Cuộc khủng hoảng này đã gây ra những tác hại nghiêm trọng tới nền kinh tế chính trị của hàng loạt các nớc trong khu vực, nó cũng làm đảo lộn đời sống xã hội của hàng trăm triệu ngời dân,
Trang 1Lời nói đầu
Một trong những sự kiện lớn nhất xảy ra trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu á năm 1997 Cuộc khủng hoảng này đã gây ra những tác hại nghiêm trọng tới nền kinh tế chính trị của hàng loạt các nớc trong khu vực, nó cũng làm đảo lộn đời sống xã hội của hàng trăm triệu ngời dân, hậu quả của cuộc khủng hoảng này đợc so sánh với những cuộc chiến tàn khốc cho dù không có cảnh đổ nát nào
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu ở Thái Lan, sau đó lan sang các nớc Đông Nam á khác, khu vực Đông Bắc á và cuối cùng ảnh h-ởng đến hầu hết các khu vực trên thế giới Cuộc khủng hoảng khởi đầu từ lĩnh vực tài chính tiền tệ, tiếp theo là toàn bộ nền kinh tế và ảnh hởng sâu sắc tới các lĩnh vực chính trị xã hội mà hậu quả của nó cho tới nay ngời ta vẫn nhận thấy rõ ràng
Tuy cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đã đi qua và nền kinh tế của các nớc đang phục hồi nhanh chóng hơn sự mong đợi của các chuyên gia kinh tế cũng nh của mọi ngời, nhờ sự nỗ lực của chính phủ các nớc trong khu vực cũng nh các tổ chức quốc tế nhng việc xem xét lại cuộc khủng hoảng này một cách tỷ mỷ và khách quan có thể giúp cho các nhà quản lý nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là đối với các nớc có tốc độ tăng trởng kinh tế nhanh hàng đầu thế giới nh các nớc Đông Nam á.Từ đó thấy đợc tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam , đặc biệt đến FDI vào Việt Nam
Từ những điều đã nêu, dựa vào những tài liệu, em đã tổng hợp và phân tích về cuộc khủng hoảng thành đề án cho môn học nhằm giúp cho mọi ng-
ời có các nhìn chính xác và sâu sắc hơn về cuộc khủng hoảng vốn không xa lạ gì với ngời dân Châu á Do còn thiếu nhiều tài liệu nghiên cứu cũng nh khả năng tổng hợp, phân tích còn hạn hẹp nên đề án không thể tránh khỏi những sai sót, em mong nhận đợc sự hớng dẫn, gợi ý từ các thầy cô
Hà Nội, 12/2001
Trang 2phần I tổng quan về cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á và tính chất của nó
1- Tổng quan về cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á
Ngày 2/ 7 / 1997 cơ quan tiền tệ Thái Lan ra công bố rằng không còn khả năng giữ giá đồng Bạt theo đồng đô la Mỹ nữa Thông báo này cũng có nghĩa là chính phủ Thái Lan chủ trơng phá giá đồng Bạt sau 13 năm gìn giữ
và ổn định giá và ngày 2/7 đợc coi là phần mở đầu cho cuộc khủng hoảng mới tại châu á- khủng hoảng tài chính tiền tệ
Ngay trong ngày 2/7 đồng Bạt lập tức bị giảm giá 16% và trong suốt khoảng thời gian tiếp theo vẫn bị giảm giá liên tục, sau 1 tháng đồng Bạt đã mất giá hơn 30% so với ngày 2/7 và chỉ số thị trờng chứng khoán Băng Cốc cũng mất giá trị tơng đơng nh vậy
Thực ra thì việc Thái Lan phá giá đồng bản tệ không phải là việc bất ngờ, nó là hệ quả tất yếu cuẩ việc thâm hụt ngoại tệ Ngay từ giữa năm
1996 thì tỉ giá đồng Bạt so với đồng đô la Mỹ là tăng lên không ngừng và các ngân hàng trung ơng trong khu vực đã dùng mọi nỗ lực giữ giá đồng Bạt nhằm tránh một cuộc khủng hoảnghàng loạt nhng với một khoản thâm hụt ngoại tệ lên tới 15 tỉ USD thì sự kiện 2/7 là điều tất yếu phải xảy ra.Ngay sau khi Thái Lan ra tuyên bố phá giá đồng Bạt thì cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lây lan sang các nớc khác trong khu vực, đồng tiền của các nớc mất giá một cách trầm trọng Sau 1 tháng đồng Pêsô của Phi lip pin và đồng Rin Gít của Malaixia mát giá khoảng 20% đặc biệt là tại Inđônêxia đòng Rupia mất giá tới 40% trong vòng 1 tháng Ngay cả Singapo là nớc có nền kinh tế khá vững mạnh trong khu vực thì đồng đô la Singapo cũng bị giảm giá tới 6% giá trị so với đồng tiền ban đầu Đồng tiền một số nớc khác cũng bị ảnh hởng nhng không nghiêm trọng nh Việt Nam, Mianma và đồng thời với việc các đồng tiền mất giá thì các dòng vốn đầu t
Trang 3của nớc ngoài ở các nớc này chảy ra khỏi các nền kinh tế nh xe xuống dốc không phanh.
Hàn quốc một quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc á và có nền kinh tế
đứng thứ 11 trên thế giới Cuộc khủng hoảng này làm cho nhiều tập đoàn then chốt của Hàn quốc bị phá sản nh tập đoàn thép Hanbô phá sản với khoản nợ 6tỉ USD, thị trờng cổ phiếu và đồng Won bị mất giá mạnh nền…kinh tế Hàn Quốc lâm vào tình trạng suy thoái nặng nề, kết thúc thời kỳ hơn
30 năm phát triển kỳ diệu của nền kinh tế sông Hàn
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ '' gõ cửa " nền kinh tế Hàn Quốc cũng có nghĩa là phạm vi lan truyền và ảnh hởng của nó không còn nằm trong khuôn khổ các nớc Đông Nam á mà đã lan sang các nớc Đông Bắc á cũng nh toàn châu á và thế giới Nhật Bản nớc có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới cũng gặp nhiều khó khăn trong hệ thống tài chính tiền tệ, đồng Yên mất giá so với đong đô la Mỹ đã làm ảnh hởng không nhỏ tới đời sống nhân dân Tốc độ tăng trởng của châu á chỉ đạt 1,9% năm 98 thấp hơn nhiều
so với tốc độ tăng trởng trung bình hơn 7% của những năm đó
Cuộc khủng hoảng không còn riêng trong lĩnh vực kinh tế mà đã lan sang các lĩnh vực chính trị, xã hội khác Inđônêxia những cuộc biểu tình do sinh viên dẫn đầu đã buộc tổng thống Suhactô phải từ chức và tháng 5/98 làn sóng li khai bùng lên mạnh mẽ, điển hình là đảo Đông Ti Mo của Inđonêxia, một số đảo của Philipin cũng diễn ra tình trạng tơng tự, đi theo cuộc khủng hoảng là các tệ nạn xã hội vốn đã không ít ở các nớc đang phát triển nh Đông Nam á nạn cớp dật, mại dâm trộm cắp tăng lên nhanh…chóng, số ngời tự tử không phải là ít Tóm lại, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á là một ttrong những sự kiện gây ra hậu quả tai hại nhất trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX Theo ớc tính thì thiệt hại do cuộc khủng hoảng là hơn 400 tỉ USD cho các nớc
Trang 4II- Tính chất của cuộc khủng hoảng
1 Cuộc khủng hoảng mang tính cơ cấu
Mọi ngời vẫn lầm tởng rằng cuộc khủng hoảng năm 97 mang tính chu
kỳ nhng thực sự đây là cuộc khủng hoảng mang tính cơ cấu với sắc thái tiền
tệ rõ nét Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ lĩnh vực tài chính tiền tệ và thực tế
đã cho thấy là nó đã đợc khắc phục chủ yếu nhờ những giải pháp nhằm làm lành mạnh hoá và hoàn thiện hệ thống tài chính tiền tệ của mỗi nớc mỗi khu vực Hệ thống tài chính tiền tệ nói riêng cũng nh cơ cấu tổ chức kinh tế của các nớc châu á nói chung cho tới trớc cuộc khủng hoảng đợc các chuyên gia kinh tế đánh giá là đợc quản lí tốt, ngân sách về cơ bản là cân đối, lạm phát thấp, tốc độ tăng trởng cao và đều Chính những nhận định này đã…làm cho các nhà quản lí Châu á chủ quan sơ suất và khi sự việc xảy ra thì
họ mới nhận thấy là thiếu sót
2 Cuộc khủng hoảng mang tính quốc tế sâu sắc
Có thể nói cùng với việc tự do hoá thơng mại ngày càng phát triển, việc toàn cầu hoá nền kinh tế là tất yếu thì cuộc khủng hoảng của châu á vừa qua cũng mang tính chất quốc tế sâu sắc cả về những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng lẫn những nỗ lực để vợt qua cuộc khủng hoảng
Tính chất quốc tế của cuộc khủng hoảng còn thể hiện ở những thông
điệp cảnh báo chung mà nó đa ra cho các nớc đang phát triển về chính sách tài chính tiền tệ trong qúa trình công nghiệp hoá và phát triển đất nớc
3. Cuộc khủng hoảng diễn ra theo tính chất làn sóng
Cũng bởi tính chất quốc tế của cuộc khủng hoảng nên cuộc khủng hoảng diễn ra theo kiểu làn sóng, tiếp diễn không ngừng, lan toả đuổi bắt nhau và sau
đó ảnh hởng định chế lẫn nhau Những làn sóng của cuộc khủng hoảng này bắt đầu từ những chấn động tại những nớc trung tâm nhạy cảm sau đó lan sang các vùng khác Bùng nổ từ '' cú sốc tỉ giá " ngày 2/7/97 tại Thái Lan , qua Philipin, Malaixia rồi Inđônêxia sang Hàn Quốc và Nhật Bản, lan sáng cả…khu vực Châu Mỹ và một phần châu âu Các trung tâm chuyển dịch một cách khó dự đoán và phát triển những mầm mống lây nhiễm rộng và sâu hơn, đe
Trang 5doạ kéo theo những tổn thất lớn và đòi hỏi những phối hợp quốc tế mạnh mẽ, rộng lớn hơn, đồng bộ hơn và dĩ nhiên là với chi phí lớn và khắc phục hậu quả lâu so với các cuộc khủng hoảng thông thờng khác Điều này cho thấy sự gia tăng ngày càng cao về mức độ tơng tác lẫn nhau cũng nh ý nghĩa của các sự kiện, các vấn đề kinh tế của mỗi nớc tuỳ thuộc vào vị thế của chúng trong bối cảnh nền kinh tế đang vận động theo hớng tự do hoá và toàn cầu hoá.
Trang 6Phần II
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
và một số giải pháp
I nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
Cho đến tháng 12/1998 cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu á đã lan tràn với qui mô ngày càng rộng lớn, mức động ngày càng phức tạp Bối cảnh kinh tế mỗi nớc bị khủng hoảng khác nhau, diễn biến khác nhau, nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng có nhiều điểm khác nhau giữa các nớc Trong phần trên khi trình bày về bối cảnh kinh tế mỗi nớc trớc cuộc khủng hoảng đã phần nào đề cập đến các nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính tiền tệ Trong phần này chúng ta sẽ phân tích từng nguyên nhân của cuộc khủng hoảng từ bên trong nền kinh tế, sự tác động qua lại giữa các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng từ bên trong nền kinh tế, sự tác động qua lại giữa các nhân nhân bên trong với nhau cũng nh mối quan hệ của chúng với các yếu tố bên ngoài Qua đó chúng ta sẽ tìm ra cơ chế dẫn tới sự phá giá của mỗi nớc và cơ chế lan truyền khủng hoảng giữa các nớc
A- Các nguyên nhân bên trong nền kinh tế.
Các nguyên nhân bên trong nền kinh tế rất đa dạng, phức tạp và khó phân tích riêng biệt để xe mxét, giữa chúng có mối liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau Có nguyên nhân làm tiền đề cho một nguyên nhân khác phát huy tác động và ngợc lại
1 Chính sách tài chính tiền tệ không hợp lý, hệ thống ngân hàng yếu kém.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ có nguyên nhân sâu xa nhất của
nó nằm trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Trong lĩnh vực này, Chính phủ các nớc đã thi hành 2 năm chính sách tài chính - tiền tệ không hợp lý là chính sách quản lý ngoại hối và chính sách tỷ giá hối đoái cố định thông qua một trung gian tài chính - hệ thống ngân hàng yếu kém
Trang 71.1 Chính sách tỷ giá hối đoái cố định.
Chính sách tỷ giá hối đoái cố định đã giúp cho nền kinh tế các nớc ổn
định, góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trởng kinh tế, thế nhng lịch sử kinh tế thế giới đã cho thấy rằng chính sách đó cũng có những điểm yếu của nó.Nếu nh tỷ giá cố định gắn với đồng USD đã giúp xuất khẩu của Thái Lan tăng trởng trong năm 1994 - 1995, khi USD giảm giá thì việc đồng USD tăng giá so với một số đồng tiền mạnh nh JPY (Nhật), Mác (Đức) sẽ gây tác
động ngợc lại Tỷ giá hối đoái cố định cùng với sự gia tăng lạm phát đồng nghĩa với việc đồng tiền lên giá thực tế Điều này dẫn tới việc khuyến khích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu của các quốc gia này (điển hình là Thái Lan) Bên cạnh đó Thái Lan cũng nh một số quốc gia khác chỉ tập trung vào xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực nh hàng điện tử, thủ công Khi nhu cầu hàng điện t (bán dẫn) giảm cộng với sự suy giảm nói chung về nhu cầu trên thị trờng quốc tế (do kinh tế một số nớc công nghiệp tăng trởng chậm lại) và
sự cạnh tranh xuất khẩu trong một số mặt hàng tăng lên thì cũng là khi xuất khẩu của Thái Lan tất yếu giảm đi Hơn nữa xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng làm tăng hụt cán cân tài khoản vãng lai
1.2 Chính sách quản lý ngoại hối.
ở các nớc bị khủng hoảng, trong một thời gian dài bên cạnh chính sách
tỷ giá hối đoái cố định, Chính phủ thực hiện chính sách ngoại hối tự do Trong khi đó thị trờng chứng khoán và thị trờng ngoại hối ít đợc kiểm soát và phát triển không đồng bộ Chính sách này cho phép tự do chuyển
đổi đồng bản tệ sang ngoại tệ và ngợc lại Nh vậy vốn quốc tế đợc tự do lu chuyển ra vào các quốc gia này
Dới chế độ tỷ giá hối đoái cố định thì chức năng điều tiết nền kinh tế
vĩ mô của chính sách tiền tệ không còn tác dụng, đặc biết khi luồng ngoại
tệ đợc tự do lu chuyển Thật vậy nh ở Thái Lan khi vốn nớc ngoài đổ vào nhiều (do đầu t đợc khuyến khích quá mức) sẽ làm tăng cung ngoại tệ, đồng nội tệ bị sức ép lên gia và chế độ tỷ giá hối đoái cố định có nguy cơ bị phá
võ Để giữ tỷ giá hối đoái ở mức cũ, Chính phủ buộc phải áp dụng chính sách tiền tệ thả lỏng (tăng cung đồng nội tệ) Điều này làm thổi phồng một cách giả tạo nhu cầu trong nớc, thúc đẩy tiền lơng tăng lên, khuyến khích
Trang 8đầu t trong nớc quá mức cần thiết dẫn tới tình trạng d thừa công sức ở nhiều lĩnh vực,đầu t thiếu hiệu quả (đầu t vào bất động sản lớn, khu vực sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, hoá dầu ở Thái Lan d thừa).
Vậy khi thực hiện cùng một lúc chính sách tỷ giá hối đoái cố định, chính sách quản lý ngoại hối tự do (tự do lu chuyển vốn quốc tế) và chính sách tiền
tệ độc lập đã là một tác nhân tổng hợp khiến nền kinh tế phát triển quá nóng bỏng và rơi vào tình trạng mất cân đối bên trong cũng nh bên ngoài
1.3 Hệ thống ngân hàng yếu kém.
Thực tế cho thấy nếu chỉ quan tâm đến tăng trởng nhanh mà không chủ ý hoàn thiện hệ thống ngân hàng thì dẫn tới việc thâm hụt ngân sách Nhà nớc, lạm phát tăng, nền kinh tế sớm muộn sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng Hệ thống ngân hàng rất nhạy cảm và chứa nhiều rủi ro, chỉ cần một tổn thơng nhỏ cũng gây nên xáo động lớn trong quá trình điều tiết nền kinh tế
Bối cảnh của các nớc trong khu vực khủng hoảng cho thấy việc đầu t thiếu hiệu quả, tiêu dùng quá mức (do vay mợn dễ dàng) là do những kẽ hở trong những nguyên tắc hoạt động của hệ thống ngân hàng Nếu những chính sách sai lệch kết hợp với hệ thống ngân hàng yếu kém thì hậu quả sẽ càng nghiêm trọng hơn
Kẽ hở của hệ thống ngân hàng là điều kiện thuận lợi cho những hoạt
động đầucơ tiền tệ kiếm lời Hơn nữa sự quản lý lỏng lẻo của Nhà nớc đối với hệ thống ngân hàng đã tạo điều kiện cho họ đua nhau kinh doanh ngoại hối kiếm lời Ví dụ nh ở Thái Lan, các ngân hàng đã đổ xô đi mua JPY sau
đó bán ra để mua USD khi JPY lên giá so với USD Tình trạng thất thoát vốn ngày càng trở nên nghiêm trọng của các quốc gia này do hoạt động đầu t và
đầu cơ sai lầm Để duy trì tốc độ tăng trởng trong điều kiện tỷ giá cố định các ngân hàng đã phải đi vay vốn ngắn hạn bằng ngoại tệ sau đó cho vay dài hạn trong nớc bằng nội tệ Nh vậy nợ nớc ngoài của các nớc này vợt xa dự trữ ngoại tệ trong nớc Nợ nớc ngoài cao càng nguy hiểm hơn khi các nhà
đầu t nớc ngoài rút vốn ra khỏi thị trờng khi nhận thấy các nguy cơ đó Khi
nợ ngoại tệ ngắn hạn đến ngày phải trả mà các khoản cho vay dài hạn cha thu hồi đợc sẽ đẩy các ngân hàng đến bờ vực phá sản Khi hệ thống ngân
Trang 9hàng vốn đợc coi là mạch máu của nền kinh tế bị đổ vỡ tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả không lờng trớc đợc đối với nền kinh tế.
Nh vậy các nguyên nhân đầu tiên thuộc nhóm các nguyên nhân bên trong nền kinh tế là các nguyên nhân của hệ thống tài chính ngân hàng Nó
là sự kết hợp của 2 chính sách: chính sách tỷ giá hối đoái cố định và chính sách quản lý ngoại hối tự do với một hệ thống ngân hàng yếu kém Ba nguyên nhân cơ bản này lại càng phát huy khi kết hợp với những sai sót trong xuất khẩu (xuất khẩu chỉ tập trung vào một số mặt hàng chủ lực) và việc áp dụng chính sách tiền tệ thả lỏng kết hợp cùng với hai nguyên nhân bên ngoài là nguyên nhân về sự suy giảm, thay đổi nhu cầu và tính cạnh tranh cao trên thị trờng quốc tế cũng nh nguyên nhân thuộc về đầu t quốc
tế Các nguyên nhân này lại làm nẩy sinh hai nguyên nhân phụ mới là: Nợ ngắn hạn nớc ngoài cao và thâm hụt tài khoản vãng lai lớn Tất cả những nguyên nhân này sẽ đợc phân tích kỹ hơn ở phần sau
2 Nền kinh tế phát triển không cân đối.
Sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế các nớc ở đây không phải mất cân đối về cơ cấu kinh tế mà là mất cân đối bên trong và mất cân đối bên ngoài Trong một nền kinh tế mở cân đối bên trong và cân đối bên ngoài là những điều kiện tiên quyết của sự cân bằng tổng thể và phát triển
G là chi tiêu của Chính phủ
CA thặng d tài khoản vãng lai
Phơng trình cho thấy những công cụ của chính sách tài chính tác động
đến tổng cầu và do đó tác động đến sản lợng trong ngắn hạn Sự mở rộng về tài chính (tăng G hoặc giảm thuế) sẽ kích thích tổng cầu làm tăng sản lợng Tơng tự sự phá giá đồng tiền nội tệ (tỷ giá tăng lên) sẽ làm cho cầu hàng
Trang 10hoá dịch vụ trong nớc ẻ hơn so với hàng hoá dịch vụ nớc ngoài đồng thời cũng làm tăng cầu về sản lợng Vậy có thể duy trì cân đối bên trong thông qua những thay đổi về chính sách tài khoá và tỷ giá hối đoái một cách thích hợp.
Cân đối bên ngoài là mức thặng d hay thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức tối u Tức là thặng d không quá nhiều mà nớc đó không còn nợ đợc vì thâm hụt không quá cao mà nớc đó không có khả năng trả nợ Các chuyên gia IMF cho rằng mức thâm hụt tài khoản vãng lãi ở dới 5% GDP là mức có thể kiểm soats và thậm chí là dáu hiệu đáng mức vì nó tạo điều kiện cho
đầu t và thu hút vốn từ bên ngoài Các nớc trong khu vực có tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức báo động (Thái Lan: 7,6%; Malaysia 8,0% năm 1996)
Thâm hụt tài khoản vãng lai cao ở một số nớc là do kim ngạch xuất khẩu giảm Chính sách tỷ giá hối đoái cố định kết hợp với chính sách xuất khẩu không đồng đều sẽ làm xuất khẩu giảm khi USD tăng giá, nhu cầu trên thị trờng thế giới chuyển hớng và suy giảm cạnh tranh xuất khẩu ngày càng găy gắt
Do thâm hụt tài khoản vãng lai ngày càng nghiêm trọng đã buộc các
n-ớc trong khu vực phảivay nóng các khoản vay ngắn hạn của nn-ớc ngoài để
bù đắp cho các khoản chi tiêu quá mức Nói cách khác, tốc độ tăng trởng nóng của khu vực trong những năm qua dựa một phần chủ yếu vào vốn vay nớc ngoài
B- Các nguyên nhân bên ngoài nền kinh tế.
1 Thơng mại toàn cầu giảm sút, cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Phân tích các nguyên nhân bên trong đã đề cập tới vấn đề này Chiến
l-ợc công nghiệp hoá hớng vào xuất khẩu (hay tăng trởng dựa vào xuất khẩu) của các nớc trong khu vực khiến họ rất phụ thuộc vào thị trờng thơng mại quốc tế Các nớc này lại tập trung sản xuất để xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực (điện tử, dệt, sợi ) mà họ có lợi thế Trong khi đó nhu cầu thị tr… ờng quốc tế về các mặt hàng đó suy thoái mạnh Hơn nữa các nớc này gặp phải các đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu một số mặt hàng mà lợi thế so sánh
Trang 11trớc đây thuộc về họ (Trung Quốc, Mỹ La tinh, ấn Độ ) Xuất khẩu tất…yếu sẽ suy giảm, tài khoản vãng lai bị thâm hụt.
2 Đầu cơ
Một tác nhân vô cùng quan trọng từ bên ngoài là đầu cơ Có thể coi hoạt động đầucơ là một mồi lửa đổ vào một vết dầu loang Khi nhìn thấy nguy cơ khủng hoảng, những dấu hiệu suy thoái của hệ thống ngân hàng - tài chính ở khu vực, nhiều nhà đầu cơ ở nớc ngoài đã tăng cờng hoạt động
đầu cơ tiền tệ Trong số 8.300 quĩ tín dụng t nhân ở Mỹ (với tổng số tài khoản vào khoảng 100 tỷ USD) đã có nhiều quĩ đợc sử dụng để phục vụ các hoạt động đầu cơ ở khu vực Các nhà đầucơ thực hiện chu trình đầucơ bằng cách vay đồng tiền nội địa và bán chúng trên thị trờng tiền tệ nhằm kiếm lời
ở vòng quay sau của đồng tiền Để giữ cho tỷ giá hối đoái ổn định, các ngân hàng trung ơng buộc phải mua đồng nội trệ và cung cấp các tài sản ngoại tệ
mà nhà đầu cơ muốn mua Đồng tiền đợc chuyển đổi tự do, mức độ liên kết cao giữa các thị trờng tài chính tiền tệ trên thế giới cũng nh tốc độ và khối l-ợng buôn bán ngoại tệ khổng lồ trên các thị trờng đã làm cho dự trữ ngoại
tệ của các ngân hàng trung ơng nhanh chóng cạn kiệt và cuối cùng họ buộc phải phá giá (hoặc thả nổi đồng tiền)
3 Hiệu ứng lan truyền.
Thật dễ dàng giải thích về sự khủng hoảng của các nớc khi các nguyên nhân bên trong đã chín muồi và 2 nguyên nhân bên ngoài nêu trên tác động mạnh mẽ Thế nhng với những nớc mà không có các nguyên nhân trên hoặc
có nhng yếu thì sự khủng hoảng đợc giải thích nh thế nào?
Điều đó đợc giải thích bằng hiệu ứng lan truyền Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế Nền kinh tế các nớc trong khu vực nằm vào xu thế mở cửa, phụ thuộc rất lớn vào bên ngoài thì khủng hoảng tại một nớc hay một khu vực sẽ có ảnh hởng đến nền kinh tế thế giới nói chung, cũng nh đến từng nền kinh tế riêng biệt Mức độ ảnh hởng đối với mỗi nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào mối quan hệ thơng mại, đầu t và tiền tệ đối với khu vực xảy ra và khủng hoảng
Khi đồng tiền của một nớc bị phá giá thì hàng hoá của nớc đó sẽ đợc tăng tính cạnh tranh, xuất khẩu thuận lợi song nhập khẩu lại gặp khó khăn
Trang 12các quốc gia lân cận có quan hệ thơng mại với nớc đó gặp khó khăn do hàng hoá mất tính cạnh tranh tơng đối , xuất khẩu khó khăn và thị trờng nội
địa bị hàng ngoại tràn vào Nhng ở Nhật bản, 40% kim ngạch xuất khẩu sang các nớc châu á nên sẽ chịu những tổn thất nặng nề do đồng tiền các n-
ớc này mất giá Để bù đắp lại những thiệt hại này các nớc đó buộc phải phá gía hoặc thả nỗi đồng tiền nội địa
Hơn nữa toàn cầu hoá về kinh tế dẫn tới nhất thể hoá thị trờng tài chính - tiền tệ thế giới Sự phá giá và khủng hoảng của đồng BAHT kéo theo sự khủng hoảng sâu sắc của hệ thống tài chính và kinh tế Thái lan khiến các nhà đầu t và kinh doanh mất lòng tin vào đồng tiền và nền kinh tế khác trong khu vực Họ sẽ vội vàng rút vốn của họ ra khỏi các thị trờng này
và khủng hoảng sẽ xẩy ra
Cơ chế làm rung động thị trờng chứng khoán trên toàn thế giới là một nguyên nhân lan truyền cuối cùng kéo theo hàng loạt cac kinh tế vững mạnh khác cũng bị tác động bởi cuộc khủng hoảng Do các Công ty xuyên quốc gia có quan hệ chặt chẽ với nhau trên thị trờng Quốc tế nên khi một Công ty ở một nớc có dấu hiệu làm ăn thua lỗ thì gía cổ phiếu của các Công
ty có liên quan ở các nớc khác cũng bị tụt đi một các nhanh chóng Ngoài
ra để có tiền cho hoạt động đầu cơ tại các thị trờng đã lâm vào khủng hoảng các nhà đầu cơ buộc phải bán chứng khoán của họ Trong khi thị trờng chứng khoán ở nớc họ cũng bị tụt giá thì họ phải bán chứng khoán ở thị tr-ờng nớc ngoài Nh vậy hiệu ứng lan truyền đã xảy ra thông qua thị trờng chứng khoán
II- Các giải pháp
1 ở cấp độ quốc tế
17,2 tỉ USD , 43 tỉ USD và 57 tỉ USD là các khoản cho vay trong "
ch-ơng trình cứu trợ khẩn cấp chọn gói " của IMF dành cho 3 nớc Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc Có thể nói sự hỗ trợ tài chính khẩn cấp và to lớn của cộng đồng quốc tế thông qua vai trò tổ chức điều phối và giám sát của IMF
là vô cùng quan trọng, có hiệu lực tức thì và mạnh mẽ nhất để chế ngự cuộc khủng hoảng tuy rằng mà các điều kiện mà IMF đặt ra cho các nớc này cực
kỳ ngặt ngèo Chơng trình của IMF áp đặt đã dẫn tới tình trạng trì trệ kinh
Trang 13tế, nhiều công ty bị xô đến tình trạng phá sản bất ổn chính trị ở Indonesia…khi ông Shuarto phải từ chức.
Sự hỗ trợ quốc tế còn đợc thể hiện ở những thoả thuận của các con nợ
và nhà cho vay trong việc hoãn nợ, đảo nợ, bảo đảm nợ nhằm cải thiện tình trạng nợ nần của các nớc đang đắm chìm trong khủng hoảng Sự hỗ trợ quốc tế còn là lời kêu gọi các thị trờng rộng lớn nh Mỹ, EU mở rộng cửa…hơn nữa cho hàng xuất khẩu của các nớc khu vực khủng hoảng nhầm làm tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân xuất - nhập khẩu và thu nhập ngoại hối của họ
đồng Nhân dân tệ , bởi nếu đồng Nhân dân tệ bị phá giá thì một làn sóng phá giá tiếp theo trong khu vực là không thể tránh khỏi Ông Chu Dung Cơ thủ t-ớng Trung Quốc nhiều lần khẳng định bằng mọi cách sẽ giữ giá đồng Nhân dân tệ, một cách để giúp các nớc bị khủng hoảng
3 ở cấp độ quốc gia
Do " uống thuốc " của IMF và những thúc bách chính bản thân mình, các nớc bị khủng hoảng đã có những cố gắng đáng kinh ngạc, các nỗ lực để làm tăng năng lực tài chính - ngân hàng và ổn định hoá, lành mạnh hoá khu vực này nhằm tạo điều kiện tiên quyết cho ổn định hoá, phục hồi và tăng tr-ởng kinh tế tiếp theo
Trang 14Thái Lan đóng cửa hơn 50 công ty tài chính " có vấn đề " về khả năng thanh toán, Indonesia và Hàn Quốc cũng đóng cửa nhiều cửa hàng ốm yếu trong nớc Thái Lan còn cho phép chứng khoán hoá các ngân hàng nhằm cải thiện khả năng tiền mặt của ngân hàng và làm tăng lu chuyển vốn xã hội Thị trờng tài chính của các nớc khủng hoảng Cũng đợc mở rộng cửa hơn do đầu t nớc ngoài, các nớc Thái Lan, Indonesia, Philipin và Hàn Quốc
đều xoá bỏ giới hạn cổ phần dời 50% của các nhà đầu t nớc ngoài Ngoài
ra, nhiều khoản chi ngân sách chính phủ cũng bị cắt giảm, nhất là ngân sách quân sự Thái Lan giảm 20% ngân sách quân sự năm 98 so với năm
97 Nhật Bản cắt giảm chi phí quân sự năm 98 tới 7,6 tỉ USD
Tất cả các giải pháp để vợt qua cuộc khủng hoảng đã có những kết quả rất tốt, cuộc khủng hoảng đã bị đẩy lùi vào quá khứ, năm 1999 là năm mà các nớc có sự phục hồi đầy ấn tợng mà nhiều chuyên gia kinh tế cũng phải kinh ngạc Bảng thống kê sau cho ta thấy những nỗ lực của các nớc đã có kết quả tốt nh thế nào, con tàu kinh tế châu á đã vợt qua cơn bão lớn và lại tiếp tục cuộc hành trình của nó
Trang 15Bảng 3 Tỷ giá hối đoái và chỉ số chứng khoán trên các thị trờng tài
chính tiền tệ châu á năm 1999
( Tơng đơng 1 USD) thị tròng chứng khoán
Ngày14-12 1999 % thay đổi so với một năm
trớc đó
Ngày14-12 1999 % thay đổi so với ngày 31-12-1998