1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực tiễn xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu

20 961 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực tiễn xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu
Tác giả Phạm Thanh Loan
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 108,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm đầu thực hiện, Pháp lệnh HĐKT đã góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ HĐKT, góp phần thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợ

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Sự xuất hiện của nhiều thành phần kinh tế với sự đa dạng về quy mô kinh doanh, hình thức hoạt động, hình thức sở hữu trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm cho quan hệ hợp đồnh kinh

tế thay đổi về cơ bản Cùng với sự phát triển một bước các quan hệ hợp đồng kinh

tế (HĐKT), pháp luật về hợp đồng kinh tế đã có những bước phát triển nhất định, đặc biệt kể từ khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời Lần đầu tiên các quy định về hợp đồng kinh tế vô hiệu(HĐKTVH) và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu được ghi nhận trong một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao là Pháp lệnh

Trong những năm đầu thực hiện, Pháp lệnh HĐKT đã góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ HĐKT, góp phần thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế cũng như bảo đảm trật tự an toàn pháp luật của đất nước Tuy nhiên, do được ban hành vào thời

kỳ đầu của quá trình chuyển đổi, các quan hệ kinh tế mới tuy đã phát sinh song chưa định hình một cách rõ rệt và phổ biến, các tác động đa chiều của quan hệ kinh

tế thế giới đến các quan hệ kinh tế trong nước chưa mấy phức tạp, khiến cho các văn bản này giờ đây đang bộc lộ rất nhiều nhược điểm, bất cập Sự thiếu hoàn chỉnh về hợp đồng kinh tế nói chung và về hợp đồng kinh tế vô hiệu nói riêng đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến các chủ thể của nền kinh tế, đến sự ổn định và phát triển của kinh tế Việc tuyên bố hợp đồng bị vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu của các toà án hiện nay trong nhiều trường hợp bộc lộ nhiều điểm không hợp lý đã gây cho người dân, cho doanh nghiệp lo ngại khi quyền và lợi ích chính đáng của mình

bị chối bỏ

Tuy vậy, do tính chất phức tạp của vấn đề, nên trong phạm vi của tiểu luận không đề cập hết tất cả các khía cạnh, nội dung của một hợp đồng kinh tế khi vô hiệu Bởi vậy, trong phạm vi tiểu luận này, em chỉ xin đề cập đến một số vấn đề cơ bản liên quan đến xử lý Hợp đồng kinh tế vô hiệu

Trang 2

Bước đầu nghiên cứu, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, kính mong được sự góp ý của các thấy, các cô

Em xin chân thành cám ơn!

I./ Khái niệm Hợp đồng kinh tế vô hiệu

1, Hợp đồng kinh tế

Hợp đồng kinh tế có thể hiểu dưới nhiều nghĩa khác nhau:

Dưới nghĩa khách quan HĐKT là tổng thể các quy phạm pháp luật do nàh

nước ban hành để đIều chỉnh các quu phạm pháp luật do nhà nước ban hành để đIũu chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng giữa

các chủ thể kinh doanh với nhau.

Dưới nghĩa chủ quan HĐKT là sự thoả thuận bằng văn bản hoặc tài liệu

giao dịch giữa các bên ký kết về thực hiện công việc sản xuất trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền thực hiện kế hoạch của mình

2, Hợp đồng kinh tế vô hiệu

Hợp đồng kinh tế vô hiệu hiện nay là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, song để đưa ra một khái niệm cụ thể thì chưa có tài liệu nào đề cập tới Tuy nhiên cũng có thể hiểu một hợp đồng vô hiệu là một hợp đồng không tồn tại theo luật hoặc một hợp đồng không có giá trị pháp lý hoặc không có giá trị bắt buộc đối với các bên giao kết hợp đồng Cách hiểu trên được áp dụng cho trường hợp vô hiệu tuyệt đối Còn “hợp đồng có thể vô hiệu” được hiểu là một hợp đồng có hiệu lực nhưng có thể bị vô hiệu theo sự lựa chọn của một trong các bên giao kết

II/ Thực tiễn xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu

1/ Mục đích về quy định hợp đồng vô hiệu

Việc quy định hợp đồng vô hiệu thông thường nhằm đảm bảo các mục đích

cơ bản sau:

Bảo vệ trật tự công cộng, lợi ích chung và đạo đức xã hội

Hợp đồng được xem là vô hiệu khi:

Trang 3

- Đối tượng của hợp đồng là các hàng hóa, dịch vụ bị cấm kinh doanh

- Việc ký kết làm thiệt hại đến lợi ích chung của xã hội như thoả thuận nhằm trốn thuế

- Việc ký kết hợp đồng chỉ để thực hiện mục tiêu khác

- Việc ký kết hợp đồng trái với đạo đức của xã hội

Bảo vệ lợi ích các bên trong giao kết hợp đồng

Hợp đồng được xem là vô hiệu khi:

- Hợp đồng được giao kết do đe doạ,lừa dối

- Hợp đồng được giao kết do nhầm lẫn

- Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng không có năng lực hành vi

Bảo vệ tính ổn định của các giao dịch dân sự và kinh tế

Với một số loại hợp đồng nhất định có tính chất đặc thù, pháp luật thường quy định một số điều kiện khác nhau như hợp đồng phải được lập bằng văn bản, phải được công chứng

2/ Các mục đích trên là cơ sở để pháp luật quy định cách xử lý khác nhau đối với hợp đồng vô hiệu

• Những hợp đồng vô hiệu do xâm phạm các lợi ích chung, vi phạm các điều cấm của pháp luât:

- Đương nhiên bị toà án tuyên bố vô hiệu và hợp đồng được xem là không

có hiệu lực từ thời điểm ký kết (Điều 146 Bộ luật Dân sự)

- Thường không có sự rằng buộc về thời gian yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu (Khoản3 Điều 145 Bộ luật Dân sự)

- Đối tượng có quyền yêu cầu toà án tuyên hợp đồng vô hiệu khá rộng

• Những hợp đồng vô hiệu do xâm phạm nhóm lợi ích tư:

- Toà sẽ không đương nhiên tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà tôn trọng ý chí của các bên

- Quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu thường giới hạn trong một thời gian nhất định, quá thời hạn đó các bên không có quyền yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu (Khoản 1, Điều 145 Bộ luật Dân sự)

Trang 4

- Chỉ những bên không có lỗi trong việc tạo nên sựu vô hiệu mới có quyền kiện ra toà yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu

3/ Các loại hợp đồng kinh tế vô hiệu

Trong quá trình ký kết và thực hiện HĐKT, các bên tham gia ký kết hợp đồng đều mong muốn đảm bảo giá trị pháp lý và thực hiện một cách đầy đủ các thoả thuận của mình đã được quy định trong bản HĐKT đã ký kết Dựa vào mức

độ vô hiệu có thể phân thành: HĐKT vô hiệu toàn bộ và HĐKT vô hiệu từng phần (Điều 8, Điều 39 Pháp lệnh HĐKT; Điều 144 Bộ luật Dân sự)

2.1- Theo quy định tại điều 8 pháp lệnh HĐKT các trường hợp KT bị vô hiệu toàn bộ:

– Nội dung HĐKT vi phạm điều cấm của pháp luật

– HĐKT bị VHTB khi một bên ký kết HĐKT không có đăng ký theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong HĐKT

Hiện nay pháp luật chưa có quy định giải thích rõ ràng thế nào là “có đăng

ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong HĐKT” do đó trên thực tế các doanh nghiệp khác nhau có cách hiểu không phải lúc nào cũng thống nhất nên dẫn đến việc không nhất quán trong áp dụng pháp luật

– HĐKT VHTB khi người ký HĐKT không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa đảo

Theo quy định tại pháp lệnh ĐHKT thì “người ký kết HĐKT phải là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể uỷ quyền bằng văn bản cho người thay mình ký HĐKT Người được uỷ quyền chỉ được ký HĐKT trong phạm vi được uỷ quyền và không được uỷ quyền cho người thứ ba”

Pháp lệnh HĐKT không quy định rõ ràng các trường hợp VHTB như HĐ không tuân thủ về hình thức, do nhầm lẫn

2.2- Trường hợp HĐKTVHTP

Theo Khoản 2 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT: “HĐKT bị coi là VHTP khi nội dung của phần đó vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến nội

Trang 5

dung các phần còn lại của HĐ” Còn theo Bộ luật Dân sự: “Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại của giao dịch” (Điều 144)

2.3 Dựa vào tính chất vô hiệu của HĐ ta phân ra HĐVH tuyệt đối và HĐVH tương đối

Thông luật (common law) phân biệt giữa hợp đồng vô hiệu (void) và hợp đồng

có thể vô hiệu (voidable) Bộ luật dân sự Pháp phân biệt giữa HĐ đương nhiên vô hiệu và HĐ vô hiệu có điều kiện Thông thường HĐ được xem là vô hiệu tuyệt đối khi HĐ được ký kết xâm phạm lợi ích chung của xã hội, trật tự công cộng, vi phạm các điều cấm của pháp luật Còn HĐVH tương đối khi xâm phạm các lợi ích tư

Bộ luật Dân sự 1995 cơ bản đã có sự phân biệt này đối với các giao dịch dân

sự mà một bên bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe doạ và một bên trong giao dịch không nhận thức được hành vi của mình thì chỉ sau khi bên đó có yêu cầu toà án mới tuyên giao dịch đó vô hiệu (Điều 140,141,142,143 Bộ luật Dân sự)

Pháp lệnh HĐKT chỉ quy định một loại HĐVH tuyệt đối duy nhất, toà án có thể tuyên HĐVH mà hoàn toàn không dựa vào yêu cầu của các bên trong HĐ.Do vậy HĐVH do vi phạm điều cấm của pháp luật cũng được xử lý như HĐVH do chủ thể không đủ thẩm quyền giao kết HĐ đều được xem là vô hiệu tuyệt đối, không có hiệu lực kể từ khi thời điểm giao kết và được áp dụng Điều 39 Pháp lệnh HĐKT để xử lý

Thực tế này có thể giải thích rằng việc không đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về HĐ là một hành vi vi phạm pháp luật, mà đã vi phạm pháp luật thì giao dịch đó không thể có hiệu lực pháp luật

3/ Những vấn đề trong thực tế xét xử hợp đồng vô hiệu tại toà án

Hiện nay có việc áp dụng khá cứng nhắc căn cứ để xác định hợp đồng vô hiệu, bỏ qua thoả thuận ý chí của các bên và không tính đến quan hệ thực tế Một số căn cứ phổ biến như:

• Không có căn cứ pháp lý vẫn xác định hợp đồng vô hiệu

Công ty Minh Nguyên kiện công ty AnThịnh tại TPHCM yêu cầu thực hiện hợp đồng thưong mại Toà sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện nhưng toà phúc

Trang 6

thẩm xác định HĐVH, tuyên huỷ hợp đồng nhưng không đưa ra căn cứ pháp lý (theo Điều, Khoản, văn bản pháp luật nào)

• Hợp đồng không đáng vô hiệu nhưng vẫn tuyên vô hiệu

Công ty VIDAMCO kiện một công ty tại TP.HCM, đòi thanh toán tiền trả chậm lô hàng ô tô Toà Phúc thẩm cho rằng ông Tổng giám Đốc VIDAMCO không phải là đại diện hợp lệ của VIDAMCO và tuyên HĐKTVH

• Có khuynh hướng tuyên HĐVH toàn bộ khi có thể tuyên là HĐKTVH từng phần

Nhiều hợp đồng mua bán bất động sản có hai nội dung chủ yếu: thoả thuận chuyển quyền sở hữu Nhiều toà án tuyên toàn bộ hợp đồng là vô hiệu vì hình thức không theo quy định của pháp luật Lẽ ra chỉ tuyên phần thoả thuận chuyển quyền

sử hữu là vô hiệu còn nội dung thoả thuận đặt cọc vẫn có hiệu lực vì pháp luật không quy định việc đặt cọc phải được chúng thực, đăng ký

• Có khuynh hướng xem xét, giải quyết tuỳ tiện HĐKTVH không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội trong một vụ án hình sự

Tháng 10/2002, Toà án Phúc thẩm - TANDTC tại Hà Nội xét xử vụ án hình

sự Vũ Văn Nam, đã tuyên hợp đồng bán nhà 64A Ngô Thì Nhậm giữa Vũ Văn Nam và anh chị em ông Trần Hữu Kế (được thực hiện trước thời điểm Nam phạm tội) là vô hiệu với lý do nhà này chưa rõ nguồn gốc nên buộc Ngân hàng Công thương- chủ nợ của Nam phải trả lại nhà này cho nhà ông Kế và nhận lại từ những người này số tiền mà họ đã nhận được của Nam từ năm 1994

• Có khuynh hướng viện dẫn điều này nhưng quên điều luật khác khi xác định HĐKTVH

• Chỉ áp dụng Pháp lệnh HĐKT, không áp dụng Luật Thương mại, Bộ luật dân sự

Luật thương mại quy định: Hợp đồng mua bán có thể thực hiện bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể Việc cử người đại diện cho thương nhân theo quy định của BLDS Điều154- khoản1 và điều 155- khoản 1 BLDS công nhận những giao dịch

do người không có thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện có hiệu lực , nếu được người đại diện chấp nhận Nhưng nhiều Toà án áp

Trang 7

dụng máy móc Pháp lệnh HĐKT tuyên bố vô hiệu nhiều hợp đồng mua bán thương mại và hợp đồng khác nhau với lý do có một bên người đại diện ký không có hoặc vượt quá thẩm quyền Mặc dù các hợp đồng này đều được các bên thực hiện dưới nhiều hình thức và thường chỉ trục trặc khi thanh toán Theo Luật Thương mại và BLDS lẽ ra phải xác định là những hợp đồng có hiệu lực

• Xử lý hậu quả HĐVH tuỳ tiện

Công ty xe buýt Hà Nội kiện công ty SUDEMEX liên quan đến một hợp đồng liên doanh xây nhà Toà sơ thẩm và Toà phúc thẩm đều tuyên HĐVH, buộc Công ty xe buýt HN phải trả lại SUDEMEX giá trị phần xây dựng mà SUDEMEX

đã thực hiện theo định giá của toà án, không căn cứ vào hợp đồng

Ngược lại trong vụ thầu- công ty Banglee kiện chủ đầu tư - Công ty sân Golf Phan Thiết, Toà án xác lập hợp đồng xây dựng vô hiệu do nhà thầu không có giấy phép, nhưng buộc chủ đàu tư phải thanh toán cho nhà thầu căn cứ theo lịch trình thanh toán trong hợp đồng (bị vô hiệu) không xác định giá trị phần xây dựng nhà thầu đã thực hiện

• Không áp dụng các điều luật để trừng phạt, xử lý hoặc buộc bồi thường thiệt hại đối với những người có lỗi chính trong việc dẫn tới HĐVH

Pháp lệnh HĐKT, Bộ luật Dân sự và nhiều văn bản pháp luật khác đều quy định xử lý đối với những người có lỗi dẫn đến HĐVH Nhưng hiếm khi Toà án và các cơ quan có chức năng khác áp dụng những điều luật trên khi xử lý HĐKT mà thường ghi chung chung các bên đều có lỗi và tự chịu thiệt hại phát sinh đánh đồng người có lỗi chính với những người chỉ có lỗi do sơ xuất nhỏ

• Khi xác định hợp đồng đã được chứng thực là vô hiệu không kiến nghị xử lý những người chứng thực sai

Theo thông lệ quốc tế và pháp luật Việt Nam, những hợp đồng đã được công chứng, chứng thực đương nhiên có hiệu lực và phù hợp pháp luật Nếu Toà án tuyên những hợp đồng đó vô hiệu phải xem xét lỗi và trách nhiệm của công chứng viên, người chứng thực Thực tế, Toà án đã tuyên bố HĐVH đối với một bản hợp đồng mua bán nhà ở ngõ Bà Triệu- Hà Nội đã được công chứng và một hợp đồng

Trang 8

bảo lãnh thế chấp bất động sản cho một khoản vay vốn tại Ngân hàng Techcombank đã được UBND huyện chứng thực nhưng đều không xem xét lỗi và trách nhiệm của người chứng thực

III/ Hoàn thiện pháp luật

1/ Thực trạng pháp luật

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, bất cứ một chủ thể kinh doanh nào cũng mong muốn các HĐKT mà mình ký kết với đối tác có giá trị về mặt pháp lý hay nói một cách khác là có hiệu lực pháp luật nhằm mục đích đảm bảo quyền và nghĩa vụ phát sinh từ HĐKT được nhà nước thừa nhận và bảo vệ Để HĐKT có hiệu lực đòi hỏi các bên tham gia phải tuân thủ theo đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của HĐ và chỉ khi các điều kiện này tuân thủ thì HĐ mới có giá trị về mặt pháp lý

Tuy nhiên, qua thực tiễn cho thấy không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định HĐKTVH thông qua việc đối chiếu một cách máy móc các quy định của pháp luật

về điều kiện có hiệu lực cuả HĐKT được quy định tại Điều 8 Pháp lệnh HĐKT Bởi vì khuôn khổ chật hẹp của pháp luật hiện hành không còn phù hợp với hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế đang diễn ra ngày càng sôi động và phong phú Đó chính là nguyên nhân dẫn đến thực trạng có nhiều HĐKT bị vô hiệu hiện nay Do đó cần phải hoàn thiện pháp luật thực định về HĐKT để phù hợp với thực tế hiện nay nhất là hoàn cảnh nươc ta đang từng bước tham gia hội nhập KTQT

Mặt khác thực tiễn xét xử cho thấy sự vận dụng pháp luật để xác định HĐKTVH của toà án cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu sự tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên và sự thiếu vắng các văn bản dưới luật quy định chi tiết các điều kiện có hiệu lực của HĐKT hiện nay cũng là một cản trở việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể kinh tế trong giao lưu kinh tế quốc tế

Hiện nay việc tuyên bố HĐKTVH thuộc thẩm quyền của toà án (Trọng tài kinh tế Nhà nước) thể hiện bằng một bản án hoặc quy định tuyên bố một HĐKTVH cùng với hậu qủa pháp lý của HĐKTVH đó Căn cứ vào quy định của pháp luật, vào HĐKT đã được xác lập, toà án đưa ra một quyết định phù hợp với

Trang 9

thực tế Việc Nhà nước quy định tính vô hiệu của HĐKT có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập trật tự kỷ cương xã hội

Trong việc bảo vệ quyền và lợi ích phợp pháp của các chủ thể kinh doanh trong quá trình HĐKT khi bị cơ quan tài phán tuyên là vô hiệu thì các bên giao kết

HĐ phải gánh chịu những hậu qủa pháp lý nhất định Thực tế cho thấy hậu quả của HĐKT vô hiệu đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt dộng kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên để xác định hậu quả của HĐKTVH còn nhiều bất cập Cụ thể tại Điều 39 Pháp lệnh HĐKT chỉ quy định chung chung: nếu nội dung công việc trong HĐKTVH đã được thực hiện một phần hoặc đã xong thì các bên bị xử lý về tài sản Về nguyên tắc chung khi HĐKTVH các bên bị xử lý về tài sản: khôi phục lại tình trạng ban đầu hoàn trả cho nhau những tài sản đã nhận nếu không phải bồi thường bằng tiền Trong thực tế cho thấy nhiều trường hợp HĐKT đã thực hiện nhưng công việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận không phải là vấn đề đơn giản Bởi căn cứ để hoàn trả là gì? nhất là trường hợp tài sản bị hao mòn hoặc người sử dụng được hưởng lợi từ tài sản đó Đây là vấn đề cần phải có sự tác động, điều chỉnh của pháp luật Mà khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản là không bao giờ được như ý muốn vì vậy cần phải có cơ chế để khắc phục tình trạng tài sản của các bên bị thiệt hại

Vấn đề xử lý HĐKT trong xét xử của toà án gây ra ảnh hưởng rất lớn tới các doanh nghiệp bởi tâm lý là không muốn đưa ra tranh chấp, không muốn sử dụng toà như công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền & lợi ích kinh tế khi bị hành vi vi phạm HĐKT xâm phạm Điều đó tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp lợi dụng thiện chí của đối tác trong khâu giao kết HĐ để được hưởng lợi từ xử lý tài sản với HĐKTVH nhằm tránh nghĩa vụ như đã cam kết, tạo điều kiện cho các loại tội phạm hình sự dưới vỏ bọc kinh doanh ngày càng nhiều gây ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh

Thông thường ở các nước không phải ai cũng có quyền yêu cầu toà án tuyên

bố HĐKTVH Thường những hợp đồng xâm phạm lợi ích chung xã hội thì bất cứ

ai có quyền và nghĩa vụ liên quan đều có thể yêu cầu toà án tuyên bố HĐKTVH Nhưng ở nước ta thường tất cả các bên trong HĐKT đều có quyền yêu cầu tuyên

Trang 10

bố HĐVH Điều này đã khuyến khích các bên kể cả bên có lỗi gây ra sự vô hiệu khởi kiện ra toà nhằm tuyên bố HĐKTVH để trốn thành nghĩa vụ thực hiện hợp đồng hoặc trục lợi từ chính sự vi phạm của mình

Ngày đăng: 19/02/2014, 09:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w