗn dĩ đã lạc hậu lại càng lạc hậu hơn

- Ba là, cũng vì làm theo kế hoạch và mệnh lệnh của cấp trên, nên ngời lao

động và các cơ sở sản xuất hoàn toàn thụ động, tính sáng tạo của họ ngày càng bịthui chột Những hậu quả của cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung đã đẩy nền kinh

tế nớc ta lâm vào khủng hoảng hết sức trầm trọng suốt một thời gian dài từ cuốinhững năm 70 và gần hết thập kỷ 80 của thế kỷ này

Chính vì vậy đại hội VII của Đảng đã khẳng định: "xoá bỏ triệt để cơ chế quản

lý tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớcbằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và công cụ khác Xây dựng và phát triển đồng

bộ các thị trờng hàng tiêu dùng, vật t, dịch vụ, tiền vốn, sức lao động thực hiệngiao lu kinh tế thoong suốt trong cả nớc với thị trờng thế giới" Điều đó hoàn toànphù hợp với thực tế của nớc ta, phù hợp với các qui luật kinh tế và xu thế của thời

đại, với xu thế phát triển kinh tế của thế giới

* Quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN.

Từ sự phân tích thực trạng của nền kinh tế nớc ta trớc khi chuyển sang kinh tếthị trờng có thể rút ra kết luận: thực chất của quá trình chuyển nền kinh tế nớc tasang kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN là quá trình kết hợp giữa chuyển nền

Trang 9

kinh tế còn mang nặng tính chất tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá tiến tới nềnkinh tế thị trờng và quá trình chuyển cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chếthị trờng có sự quản lý của Nhà nớc.

Từ Đại hội VI của Đảng đã khẳng định việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị ờng chính là quá trình đổi mới nền kinh tế với hai hình thức sở hữu toàn dân và tậpthể sang nền kinh tế đan thành phần Các thành phần kinh tế đều đợc bình đẳng trớcpháp luật

tr-Lịch sử đã chứng minh rằng không thể chuyển nền sản xuất nhỏ lên sản xuấtlớn nếu thiếu "đòn bẩy" là kinh tế hàng hoá Chính CácMác đã coi sự ppt của kinh tếhàng hoá là xuất phát điểm và là điều kiện quan trọng nhất không thể thiếu đợc đốivới sự ra đời và phát triển của nền sản xuất lớn Về thực chất, đó là việc phát triểnnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nhằm khơi dậy sự sống động của nền kinh tế,

mở rộng giao lu hàng hoá, thực hiện các quan hệ kinh tế bằng hình thức quan hệhàng hoá tiền tệ trên thị trờng Việc đổi mới ở đây chính là việc tạo môi trờng và

điều kiện phát triển mạnh nền kinh tế hàng hoá, hình thành thị trờng ngày càng hoànchỉnh, giao lu thông suốt trong cả nớc và với nớc ngoài, khắc phục xu hớng trợ cấp,

tự túc, khép kín, nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ ché thị trờng dới tác độngcủa các qui luật khách quan mà Nhà nớc phải tôn trọng và vận dụng đúng đắn để đổimới kế hoạch hoá và quản lý, điều tiết thị trờng bằng nhiều công cụ và biện pháp,chủ yếu là biện pháp kinh tế Nền kinh tế hàng hoá có cơ cấu nhiều thành phần vớinhiều loại hình sở hữu, nhiều hình thức tổ chức kinh tế Mọi công dân đợc tự dokinh doanh theo luật pháp, tự lựa chọn hình thức kinh tế và đợc pháp luật bảo vệquyền sở hữu và thu nhập hợp pháp Mọi đơn vị kinh tế không phân biệt quan hệ sởhữu và hình thức tổ chức đều bình đẳng trớc pháp luật

So với Liên Xô và các nớc Đông Âu, quá trình chuyển sang nền kinh tế thị ờng ở nớc ta có nhiều đặc điểm khác biệt: những nớc này đã có nền kinh tế pháttriển, nền kinh tế đã đợc cơ khí hoá, không có tính tự nhiên tự cấp tự túc nh nền kinh

tr-tế nớc ta Vì vậy, quá trình hình thành nền kinh tr-tế thị trờng ở nớc ta trớc hết là quátrình chuyển nền kinh tế kém phát triển mang nặng tính tự cấp tự túc sang kinh tếhàng hoá nhiều thành phần Mặt khác, ở nớc ta cũng đã tồn tại mô hình kinh tế chỉhuy với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, cơ chế này nó gần nh đối lập với cơ chế thịtrờng vì vậy quá trình chuyển nền kinh tế nớc ta sang kinh tế thị trờng còn là quátrình xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ cơ chế thị trờng

có sự quản lý của Nhà nớc

Trang 10

Quá trình chuyển nền kinh tế nớc ta sang cơ chế thị trờng đồng thời cũng làquá trình thực hiện nền kinh tế mở, nhằm hoà nhập thị trờng trong nớc với thị trờngthế giới Kinh tế "mở" là đặc điểm và là xu thế của thời đại ngày nay mà bất kỳ mộtquốc gia nào cũng phải coi trọng Trong điều kiện của nớc ta, bài học về sự kết hợpsức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự dotrớc đây một lần nữa lại sống động trong công cuộc phát triển đất nớc với bối cảnh

và điều kiện mới

Trong quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta đã có nhiều đổi mới quan trọng Chúng

ta chuyến biến quan hệ kinh tế quốc tế từ đơn phơng sang đa phơng, quan hệ với tấtcả các nớc không phân biệt chế độ chính trị, theo nguyên tắc đối bên cùng có lợi vàkhông can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

Quá trình đổi mới đó đã thực sự khiến cho nền kinh tế Việt Nam có những thay

đổi về chất Việc áp dụng tối đa lợi ích so sánh, chính sách mở cửa trong nền kinh tếthị trờng đã làm cho nền kinh tế quốc dân càng phát triển, đời sống nhân dân ngàycàng đợc nâng cao Thực tế phát triển của nền kinh tế đã khẳng định con đờng pháttriển mà Đảng ta đã chọn là hoàn toàn đúng đắn

b Cơ chế thị trờng và những u, khuyết tật của nó.

Qua việc phân tích trên ta thấy việc chuyển sang nền kinh tế thị trờng ở nớc ta

là một tất yếu khách quan Cơ chế thị trờng không mang bản chất chế độ, mà chỉ cóchế độ xã hội nào biết hay không biết tận dụng những lợi thế của kinh tế thị trờng và

sử dụng những lợi thế đó để phục vụ chế độ mìh Thị trờng đợc coi là một phơng tiệnquan trọng để xây dựng và phát triển kinh tế Vậy cơ chế thị trờng là gì mà nó nh thếnào?

* Khái niệm cơ chế thị trờng: Kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ

chế thị trờng Đến lợt nó, cơ chế thị trờng là tổng thể các nhân tố, các quan hệ cơbản vận động dới sự chi phối của các qui luật thị trờng trong môi trờng cạnh tranh,nhằm mục tiêu lợi nhuận Nhân tố cơ bản của cơ chế thị trờng là cung-cầu và giá cảthị trờng

* Đặc trng của cơ chế thị trờng:

Trớc hết, thông qua cơ chế thị trờng mà các vấn đề có liên quan đến việc phân

bổ sử dụng các nguồn tài nguyên sản xuất khan hiếm nh lao động, vốn, tài nguyênthiên nhiên về cơ bản đợc quyết định một cách khách quan thông qua sự hoạt độngcủa các qui luật kinh tế đặc biệt là qui luật cung cầu Thông qua qui luật cung - cầu

mà hình thành nên giá cả thị trờng, giá cả thị trờng lên xuống xung quanh giá trị thị

Trang 11

trờng và nó là kết quả thoả thuận giữa ngời mua với ngời bán, nó tạo lên mức lợinhuận trên thị trờng mà từ đó có tác động chuyển dịch cơ cấu đầu t sản xuất vào cáclĩnh vực cho lợi nhuận cao Mặt khác, trong cơ chế thị trờng,tính tự chủ của các chủthể kinh tế rất cao Các chủ thể kinh tế tự bù đắp những chi phí và tự chịu tráchnhiệm đối với kết quả sản xuất và kinh doanh của mình Các chủ thể kinh tế đ ợc tự

do liên kết, liên doanh,tự do tổ chức quá trình sản xuất theo luật định và kinh tế hànghoá không bao dung hành vi bao cấp, do đó việc tác động của qui luật kinh tế làmchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng thu lợi nhuận cao là hoàn toàn khách quan, nó

đồng nghĩa tính tự chủ năng động cảu các chủ thể kinh tế

Thứ hai, trong cơ chế thị trờng, tất cả các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể

kinh tế đợc tiền tệ hoá Cơ chế thị trờng tự do cạnh tranh với tính tự chủ cao của cácchủ thể kinh tế đã khiến cho quá trình lu thông hàng hoá diễn ra trôi chảy, các quan

hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế đợc tiền tệ hoá thông qua giá cả trên thị trờng,mọi hoạt động kinh tế trong nền kinh tế đều đợc thực hiện thông qua tiền tệ và chính

điều này làm cho các hoạt động kinh tế phát triển nhanh và dễ dàng hơn

Thứ ba, cơ chế thị trờng là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng

trởng kinh tế và lợi ích kinh tế đợc biểu hiện tập trung ở mức lợi nhuận Việc mởrộng tự do cạnh tranh, nâng cao tính tự chủ của các chủ thể kinh tế đã khiến cho việcsản xuất và lu thông hàng hoá trở nên dễ dàng hơn, nó hớng hoạt động sản xuất và luthông hàng hoá vào những mục tiêu có lai, tạo nên sự đa dạng và phong phú về số l-ợng và chủng loại của hàng hoá trên thị trờng Đồng thời, nó đòi hỏi các chủ thểkinh tế phải đầu t sản xuất, nâng cao năng suất lao động để thu đợc mức lợi nhuậncao, đó là động lực của sự phát triển, là cơ sở để thúc đẩy tăng trởng kinh tế

Thứ t, cơ chế thị trờng tạo cho các chủ thể kinh tế tự do lựa chọn phơng án sản

xuất, kinh doanh và tiêu dùng Dựa trên các qui luật kinh tế và tính tự chủ, các nhàsản xuất, kinh doanh lựa chọn cho mình phơng án sản xuất và kinh doanh phù hợpnhất để thu đợc lợi nhuận tối đa, và ngời tiêu dùng đợc tự do lựa chọn tiêu dùng vìcác quan hệ kinh tế đã đợc tiền tệ hoá

Thứ năm, thông qua sự hoạt động của các qui luật kinh tế, đặc biệt là sự linh

hoạt của hệ thốn giá cả, nền kinh tế thị trờng luôn duy trì đợc thế cân bằng giữa mứccung và cầu của tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ, ít gây ra sự khan hiếm và thiếuthốn hàng hoá Qua giá cả thị trờng, hàng hoá sẽ di chuyển từ nơi có giá cao đến nơi

có gí thấp, mở rộng qui mô sản xuất với các mặt hàng, dịch vụ còn thiếu thốn, từ đótạo nên sự cân bằng của mức cung và cầu hàng hoá, dịch vụ

Trang 12

Thứ sáu, cạnh tranh là một tất yếu của kinh tế thị trờng Nó tồn tại trên cơ sở

những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập với nhau về lợi ích kinh tế Theo yêu cầucủa qui luật giá trị, tất cả các đơn vị sản xuất hàng hoá đều phải sản xuất và kinhdoanh trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết Trong điều kiện đó, muốn cónhiều lợi nhuận, các đơn vị sản xuất và kinh doanh phải đua nhau cải tiến kỹ thuật,

áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động cá biệt, giảm haophí lao động cá biệt nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch Trong nền kinh tế thị trờng,cạnh tranh diễn ra một cách phổ biến trong cả lĩnh vực sản xuất và trong cả lĩnh vực

lu thông, hình thức và những biện pháp của cạnh tranh có thể rất phong phú nhng

động lực và mục đích cuối cùng cuả cạnh tranh chính là lợi nhuận Nh vậy cạnhtranh là động lực của sản xuất

Thứ bảy, trong cơ chế thị trờng, cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất,

mối quan hệ giữa mục tiêu tăng cờng tự do cá nhân và mục tiêu và công bằng xã hội,giữa đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế và nâng cao chất lợng cuộc sống cũng có sựphát triển tơng ứng

Thứ tám, cơ chế thị trờng đặt ngời tiêu dùng vào vị trí hàng đầu Nhờ sự phát

triển sức sản xuất mới và các nhu cầu mới, cơ chế thị trờng có xu hớng thoả mãn nhucầu biến đổi không ngừng của các nhóm dân c sao cho phù hợp với lối sống của họ,thay cho nguyên tắc sản xuất, cung ứng hàng loạt, biết chấp nhận nhu cầu

Thứ chín, nhà doanh nghiệp là nhân vật trung tâm trong hoạt động thị trờng, là

nhân tố sống động của cơ chế thị trờng Nhà nớc không đứng ngoài cơ chế thị trờng.Không có nhà doanh nghiệp thì không có cơ chế thị trờng

* Vai trò cơ chế thị trờng đối với phát triển kinh tế nớc ta.

ở trên chúng ta đã phân tích và thấy rằng việc chuyển đổi nền kinh tế nớc tasang kinh tế thị trờng là một tất yêú khách quan phù hợp với sự phát triển đất nớc,thế giới Điều đó cũng có thể đợc giải thích bởi vai trò đặc biệt quan trọng của cơchế kinh tế thị trờng đối với phát triển kinh tế ở nớc ta

Sự hình thành và phát triển thị trờng ở nớc ta gắn liền với quá trình đổi mớikinh tế từ cơ cấu đến cơ chế quản lý kinh tế, nhất quán chuyển sang kinh tế hàng hoánhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, gắnliền với đổi mới một cách cơ bản chính sách kinh tế vĩ mô nh giá cả, kế hoạch hoá,tài chính tiền tệ, đầu t thơng mại, chuyển hoạt động sản xuất - kinh doanh và tiêudùng xã hội sang kinh tế thị trờng, trong đó giải pháp có ý nghĩa quyết định là xử lýgiá cả Dù mới là sơ khai, thị trờng đã là môi trờng giải phóng sức sản xuất với sự

Trang 13

bùng nổ của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế đối ngoại Quan hệ hànghoá thị trờng ngày càng mở rộng và đi sâu vào các lĩnh vực của quá trình sản xuất-kinh doanh với sức mạnh tất yếu kinh tế, sức mạnh hồi sinh sau chiến tranh Sức sảnxuất phát triển làm bật dậy cách tiềm năng, hàng loạt các nhân tố mới xuất hiện xenlẫn những bề buộn phức tạp của sự chuyển đổi mang tính cách mạng Hơn thế nữa,cơ chế thị trờng để làm cho t duy kinh tế thay đổi căn bản: Từ thục động an bài sangnăng động sáng tạo, tự chủ, t duy hiện vật sang t duy giá trị; sự nhạy cảm về lợi ích,hiệu quả về thang giá trị, đạo đức lối sống v.v

Nh vậy cơ chế thị trờng là nhân tố vô cùng quan trọng để phát triển kinh tế xãhội của đất nớc, là công cụ để đất nớc tiến lên CNXH, xây dựng đất nớc giàu mạnh,công bằng văn minh Nó giải phóng nền kinh tế khỏi cái vòng luẩn quẩn, không hiệuquả của cơ chế kinh tế tập trung, nó tạo ra môi trờng giao lu kinh tế quốc tế, pháthuy triệt để các lợi thế so sánh của các chủ thể trong nền kinh tế cho phép lựa chọnphơng thức kinh tế hiệu quả tối đa nhất là môi trờng tốt để phát triển kinh tế đất nớc

* Ưu điểm của cơ chế thị trờng:

Việc chuyển đổi nền kinh tế nớc ta sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý củaNhà nớc xuất phát từ việc cơ chế thị trờng có những u điểm có thể giải quyết nhữngvấn đề bất cập của cơ chế kinh tế tập trung và phát triển nền kinh tế đất nớc Những -

u thế đó là:

Cơ chế thị trờng có khả năng tự động điều tiết nền sản xuất xã hội, tức là sự tự

động phân bổ các nguồn tài nguyên sản xuất vào các khu vực, các ngành kinh tế màkhông cần bất kỳ sự điều khiển từ trung tâm nào Cơ chế thị trờng kích thích việc ápdụng tiến bộ khoa học kĩ thuật,tăng năng suất lao động, năng cao trình độ xã hội hoásản xuất Kinh tế thị trờng lấy lợi nhuận siêu ngạch làm động lực hoạt động, độnglực này đòi hỏi các doanh nghiệp hạ thấp chi phí lao động cá biệt thấp hơn chi phí xãhội cần thiết Điều này đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động trên cơ sở áp dụngthành tựu mới của khoa học kỹ thuật

Cơ chế tự động hoá kích thích sự phát triển sản xuất, tăng trởng kinh tế theo cả

bề rộng và chiều sâu, tăng cờng chuyên môn hoá sản xuất Điều này đợc thể hiện ởchỗ cơ chế thị trờng có tính năng động và khả năng thích ứng nhanh, trong nền kinh

tế thị trờng nếu ai đa ra thị trờng một loạt hàng hoá mới và đa ra sớm nhất sẽ thu đợclợi nhuận nhiều nhất, điều đó tất yếu đòi hỏi phải năng động thờng xuyên và đổi mớithờng xuyên Hơn thế nữa trong nền kinh tế thị trờng hàng hoá rất phong phú và đadạng do vậy, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoả mãn tốt hơn những nhu cầu vậtchất, văn hoá và sự phát triển toàn vẹn của mỗi thành viên xã hội

Trang 14

* Các khuyết tật của cơ chế thị trờng:

Bên cạnh những u điểm của mình, cơ chế thị trờng tự bản thân nó còn có nhữngkhuyết tật cần thấy rõ để khắc phục đó là:

Trong nền kinh tế hàng hoá, hàng hoá vận động theo cơ chế thị trờng, mỗi chủthể kinh doanh, mỗi ngành, mỗi địa phơng đều có lợi ích riêng của mình và tìm mọicách tối u hoá lợi ích đó Nhng khi thực hiện các hoạt động nhằm tối u hoá lợi íchcủa mình, mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành, mỗi vùng có thể nhìn thấy hoặc khôngnhìn thấy sự vi phạm đến lợi ích của ngời khác, của cơ sở, ngành, vùng khác nhau

Do đó, tất yếu nảy sinh hiện tợng: lợi ích cá nhân hay của bộ phận này tăng lên làmthiệt hại lợi ích cá nhân, bộ phận khác trong xã hội, xét trên phạm vi tổng thể nềnkinh tế quốc dân Biểu hiện về mặt xã hội của xu hớng này là các hoạt động kinh tếchồng chéo cản trở hoặc triệt tiêu lẫn nhau, các quan hệ tỷ lệ kinh tế quốc dân bị phá

vỡ, sự phân bổ các nguồn lực không hợp lý, cơ cấu kinh tế bị đảo lộn, các vấn đề xãhội, chính trị phát sinh

Nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trờng không thể tách rời ra môitrờng chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại Nếu môi trờng không ổn định, thờngxuyên có sự đụng độn và xung đột giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Các quan

hệ giao dịch mua bán trên thị trờng không lành mạnh, mang tính chất lừa đảo, bạolực thì kinh tế không phát triển Cơ chế thị trờng - cơ chế điều chỉnh hành vi của cảngời sản xuất lẫn ngời tiêu dùng theo các qui luật của thị trờng sẽ dẫn tới các sailệch, nhợc điểm và khuyết tật của cơ chế thị trờng, sẽ khó có thể khắc phục sẽ đẩymạnh môi trờng chính trị, kinh tế xã hội, đối ngoại vào tình trạng rối loạn

Xu hớng hoà nhập nền kinh tế của mỗi nớc vào thị trờng thế giới ngày càngcao Những diễn biến kinh tế trong từng nớc và giữa các nớc gây ảnh hởng rõ rệt đếnlợi ích của nhau Việc ngăn ngừa hay khắc phục những bất lợi cũng nh việc khai thác

và sử dụng những tác động có lợi, đòi hỏi phải có vai trò của Nhà nớc và không một

tổ chức nào có thể thay thế đợc Vai trò quản lý về kinh tế của Nhà nớc không chỉ là

sự điều tiết, khống chế, định hớng bằng pháp luật, các đòn bẩy kinh tế, các chínhsách, biện pháp kích thích mà còn bằng thực lực kinh tế của Nhà nớc- tức sức mạnhcủa hệ thống kinh tế quốc doanh

* Vai trò kinh tế của Nhà nớc:

Việc khai thác các u điểm, hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trờng để tạo

điều kiện thuận lợi cho cơ chế này hoạt động có hiệu quả không thể thiếu đợc vai tròcủa Nhà nớc với t cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nhà nớc thực

Trang 15

hiện chức năng quản lý kinh tế là đòi hỏi khách quan, là nhu cầu nội tại của nềnkinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trờng Vai trò đó bao gồm:

Thứ nhất, Nhà nớc với vai trò định hớng phát triển kinh tế xã hội và hớng dẫn

hoạt động kinh tế Tuỳ theo đặc điểm của mỗi nớc, mỗi giai đoạn mà có mức độ canthiệp khác nhau Vai trò định hớng của Nhà nớc là rất quan trọng và cần thiết trongmỗi giai đoạn phát triển kinh tế Việc định hớng đúng đắn sẽ làm cho nền kinh tếphát triển không ngừng và ngợc lại Việc định hớng phát triển kinh tế nhằm xác địnhhớng phân bổ tài nguyên, tạo ra cơ cấu kinh tế mới hợp lý, bảo đảm sử dụng có hiệuquả nhất của đất nớc Chức năng định hớng các hoạt động kinh tế đợc thực hiện bằngnhững công cụ sau:

- Kế hoạch hoá với chức năng định hớng phát triển kinh tế xã hội Chính phủcác nớc thờng thông qua các đờng lối phát triển của đất nớc để xác định phơng hớngphát triển Song việc xác định phơng hớng phát triển không thể chung chung mà phải

đa ra các chỉ tiêu phản ánh mức độ và cơ cấu của sự phát triển Để cho các công cụcủa kinh tế vĩ mô hoạt động có hiệu quả Chính phủ cần biết các dự báo về sự diễnbiến trong tơng lai và các biện pháp tác động đến sự diễn biến ấy Mức độ quantrọng của kế hoạch hoá ở các nớc khác nhau và các giai đoạn khác nhau là khácnhau Ngày nay điều có thể khẳng định trong nền kinh tế thị trờng dới chủ nghĩa tbản hay chủ nghĩa xã hội thì kế hoạch hoá đều tồn tại nh một tất yếu khách quan cả

ở tầm vĩ mô lẫn vi mô

- Tạo môi trờng để hớng dẫn sự hoạt động của nền kinh tế: sản xuất hàng hoámuốn phát triển đòi hỏi phải có môi trờng thuận lợi bao gồm môi trờng kinh tế vàmôi trờng pháp luật Môi trờng kinh tế phải đảm bảo cho đầu vào và đầu ra của sảnxuất hàng hoá luôn đợc thông suốt Môi trờng pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự do,quyền bình đẳng của các thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanhcũng nh bảo đảo quyền lợi và nghĩa vụ của mọi thành viên trong xã hội

- Tổ chức chỉ đạo các hoạt động của nền kinh tế Nhà nớc chỉ đạo hoạt độngcủa nền kinh tế thông qua các doanh nghiệp quốc doanh Nhà nớc là chủ, các doanhnghiệp quốc doanh tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh Đây lànhững xí nghiệp quan trọng giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế Bởi vì, mà thôngqua hoạt động của các xí nghiệp này mà Nhà nớc chỉ đạo sự hoạt động của các xínghiệp, thành viên khác

Thứ hai, Nhà nớc với vai trò điều tiết sản xuất kinh doanh: nền kinh tế thị

tr-ờng bên cạnh những u điểm của nó còn có những mặt hạn chế đáng quan tâm, trong

đó quan trọng nhất là sự phát triển tự do vô Chính phủ ngày càng tăng và sự phân

Trang 16

hoá về kinh tế trong xã hội ngày càng lớn Trách nhiệm của Nhà nớc, đặc biệt là Nhànớc xã hội chủ nghĩa, là phải điều tiết mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong nềnkinh tế đi đúng quĩ đạo đã định và thực hiện từng bớc sự công bằng trong đời sốngkinh tế xã hội của đất nớc Sự điều tiết này chủ yếu đợc thực hiện thông qua hệ thống

đòn bẩy kinh tế, trong đó quan trọng nhất là chính sách thuế, chính sách lãi suất, l

-ơng, bảo trợ và bảo hiểm đối với sản xuất kinh doanh

Thứ ba, bên cạnh vai trò trên, Nhà nớc còn phải có vai trò kiểm soát nền kinh

tế để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hớng kế hoạch của Nhà nớc Nhànớc có trách nhiệm kịp thời phát hiện những sai sót, ách tắc, đổ vỡ của quá trìnhphát triển kinh tế quốc dân trong tơng lai Hiện nay, để tăng cờng vai trò đòi hỏiNhà nớc phải có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn, đào tạo đội ngũ cán bộ cóchuyên môn và đạo đức tốt, phải thờng xuyên đánh giá, kiểm điểm và đề ra tráchnhiệm , nhiệm vụ trớc mắt

II- Đặc trng của nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Cùng với sự đi lên của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơchế thị trờng tự do cạnh tranh nh một tất yếu lịch sử Song khác với các nớc khác,chúng ta xây dựng cơ chế thị trờng mang bản sắc riêng của Việt Nam, theo định h-ớng XHCN với những đặc trng riêng phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế đất nớc.Những đặc điểm đó là:

1 Sự phát triển kinh tế phải gắn liền với việc phát triển xã hội , giải quyết các vấn đề xã hội.

Trớc hết cần khẳng định kinh tế thị trờng ở Việt Nam sẽ đợc phát triển theo

định hớng XHCN Đó là định hớng của một xã hội mà sự hùng mạnh của nó nhờ vào

sự giàu có và hạnh phúc của dân c Xã hội không còn chế độ ngời bóc lột ngời, dựatrên cơ sở nhân dân lao động làm chủ, con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột,bất công làm theo năng lực hởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có

điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân Xã hội có nền kinh tế phát triển cao trêncơ sở khoa học, công nghệ và lực lợng sản xuất hiện đại Cũng xuất phát từ bản chấtcủa nền kinh tế thị trờng nớc ta là nền kinh tế mà ở đó kinh tế thị trờng đợc sử dụng

nh một công cụ, một phơng tiện phát triển lực lợng sản xuất, phát triển kinh tế phục

vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động nhằm mục tiêu dân giàu, nớc mạnh xã hộicông bằng văn minh

Trang 17

Hiện nay, cơ chế thị trờng tự do cạnh tranh cùng với sự hội nhập nền kinh tếquốc tế đã đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm, nảy sinh nhiều tiêu cực xã hội mà đòihỏi Nhà nớc phải chú trọng để giải quyết Cùng với sự phát triển về kinh tế do cơ chếthị trờng đem lại thì thực trạng bức xúc về mặt xã hội cũng ngày càng có chiều hớnggia tăng: Đó là việc chạy theo lợi nhuận, chạy theo đồng tiền mà làm phai mờ cácgiá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, các nạn tham ô, tham nhũng, làm hàng giả,buôn lậu; xuất hiện trong tầng lớp dân c một số ngời ăn chơi chác táng sa hoa, khôngphù hợp với văn hoá Việt Nam, từ đó dẫn đến nạn trộm cắp, cớp giật, mại dâm, matuý v.v Đó là những khuyết tật, những hạn chế của cơ chế thị trờng đem lại chúnglàm mất ổn định tình hình an ninh -chính trị xã hội, đi ngợc với mục đích phát triển

mà Đảng và Nhà nớc đề ra

Xuất phát từ bản chất của cơ chế thị trờng ở nớc ta và những thực trạng bức xúc

về mặt xã hội đó, đòi hỏi Nhà nớc phải có các chính sách gắn phát triển kinh tế vớiphát triển xã hội Chúng ta tận dụng những lợi thế của kinh tế thị trờng kế thừanhững thành tựu của loài ngời trong việc thực hiện kinh tế thị trờng để phục vụ chế

độXHCN nhng biết hạn chế những khuyết tật của nó Sử dụng cạnh tranh làm độnglực phát triển nhng không cạnh tranh dã man, tăng trởng kinh tế đi đôi với công bằngxã hội, khuyến khích làm giàu gắn với xoá đói giảm nghèo và khắc phục sự phân cựcgiàu nghèo, gia tăng mức sống nhng vẫn giữ gìn đợc bản sắc văn hoá dân tộc Haimặt kinh tế và xã hội của nền kinh tế thị trờng nớc ta đợc chủ động kết hợp với nhaungay từ đầu thông qua pháp luật, chính sách kinh tế và chính sách xã hội trên tầmquản lý vĩ mô và vi mô ở tầm vĩ mô, Nhà nớc dùng hiệu quả KT-XH là mục tiêuquản lý nhằm thực hiện tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội Nhà nớc cũng có cácbiện pháp điều tiết mức thu nhập của các tầng lớp dân c nhằm thực hiện một xã hộivăn minh

Nh vậy, nền kinh tế thị trờng ở nớc là nền kinh tế có sự lãnh đạo của Đảng và

có sự quản lý điều tiết của Nhà nớc sao cho vừa bảo đảm phát triển kinh tế vừa đảmbảo phát triển xã hội và con ngời

2 Trong nền kinh tế thị trờng, phát triển kinh tế ở nớc ta phải là phát triển bền vững

Từ thực tế phát triển của nền kinh tế thị trờng ở các nớc trên thế giới đã chỉ rarằng: trong nền kinh tế thị trờng khi không có sự quản lý của Nhà nớc, các hoạt độngsản xuất kinh doanh lấy lợi nhuận tối đa làm mục tiêu, cạnh tranh gay gắt giữa cáchãng sản xuất sẽ dẫn đến việc sản xuất thừa, đẩy nền kinh tế vào tình trạng khủnghoảng, lạm phát cao Trong khi mức tăng trởng kinh tế vừa đợc một chút thì qua mỗi

Trang 18

lẫn khủng hoảng kinh tế nó lại dìm nền kinh tế xuống, thậm chí còn thấp hơn cả mứctrớc đó Khủng hỏng kinh tế còn đi đôi với việc thất nghiệp,lạm phát, làm suy giảmcác vấn đề xã hội, chính trị, gây mất ổn định xã hội, mất niềm tin vào sự phát triểncủa đất nớc Từ thực tế đó Đảng và Nhà nớc ta đã chỉ ra rằng phát triển kinh tế ở nớc

ta đi đôi với sự bền vững Chúng ta tiến lên XHCN bỏ qua giai đoạn CNTB trong

điều kiện xuất phát điểm hết sức thấp, là một nớc nông nghiệp lạc hậu chịu hâu quảnặng nề của hai cuộc chiến tranh, do đó phải theo kịp thời đại, chúng ta tiến thẳngvào cơ chế thị trờng hiện đại, sử dụng nó nhh là một công cụ để khai thác các lợi thế

so sánh để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nền kinh tế đất nớc lên CNXH Do vậyviệc phát triển kinh tế ở nớc ta là việc phát triển ổn định, tránh tình trạng khủnghoảng kinh tế, có cơ chế mới đẩy nền kinh tế nớc ta theo kịp nớc khác, từng bớc xâydựng cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, nâng cao đời sống của nhân dân Hơn thếnửa, việc phát triển bền vững xuất phát từ bản chất XHCN của nhà n ớc ta, có pháttriển bền vững mới tạo niềm tin cho nhân dân, giữ đợc ổn định về kinh tế, chính trị,xã hội

Phát triển bền vững ở đây bao gồm cả tăng trởng kinh tế đi đôi với việc pháttriển xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và việc phát triển ở đây phải ổn định Để

đất nớc có thể phát triển bền vững đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nớc Bên cạnh

"bàn tay vô hình" của cơ chế thị trờng với các quy luật kinh tế khách quan, các quyluật giá cả đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nớc để điều tiết hoạt động sản xuất kinhdoanh trong nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô, tạo môi tr-ờng ổn định cho sự phát triển kinh tế, bảo vệ môi trờng sinh thái của đất nớc, ápdụng các chính sách tài khoá quốc gia để ổn định tỷ giá, ổn định nền kinh tế, chốnglạm phát, từ đó mới có cơ sở ổn định để nền kinh tế phát triển ổn định và ngày càngcao Nhà nớc điều tiết hoạt động của nền kinh tế đồng thời đề ra các biện pháp đểphát triển xã hội khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trờng, mang lại sự phát triểntheo đúng nghĩa của nó cho toàn xã hội Cuộc đấu tranh gian khổ và trờng kỳ củanhân dân ta dới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giảiphóng nhân dân lao động đem lại hạnh phúc và sự giàu có cho nhân dân lao động.Vì vậy, sự phát triển của Việt Nam trong hiện tại và tơng lai phải là sự phát triển vì

sự giàu có, phồn vinh và hạnh phúc của nhân dân lao động, của toàn xã hội, của toàndân tộc, là sự phát triển mang tính chất xã hội chủ nghĩa, là sự phát triển hiện đại,phát triển bền vững

3 Nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là nền kinh tế phải đạt tốc độ tăng trởng cao, là nền kinh tế có trình độ phát triển cao.

Trang 19

Phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa là mô hìnhkinh tế đã đợc Đảng ta khẳng định Nền kinh tế thị trờng trớc hết và chủ yếu là tiếnhành các hoạt động kinh tế theo quan hệ cung cầu trên thị trờng, theo giá cả thị trờng

và chấp nhận cạnh tranh Bất cứ nền kinh tế thị trờng nào cũng đều phát triển thôngqua cạnh tranh Mục tiêu phát triển của nền kinh tế nớc ta phải là nền kinh tế có tốc

độ tăng trởng cao bởi vì nền kinh tế nớc ta vẫn là một nớc nghèo, lạc hậu so với cácnớc trên thế giới chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện xuất phát điểmthấp, do đó tốc độ tăng trởng kinh tế cao là nhân tốt bắt buộc phải có để chúng ta

đẩy nhanh nền kinh tế đất nớc theo kịp với thời đại Nền kinh tế thị trờng nớc ta cókhả năng đạt hiệu quả kinh tế cao, bởi vì nó đòi hỏi phân bố và sử dụng tốt nhấtnguồn lực của đất nớc, tính toán và lựa chọn tối u các quyết định kinh tế từ đó tạo đ-

ợc khả năng để tăng trởng cao, làm cho dân giàu, nớc mạnh Tuy nhiên, cũng cònthấy rằng, trong nền kinh tế thị trờng, vì động cơ chạy theo lợi nhuận một cách mùquáng, thì sẽ dẫn tới hậu quả nh: doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, bị phá sản, số ngờithất nghiệp, sự phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trờng sinh thái ngày càng tăng,những yêu cầu phát triển khu vực công cộng, bình đẳng, công bằng xã hội không đợc

đảm bảo, con ngời không phát triển toàn diện Thực tiễn phát triển nền kinh tế thịtrờng ở nớc ta những năm qua cho thấy vai trò điều tiết của Nhà nớc là một đòi hỏikhách quan Nhà nớc phải tiến hành các hoạt động điều tiết vĩ mô chính là nhằm hạnchế và khắc phục những khuyết tật những mặt trái của thị trờng, của các hoạt độngkinh tế vĩ mô Việc tham gia điều tiết nền kinh tế thị trờng của Nhà nớc chính lànhằm đẩy mạnh hoạt động nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng cao và ổn

định Hớng các mục tiêu phát triển kinh tế vào mục tiêu phát triển xã hội Nền kinh

tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta là nền kinh tế phát triển cao.Nếu nh kinh tế trì trệ, kém phát triển, tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dânkém dẫn tới mức thu nhập bình quân của dân c còn thấp, không có tích luỹ từ nội bộnền kinh tế thì không thể gọi là định hớng xã hội chủ nghĩa đợc Đành rằng nếu chỉ

có nội dung này thì cha đủ, bởi vì nhiều nớc có nền kinh tế phát triển cao nhng đó lạikhông phải là nền kinh tế định hớng kinh tế xã hội chủ nghĩa

Để có tốc độ tăng trởng kinh tế cao thì đòi hỏi nền kinh tế nớc ta phải là nềnkinh tế dân tộc hoà nhập với kinh tế quốc tế Xu hớng phát triển kinh tế mở, nộidung này có ý nghĩa rất lớn, một mặt nó phát huy đợc lợi thế so sánh của nền kinh tếnớc ta về vị trí địa lý, về lao động và về tài nguyên thiên nhiên Mặt khác nó làm chonền kinh tế nớc ta từng bớc hoà nhập vào kinh tế khu vực và thị trờng thế giới, từ đó

có điều kiện tiếp thu những thành tựu mới của khoa học - kỹ thuật, công nghệ trênthế giới, thực hiện quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc Tuy nhiên

Ngày đăng: 19/02/2014, 09:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w