Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được báo cáo như sau: quy định trong dự thảo Luật về thẩm quyền giám sát của từng chủ thể như Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của
Trang 1Số: /BC-UBTVQH13
Dự thảo
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2015
BÁO CÁO Giải trình, tiếp thu, chỉnh lý
dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội, Tại kỳ họp thứ 9 (tháng 6/2015), Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự
án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân Về cơ bản, các
vị đại biểu Quốc hội đều nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật và tán thành nhiều nội dung của dự thảo Luật Bên cạnh đó, các vị đại biểu Quốc hội cũng góp nhiều ý kiến về các điều, khoản cụ thể Ngay sau kỳ họp, Ủy ban thường
vụ Quốc hội đã chỉ đạo Thường trực Ủy ban pháp luật phối hợp với cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo Luật
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hội Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân như sau:
1 Về giải thích từ ngữ (Điều 3)
Có ý kiến đề nghị bổ sung giải thích khái niệm “chất vấn”, “giám sát văn
bản quy phạm pháp luật”, “lấy phiếu tín nhiệm”
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin tiếp thu ý kiến đại biểu bổ sung giải thích khái niệm “chất vấn” vào dự thảo Luật Về khái niệm “lấy phiếu tín nhiệm”, đã được quy định trong Nghị quyết số 85 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm,
bỏ phiếu tín nhiệm của người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn
2 Về nguyên tắc hoạt động giám sát (Điều 4)
Có ý kiến đề nghị thể hiện lại Điều này để quy định theo hướng công tác giám sát được tiến hành thường xuyên, bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, trừ trường hợp để bảo đảm bí mật của nhà nước
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu ý kiến đại biểu và chỉnh lý Điều này như trong dự thảo Luật
3 Về thẩm quyền giám sát của Hội đồng nhân dân (Điều 6)
Có ý kiến đề nghị rà soát các quy định về thẩm quyền giám sát của Hội
Trang 2đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân
để quy định cho phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động của Hội đồng nhân dân
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được báo cáo như sau: quy định trong dự thảo Luật về thẩm quyền giám sát của từng chủ thể như Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân được xác định căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, địa vị pháp lý của các cơ quan đã được quy định trong Hiến pháp và các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước Các quy định này cũng được xây dựng dựa trên tổng kết thực tiễn về hiệu quả, tính khả thi trong việc thực hiện các thẩm quyền giám sát của các chủ thể nêu trên Do đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo rà soát các quy định này và chỉnh lý như trong dự thảo Luật
4 Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát (Điều 8)
Một số ý kiến đề nghị để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của giám sát thì trong Luật cần bổ sung quy định về chế tài xử lý đối với đối tượng chịu sự giám sát và các cơ quan liên quan trong trường hợp không giải quyết hoặc không trả lời yêu cầu, kiến nghị của các chủ thể giám sát; quy định thời hạn các
cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải xử lý các kết luận, kiến nghị giám sát; làm rõ giá trị pháp lý của kết luận, kiến nghị giám sát
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát là nguyên tắc được đặt ra cho việc xây dựng dự án Luật này Tuy nhiên, quy định cụ thể như thế nào để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát cần dựa trên quy định về thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức trong Hiến pháp và các văn bản khác của pháp luật để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Với tinh thần đó, dự thảo Luật đã được rà soát theo các kiến nghị của đại biểu Quốc hội và được chỉnh lý theo hướng quy định rõ thời hạn giải quyết kiến nghị, trách nhiệm báo cáo về việc thực hiện nghị quyết giám sát , đồng thời bổ sung các quy định nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động giám sát, coi đây là yếu tố quan trọng quyết định hiệu lực, hiệu quả của giám sát
5 Về quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát (Điều 9)
- Có ý kiến đề nghị bổ sung quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân khiếu nại đối với kết luận giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể cơ chế xem xét lại yêu cầu, kết luận, kiến nghị giám sát
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, theo quy định của Luật khiếu nại thì các kết luận giám sát không phải là đối tượng khiếu nại Do đó, dự thảo Luật quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền giám sát xem xét lại yêu cầu, kết luận, kiến nghị giám sát
Trang 3liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức mình; trong trường hợp không tán thành với yêu cầu, kết luận, kiến nghị giám sát thì tự mình hoặc báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp để đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét về các yêu cầu, kiến nghị đó
- Có ý kiến đề nghị bổ sung vào Điều 9 quy định cụ thể thời gian được thông báo trước về kế hoạch, nội dung giám sát hoặc nội dung được yêu cầu báo cáo, trả lời theo quy định của pháp luật
Ủy ban thường vụ Quốc hội hội nhận thấy, tại các điều liên quan tới các hoạt động giám sát cụ thể (như các điều 17, 28, 43 ) đều đã quy định về trách nhiệm, thời hạn của chủ thể giám sát phải thông báo trước kế hoạch, nội dung giám sát cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát Do đó, đề nghị không
bổ sung nội dung này vào Điều 9
- Một số ý kiến đề nghị chuyển khoản 3 Điều 9 quy định một số trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền từ chối trả lời, cung cấp thông tin lên khoản 1 Điều 8 của dự thảo Luật cho phù hợp Có ý kiến đề nghị xác định rõ những thông tin nào mà trong trường hợp cần thiết, cơ quan, tổ chức, cá nhân vẫn phải cung cấp để chủ thể giám sát thực hiện quyền giám sát của mình
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, theo quy định tại khoản 3 Điều 9
Dự thảo Luật trình Quốc hội thì cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có quyền từ chối trả lời, cung cấp những thông tin không thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó hoặc những thông tin thuộc bí mật nhà nước, vì các chủ thể này không thể cung cấp những thông tin không thuộc phạm vi của mình được; đối với thông tin thuộc bí mật nhà nước mà theo quy định của Pháp lệnh về bảo vệ bí mật nhà nước chủ thể giám sát không thuộc diện được tiếp cận thì cũng không thể cung cấp được; còn nếu chủ thể giám sát thuộc diện được tiếp cận thì đối tượng chịu sự giám sát vẫn phải cung cấp cho chủ thể giám sát Tuy nhiên, để bảo đảm sự chặt chẽ của quy định tránh việc lạm dụng, gây khó khăn, cản trở, né tránh hoạt động giám sát, tiếp thu ý kiến đại biểu, xin được chuyển nội dung của khoản này từ quyền của đối tượng giám sát sang trở thành quyền của chủ thể giám sát quy định tại khoản 1 Điều 8 và thể hiện lại như trong dự thảo Luật
6 Về tham gia giám sát của các cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 10)
- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội của Nhân dân
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, phạm vi điều chỉnh của Luật này
là quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân chứ không quy định về việc Nhân dân trực tiếp giám sát đối với các cơ quan nhà nước Việc tham gia giám sát của Nhân dân đã được quy định tại nhiều văn bản như Luật mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
Trang 4luật, Luật đất đai, Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và một
số văn bản pháp luật khác Do đó, đề nghị không bổ sung vấn đề này trong dự thảo Luật
7 Về chương trình giám sát của Quốc hội (Điều 13)
- Có ý kiến đề nghị Quốc hội quyết định chương trình giám sát của Quốc hội theo mốc thời gian như quy định của Luật hiện hành là vào kỳ họp cuối năm của năm trước để bảo đảm tính thời sự của vấn đề giám sát
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc trình Quốc hội xem xét, quyết định chương trình giám sát hàng năm tại kỳ họp đầu năm của năm trước sẽ tạo thuận lợi cho các cơ quan có trách nhiệm trong việc ban hành kế hoạch và tổ chức thực hiện chương trình giám sát của Quốc hội Hơn nữa, chương trình giám sát của Quốc hội cũng là căn cứ để các cơ quan của Quốc hội quyết định chương trình giám sát cụ thể của mình Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định việc xem xét, quyết định chương trình giám sát hàng năm của Quốc hội như trong dự thảo Luật
- Có ý kiến đề nghị bổ sung làm rõ cơ quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc tập hợp, tổng hợp đề nghị, kiến nghị về chương trình giám sát của Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin tiếp thu ý kiến đại biểu và đã quy định tại Điều 13 của dự thảo Luật là giao Văn phòng Quốc hội thực hiện nhiệm vụ này
8 Về việc Quốc hội xem xét báo cáo (Điều 14), Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo (Điều 61)
Có ý kiến đề nghị rà soát, bổ sung quy định về các loại báo cáo Quốc hội, Hội đồng nhân dân xem xét, tránh liệt kê không đầy đủ; ý kiến khác đề nghị bổ sung một số loại báo cáo như báo cáo công tác của Hội đồng dân tộc,
Ủy ban của Quốc hội, của các Ban của Hội đồng nhân dân
Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo rà soát các loại báo cáo được quy định trong dự thảo Luật nhằm bảo đảm quy định đầy đủ, rõ ràng về các loại báo cáo phù hợp với thẩm quyền xem xét của Quốc hội đã được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức chính quyền địa phương và một số văn bản pháp luật có liên quan và chỉnh lý như trong dự thảo Luật
9 Về xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội (Điều 15)
- Qua thảo luận về vấn đề này có hai loại ý kiến như sau:
Loại ý kiến thứ nhất: đề nghị quy định chung một quy trình về việc
Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp với
Trang 5việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái luật, nghị quyết của Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước
Loại ý kiến thứ hai: tán thành quy định quy trình riêng về việc Quốc
hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp và việc Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái luật, nghị quyết của Quốc hội theo đề nghi của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và mở rộng thêm đối với cả một số chủ thể khác được đề nghị như Chính phủ, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc đại biểu Quốc hội như dự thảo đã trình Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc chỉ quy định chung một quy trình về việc Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp với việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái luật, nghị quyết của Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước như loại ý kiến thứ nhất là bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp, thống nhất với Điều 15 của Luật tổ chức Quốc hội mới được Quốc hội thông qua và không bị trùng lặp về quy trình như loại ý kiến thứ hai Do đó, đề nghị Quốc hội cho gộp Điều 16 và Điều 17, Điều 26 và Điều 27 trong dự thảo Luật đã trình Quốc hội và thể hiện lại như tại Điều 15, Điều 25 của dự thảo Luật
- Có ý kiến đề nghị trong Luật mở rộng quy định về giám sát văn bản thay cho giám sát các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, cá nhân chịu sự giám sát
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, do tính chất quan trọng và diện
áp dụng rộng rãi của văn bản quy phạm pháp luật, cho nên dự thảo Luật đã đặt
ra quy định riêng về việc giám sát đối với văn bản quy phạm pháp luật; còn giám sát đối với các văn bản khác thì đã nằm trong nội dung giám sát chung về hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ cách quy định như trong dự thảo Luật
10 Về chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn (các điều 16, 27, 62 và 71)
- Một số ý kiến tán thành với quy định về chất vấn và trình tự, thủ tục trong việc thực hiện hoạt động chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân như trong dự thảo Luật trình Quốc hội Một số ý kiến cho rằng việc lựa chọn nhóm vấn đề để đưa ra chất vấn trước Quốc hội khó bảo đảm sự khách quan, khó phản ánh hết ý chí, kiến nghị của cử tri, vấn đề mà xã hội quan
Trang 6tâm; đề nghị quy định rõ khi trả lời chất vấn bằng văn bản, người trả lời chất vấn phải trả lời trực tiếp
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, tại Điều 80 của Hiến pháp và Điều 32 của Luật tổ chức Quốc hội đã quy định người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản Do vậy, để bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện Quốc hội, Hội đồng nhân dân ở nước ta hoạt động theo kỳ họp, căn cứ chương trình
kỳ họp, phiên họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định thời gian, nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn Trong trường hợp chưa đồng ý với việc trả lời chất vấn, đại biểu có thể chất vấn lại vấn đề mình quan tâm tại phiên chất vấn Đồng thời, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, trong dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định rõ về quy trình chất vấn, trả lời chất vấn và trong trả lời chất vấn bằng văn bản, người bị chất vấn phải trực tiếp trả lời
- Có ý kiến đề nghị làm rõ trường hợp cần thiết được trả lời chất vấn bằng văn bản là những trường hợp nào để bảo đảm sự công khai, minh bạch
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu ý kiến đại biểu và đã bổ sung quy định các trường hợp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân cho trả lời chất vấn bằng văn bản tại
các điều 16, 27, 62 và 71 như trong dự thảo Luật.
11 Về giám sát chuyên đề của Quốc hội (Điều 17), giám sát chuyên đề của Hội đồng nhân dân ( Điều 64)
- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định Quốc hội, Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết về việc thành lập Đoàn giám sát để giám sát chuyên đề và trong đó phải xác định rõ đối tượng, phạm vi và nội dung giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu ý kiến của đại biểu và đã
bổ sung vào trong dự thảo Luật
- Có ý kiến cho rằng thời hạn thông báo trước chương trình và thành phần Đoàn giám sát là 07 ngày trước ngày Đoàn tiến hành làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát như trong dự thảo Luật là quá ngắn, đề nghị nâng lên 10 hoặc 15 ngày
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin tiếp thu ý kiến nêu trên và đã chỉnh lý thời hạn quy định tại Điều này và các điều về giám sát chuyên đề của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân là “10 ngày” cho phù hợp
Trang 712 Về hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm (các điều
19, 20, 65 và 66)
Qua thảo luận về vấn đề này có hai loại ý kiến
- Loại ý kiến thứ nhất: tán thành trong Luật chỉ quy định chung có tính
nguyên tắc về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn và đề nghị bổ sung thêm một số quy định về quy trình có tính nguyên tắc vào dự thảo Luật, còn quy trình, thủ tục cụ thể sẽ tiếp tực thực hiện theo của Nghị quyết số 85/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về vấn đề này
- Loại ý kiến thứ hai: đề nghị thu hút các quy định về lấy phiếu tín nhiệm,
bỏ phiếu tín nhiệm tại Nghị quyết số 85/2014/QH13 của Quốc hội vào trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân để thể hiện cho thống nhất, dễ theo dõi, dễ thực hiện và tránh tình trạng hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân được quy định trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, Nghị quyết số 85/2014/QH13 về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn mới được Quốc hội thông qua đã quy định chi tiết về thời điểm, quy trình, thủ tục lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn
Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị bổ sung thêm vào dự thảo Luật một số quy định mang tính nguyên tắc về quy trình lấy phiếu tín nhiệm, quy trình bỏ phiếu tín nhiệm, còn các vấn đề cụ thể khác sẽ tiếp tục được thực hiện theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm sự tương quan trong quy định về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm trong Luật so với những hình thức giám sát khác của Quốc hội
13 Về giải trình tại phiên họp Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội (Điều 45)
- Có ý kiến đề nghị rà soát và bổ sung quy định tăng cường sự tham gia của các chuyên gia, đối tượng chịu sự tác động của của chính sách tại các phiên giải trình để những ý kiến phát biểu của đối tượng này sẽ đảm bảo khách quan, mang tính phản biện cao hơn, giúp cho việc xây dựng pháp luật, chính sách sát với thực tiễn, khả thi
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu ý kiến đại biểu và bổ sung vào dự thảo Luật
14 Về giám sát văn bản của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội (Điều 53)
- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về trường hợp cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản không thực hiện kiến nghị giám sát hoặc thực hiện nhưng không đáp ứng được yêu cầu thì đại biểu Quốc hội báo cáo Ủy ban thường vụ
Trang 8Quốc hội xem xét theo quy định của pháp luật
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu ý kiến này của đại biểu và
đã bổ sung vào dự thảo Luật
- Có ý kiến đề nghị quy định rõ trường hợp đại biểu Quốc hội tự mình tiến hành giám sát thì có quyền mời các thành phần khác tham gia giám sát
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, trong dự thảo Luật đã quy định
về hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội theo hướng quy định đại biểu Quốc hội có quyền mời chuyên gia tư vấn về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội thấy cần thiết; đồng thời, quy định trách nhiệm của Đoàn đại biểu Quốc hội
tổ chức phục vụ hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội như tại Điều 53 của
dự thảo Luật
15 Về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của đại biểu Quốc hội (Điều 57)
Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của đại biểu và trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu yêu cầu trong hoạt động giám sát để phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 80 của Hiến pháp
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu ý kiến đại biểu và đã bổ sung tại Điều 57 quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu chậm nhất là 5 ngày
kể từ ngày nhận được yêu cầu
16 Về thầm quyền của Hội đồng nhân dân trong việc xem xét kết quả giám sát (Điều 67)
Có ý kiến đề nghị bổ sung một khoản quy định việc Hội đồng nhân dân
ra nghị quyết về kết quả giám sát khi cần thiết
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, dự thảo Luật đã có quy định về những trường hợp Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về kết quả giám sát như: nghị quyết về chất vấn (Điều 62), nghị quyết xem xét văn bản có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên (Điều 63), nghị quyết giám sát chuyên đề (Điều 64) Do vậy, đề nghị không quy định nội dung trên đây tại Điều 67
17 Về giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân
- Một số ý kiến đề nghị trong Luật này cần có những sửa đổi, bổ sung để quy định về hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân từng cấp cho phù hợp với thực tế, bảo đảm tính khả thi Có ý kiến đề nghị tiếp tục kế thừa quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền, trách nhiệm giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã Có ý kiến đề nghị quy định thẩm quyền giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân ở cả 3 cấp phải thống nhất như nhau
Trang 9Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, thẩm quyền giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp đã được pháp luật hiện hành quy định; thực tế thực hiện quy định này vẫn đang phát huy hiệu quả Hơn nữa, theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương mới được Quốc hội thông qua thì Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã đã được tăng cường về tổ chức Vì vậy, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật tiếp tục kế thừa pháp luật hiện hành và quy định Thường trực Hội đồng nhân dân ở cả 3 cấp tỉnh, huyện và xã đều có thẩm quyền giám sát cơ bản giống nhau, trừ đối với cấp xã thì Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân không có nội dung giám sát đối với Tòa án và Viện kiểm sát để phù hợp với cơ cấu tổ chức của cấp xã
18 Về giám sát chuyên đề của Ban của Hội đồng nhân dân (Điều 82)
Có ý kiến đề nghị đối với Ban của Hội đồng nhân dân không quy định việc thành lập Đoàn giám sát để giám sát chuyên đề
Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, với tư cách là cơ quan chuyên môn của Hội đồng nhân dân, việc tăng cường hoạt động giám sát chuyên đề ở các Ban của Hội đồng nhân dân là cần thiết, giúp cho Hội đồng nhân dân có thêm căn cứ vững chắc để quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình Do vậy, đề nghị giữ quy định về thành lập Đoàn giám sát chuyên đề của Ban của Hội đồng nhân dân như trong dự thảo Luật
19 Về giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân
Qua thảo luận về vấn đề này có hai loại ý kiến như sau:
Loại ý kiến thứ nhất: đề nghị bổ sung vào dự thảo Luật quy định Tổ đại
biểu Hội đồng nhân dân là chủ thể có thẩm quyền giám sát để tăng cường và nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân Ý kiến này cho rằng, qua tổng kết thực tế cho thấy ở một số Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, việc giám sát của các đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân đã phát huy vai trò tích cực trong hoạt động giám sát
Loại ý kiến thứ hai: đề nghị không quy định trong dự thảo Luật về hoạt
động giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, vì cho rằng Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ là hình thức tổ chức hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân không có cơ cấu, tổ chức chặt chẽ
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, trong Luật tổ chức chính quyền địa phương vừa được Quốc hội thông qua đã quy định về thẩm quyền giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và coi đây là chủ thể giám sát độc lập Do đó, đề nghị Quốc hội cho bổ sung vào dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân chủ thể giám sát là Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và bổ sung một số quy định về giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện để bảo đảm thống nhất với Luật tổ chức chính quyền địa phương
Trang 1020 Về bảo đảm kinh phí và tổ chức phục vụ hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 92)
Có ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung làm rõ trách nhiệm của cơ quan phục
vụ hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân cho phù hợp với Luật tổ chức chính quyền địa phương
Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu ý kiến này và đã chỉnh lý trong dự thảo Luật
Ngoài những vấn đề nêu trên, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo các
cơ quan hữu quan tiếp thu nhiều ý kiến khác của các vị đại biểu Quốc hội về nội dung, kỹ thuật lập pháp và chỉnh lý như trong dự thảo Luật
*
* *
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Trên đây là Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin kính trình Quốc hội xem xét, quyết định
Nơi nhận:
- Như trên;
- E-pas:
TM ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
KT CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH
Uông Chu Lưu