Là một sinh viên chuyên ngành Bảo Hiểm, qua tìm hiểu hoạt động của BHYT Việt Nam, em đã quyết định chọn đề tài "Bảo hiểm y tế Việt Nam thực trạng và đổi mới" để có đánh giá đúng hơn về ý
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trên con đường đi lên của đất nước, nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ củanhân dân là rất quan trọng Vì vậy Bảo Hiểm Y Tế (BHYT ) không những làchủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước mà còn là sự lựa chọn của nhândân BHYT ra đời xuất phát từ yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội hiện đạiphát triển, nó đã tác động một cách tích cực đến các lĩnh vực khác của đờisống kinh tế xã hội, góp phần đảm bảo an toàn xã hội Thực hiện BHYT làyêu cầu tất yếu của một xã hội hiện đại, của nền kinh tế phát triển BHYTđược coi như là một công cụ để thực hiện bảo đảm công bằng xã hội tronglĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ của toàn dân
Nhưng làm thế nào để nguồn quỹ BHYT không những duy trì, tồn tại
mà còn phát triển và tăng trưởng không ngừng, để theo kịp sự phát triển củanền kinh tế- xã hội của đất nước Đó mới là vấn đề đang cần quan tâm hơnbao giờ hết đối với ngành BHYT nói riêng cũng như của Bộ y tế và Nhànước nói chung
Là một sinh viên chuyên ngành Bảo Hiểm, qua tìm hiểu hoạt động của
BHYT Việt Nam, em đã quyết định chọn đề tài "Bảo hiểm y tế Việt Nam
thực trạng và đổi mới" để có đánh giá đúng hơn về ý nghĩa nhân đạo của
BHYT và cũng để minh chứng rằng BHYT Việt Nam luôn luôn cố gắng tựhoàn thiện phục vụ nhân dân tốt hơn Ngoài lời nói đầu và kết luận đề án của
em bao gồm 4 chương:
Chương I : Sự cần thiết, tác dụng và quá trình hình thành phát triển củaBHYT
Chương II : Thực trạng hoạt động của BHYT Việt Nam
Chương III : Sự đổi mới của BHYT Việt Nam
Chương IV : Một vài nhận xét và kiến nghị
Do tầm hiểu biết còn hạn chế nên đề án của em không tránh khỏi những thiếusót, em kính mong được thầy cô chỉ bảo thêm Qua đây em xin chân thànhcảm ơn thầy giáo Nguyễn Anh Thắng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ emhoành thành bài viết một cách tốt nhất
Một số kí hiệu trên đề án
BHYT : Bảo hiểm y tế
BHXH : Bảo hiểm xã hội
KCB : Khám chữa bệnh
Hà Nội ngày 30 tháng 12 năm 2000 Sinh viên: Nguyễn Thị Hà Giang
1
Trang 2Chương I: SỰ CẦN THIẾT, TÁC DỤNG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT
TRIỂN CỦA BHYT.
I- Sự cần thiết và tác dụng
Con người ai cũng muốn khoẻ mạnh, ấm no hạnh phúc nhưng trong đờingười những rủi ro về sức khoẻ như ốm đau, bệnh tật luôn luôn có thể xảy rabất cứ lúc nào Các chi phí về khám chữa bệnh (KCB) không được xác địnhtrước Vì vậy cho dù lớn hay nhỏ đều gây khó khăn về kinh tế cho mỗi giađình, mỗi cá nhân Đặc biệt đối với những gia đìng có thu nhập thấp, khôngnhững thế rủi ro này có thể làm phát sinh những biến chứng vừa làm giảm sứckhoẻ, giảm sức lao động vừa kéo dài thời gian nghỉ lao động sẽ làm cho cuộcsống trở nên khó khăn hơn
Để chủ động về tài chính cho KCB dù là bệnh thông thường và để tránhnhững chi tiêu đột biến , quá tải khi ốm đau bệnh tật người ta đã sử dụngnhiều biện pháp khác nhau như: để dành tiền tiết kiệm, bán tài sản, kêu gọi sự
hỗ trợ của người thân, đi vay Tuy nhiên mỗi biện pháp đều có những ưuđiểm và hạn chế nhất định, không thể áp dụng trong trường hợp rủi ro kéo dài
về thời gian và lặp đi lặp lại Để khắc phục tình trạng khó khăn trên , từ cuốithế kỷ XIX đã xuất hiện các hội "tương tế" rồi các tổ chức BHYT nhằm mụcđích giúp đỡ mọi người lao động và gia đình của họ khi không may gặp rủi ro
về sức khoẻ để ổn định đời sống, góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, đời sống con người được nâng cao vànhu cầu KCB cũng tăng lên Trong lúc đó chi phí KCB ngày càng tăng donghành y tế sử dụng các trang thiết bị hiện đại, đắt tiền trong việc chẩn đoán
và điều trị bệnh Đồng thời giá cả của các loại thuốc men tăng lên do biếnđộng chung của thị trường, đặc biệt có những bệnh phải sử dụng thuốc quýhiếm, chi phí KCB rất lớn
Hơn nữa dịch vụ y tế là dịch vụ đắt giá nhất đại đa số người dân không
đủ khả năng tài chính để đáp ứng Do đó phải huy động các thành viên trong
xã hội đóng góp nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và cũng đểphục vụ cho chính bản thân mình khi gặp rủi ro về sức khoẻ
Từ những vấn đề nêu trên cho nên BHYT ra đời là rất cần thiết , nó đãđáp ứng được nguyện vọng của đông đảo người dân lao động và gia đình củahọ
Bảo hiểm Y Tế ra đời có tác dụng rất thiết thực:
Trang 3Thứ nhất: Giúp những người tham gia BHYT khắc phục khó khăn về kinh tế khi bất ngờ bị ốm đau, bệnh tật Bởi vì trong quá trình điều trị bệnh chi phí rất tốn kém ảnh hưởng đén ngân sách gia đình trong khi thu nhập của
họ bị giảm đáng kể thậm chí bị mất thu nhập
Thứ hai: Góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, các quốc gia trên thế giới thường có các khoản chi từ ngân sách cho hệ thống y tế, ở phần lớn các nước Chính phủ phải đầu tư khoảng 60% cho ngân sách y tế BHYT ra đời nhằm làm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, khắc phục
sự thiếu hụt về tài chính đáp ứng nhu cầu KCB ngày càng tăng của người dân
ở Việt Nam ngay trước khi thực hiện BHYT hai năm 1991 và 1992, ngân sáchNhà nước cấp cho y tế là 51% và 54% các khoản thu khác từ viện trợ nước ngoài và thu viện phí là 15% và 12% Như vậy ngân sách y tế vẫn còn thiếu hụt 34% mỗi năm Vì vậy BHYT ra đời đã góp phần giải quyết vấn đề trên
Thứ ba: Góp phần nâng cao chất lượng và thực hiện công bằng xã hội trong KCB Thông qua việc đóng góp vào quỹ BHYT sẽ hỗ trợ cho ngân sách
y tế, nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ của nghành y Hơn nữa sau khi tham gia BHYT thì mọi người bất kể giàu nghèo đều được khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ tại các cơ sở y tế
Thứ tư: Nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên xã hội Trên
cơ sở quy luật số lớn BHYT ra đời còn giúp cho việc giáo dục mọi người dân trong xã hội theo tinh thần " mình vì mọi người, mọi người vì mình" " lá lành đùm lá rách" và đặc biệt là giáo dục cho trẻ em ngay từ khi còn ngồi trên nghếnhà trường
BHYT trên thế giới đã được triển khai khá sớm (từ 1883) tại nước Phổ ( nước Đức ngày nay ) Tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước mà phạm vi triển khai rộng hay hẹp đối với từng loại đối tượng
Cho đến nay có hàng trăm nước trên thế giới đã thực hiện BHYT mặc
dù với hình thức, mức độ phạm vi khác nhau Một số nước đã triển khai BHYT từ rất lâu như Pháp, Nhật Bản (70-80 năm) Hàn Quốc (30-40 năm) Tuy vậy mục đích của việc triển khai BHYT trên thế giới tương đối thống nhất:
3
Trang 4Một là: Nhằm chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho mọi người dân.Hai là: Giảm bớt phần nào khó khăn đối với gia đình nghèo khó, thu nhập thấp trên cơ sở tham gia BHYT cộng đồng đóng góp.
Ba là: Góp phần nâng cao chất lượng các cơ sở KCB và điều trị cũng như trang thiết bị của các cơ sở y tế đó
Trên thế giới hiện nay việc triển khai BHYT phần lớn thực hiện dưới hình thức bắt buộc Sở dĩ phải thực hiện bắt buộc vì những lí do sau:
- Nhằm giáo dục ý thức cho mọi người dân trong cộng đồng về vấn đề BHYT
- Nhằm nhanh chóng bảo đảm được quy luật số đông bù số ít
ở Việt Nam từ năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta trong cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp Thực hiện chính sách bao cấp về sức khoẻ cho nhân dân, người dân được KCB không mất tiền Khi chuyển sang nền kính tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì khả năng bao cấp của Nhà nước để thực hiện chi phí KCB như những năm trước đây không còn phù hợp
Trước những đòi hỏi bức xúc và mang tính nhân đạo của BHYT, năm
1989 nước ta đã tổ chức làm thí điểm BHYT ở một số địa phương: Vĩnh Phú, Hải Phòng, Đắc Lắc, Quảng Trị, Bến Tre Bước đầu việc thực hiện đã đem lạikết quả đáng phấn khởi Trước hết một số phương tiện kỹ thuật, trang bị, phòng khám, thuốc men ở các bệnh viện, trung tâm y tế đều được tăng thêm Bênh cạnh đó việc tổ chức sắp xếp, điều trị, phục vụ trong bệnh viện cũng được làm tốt hơn Kết quả của việc thí điểm BHYT đã khẳng định chủ trươngBHYT là đúng đắn và thích hợp
Trên cơ sở đó ngày 15/08/1992, Hội đồng Bộ Trưởng đã ban hành nghịđịnh số 299HĐBT kèm theo điều lệ về BHYT Việt Nam Đến ngày 11/9/1992theo quyết định số 958/BYT- QĐ của Bộ trưởng Y Tế BHYT Việt Nam được chính thức thành lập Đây là một chủ trương lớn của Nhà nước nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để nâng cao chất lượng trong KCB
ở nước ta từ năm 1991 ngân sách Nhà nước đầu tư cho y tế đã tăng mạnh từ
370 tỷ đồng lên 650 tỷ đồng năm 1992, nhưng cũng chỉ đáp ứng được từ 50 đến 54% nhu cầu về y tế
Trang 5Qua 5 tháng ban hành điều lệ BHYT đã có 14 Bộ, nghành có chỉ thị thực hiệntriển khai nghị định 299/HĐBT cho các đợn vị trực thuộc.
Sau 6 năm hoạt động thời gian chưa dài song với những kết quả và hiệuquả đạt được đã khẳng định chính sách BHYT của Đảng và Nhà nước là đúngđắn và tiềm năng phát triển của BHYT là rất lớn Theo số liệu thống kê , số người tham gia BHYT ngày càng tăng Năm 1993 là 3.799.900 người, năm
1995 là 7.104.000 người, đến năm 1997 đã tăng lên là 9.551.000 người Tính riêng năm 1998, số người tham gia BHYT là 9.800.000 người, chiếm 12,6% dân số cả nước, thu được 669 tỷ đồng ( chiếm khoảng 1/4 ngân sách y tế) Hàng năm BHYT cũng đã chi trả cho hàng chục triệu lượt người đi KCB Năm 1996 số người đi KCB là 11 triệu lượt người, năm 1997 con số này đã là
14 triệu và năm 1998 là 15 triệu lượt người Có người mắc bệnh hiểm nghèo lại không có khả năng chữa bệnh, nhưng nhờ BHYT đã được chi trả KCB, thoát khỏi nguy hiểm Như vậy BHYT đã thực sự đem lại lợi ích cho người tham gia, đặc biệt là người nghỉ hưu, mất sức, người nghèo, người có thu nhập thấp
Bên cạnh những kết quả đạt được, sau một thời gian cọ sát với thực tế
và quá trình đổi mới đất nước, chính sách BHYT đã bộc lộ những điểm chưa phù hợp, làm hạn chế hiệu quả hoạt động của BHYT và gây ra sự mất an toàn của quỹ BHYT Điều lệ 299/HĐBT quy định mức đóng góp BHYT có tỷ lệ nhất định nhưng lại không có giới hạn của mức hưởng và không cân đối được thu chi gây thất thoát nguồn quỹ
Để phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội hiện nay và khắc phục những điểm chưa phù hợp trong cơ chế tổ chức quản lý BHYT cũ, tạo điều kiện cho BHYT hoạt động có hiệu quả và ngày càng lớn mạnh Ngày 13/08/1998 Chính phủ ban hành Nghị định 58/1998/NĐ-CP về điều lệ bảo hiểm mới của BHYT Có thể nói Nghị định 58 đã đánh dấu một bước đổi mới quan trọng
Đó là đã giải quyết được những điểm bất hợp lý trong thời gian trước, đòng thời hoà nhập được vào quỹ đạo của nền kinh tế, dần từng bước hoàn thiện và nâng cao việc thực hiện BHYT cho cộng đồng mà Đảng và Nhà nước đã lưạ chọn
Chương II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BHYT Ở VIỆT NAM.
I Một số nội dung cơ bản của điều lệ BHYT ban hành kèm nghị định 299/HĐBT ngày 15/08/1992.
1 Đối tượng tham gia BHYT
5
Trang 6Theo điều lệ BHYT chỉ bao gồm 4 loại đối tượng phải tham gia BHYTbắt buộc là các lao động làm việc tại:
- Đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức Đảng, đoàn thể, hội quần chúng
có hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
- Các doanh nghiệp quốc doanh, kể cả các doanh nghiệp trong lựclượng vũ trang , các đơn vị thực hiện hạch toán kinh tế, hạch toán lấy thu bùchi trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức Đảng, đoàn thể xã hội, hộiquần chúng
- Các doanh nghiệp gồm: doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thuê từ 10lao động trở lên, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, doanh nghiệp cóvốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp trong khu chếxuất
- Các tổ chức, văn phòng đại diện của nước ngoài các tổ chức quốc tếđặt tại Việt Nam có thuê lao động là người Việt Nam
Các đối tượng còn lại trong xã hội có thể tham gia BHYT tự nguyện.Bên cạnh các đối tượng tham gia BHYT, điều lệ BHYT vẫn thực hiện chế độmiễn giảm viện phí đối với các đối tượng được quy định tại điêù 3 Quyết định
số 45/HĐBT ngày 24/04/1989 của Hội đồng Bộ trưởng
2 Quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia BHYT
a Người được BHYT
* Quyền lợi của người được BHYT
- Được cơ quan BHYT chi trả trợ cấp BHYT khi KCB
- Được yêu cầu BHYT bảo vệ các quyền lợi theo quy định của điều lệBHYT và có quyền khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền khi các bên thamgia không thực hiện đúng BHYT
Trang 7* Trách nhiệm của người được BHYT.
- Thực hiện đúng các quy định của điều lệ BHYT
- Bảo quản và sử dụng đúng thẻ BHYT theo đúng quy định
- Tại nơi khám và điều trị bệnh, người được BHYT phải KCB theođúng nơi đăng ký thẻ BHYT, trừ trường hợp cấp cứu và được chuyển việnphù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật theo đúng quy định của Bộ Y Tế
b Cơ quan BHYT
* Cơ quan BHYT có quyền
- Xác định mức phí đóng BHYT theo đúng quy định
- Yêu cầu các cơ sở KCB làm rõ các chi phí KCB cho người đượchưởng BHYT
- Từ chối chi trả BHYT đối với những trường hợp KCB vi phạm hợpđồng
- Huỷ bỏ hợp đồng với những cơ sở y tế vi phạm những quy định hợpđồng
* Trách nhiệm của cơ quan BHYT
- Tổ chức cấp thẻ và quản lý việc sử dụng thẻ BHYT
- Ký hợp đồng với các cơ sở y tế
- Chi trả trợ cấp KCB với những thẻ BHYT do cơ quan phát hành
- Bảo vệ quyền lợi của người được BHYT
- Giải quyết khiếu nại của người được BHYT
Cơ quan BHYT không có trách nhiệm chi trả trợ cấp KCB cho người đượcBHYT trong trường hợp tự tử, say rượu, dùng chất ma tuý, vi phạm pháp luật
c Các cơ sở KCB.
* Quyền lợi của các cơ sở KCB
7
Trang 8- Yêu cầu cơ quan BHYT thanh toán các chi phí về BHYT theo hợpđồng.
- Có quyền huỷ bỏ hợp đồng với cơ quan BHYT nếu cơ quan này viphạm hợp đồng trước
* Trách nhiệm của các cơ sở KCB
- Thực hiện đúng hợp đồng phục vụ người bệnh đã ký kết với cơ quanBHYT
- KCB theo đúng phác đồ hướng dẫn điều trị
- Kiểm tra thẻ BHYT, phát hiện và thông báo với cơ quan BHYTnhững trường hợp vi phạm hoặc lạm dụng việc sử dụng thẻ BHYT
3 Phí BHYT
- Đối với các đối tượng hưởng lương từ ngân sách chưa thực hiện cảicách chế độ tiền lương mức phí đóng BHYT là 10% tổng quỹ lương cấp bậcchức vụ tính theo quyết định số 203/HĐBT ngày 28/12/1988 của HĐBT.Trong đó cơ quan người sử dụng lao động đóng 2% và người lao động đóng1% phí BHYT
- Đối với các doanh nghiệp thì mức phí là 3% tổng thu nhập, người sửdụng lao động 2% phí và người lao động đóng 1% phí
- Đối với người hưu trí, mất sức là 10% lương hưu, trợ cấp cho cơ quanBảo Hiểm Xã Hội có trách nhiệm đóng
- Múc phí đóng BHYT tự nguyện sẽ được quy định bởi Bộ Y Tế
Mức phí này ban hành theo nghị định 299/HĐBT không cố định và được thayđổi phù hợp với mức tiền lương thu nhập và giá cả trong từng thời kỳ
4 Mức hưởng BHYT.
Các đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế khi đi khám chữa bệnh tại các cơ sở
y tế đăng ký ban đầu(ghi trong thẻ bảo hiểm y tế ) sẽ được cơ quan bảo hiểm
y tế trả toàn bộ viện phí bao gồm các chi phí đã ghi trong hợp đồng
5 Quỹ bảo hiểm y tế :
Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý phân tán không tập trung 98% quỹ bảohiểm y tế được tập trung tại các cơ quan bảo hiểm y tế tỉnh thành phố trực
Trang 9thuộc trung ương và ngành quản lý, còn 2% quỹ bảo hiểm y tế thì trích nộpcho bảo hiểm y tế Việt Nam
Theo Điều lệ quy định tiền Bảo hiểm y tế nhàn rỗi chỉ được gửi tiếtkiệm hoặc mua trái phiếu để hưởng lãi suất Do đó quỹ Bảo hiểm y tế khôngphải nộp thuế
6 Tổ chức của hệ thống Bảo hiểm y tế Việt Nam :
Hệ thống Bảo hiểm y tế Việt Nam theo nghĩa rộng là một hệ thống cócác mốt quan hệ hai bên: Tổ chức bảo hiểm y tế , người tham gia bảo hiểm y
tế và cơ sở khám chữa bệnh thuê hợp đồng với Bảo hiểm y tế
Nếu theo nghĩa hẹp thì hệ thống Bảo hiểm y tế chỉ bao gồm các bộphận và các mối quan hệ trong nội bộ Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế Việt Nam là cơ quan trực thuộc Bộ y tế Bộ y tế chịutrách nhiệm thành lập Hội đồng quản trị Bảo hiểm y tế để giám sát mọi hoạtđộng của Bảo hiểm y tế Việt Nam Hội đồng quản trị Bảo hiểm y tế Việt Nambao gồm:
-Chủ tịch Hội đồng quản trị do Thứ trưởng Bộ y tế đảm nhiệm
-Phó chủ tịch Hội đồng quản trị do Vụ trưởng vụ quản lý sức khoẻ Bộ y
1994 theo QĐ số 251/BYT của bộ y tế , Bảo hiểm y tế Việt Nam giao lạiquyền khai thác Bảo hiểm y tế cho các chi nhánh Bảo hiểm y tế Việt Nam tạiThành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trên hai địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
và Hà Nội Như vậy bắt đầu từ quý 2 năm 1994 Bảo hiểm y tế Việt Namkhông có trách nhiệm khai thác Bảo hiểm y tế, chỉ chịu trách nhiệm quản lý
về chuyên môn, nghiệp vụ đối với Bảo hiểm y tế thành viên
II Thực trạng của BHYT Việt Nam
9
Trang 101 Giai đoạn từ 1993- 1995.
a Công tác thu và phát hành thẻ Bảo hiểm y tế
Đây là công táo hết sức quan trọng, nó tạo điều kiện cho các hoạt động Bảohiểm y tế tiếp theo
BHYT là một loại hình bảo hiểm mang tính nhân đạo nhất Nó phù hợpvới xu thế phát triển của xã hội nên nhận được sự ủng hộ của cộng đồng.Nhưng do thời gian đầu hoạt động còn mới mẻ nên sự nhận thức của quầnchúng chưa cao Nắm rõ được thực trạng này nên Bảo hiểm y tế đã ngày càngbám sát hơn để có những phương hướng, biện pháp khai thác và phát hành thẻngày càng hoàn thện và có hiệu quả hơn
Số lượng người tham gia Bảo hiểm y tế ngày càng đông, được thể hiệnqua bảng sau:
Bảng 1: Số thẻ phát hành và tổng thu của BHYT Việt Nam ( 93-95 )
(Nguồn số liệu: BHYT Việt Nam )
Theo số liệu thống kê Bảo hiểm y tế Việt Nam năm 1993 có 3.149.254 ngườitham gia Bảo hiểm y tế chiém 5,35% dân số cả nước Trong đó thu được 63%đối tượng bắt buộc còn 37% chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp trong và ngoài
Trang 11nước chưa tham gia Bảo hiểm y tế gây thất thu cho quỹ BHYT hàng chục tỷđồng.
Năm 1994 do việc sửa dổi mức đóng Bảo hiểm y tế sau cải cách tiềnlương nên công tác thu của 6 tháng đầu năm gặp khó khăn Nhiều cơ quan,đơi vị chưa tham gia Bảo hiểm y tế vì lí do Nhà nước chưa quy định mứcđóng mới, một số cơ quan chấp nhận tham gia nhưng chỉ tạm thời đóng theomức quy định cũ hoặc với 1% lương mới Cá biệt là một số địa phương pháthành thẻ BHYT chưa thu tiền dẫn đến thất thu Bảo hiểm y tế Do những sựkiện trên công tác thu Bảo hiểm y tế năm 1994 tiến hành rất khó khăn Năm
1995 số thẻ Bảo hiểm y tế tăng 30% so với năm 1994, số thu Bảo hiểm y tếbắt buộc tăng 40% so với năm 1994 do mức đóng tăng lên so với năm trướcđó
b Chi BHYT.
*Chi KCB BHYT năm 1993
Đây là năm đầu tiên thực hiện hợp đồng KCB BHYT giữa cơ quan BHYT vớicác cơ sở KCB BHYT Việt Nam chi trả chi phí KCB là 49 tỷ đồng, trong đóchi cho KCB nội trú là 32 tỷ đồng và cho KCB ngoại trú là 17 tỷ đồng
* Chi KCB BHYT năm 1994
Năm 1994 có 5,3 triệu lượt người KCB ngoại trú chiếm 124,29% số ngườitham gia BHYT, với tổng chi phí KCB ngoại trú là 55 tỷ đồng bằng 85,94%
so với quỹ KCB ngoại trú
Số lượt người KCB nội trú là 0,5 triệu lượt người, chiếm 11,73% số ngườitham gia BHYT Tổng chí phí KCB nội trú là 75 tỷ đồng, chiếm 45,07% quỹnội trú
*Chi KCB BHYT năm 1995
Số lượt người KCB BHYT năm 1995 là 10 triệu lượt người với tổng chi phí là
Trang 122 Giai đoạn từ năm 1996- 1998.
a Tình hình khai thác BHYT
Tình hình khai thác BHYT trong giai đoạn 1996-1998 được trình bày qua cácbảng sau:
Trang 14Qua 2 bảng số liệu trên ta có nhận xét:
Nhìn chung công tác khai thác BHYT qua 3 năm đều đạt kết quả tốt, giữ đượcmức tăng trưởng hàng năm cả về số người tham gia BHYT và số thu BHYT
Thứ nhất: Số thẻ BHYT bắt buộc là chủ yếu, chiếm trên 60% tổng sốthẻ phát hành Trong đó đối tượng thuộc khu vực doanh nghiệp ngoài quốcdoanh chiếm tỷ lệ rất thấp ( chỉ khoảng 5% ) so với số thẻ BHYT bắt buộc.Mặt khác mức đóng BHYT bắt buộc của khu vực ngoài quốc doanh nhỏ hơnnhiều so với mức quy định là 3% tổng thu nhập, Như vậy mặc dù tỷ lệ tănglên qua các năm song quyền được tham gia BHYT của người lao động tại khuvực ngoài quốc doanh chưa được người sử dụng lao đảm bảo đầy đủ, đặc biệt
là tại các văn phòng,công ty đại diện nước ngoài ở Việt Nam người lao độnghầu như không được BHYT
Thứ hai: Số người tham gia BHYT bắt buộc đã đạt đến điểm dừng (trừkhu vực ngoài quốc doanh) còn các đối tượng thuộc khối hành chính sựnghiệp trong các doanh nghiệp Nhà nước, hưu trí mất sức và ưu đãi xã hộităng giảm không đáng kể
Thứ ba: Số người tham gia BHYT năm 1997 mới chỉ chiếm 12,62%dân số cả nước Đối tượng tham gia BHYT tự nguyện chủ yếu là học sinh,
Trang 15sinh viên chiếm tới 93% Năm 1998 trong tổng số thẻ BHYT tự nguyện số thẻBHYT nhân dân chỉ chiếm có 3,4% Như vậy số người trong xã hội chưatham gia BHYT là rất lớn, BHYT Việt Nam chưa thực hiện được công tác xãhội hoá BHYT Trong thực tế yêu cầu mở rộng BHYT đến các đối tượng kháccủa xã hội ngoài đối tượng bắt buộc là học sinh, sinh viên chưa được chínhquyền các cấp quan tâm.
b.Hoạt động KCB trong BHYT
Hoạt động KCB BHYT được thể hiện qua bảng số liệu sau đây:
Bảng 4: Hoạt động KCB BHYT trong các năm 1996 - 1998
6 Số người KCB BHYT /tổng số TG 1,24 1,47 1,577Chi KCB BHYT (triệu đồng ) 410.000 480.000 522.000
- Ngoại trú 170.000 220.000 254.000
15
Trang 16Nhận xét: Qua bảng số liệu thống kê tình hình KCB BHYT qua 3 năm từ năm
1996 đến năm 1998 ta thấy có một số điểm đáng chú ý sau:
Một là: Số lượng người khám chữa bệnh BHYT tăng qua các năm với tỷ lệlà17,5% /năm
Trong đó: - Tỷ lệ bình quân lượt người KCB ngoại trú BHYT là 18,1%/năm
- Tỷ lệ tăng bình quân lượt người KCB nội trú BHYT là 14,1%/năm
Song nếu xét theo từng năm ta thấy mức độ tăng có xu hướng giảm dần cụthể:
- Tỷ lệ tăng của năm 1997 so với năm 1996 là 27%/năm
- Tỷ lệ tăng của năm 1998 so với năm 1997 là 8%/năm
Hai là: Mặc dù số người tham gia BHYT chỉ chiếm 12% dân số cả nước song
tỷ lệ điều trị nội trú là khá cao so với mức bình quân ở đối tượng dân cư khác
Ba là: Số chi BHYT cũng tăng lên cả về chi KCB nội trú lẫn ngoại trú Nhưng
số chi KCB nội trú giảm dần từ 240.000đ/người/năm xuốngcòn205000đ/người/năm
3 BHYT học sinh - sinh viên qua 5 năm thực hiện
Thực tế cho thấy rằng BHYT học sinh được đông đảo các bậc phụhuynh, các thầy cô giáo và các em chấp nhận BHYT đã có những đóng gópquan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ch học sinh sinh viên - thế hệtương lai của đất nước
Sau 5 năm tổ chức thực hiện số học sinh tham gia, số thu tăng dần quacác năm: Năm học 1994- 1995 mới có 65.000 học sinh tham gia, đến năm
1999 - 2000 đã tăng lên gần 3 triệu học sinh - sinh viên Từ số thu 8,3 tỷ đồngnăm học 1994-1995 đến năm học 1999-2000 đã tăng lên 55 tỷ đồng Số tiền
để lại y tế trường học tới gần 20 tỷ đồng mỗi năm, số tiền chi KCB cho họcsinh - sinh viên co BHYT tăng dần từ 5 tỷ đồng năm họ 1994- 1995 lên 33,5
tỷ đồng năm học 1999-2000
Trang 17Từ khi có BHYT học sinh - sinh viên 35% tổng số thu bảo hiểm để lạiphục vụ cho công tác y tế trường học Nhờ đó các trường đã khôi phục vàthành lập mới được hệ thống y tế trường học Những nơi có đông học sinhtham gia BHYT thì mạng lưới y tế trường học được phát triển tốt Nhiều tỉnhnhư Ninh Bình, Thái Bình, Bình Định, Đồng Tháp, TP Hồ Chí Minh đã xâydựng được hệ thống y tế trường học ở hầu hết các trường có học sinh tham giaBHYT Nhò có nguồn kinh phí BHYT, các trường đã tổ chức khám sức khoẻđịnh kỳ cho học sinh, hỗ trợ thực hiện các chương trình nha học đường, mắthọc đường.
Ngoài phần kinh phí 35% số thu để lại nhà trường hàng năm UBND môt sốtỉnh còn cho phép trính từ nguồn kết dư BHYT để mua sắm thêm thiết bị y tếtrường học Quỹ KCB đã chi trả không giới hạn chi phí KCB cho nhiềutrường hợp học sinh bị bệnh nặng Trong trường hợp học sinh không may bị
tử vong thì gia đình học sinh đều được quỹ BHYT trợ cấp Ngoài ra hàng nămquỹ BHYT còn dành một phần kinh phí không nhỏ để mua thẻ BHYT chohọc sinh nghèo Danh sách các học sinh nghèo này do Ngành GD - ĐT đềnghị, nguồn kinh phí mua thẻ BHYT cho các em trích từ nguồn kết dư quỹBHYT học sinh Các tỉnh thường xuyên làm tốt công tác này có thể kể đến là
Hà Nội, Phú Thọ, Thừa Thiên Huế, TP Hồ Chí Minh
Để đạt được những kết quả nói trên bên cạnh sự nỗ lực rất lớn của hệthống các cơ quan BHYT, thì một trong những yếu tố quan trọng không thểthiếu là sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, sự phốihợp của các nghành có liên quan đặc biệt là nghành GD - ĐT, nghành y tếtrong việc tổ chức thực hiện BHYT học sinh Hy vọng trong những năm tới
sự nỗ lực của các nghành, các cấp công tác BHYT học sinh - sinh viên sẽ thuđược nhiều kết quả khả quan
17
Trang 18Chương III: SỰ ĐỔI MỚI CỦA BHYT VIỆT NAM
I Sự cần thiết của việc sửa đổi điều lệ BHYT
Ngày 15/08/1992 Hội đồn Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 299/HĐBT vềviệc ban hành Điều lệ BHYT, nhằm cụ thể hóa Điều 39 Hiến pháp năm 1992
"thực hiện BHYT để tạo điều kiện mọi người dân đều được chăm sóc sứckhoẻ " Sau nhiều năm tổ chức thực hiện trong hoành cảnh còn nhiều khókhăn, chính sách BHYT đã đạt được những kết quả quan trọng như:
- Thực tế triển khai BHYT đã khẳng định BHYT là chính sách xã hộiđúng đắn của Đảng và Nhà nước, phù hợp với tiến trình đổi mới là giải phápnâng cao chất lượng KCB góp phần thực hiện công bằng trong chăm sóc sứckhoẻ được nhân dân và xã hội chấp nhận
- BHYT đã góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước
- Đã hình thành được hệ thống BHYT trên phạm vi cả nước ngày càngđông đã thiết thực hỗ trợ kinh phí góp phần nâng cao chất lượng KCB
- Đối tượng tham gia ngày càng được mở rộng đặc biệt là BHYT tựnguyện học sinh - sinh viên
- BHYT Việt Nam đã hợp tác với nhiều tổ chức BHYT của các nướctrong khu vực và các tổ chức quốc tế để học tập kinh nghiệm quản lý BHYT
và tranh thủ sự hỗ trợ trong phát triển chính sách BHYT ở Việt Nam
Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu trên đây, NĐ299/HĐBT đã bộc lộ nhữngvấn đề không còn phù hợp cho tiến trình phát triển, làm giảm những gía trịđích thực trong bản chất vốn có của nó, thậm chí còn kìm hãm sự phát triểncủa BHYT Việt Nam Cụ thể:
- Thiếu công bằng trong việc thực hiện chế độ và nghĩa vụ BHYT
- Quyền lợi của người tham gia BHYT chưa được đảm bảo