Đề tài Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975 sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng hợp về thời đại, đất nước và con người, giai đoạn văn học, những đặc điểm
Trang 1Giảng viên hướng dẫn
Thạc sĩ: LÊ HUỲNH DIỆU
Long Xuyên, 5 / 2008
Trang 2-o0o- PHẦN I: MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài: 1
II Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 2
III Phạm vi nghiên cứu: 4
IV Mục đích nghiên cứu: 4
V Đóng góp của đề tài: 4
VI Phương pháp nghiên cứu: 4
VII Kết cấu của luận văn: 5
PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 I Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975:
1 Nền văn học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu: 6
2 Văn học hướng về đại chúng: 7
3 Nền văn học chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử thi: 8
II Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học giai đoạn 1945 – 1975: 1 Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam 1945 – 1954: 10
2 Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam 1955 – 1964: 11
3 Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam 1965- 1975: 12
4 Quan niệm về tình yêu trong thơ kháng chiến 1945 – 1975: 4.1 Từ “cái tôi” lãng mạn trong Thơ mới đến “cái ta” lãng mạn cách mạng trong thơ tình yêu thời kì kháng chiến: 13
4.2 Quan niệm về tình yêu trong thơ kháng chiến (1945 – 1975): 14
CHƯƠNG II: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH LÃNG MẠN TRONG THƠ TÌNH YÊU THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN (1945-1975) I Tình yêu hồn nhiên, tươi trẻ, đằm thắm giữa đạn lửa chiến tranh: 17
II Tình yêu và nỗi nhớ vượt không gian, thời gian: 20
Trang 32 Niềm đau xót, sự vượt lên những mất mát đau thương
trong tình yêu: 32
CHƯƠNG III: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC, NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN I Môtíp riêng – chung: 40
II Không gian nghệ thuật: 44
III Phương thức tự sự: 46
IV Vận dụng thể thơ tự do: 51
PHẦN III: KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4PHẦN I: MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca Nhắc đến tình yêu, người
đọc thường nghĩ đến Thơ mới Hầu như trong văn nghiệp của các nhà thơ mới đều có thơ viết về tình yêu Xuân Diệu được Hoài Thanh dành tặng
danh hiệu nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, lại cũng chính là người
viết nhiều về thơ tình yêu và được suy tôn là ông hoàng của thơ tình Tuy nhiên, vấn đề mà đề tài quan tâm khám phá là thơ tình yêu ra đời trong những năm kháng chiến 1945 – 1975 Giai đoạn mà dân tộc, đất nước ta đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng đối đầu với nhiều kẻ thù xâm lược Nền văn học giai đoạn này chủ yếu phản ánh cuộc chiến tranh thần thánh của nhân dân ta Cảm hứng chủ đạo của văn học là cảm hứng về quê hương, đất nước về những tình cảm cộng đồng Thơ tình yêu ra đời trong bối cảnh lịch
sử đó
Mặc dù viết về tình yêu riêng tư, đời sống cá nhân nhưng thơ tình yêu giai đoạn này đã thật sự góp phần làm đa dạng nền thơ Việt Nam hiện đại Qua cái riêng, số phận mỗi cá nhân, người đọc vẫn thấy được số phận, hoàn cảnh chung của cả cộng đồng, dân tộc Hiện thực của cuộc chiến được tái hiện sống động trong thơ làm cho thơ tình yêu giai đoạn này có những giá trị, đóng góp nhất định
Nhà thơ Thụy Điển Nazim Hitmet từng phát ngôn: Đừng hi vọng những câu thơ anh viết sẽ làm rung động trái tim người khác nếu trước tiên
nó không làm trái tim anh rung động Quả thật, những cảm xúc nhớ thương
da diết, những khát vọng hạnh phúc sum vầy, tình yêu trong đời sống cá nhân thời chiến tranh từng làm rung động trái tim người đọc Sau những cuộc hành quân chiến đấu, đôi mắt người yêu lại hiện về trong nỗi nhớ mong khao khát, khắc khoải, đầy suy tư:
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
( Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
Và nỗi nhớ mong yêu thương vừa trừu tượng, vừa cụ thể như có dáng hình:
Rút sợi thương Chằm mái lợp Rút sợi nhớ Đan vòm xanh
hay đó là nỗi đau li biệt cồn cào oặn thắt từ hình sông, dáng núi:
Núi vẫn đôi mà anh mất em
Trang 5Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ nhung và cả sự mất mát chính là những góc khuất trong đời sống tinh thần của con người thời kháng chiến Chính vì
vậy, tôi đã chọn cho mình đề tài: Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975 Đề tài xuất phát từ tình hình thực tế là
chưa có công trình nào nghiên cứu về thơ tình yêu trong giai đoạn này Đề
tài Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 –
1975 sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng hợp về thời đại, đất nước và con người,
giai đoạn văn học, những đặc điểm của thơ tình yêu Qua đây, ta thấy được
lí tưởng sống và quan niệm về tình yêu thời kháng chiến của một thế hệ cha anh Để từ đó, người đọc thêm yêu, đồng cảm, trân trọng họ hơn Bởi họ đã góp cho thơ ca nói chung và thơ kháng chiến nói riêng những bản tình ca bất diệt
II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Cho đến thời điểm này, tôi chưa thấy một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về thơ tình yêu giai đoạn 1945 – 1975 Các nguồn tư liệu chủ yếu là các giáo trình trình bày về giai đoạn, đặc điểm thời kì văn học, hay các bài nghiên cứu đặc điểm thơ kháng chiến nói chung, hoặc đi sâu phân tích, nghiên cứu về thơ của một tác giả tiêu biểu Những kiến thức mà tôi thu được qua quá trình tìm hiểu các nguồn tư liệu này đã góp phần định hướng, giúp triển khai đề tài nghiên cứu
Sau đây là một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan:
1 “Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại 1945 – 1975”
(NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội – 1998), nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Bắc
đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về nền thơ ca Việt Nam trong 30 năm Tác phẩm được trình bày gồm 3 chương:
Chương I: Những biểu trưng về Tổ quốc trong thơ ca Cách mạng Việt Nam (1945 – 1975)
Chương II: Những biểu trưng về người anh hùng trong thơ ca Cách mạng Việt Nam (1945 – 1975)
Chương III: Những biểu trưng về kẻ thù trong thơ ca Cách mạng Việt Nam
Ở chương II “Những biểu trưng về con người anh hùng trong thơ ca Cách mạng Việt Nam 1945 – 1975”, tác giả đã trình bày “biểu trưng về con người tình nghĩa” Theo Nguyễn Duy Bắc, trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, “con người vì nghĩa, vì đại nghĩa” là lẽ sống cao nhất của người anh
hùng Hạnh phúc lớn nhất của con người là hi sinh tình yêu cá nhân cho tình yêu nước, yêu giai cấp, yêu nhân dân Tình yêu quê hương, đất nước là nền tảng để tôn thêm ý nghĩa và màu sắc mới mẻ cho tình yêu lứa đôi Do vậy, tình yêu lứa đôi được tác giả xác định trên quan điểm hòa cái riêng vào cái chung, theo các tiêu chuẩn về lẽ sống của người anh hùng
Trang 62 Qua chuyên đề nghiên cứu “Về một đặc điểm của thơ Việt Nam từ
1955 đến 1975” (in trong tác phẩm: “Năm mươi năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám” của nhiều tác giả, NXB đại học quốc gia, Hà Nội –
1996), giáo sư Trần Đăng Xuyền đã nêu lên một trong những đặc điểm cơ
bản nhất của thơ Việt Nam giai đoạn 1955 – 1975 là: “Sự hồi sinh của cái tôi đời tư theo xu hướng hòa hợp với cái ta chung và sự đậm dần, mở rộng, phát triển mạnh mẽ của cái tôi sử thi” [13; 258] Như vậy, thơ tình yêu ra
đời trong giai đoạn này cũng không vượt ra ngoài đặc điểm đó, nhà nghiên
cứu Trần Đăng Xuyền khẳng định: “Ngay cả đến tình yêu, một thứ tình cảm riêng tư nhất cũng được nhìn nhận theo chiều hướng hòa hợp với cái ta chung,…” [13;260] Cái “tôi” riêng tư được đặt trong mối quan hệ thống
nhất với xã hội với đời sống của đất nước, của nhân dân Qua bài nghiên cứu này, Trần Đăng Xuyền chú trọng khám phá đặc điểm thơ ca Việt Nam chủ yếu về mặt thi pháp thể loại
3 Với tác phẩm “Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 –
1975” (NXB Giáo dục, năm 1998), Vũ Duy Thông tập trung khám phá vẻ
đẹp tính thẩm mỹ qua nghệ thuật xây dựng hình tượng về đất nước, hình tượng về Bác Hồ, hình tượng về người lính Bên cạnh những hình tượng đó, tác giả còn khám phá hình tượng về người phụ nữ trong thơ ca cách mạng Tác giả cho người đọc thấy sự hi sinh lớn lao của những người mẹ, người
vợ, người yêu trong thời kháng chiến Tác giả cũng đã dẫn ra nhiều dẫn chứng thơ của Nguyễn Mĩ, Hồng Nguyên, Hữu Loan, Trần Hữu Thung, Bùi Minh Quốc,…Tuy nhiên, hình tượng người phụ nữ chủ yếu chỉ được nhìn nhận trên cơ sở đại diện cho hình ảnh nhân dân anh hùng
4 Với công trình “Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt
Nam” (NXB Giáo dục, năm 1998), nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ đã đề cập
đến thơ tình yêu ra đời trong giai đoạn 1945 – 1975 qua một bài viết ngắn
nói về “Tình nghĩa riêng chung” Giáo sư chỉ ra rằng thơ tình yêu giai đoạn
này cũng có sự thống nhất riêng – chung
Nhìn chung, các tư liệu vừa dẫn ở trên đều có sự thống nhất trong nhìn nhận quan niệm về tình yêu biểu hiện trong văn học và thơ ca thời kì kháng chiến là đặt cái tôi riêng tư, tình yêu đôi lứa hài hòa với cái ta chung, tình yêu Tổ quốc Qua đây, nó tạo điều kiện cho người viết nắm vững đặc điểm biểu hiện của thơ tình yêu, vận dụng vào phân tích, khám phá triển khai
Bên cạnh những tài liệu nêu trên, người viết còn tiếp cận các giáo
trình như: “Văn học Việt Nam hiện đại tập II” (từ sau Cách mạng tháng
Tám 1945, NXB Đại học Sư phạm – 2007) do giáo sư Nguyễn Văn Long
chủ biên; “Tiếp cận và đánh giá văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám”(NXB Giáo dục, năm 2001) cùng của giáo sư Nguyễn Văn Long
(NXB Giáo dục, năm 2001) Hai quyển giáo trình trên đã giúp người viết có cái nhìn tổng hợp và hệ thống về giai đoạn phát triển 1945 – 1975 của nền văn học Việt Nam hiện đại Nền văn học Việt Nam thời kì này có những
Trang 7đặc điểm riêng, và quan niệm nghệ thuật về con người cũng có sự thay đổi qua từng chặng đường văn học
Tóm lại, nguồn tư liệu giúp cho việc nghiên cứu về thơ tình yêu giai đoạn 1945 – 1975 còn rất hạn chế Dù vậy, đây vẫn là những nguồn thông tin cơ sở quý báu, làm tiền đề giúp người viết đi sâu khám phá sự thể hiện
về nội dung và nghệ thuật của thơ tình yêu giai đoạn 1945 – 1975
III PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu, phân tích một số bài thơ tiêu
biểu viết về tình yêu lứa đôi ra đời trong giai đoạn 1945 – 1975 như: Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Nhớ, Chia tay (Nguyễn Đình Thi), Mưa rơi (Tố Hữu), Núi đôi (Vũ Cao), Vườn xưa (Tế Hanh), Quê hương (Giang Nam), Hoa chanh (Nguyễn Bao), Em phương xa (Thi Hoàng), Hương thầm (Phan Thị Thanh Nhàn), Đám cưới giữa mùa xuân (Viễn Phương), Cuộc chia li màu đỏ (Nguyễn Mĩ), Bài thơ về hạnh phúc (Dương Hương Ly), Nhớ (Hoàng Thị Minh Khanh), Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây (Phạm Tiến Duật), Sợi nhớ sợi thương (Thúy Bắc), Những mùa trăng mong chờ (Lê
Thị Mây),…
IV MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Đề tài khám phá, phân tích một số biểu hiện về nội dung và hình thức nghệ thuật để thấy được những đóng góp, giá trị của mảng thơ viết về tình yêu ra đời trong thời kỳ kháng chiến
Trọng tâm là khám phá tiếng nói của cái tôi cảm xúc cá nhân hòa trong tình cảm cộng đồng - cái ta cách mạng
V ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài cung cấp cái nhìn khái quát về thơ tình yêu giai đoạn 1945 –
1975 Đồng thời, thấy được những đóng góp về giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ tình yêu giai đoạn này vào nền văn học dân tộc Bên cạnh đó,
đề tài còn giúp người đọc thấy được sự thể hiện cái tôi trữ tình của thơ viết
về tình yêu vừa mang những đặc điểm lịch sử, gắn với thời đại văn học, vừa
có tính độc đáo riêng gắn liền với từng hoàn cảnh, đời sống đấu tranh và tài năng sáng tạo thơ ca của mỗi tác giả
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
1 Phương pháp thống kê, hệ thống:
Trên cơ sở những tư liệu đã tìm được, người viết tiến hành phân loại, thống kê để có cái nhìn bao quát về thơ tình yêu Từ nền tảng đó, người viết
Trang 8hệ thống lại khái quát thành những biểu hiện khác nhau của thơ tình yêu về
cả hai mặt nội dung và hình thức nghệ thuật
2 Phương pháp so sánh:
Luận văn có sự so sánh, đối chiếu những biểu hiện cảm xúc trữ tình trong Thơ mới với cảm hứng trữ tình trong thơ tình yêu thời chiến để thấy được những đặc điểm riêng của thơ tình yêu giai đoạn 1945 - 1975
3 Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Đây là hai phương pháp được sử dụng thường xuyên trong luận văn Phân tích những đoạn thơ hay, tiêu biểu để phục vụ cho việc làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, nhằm đưa ra những lí lẽ xác đáng làm cơ sở vững chắc cho luận văn
Các phương pháp trên đây được vận dụng, phối hợp với nhau trong quá trình phân tích, đánh giá các vấn đề trong nội dung của luận văn
VII KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN :
Khóa luận được kết cấu thành ba phần chính:
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương I: Những đặc điểm cơ bản và quan niệm nghệ thuật
về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975
Chương II: Những biểu hiện của cái tôi trữ tình lãng mạn trong thơ tình yêu thời kì kháng chiến (1945 – 1975)
Chương III: Một số phương thức, nghệ thuật biểu hiện
Phần III: Kết luận
Trang 9PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975
I NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975:
Để tìm hiểu sự thể hiện tình yêu qua thơ ca thời kháng chiến, trước hết chúng ta cần có cái nhìn bao quát về những đặc điểm cơ bản của nền văn học thời kì sau Cách mạng tháng Tám
Tìm hiểu nhận định về giai đọan văn học này, thống nhất với ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, có thể khái quát thành ba đặc điểm cơ bản sau đây:
1 Nền văn học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu:
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỉ nguyên mới cho đất nước, đồng thời cũng mở ra một thời đại mới cho nền văn học dân tộc Trong giai đoạn lịch sử từ năm 1945 – 1975, dân tộc ta phải đối đầu với hai cường quốc xâm lược hùng mạnh: thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Do vậy,
nội dung bao trùm của văn học thời kì này là phản ánh cuộc chiến đấu cho độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, cho lí tưởng xã hội chủ nghĩa [10;15] Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: Cuộc đấu tranh ấy do đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc là Đảng cộng sản Việt Nam
tổ chức, lãnh đạo Vì thế, mọi bình diện của đời sống xã hội, từ chính trị, quân sự, đến kinh tế, văn hóa đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng [10;15]
Văn học là một hình thái ý thức xã hội nên bao giờ văn học cũng phản ánh cuộc sống Từ xưa, cụ Đồ Chiểu đã ý thức dùng văn học làm vũ khí chiến đấu
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà (Đạo)
Đến chủ tịch Hồ Chí Minh, Người cũng đã khẳng định:
Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”)
Nhà thơ cũng là người chiến sĩ và thơ văn của họ là thứ vũ khí sắc bén đánh gián tiếp vào quân thù Văn học là một bộ phận của văn nghệ Thế
nên, trong “Thư gởi các họa sĩ nhân triển lãm hội họa toàn quốc năm 1951
Trang 10ở Việt Bắc”, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trước các văn nghệ sĩ: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy [10;15]
Thời kì này, Đảng lãnh đạo văn nghệ được thể hiện trên nhiều
phương diện: cả về tư tưởng và tổ chức Đảng đã Nêu ra đường lối văn nghệ và mục tiêu, nhiệm vụ của văn nghệ, tạo điều kiện cho họ thâm nhập thực tế để sáng tác, chỉ đạo hoạt động phê bình và những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ Sự lãnh đạo ấy nhằm đảm bảo cho văn nghệ đi đúng đường lối, thực sự trở thành vũ khí tinh thần phục vụ có hiệu quả nhất cho các mục tiêu của cuộc đấu tranh [10;15]
Văn học giai đoạn 1945 – 1975 gắn bó mật thiết với vận mệnh của dân tộc, trở thành một phần không thể tách rời của sự nghiệp đấu tranh Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng văn học hướng vào phục vụ cho những nhiệm vụ chính trị, theo sát những yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng Điều này đã chi phối, quy định từ đề tài, các chủ đề chính, cảm hứng bao trùm cho đến nhân vật trung tâm của văn học ở từng chặng đường Trong những năm kháng chiến chống Pháp rồi chống Mĩ, văn học luôn theo sát các diễn biến của cuộc kháng chiến ở tiền tuyến và hậu phương, cổ vũ lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của đông đảo quần chúng nhân dân, ca ngợi chủ nghiã anh hùng cách mạng và những tấm gương tiêu biểu trong cuộc chiến đấu ở cả hai miền Nam, Bắc Do vậy, nhân vật trung tâm của giai đoạn văn học này chính là hình tượng về người chiến sĩ và quần chúng cách mạng
Những tình cảm được thể hiện phong phú và đa dạng trong văn học giai đoạn này là những tình cảm trong các quan hệ cộng đồng: tình yêu quê hương đất nước, tình đồng bào, đồng chí, tình quân dân, tình cảm giai cấp, tình cảm với Đảng và với lãnh tụ,…Đây cũng là những nguồn cảm hứng lớn, chủ đạo chi phối hầu hết các sáng tác thơ ca giai đoạn này
Những tình cảm trong các quan hệ cộng đồng nói trên được xem là nguồn cảm hứng chính của văn học và thơ viết về đề tài tình yêu trong hoàn cảnh chiến chinh của đất nước cũng có thể xem là một nguồn riêng khá đặc biệt hòa vào giữa các nguồn chung đó Tất nhiên, cảm hứng trữ tình lãng mạn trong thơ tình yêu thời kháng chiến không tách rời mà luôn gắn liền với vận mệnh chung, tình cảm của cộng đồng dân tộc, quê hương đất nước Thế nên, tình yêu trong văn học giai đoạn này vừa mới lạ, độc đáo mà cũng rất gần gũi, thân quen Chúng ta sẽ đi sâu khám phá điều này ở những phần sau
2 Văn học hướng về đại chúng:
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Viết cho ai? - Viết cho đại đa số: công nông binh Viết để làm gì? - Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình Để phục vụ quần chúng.[6;52] Như vậy, nền văn học phục vụ chính trị, cổ vũ
chiến đấu cũng phải là nền văn học hướng về đại chúng, phục vụ đại chúng
Trang 11Đại chúng vừa là đối tượng phản ánh, vừa là công chúng văn học và
là lực lượng sáng tác
Nhân dân, công – nông – binh là lực lượng chủ yếu gánh vác cả cuộc Cách mạng tháng Tám và sau đó gánh cả cuộc kháng chiến trên đôi vai lực lưỡng của mình Cho nên, để hiểu đúng vai trò của quần chúng, văn học giai đoạn này đã trực tiếp xây dựng những hình tượng đám đông sôi nổi,
đầy khí thế và sức mạnh (Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu; Đêm liên hoan của Hoàng Cầm; Ta đi tới, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của
Tố Hữu,…) hoặc xây dựng những nhân vật anh hùng kết tinh những phẩm
chất cao đẹp của giai cấp, của dân tộc (Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành; Hòn đất của Anh Đức; Sống như anh của Trần Đình Vân; Người con gái Việt Nam, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt
của Tố Hữu,…) Bên cạnh đó, văn học cũng phê phán cách nhìn định kiến, sai lệch về vai trò của quần chúng Các nhà văn đã cho ra đời nhiều tác phẩm có những cặp nhân vật đối lập quan điểm, cách nhìn về quần chúng
và đề cao quan điểm đúng đắn (Đôi mắt của Nam Cao) hay có những tác
phẩm xây dựng những nhân vật có sự chuyển biến tư tưởng, cách nhìn quần
chúng đi từ chỗ hiểu sai đến chỗ hiểu đúng (Hoa và thép của Bùi Hiển, Mẫn
và tôi của Phan Tứ,…) Văn học lấy quần chúng làm đối tượng phản ánh
chính và quần chúng cũng chính là độc giả đông đảo của văn học Cho nên, những tác phẩm ra đời phục vụ quần chúng phải dễ hiểu, gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của nhân dân Trong quá trình tiếp thu, thưởng thức văn học, nhân dân cũng là người đồng sáng tạo với nhà văn, nhà thơ Do vậy, công chúng cũng chính là nguồn bổ sung lực lượng sáng tác
Thơ viết về tình yêu ra đời trong giai đoạn 1945 – 1975 cũng được đông đảo quần chúng đón nhận Nhiều bài thơ ra đời đã được chép tay,
truyền đi và có sức sống lâu bền trong lòng nhân dân như: Màu tím hoa sim – Hữu Loan, Núi đôi – Vũ Cao, Quê hương – Giang Nam,…Dù viết về đời
tư nhưng vẫn có những sợi dây liên lạc, gắn chặt với cái ta chung, như nhà
nghiên cứu Lê Đình Kỵ đã nhận xét: Đặt tập thể cá nhân vào một thế hài hòa sinh động, thể hiện cái chung thông qua cái riêng, không gạt bỏ cái riêng, cái chung và cái riêng chuyển hóa vào nhau…[3;136] Như vậy, qua
cái riêng người đọc vẫn cảm thấy cái chung
3 Nền văn học chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
Giai đoạn 1945 – 1975, dân tộc ta phải đối đầu với hai kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới Do đó, vận mệnh của Tổ quốc đứng trước những thử thách gay gắt, cả dân tộc mọi người như một đều sát cánh bên nhau để thực hiện lí tưởng độc lập, tự do, thống nhất đất nước Thế nên, văn học giai đoạn này không thể là tiếng nói của cá nhân mà phải là tiếng nói của cộng đồng, nhân danh cộng đồng, dân tộc
Trang 12Những chủ đề bao trùm văn học thời kì này không ra ngoài hiện thực lịch sử và vận mệnh, hoàn cảnh của con người đang đối mặt thử thách với chiến tranh Do vậy, nhân vật trung tâm luôn là những con người mang tính tiêu biểu cho quần chúng nhân dân, cho dân tộc và thời đại cách mạng Họ
là những người anh hùng đại diện cho sức mạnh dân tộc, giai cấp và kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất cao quý của cộng đồng,…và nhà văn cũng trở thành người phát ngôn cho tư tưởng, lập trường, tình cảm, quan niệm của cộng đồng, nhân danh cộng đồng mà ca ngợi, lên án, kêu gọi hay cổ vũ…Đó là một nền văn học mang khuynh hướng sử thi, nó tiếp cận
và phản ánh hiện thực theo quan điểm sử thi Văn học thời kì này mang
đậm tính sử thi với những tố chất riêng độc đáo: Nó tuyệt đối hóa, lí tưởng hóa câu chuyện cùng thời, kể câu chuyện cùng thời bằng thái độ chiêm ngưỡng từ xa [2;52]
Nền văn học ấy đã sáng tạo một thế giới nghệ thuật, bao gồm cả bức tranh đời sống và những hình tượng con người - mang một vẻ đẹp riêng, đậm màu sắc sử thi và chất lãng mạn
GS Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định về văn học giai đoạn 1945 –
1975 là một giai đoạn văn học chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử thi
và cảm hứng lãng mạn Cảm hứng lãng mạn chính là chủ nghĩa lạc quan, là
lòng tin chắc chắn ở tương lai đầy ánh sáng Chính niềm tin ở tương lai là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn khiến cho dân tộc ta có thể vượt lên trên mọi thử thách, tạo nên những chiến công phi thường Cảm hứng lãng mạn kết hợp với khuynh hướng sử thi tạo nên một chủ nghĩa lãng mạn anh hùng
Để phản ánh hiện thực theo quan điểm sử thi, văn học đã tìm đến những thể loại, phương thức nghệ thuật như: Trường ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, kịch bản sân khấu,…và giọng điệu chủ đạo lúc này là giọng ngợi ca, trang trọng, đôi lúc vút cao thành giọng hùng ca, thành lời truyền lệnh
Thơ viết về đề tài tình yêu trong giai đoạn này có sự kết hợp giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Dù chiến tranh có khốc liệt vốn là kẻ thù số một của tình yêu thì những người yêu nhau vẫn luôn lạc quan, tin tưởng, họ luôn hướng về nhau bởi họ có niềm tin vào tình yêu, vào
sự tất thắng của cách mạng Chính niềm tin đó đã tiếp thêm sức mạnh cho những chàng trai và các cô gái vượt qua đạn lửa chiến tranh
Có thể mượn lời của GS Nguyễn Đăng Mạnh để tổng kết lại, nêu nhận định chung về những đặc điểm của nền văn học giai đoạn này như
sau: Văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu, tất nhiên trước hết phải nhằm tác động vào đại chúng công nông binh Và để phản ánh và ngợi ca cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của cộng đồng dân tộc thì một cách tự nhiên phải tìm đến khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.[6;63]
Ba đặc điểm trên đây có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó giúp nhận diện, phân biệt giai đoạn văn học này với giai đoạn văn học trước năm
1945 và sau 1975
Trang 13II QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1945 – 1975:
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc đồng thời lại mở ra một thời đại mới trong lịch sử văn học
dân tộc Trong “Tiếp cận và đánh giá văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám”, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long thì những đổi mới của
văn học Việt Nam giai đoạn này có thể nhận thấy trên rất nhiều bình diện
và ở những cấp độ khác nhau Nhưng ở trung tâm và chiều sâu của những biến đổi ấy là sự thay đổi trong quan niệm về con người, là sự hình thành và vận động của quan niệm nghệ thuật mới về con người và theo ông quan niệm này mang tính thống nhất của cả nền văn học và trong suốt giai đoạn
1945 – 1975, nhưng cũng mang những nét đặc trưng của từng thời kì nhỏ trong sự phát triển của giai đoạn văn học này, cụ thể qua ba chặng đường:
Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai đã đặt dân tộc ta vào tình thế muôn người như một sát cánh bên nhau cùng chống lại kẻ thù Trong
hoàn cảnh đó, nền văn học giai đoạn 1945 – 1954 đã phát hiện ra con người quần chúng Nhà thơ và cũng là nhà hoạt động văn hóa của nước Đức Iohan Bécher đã nhận xét: Nghệ thuật không bắt đầu bằng những hình thức mới Nền nghệ thuật mới ra đời cùng với con người mới Như vậy, việc phát hiện
ra con người mới – con người quần chúng – đã thúc đẩy nền văn học phát
Con người quần chúng là một phát hiện nghệ thuật quan trọng bậc
nhất của nền văn học thời kháng chiến chống Pháp
Trang 142 Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam 1955 – 1964:
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, một nửa đất nước ta từ Vĩnh Linh ra Bắc tạm thời được hòa bình Nhân dân ta bắt tay vào khôi phục đất nước sau chiến tranh Giai đoạn này, văn học đứng trước những yêu cầu đa dạng của xã hội: một mặt là nhu cầu tất yếu của con người trong cuộc sống hòa bình, mặt khác phải tiếp tục cuộc đấu tranh cho những mục tiêu cách mạng: thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Quan niệm về con người trong văn học thời kì này trở nên đa dạng Nhìn chung, văn học giai đoạn này vẫn tiếp tục quan niệm về con người của văn học
1945 – 1954 và phát triển nó trong những điều kiện lịch sử mới và những đòi hỏi mới của cuộc cách mạng
Trước những yêu cầu và đòi hỏi của lịch sử trong giai đoạn mới,
quan niệm con người trong văn học thời kì này là khái niệm con người mới
Cũng theo giáo sư Nguyễn Văn Long: Văn học những năm kháng chiến chống Pháp chưa xây dựng được những tính cách riêng mà chỉ dừng lại ở quan niệm con người tập thể Cá nhân hòa tan vào trong tập thể Nhưng đến giai đoạn 1954 – 1964, văn học đã chú ý đến tính cách cá nhân
và ngày càng coi trọng giá trị của điển hình Như Tố Hữu xây dựng hình tượng chị Trần Thị Lý kiên gan trước quân thù, trở thành hình tượng người con gái Việt Nam, người phụ nữ anh hùng, hình tượng mang sức mạnh tiêu biểu của toàn dân tộc trong đấu tranh:
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung
(Người con gái Việt Nam)
Nét đặc trưng cơ bản trong quan niệm con người của văn học thời kì này là con người trong sự thống nhất riêng – chung, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân và nó đã chi phối các chủ đề cũng như nghệ thuật xây dựng hình tượng các nhân vật chính Đồng thời quan hệ về sự thống nhất
này cũng có tính biện chứng, cái riêng không phải là “hòa tan” trong cái
chung như văn học giai đoạn 1945 – 1954
Liên quan đến mảng thơ trữ tình, vấn đề “riêng, chung” cũng được đặt ra như một chủ đề nổi bật Chẳng hạn, tập thơ “Riêng – Chung” của Xuân Diệu, “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên đều thể hiện niềm vui của con người đi từ “thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” (Chế Lan Viên) hay nói như Paul Eluard là đi từ “chân trời của một người đến chân trời của tất cả” Đó là sự hài hòa giữa cái riêng và cái chung Thơ tình yêu
giai đoạn này cũng thể hiện được mối quan hệ giữa đời sống cá nhân và tập thể
Trang 153 Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam 1965 – 1975:
Cuộc kháng chiến chống Mĩ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc
và thống nhất Tổ quốc là một trong những nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả đối với toàn dân tộc Việt Nam Trong giai đoạn này, nền văn học có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học chống Mĩ là sự tiếp tục của quan niệm con người trong văn học hai mươi năm trước đó, nhưng được phát triển tập trung vào một hướng lớn và đi tới đỉnh cao của
nó là quan niệm con người sử thi
Theo ông Nguyễn Văn Long, con người sử thi là con người có lí tưởng cao cả cho độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, ý thức sâu sắc về tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại, là đại biểu tập trung của ý chí, khát vọng và sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, thời đai, nhân loại
Con người trong văn học chống Mĩ là con người của ý chí lớn, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Lí tưởng và nhận thức đã hiện thành ý chí
và hành động, mỗi con người được thể hiện như là đại diện trọn vẹn cho sức mạnh và quyết tâm của cả dân tộc, của đất nước Người bạn đời, người đồng chí, đồng nghiệp của Dương Hương Ly đã ngã xuống (được thể hiện
qua bài thơ Bài thơ về hạnh phúc), những cô gái thanh niên xung phong
trong thơ Phạm Tiến Duật đã hi sinh oanh liệt hay cô em gái mở đường
trong bài thơ “Khoảng trời - Hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ đã nằm xuống
để cứu con đường… Từ đó, chúng ta thấy được dù hoàn cảnh thử thách khác nhau, nhưng trước cái chết họ đều giống nhau trong sự dứt khoát, thanh thản, trong sáng và cao cả chấp nhận sự hi sinh Đó là những con người sử thi, con người đại diện đầy đủ cho tầm vóc, sức mạnh, ý chí và khát vọng của cộng đồng, của dân tộc, đất nước
Con người của thời đại chống Mĩ là sự kết tinh của quê hương, đất nước và gắn bó sâu nặng với quê hương, đất nước Theo nhà nghiên cứu
Nguyễn Văn Long: Chưa bao giờ như ở văn học thời kì này, cảm hứng về quê hương đất nước thể hiện đậm đặc và phong phú đến thế [11; 43] Có
thể thấy thế giới tình cảm của con người thời chống Mĩ đã được khai thác nhiều mặt, nhưng tất nhiên nổi lên và bao trùm hơn cả vẫn là những tình cảm cộng đồng: tình yêu quê hương, đất nước Tuy nhiên, vẫn không thiếu những tình cảm riêng: tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, chồng vợ mẹ con… nếu như trong văn học thời chống Pháp, phần đời cá nhân của con người hầu như bị bỏ qua thì văn học thời chống Mĩ lại chú trọng khai thác thế giới nội tâm và đời sống con người trong nhiều mối quan hệ tình cảm để làm nổi bật lên những vẻ đẹp tâm hồn, sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, lí tưởng và tình cảm
Tóm lại, văn học của mỗi giai đoạn sẽ gắn liền với một quan niệm nghệ thuật về con người Trong giai đoạn 1945 – 1954, văn học gắn liền với
Trang 16quan điểm con người quần chúng, tập thể gạt tình riêng để hoàn thành
nhiệm vụ đối với quê hương, đất nước Còn sang giai đoạn 1954 – 1964,
quan niệm văn học về con người có sự đổi mới Lúc này, khái niệm con người mới xuất hiện; đó là con người có sự thống nhất riêng chung Và sang giai đoạn 1964 – 1975 thì quan niệm về con người sử thi lại chiếm địa vị
độc tôn – đó là con người của cộng đồng, mang tầm vóc dân tộc và trong họ luôn có sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung
Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ tình yêu trong giai đoạn 1945 – 1975 không ra ngoài sự thống nhất mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung nêu trên Và tình yêu là một thứ tình cảm riêng tư nhất cũng được nhìn nhận theo chiều hướng hòa hợp với cái ta chung, hòa quyện vào lí tưởng chung, theo hệ quy chiếu nhiệm vụ chung của cả cộng đồng
4 Quan niệm về tình yêu trong thơ kháng chiến 1945 – 1975:
4.1 Từ “cái tôi” lãng mạn trong Thơ mới đến “cái ta” lãng mạn cách mạng trong thơ tình yêu thời kì kháng chiến:
Biểu hiện của cái tôi lãng mạn trong Thơ mới là yêu hết mình, sống hết mình cho tình yêu thế nhưng lại quan niệm tình yêu mà đi đến hôn nhân
trọn vẹn thì không còn mang màu sắc lãng mạn, thi vị nữa
Chẳng hạn, Nguyễn Nhược Pháp đã chú thích thêm sau phần kết
thúc của bài thơ “Em đi chùa Hương” vốn rất nổi tiếng của mình như sau:
“Thiên kí sự đến đây là hết Tôi tin rằng rồi hai người sẽ lấy nhau vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều, lấy nhau rồi là hết chuyện” Nhiều
cây bút thuộc phong trào Thơ mới cũng đồng tình với quan niệm tình yêu của Hồ Dzếnh:
Đời mất vui khi đã vẹn câu thề Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Nhà nghiên cứu, phê bình văn học GS nghiên cứu Lê Đình Kỵ nêu
nhận định: “…Tình yêu trong thơ mới trước hết là tình mộng Hiếm hoi lắm mới thấy có tình yêu cụ thể, như cùng đi dạo với trăng, cùng đi dạo trên đường làng …Nhưng chạm vào cụ thể thì tình yêu bị “sốc” ngay” [ 3 ;43]
Như vậy, thực chất tình yêu trong Thơ mới là lãng mạn, thơ mộng, bay bổng, choáng ngợp, say men nhưng tình yêu chưa bắt nguồn từ thực tế cho nên nó dễ dàng gặp trắc trở, éo le, ngang trái và dẫn đến chia li
Trang 17Thơ tình yêu thời kháng chiến cũng lãng mạn, mơ mộng, thăng hoa tâm hồn nhưng còn có thêm sự hài hòa, kết hợp với hoàn cảnh cụ thể của đời sống Tình yêu đậm chất lãng mạn nhưng lại rất thực, không mộng ảo Chính điều này đã làm nên chất lãng mạn cách mạng trong thơ viết về tình yêu thời chiến
Khuynh hướng lãng mạn cách mạng khác với khuynh hướng lãng mạn trong Thơ mới bởi nó có cơ sở từ hiện thực là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam Ngoài ra, đội ngũ sáng tác cũng có sự đổi mới về tư tưởng Họ đứng về nhân dân chứ không thuộc giai cấp tư sản, tiểu tư sản như trong phong trào Thơ mới
Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca Tình yêu luôn luôn mới và thu hút mọi người ở mọi thời đại Tình yêu ở bất kỳ thời đại nào, vẫn xuất phát từ trái tim, nói chuyện của trái tim, vẫn có đủ những sắc thái tình cảm yêu thương, song lí tưởng của tình yêu ở mỗi thời đại lại khác nhau
Các nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới bất mãn với thời cuộc; họ đã tìm đến tình yêu Họ trốn trong tình yêu và tự ru cái tôi của mình ở đó Nhưng càng đi sâu vào chính bản ngã của mình thì họ càng thấy cô đơn, nhỏ bé, ích kỷ Do vậy mà, tình yêu của họ cũng bơ vơ, lạc lõng Đến giai đoạn 1945 – 1975, mặc dù thơ viết về tình yêu chỉ là một mảng đề tài nhỏ bên cạnh những đề tài lớn viết về quê hương, đất nước nhưng đã góp phần làm nên sự đa dạng cho nền thơ ca thời kháng chiến Do thơ tình yêu trong thời kì này luôn có sự hài hòa đan xen các tình cảm riêng – chung; trong cái chung người ta dễ dàng tìm thấy cái riêng và trong cái riêng vẫn có sự hiện hữu của cái chung
Như vậy, thơ viết về tình yêu trong giai đoạn 1945 – 1975 cũng có đầy đủ những cung bậc tình cảm, những trạng thái rung cảm yêu thương nhưng nó không xa rời hiện thực, không xa rời cuộc đấu tranh giữ nước của dân tộc Tình yêu của nam nữ thanh niên trong giai đoạn này luôn gắn liền với nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của đất nước Đây là nét đặc sắc làm nên đặc điểm, màu sắc riêng của thơ tình yêu giai đoạn văn học 1945 – 1975
4.2 Quan niệm về tình yêu trong thơ kháng chiến (1945 – 1975):
Bàn về chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam, giáo sư Lê Đình Kỵ đã nêu lên thành vấn đề về hai mối quan hệ riêng và chung Theo
ý kiến của giáo sư, giai đoạn đầu, âm hưởng của văn học là hướng về nhân dân, Tổ quốc; cái riêng tự quên, tự hòa vào cái chung Nhưng càng về sau,
cái riêng càng được chú ý và đặt vào mối quan hệ hài hòa thống nhất: Tập thể cách mạng không phải là tập thể của thị tộc hay của công xã nguyên thủy mà là tập thể cao của những con người có ý thức đầy đủ về bước đi của lịch sử, về nghĩa vụ và quyền lợi của mình Sự hài hòa giữa tập thể và
cá nhân không thủ tiêu cái “đơn vị con người” ở mỗi thành viên mà bao gồm sự đa dạng phong phú của những đặc điểm cá nhân [ 3; 136]
Trang 18Giáo sư còn giải thích thêm: xét trong quan hệ riêng chung, không thể bỏ qua thơ tình Là tình yêu nên khi tiễn đưa thì lưu luyến, khi xa cách thì thương nhớ, đợi chờ, không ai phủ nhận, nhưng tình yêu bao giờ cũng gắn liền với xã hội, với quan niệm sống, với lí tưởng Nếu tình yêu trong Thơ mới khó tìm được sợi dây liên lạc với đời nên cảm thấy bơ vơ, lạc lõng thì tình yêu trong bộ phận thơ ca cách mạng đã tìm thấy mối quan hệ mật thiết giữa tình cảm riêng tư với tình yêu lớn của dân tộc, đất nước
Qua thơ Huy Cận, tình yêu đôi lứa được ví như “cặp nhân vàng” trong “trái đêm”, như “đôi hạt giữa nghìn đôi” của hoa trái cuộc đời to rộng
bát ngát:
Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng Từng cặp nhân vàng trong trái đêm Bát ngát lòng anh giữa trái đời Hai ta đôi hạt giữa nghìn đôi
(Anh viết bài thơ – Huy Cận)
Hay tình yêu nỗi nhớ và lý tưởng cách mạng trong thơ Nguyễn Đình Thi đã đạt đến sự hài hòa cao đẹp:
Anh yêu em như yêu đất nước Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước Mỗi tối anh nằm, mỗi miếng anh ăn Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời (Nhớ)
Tình yêu, nỗi nhớ và lí tưởng cách mạng cùng hiện diện, quyện chặt trong hành trang ra trận của người chiến sĩ Tình yêu đã trở thành ngôi sao sáng dẫn đường, thành ngọn lửa sưởi ấm trái tim Tình yêu và lí tưởng đấu tranh thấm sâu vào cuộc sống hằng ngày, từng miếng ăn, giấc ngủ, cả nhiệm vụ đảm đương Vì thế, tình yêu cứ mãi lớn lên, ngày càng sâu thêm, trải dài theo thời gian kháng chiến chống kẻ thù xâm lược Tình yêu đã hun đúc cho anh một sức mạnh tinh thần cao quý, anh càng mạnh mẽ, tin tưởng, sống xứng đáng hơn
Giáo sư Nguyễn Văn Long và nhiều nhà nghiên cứu, phê bình còn chỉ ra những hạn chế của nền văn học 1945 – 1975 Trong những hạn chế
đó có đề cập đến: Hiện thực mà văn học quan tâm trước hết phải là những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, quan hệ tới vận mệnh của dân tộc, nhân dân Đời sống thế sự và riêng tư ít được quan tâm thể hiện, nếu có thì cũng phải được nhìn và đánh giá trên quan điểm của cộng đồng [10 ;21] Điều đó đã
làm nên tính phiến diện trong việc phản ánh đời sống của văn học
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã nêu lên quan niệm của mình về tình
yêu trong văn học thời kì kháng chiến: “Người Việt Nam yêu để thêm được mạnh mẽ, yêu để được sống thêm hăng hái, tranh đấu thêm được vững bền,
Trang 19chứ không phải yêu để đắm đuối trong tình yêu và lãng quên cuộc sống
[7;130] Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định của nhà thơ bởi yêu và
được yêu là nhu cầu chính đáng của con người Trong chiến tranh, tình yêu vẫn nở rộ, bom đạn không thể hủy diệt được tình yêu Những bài thơ tình chân chính đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người lính, giúp người chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn nơi chiến trường, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và tổ chức giao phó Chúng tôi xin được mượn lời của giáo sư Lê Đình Kỵ thay cho lời tiểu kết về quan niệm cũng như khẳng định
giá trị những bài thơ tình yêu ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh: Trên thực
tế, một số bài thơ tình lãng mạn bao giờ cũng được quần chúng hoan nghênh Điều đó càng chứng tỏ văn học, đặc biệt là thơ ca trữ tình, nếu biết thông qua những cái riêng mà làm bật lên những vấn đề chung thì càng dễ làm rung lên sợi dây tình cảm,… [ 3 ; 130 ]
Thơ tình yêu giai đoạn này đã làm được điều đó
Trang 20
CHƯƠNG II: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH LÃNG MẠN TRONG THƠ TÌNH YÊU
THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN (1945-1975)
Văn học Việt Nam 1945 – 1975 ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt: dân tộc ta phải tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Thơ viết về đề tài tình yêu cũng ra đời trong trường hợp đặc biệt như vậy Nhưng dù chiến tranh có tàn khốc, khắc nghiệt thì những câu chuyện tình yêu muôn thuở vẫn nồng nàn, tha thiết, tươi trẻ, đầy chất lãng mạn…vẫn thu hút những cây bút chủ lực Những tưởng chỉ có trong thời bình, tình yêu mới có điều kiện đơm hoa kết trái, mới thể hiện đầy đủ những cung bậc yêu thương Nhưng chính trong hoàn cảnh chiến tranh, con người phải đối mặt với sự sống còn thì tình yêu của họ vẫn thăng hoa
Có nhiều câu chuyện về tình yêu đã làm rung động người cùng thời
và lưu truyền muôn đời sau
I TÌNH YÊU HỒN NHIÊN, TƯƠI TRẺ, ĐẰM THẮM GIỮA ĐẠN LỬA CHIẾN TRANH:
Máy bay giặc không ngừng thả bom, súng giặc đất rền, con người
luôn sống trong ranh giới giữa tồn tại và hủy diệt Nhưng con người vẫn lạc quan, ung dung, và các nhà thơ vẫn tìm thấy cảm hứng ngay trên mảnh đất
bị chiến tranh tàn phá Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã phát hiện ra một khung cảnh tươi vui, ấm áp, tràn đầy tinh thần lạc quan Ở nơi đó, ta bắt gặp những rung động của tình yêu tuổi trẻ, những tình cảm đầu đời:
Trong ánh chớp nhoáng nhoàng cây cối ngả nghiêng
Tổ công binh đứng ngồi trong trạm gác Cái cậu trẻ măng cất lên tiếng hát Khi biết trong hầm có cô bé đang nghe
(Vầng trăng và những quầng lửa)
Phạm Tiến Duật thuộc lớp các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ rời đèn sách đi vào chiến trường Giữa cuộc chiến tranh khốc liệt nhà thơ vẫn giữ cái nhìn tươi xanh Đó là con mắt trẻ trung yêu đời, tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng Chính những rung động tình yêu, nỗi nhớ niềm thương
đã chấp cánh, làm thi vị hóa thêm cho cảnh vật, đó là cái đẹp trong trẻo của tâm hồn, tình cảm:
Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây (Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây)
Không phải là đóa hoa chói ngời sắc đỏ, đóa hoa của Phan Thị
Thanh Nhàn trong bài thơ “Hương thầm” lại rất khiêm nhường, lặng lẽ,
Trang 21đằm thắm trong nhiệm vụ làm sứ giả cho tình yêu Hành động “giấu” một chùm hoa, rồi “ngập ngừng” sang nhà hàng xóm vừa thể hiện tính chủ động vừa thể hiện sự phân vân trong lòng cô gái Nhưng “Bên ấy có người ngày mai ra trận” đã thôi thúc giục giã bước chân, xua đi mọi sự lo lắng, tạo
niềm tin cho cô vững bước đến với tình yêu:
Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô bé ngập ngừng sang nhà hàng xóm Bên ấy có người ngày mai ra trận
cả hai đều hiểu:
Họ chia tay vẫn chẳng ai nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi
Tình yêu thầm lặng mà sâu sắc, nồng nàn, cứ luôn dai dẳng, canh cánh bên lòng
Nếu nhân vật trữ tình trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn nhờ hương hoa bưởi để nói hộ tình yêu sâu kín của mình, thì nhân vật trữ tình trong bài
thơ “Núi đôi” của Vũ Cao lại dùng hình tượng “núi đôi” để biểu trưng cho
tình yêu sâu đậm nơi miền sơn cước Một sự gắn kết vừa mộc mạc, vừa tình
Quê hương là nơi gắn bó với những kỉ niệm tuổi thơ đáng yêu, đáng
nhớ trong trẻo, hồn nhiên Nơi có “hoa trắng ngần thơm một góc chanh”,
có đôi bạn “thanh mai trúc mã” lớn lên rồi yêu bằng một tình yêu trong
sáng:
…Rửa chân hai buổi cầu ao
Em vội cúi đầu khỏa sóng Đôi bóng người rung, khóm bèo chao động Ánh mắt thẹn thùng lặn xuống đáy sâu (Hoa chanh – Nguyễn Bao)
Đó là cái thẹn rất ư tình tứ, những cử chỉ tế nhị của tình yêu đầu đời hồn nhiên, tươi trẻ, đằm thắm Ta bắt gặp những rung cảm chân thành, khe khẽ của những người mới yêu nhau Họ có thể chưa thổ lộ, chưa từng bày
Trang 22tỏ tình yêu, nhưng cả hai đều hiểu, đều trân trọng những tình cảm tốt đẹp
đó
Chiến tranh vệ quốc diễn ra, những cuộc gặp gỡ bất ngờ làm tình yêu trong lòng của cả hai có cơ hội bày tỏ, dù chỉ là những ánh mắt lặng nhìn nhau:
Cô bé nhà bên ( có ai ngờ! ) Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn ( thương thương quá đi thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi
(Quê hương – Giang Nam) Ngoại cảnh khắc nghiệt “mưa đầy trời” nhưng tâm hồn người chiến sĩ vẫn
ấm nóng một tình yêu nồng nàn Sức mạnh của tình yêu đã giúp người lính vượt qua những chông gai, trở ngại mà thời tiết chiến trường đem lại
Chiến tranh bùng lên, mọi người theo đuổi nhiệm vụ riêng của mình Chàng trai ra trận, cô gái trở về luôn trong tình trạng chờ đợi, nhớ thương, trông ngóng Do vậy, khi được tin người yêu về, cảnh vật, thiên nhiên
“vầng trăng”, “hoa cau”, “mây” dường như xoắn xuýt chia sẻ niềm vui với
cô:
Thư anh tin ngày về Cho vầng trăng hẹn mọc Trong ngần hoa cau thơm Mây chớm màu tha thiết (Những mùa trăng mong chờ - Lê Thị Mây)
Cho nên, hạnh phúc được gặp người yêu là niềm vui bất tận
Anh khoác ba lô về Đất trời dồn chật lại
Em tái nhợt niềm vui Như trăng mọc ban ngày (Những mùa trăng mong chờ - Lê Thị Mây)
ngòi bút của Lê Thị Mây miêu tả diễn biến tâm lí của cô gái thật tinh tế
Người yêu về, khiến cho tâm hồn cô xáo động mạnh “Em tái nhợt niềm vui như trăng mọc ban ngày” Hạnh phúc bất ngờ làm cho cô ngây ngất như
trăng mọc ban ngày (bởi trăng có bao giờ mọc ban ngày) và tưởng chừng đất trời dồn chật lại như chung hưởng niềm vui bất tuyệt của cô
Mọi sự vật trên thế giới này điều vận động và phát triển Tình yêu không chỉ dừng lại ở những rung động, cử chỉ mà nó phát triển lên một bước cao hơn: trạng thái của tình yêu Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ Đặc biệt, trong hoàn cảnh chiến tranh, con người ít có điều kiện ở bên nhau cho nên nỗi nhớ càng mãnh liệt, dữ dội, thắm thiết, sâu sắc
Trang 23II TÌNH YÊU VÀ NỖI NHỚ VƯỢT KHÔNG GIAN, THỜI GIAN:
Cuộc chiến tranh vệ quốc đã thu hút hàng vạn, hàng triệu người ra đi vì nghĩa lớn, tất nhiên có cả những người yêu nhau Những người yêu nhau đi vào chiến trường chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc đồng thời họ cũng mang theo nỗi nhớ niềm thương về người yêu Trong thơ viết về đề tài tình yêu, tình cảm của nhân vật trữ tình luôn bộc lộ tối đa với nhiều cung bậc, trạng thái
Những năm diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp, nền văn nghệ nói chung và nền văn học nói riêng đã tìm cho mình một quan niệm nghệ thuật
mới về con người Đó là quan niệm con người quần chúng Đây là một phát
hiện nghệ thuật quan trọng của nền văn học Chính quan niệm nghệ thuật này đã chi phối việc lựa chọn các đề tài, chủ đề đến việc xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm Và giai đoạn này, cái riêng hầu như ít xuất hiện,
ít được quan tâm
Trình bày “Về một đặc điểm của thơ Việt Nam từ 1955 đến 1975”, nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyền cho rằng: Cái tôi đời tư hầu như vắng bóng trong thơ giai đoạn 1945 – 1954 Điều đó, một mặt bị qui định bởi tâm lí chung của cả cộng đồng Khi mới đến với một lý tưởng mới, con người thường có xu hướng tuyệt đối hóa, cực đoan, muốn “gạt phăng những tình riêng nhỏ nhặt” [14;258] Tuy nhiên trên thực tế, những bài thơ
viết về tình yêu và nỗi nhớ, những khao khát hạnh phúc yêu thương, kể cả những niềm đau mất mát của tình yêu thời kháng chiến vẫn xuất hiện như một nhu cầu tất yếu phản ánh cuộc sống
Nhà thơ Thúy Bắc đã tự hỏi:
Có thể nào quen nỗi nhớ lúc xa nhau Bao kỉ niệm trong ta đằm thắm mãi Như gió hút giữa ngàn lau trắng ấy Thổi qua rồi bông lá vẫn còn rung
(Không quen)
Hai người đang yêu có lẽ không ai muốn có chuyện chia cách Người xưa
đã diễn tả nỗi nhớ bằng cách so sánh “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề” (Một ngày không gặp tựa hồ ba năm), còn dịch giả Đoàn Thị Điểm lại diễn
tả nỗi nhớ chồng của người chinh phụ được tính bằng giờ, bằng khắc “Khắc giờ đằng đẵng như niên; mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa” một khắc chờ mong như một năm dài Với nhà thơ Thúy Bắc, cô tự hỏi rồi tự trả lời “Có thể nào quen nỗi nhớ lúc xa nhau – Không quen”, tựa bài thơ đã đáp lời cho
tác giả Thế nhưng, không gian chia cách lại là một thực tế hiện hữu thường trực giữa các đôi lứa yêu nhau trong thời kháng chiến Những Kim – Kiều
của thế kỉ XX thường cảm nhận sâu sắc: “Hai đầu nỗi nhớ yêu và thương sâu hơn; giữa hai đầu nỗi nhớ nghĩa tình đằm thắm hơn” Cho nên, nỗi nhớ
Trang 24chính là trạng thái yêu thương thường xuất hiện trong thơ tình yêu giai đoạn này
Tố Hữu được mệnh danh là nhà thơ trữ tình chính trị Tố Hữu đã rạch ròi phân chia tình yêu dành cho Đảng, tình yêu dành cho thơ và tình yêu cho đôi lứa Dù tình yêu được xếp vị trí thứ ba nhưng người yêu vẫn vui chấp nhận và còn xem đó là điều diễm phúc:
…Trái tim anh đó Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ:
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều Phần cho thơ và phần để em yêu…
(Bài ca xuân 1961)
Song cũng có lúc nhà thơ đã cho trái tim nói lên rung cảm yêu thương, nhung nhớ cháy lòng từ dáng hình đi đứng đến chiếc khăn, tấm áo,…
Mưa rơi đầm lá cọ Mái tóc em ướt rồi Đôi má em bừng đỏ Muốn hôn quá… mà thôi
……
Em đi, anh nhớ dáng hình Cái khăn mỏ quạ, cái mình áo nâu Chiều nay heo hút rừng sâu Mưa nguồn suối lũ biết đâu mà tìm?
Ước gì anh hóa thành chim Bay theo em, hót cho tim đỡ buồn
(Mưa rơi)
Khao khát yêu thương, mong nhớ là vậy, nhưng chiến tranh đã ngăn cách tình yêu, ngăn trở đời thường Vì thế, thời chiến tranh, thơ viết về tình yêu lại càng mãnh liệt, cuốn hút Và thơ ca xây dựng hình tượng về tình yêu – nỗi nhớ trong sự chia xa luôn thể hiện tính nhân văn sâu sắc
Điều đáng nói là ở đây nỗi nhớ người yêu không làm cho trái tim tuổi trẻ đang căng tràn lòng nhiệt huyết hiến dâng, trở nên ủy mị, mềm yếu Chính tình yêu đã tiếp thêm sức mạnh cho họ càng hăng say chiến đấu bảo
vệ Tổ quốc, bảo vệ hạnh phúc cá nhân Tình yêu và nỗi nhớ như những cánh tay luôn vẫy gọi người chiến sĩ xốc tới, hướng về phía trước Bài thơ
“Nhớ”của Nguyễn Đình Thi thể hiện quan niệm tình yêu cao cả, chân
thành, chấp nhận chia xa mà không bi lụy:
Anh yêu em như anh yêu đất nước Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước Mỗi tối anh nằm mỗi bữa anh ăn
Trang 25Lần đầu tiên trong thơ ca tình yêu lứa đôi được sánh ngang với tình yêu đất nước Tình yêu trải qua những bước thăng trầm nhưng vẫn đẹp lung
linh như hình ảnh đất nước trong mưa bom đạn lửa vẫn “tươi thắm vô ngần” Và nỗi nhớ mong đầy tràn dường như xuất hiện mọi lúc mọi nơi,
trong mọi sinh hoạt của người chiến sĩ
Tình yêu đã truyền thêm sức mạnh, giúp những đôi lứa vượt qua mọi khó khăn nơi chiến trường Vì nhiệm vụ, vì lý tưởng họ đành phải xa cách
Đây không phải là sự xa cách của hai tâm hồn chưa cảm thông mà chỉ là sự
xa cách trong không gian Mà chính có sự xa cách đó mới có thời gian bình tĩnh để hiểu tình yêu một cách sâu lắng, đúng đắn hơn (Nguyễn Xuân Nam)
[4 ; 45]
Cách nghìn sông núi vẫn bên nhau
Em ơi đường chiến đấu dài lâu Trong gian khổ vẫn chan hòa ánh sáng Đời anh có em như ngày có nắng Yêu em anh yêu cả mọi người
(Chia tay – Nguyễn Đình Thi)
Quả thật, sức mạnh của ngọn lửa tình yêu đã giúp cả thế hệ cha ông vượt qua không gian núi sông cách trở, thời gian kháng chiến dài lâu thắp sáng, tin yêu để đi tới thắng lợi cuối cùng
Là nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới, khi được lí tưởng cách mạng soi rọi, Nguyễn Bính đã hòa mình vào cuộc kháng chiến của toàn dân Nếu như trước kia, tình yêu trong thơ Nguyễn Bính là tình yêu của một chàng trai quê rụt rè, thầm thương trộm nhớ, thu mình trong không gian nhỏ bé của làng quê thì nay trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, tình yêu đó đã hòa vào biển lớn, nhớ thương khát vọng hạnh phúc, nhớ mong mà không lụy, không buồn:
Trời còn có bữa sao quên mọc Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em (Đêm sao sáng)
Môtíp nỗi nhớ trong xa cách luôn trở đi trở lại trong thơ tình yêu thời kháng chiến Thơ tình yêu của Chế Lan Viên trầm lắng giàu chất triết lí, suy gẫm nhưng không vì thế mà kém nồng nhiệt Ở đó, có đủ cả các cung bậc
thương yêu, nhớ mong da diết trong xa cách Hình ảnh “chăn chia làm hai nửa” trong cái rét đầu mùa đã trở thành hình tượng thơ độc đáo viết về tình
yêu và nỗi nhớ:
Cái rét đầu mùa anh rét xa em Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa Một đắp cho em ở vùng sóng bể Một đắp cho mình ở phía không em (Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể)
Trang 26Ta cảm nhận trong nỗi nhớ thương của người ra trận như có cả sự che chở,
hi sinh, lo lắng, chăm chút cho người vợ thân yêu ở tận vùng sóng bể
Nếu qua trào lưu Thơ mới, Xuân Diệu đã từng biểu hiện nỗi nhớ người yêu cuồng nhiệt:
Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh
thì nay trong kháng chiến chống Mĩ, nhân vật trữ tình trong bài thơ “Em phương xa” của Thi Hoàng cũng khôn nguôi nỗi nhớ ấy:
Chúng ta cách nhau bao nhiêu dặm xanh Chúng ta cách xa bao nhiêu dặm lửa
……
Ta đang cách nhau một khoảng chết của quân thù Hai trận tuyến hai đầu
Đang nhích lại gần nhau
(Em phương xa – Thi Hoàng)
Trải theo chiều dài của không gian xa cách chính là sợi dây tình cảm,
là nỗi nhớ dâng đầy, là hình bóng người thương hiện hữu Nỗi nhớ nối kết hai trận tuyến:
Mỗi vì sao biếc có hình hai ta Hai đầu trận tuyến đâu xa (Em phương xa – Thi Hoàng)
Điểm gặp gỡ cao nhất của tình yêu chính là sự đồng cảm vô hình
Một triết gia phương Tây đã nói: Khi yêu nhau thì người ta sẽ tìm thấy nhau
dễ dàng ngay giữa ngàn vạn người Người lính trong bài thơ “Em phương xa” cũng thế:
Đường anh đi Nghe có cả nhịp chân em bước Hơi nước mặt sông như hơi thở dịu hiền
Dù gặp những người không quen Vẫn thấy họ như từ nơi em đến
Tự thẳm sâu xao xuyến Rung lên thành điệu nhạc, vang xa (Em phương xa – Thi Hoàng)
Trang 27Phải là yêu sâu sắc, nhớ da diết mới có thể hình dung được như vậy Chiến tranh là kẻ thù của tình yêu Tuy nhiên, sự xa cách trong khói lửa đã giúp
họ càng hiểu nhau và càng yêu nhau nhiều hơn:
Xa em nhiều anh càng hiểu em hơn
(Thi Hoàng)
Sự xa cách trong không gian đã không cản trở tình yêu của những chàng trai, cô gái Không giống tình yêu trong thơ Xuân Diệu, sự gần gũi hòa hợp dường như không còn khoảng cách cho một sợi tóc đi qua, ấy vậy
mà ông hoàng của thơ tình yêu vẫn kêu ca: “Thế vẫn còn xa lắm” Trong
thơ Xuân Diệu, tình yêu đã đạt đến sự hòa hợp về thể xác nhưng tâm hồn vẫn không hoàn toàn thuộc về nhau Còn trong thơ kháng chiến, dù chiến tranh bom đạn luôn ngăn trở, xa cách không gian vốn hiện hữu thường trực, nhưng họ vẫn gần nhau trong ý nghĩ Tình yêu đối với người chiến sĩ cũng rất quan trọng Tình cảm như liều thuốc tiên làm êm dịu tâm hồn người lính giữa những tiếng gầm rú của bom rơi, đạn nổ:
Anh ngủ lại trên lá rừng và đếm những bom rơi Nhưng tình yêu của em làm lòng anh yên tĩnh quá Hạnh phúc là sau những chặng đường vất vả Lại hiểu em nhiều trong muôn nẻo xa xôi
(Buổi hẹn hò lớn lao – Nguyễn Khoa Điềm)
Trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, đã có biết bao bài thơ được sinh hạ ngay trên báng súng Đó là tâm tình, là nỗi nhớ người yêu da diết, là tấm lòng sắt son chung thủy của anh chiến sĩ trẻ:
Đêm liên hoan xóm làng vang tiếng hát Tối giao thừa dào dạt nhớ thương em
Có cả vừng trăng, vẫn nhớ ngọn đèn
Đi khắp núi sông vẫn thương về xóm nhỏ
Có nửa quả tim mình…có người yêu ở đó!
(Đám cưới giữa mùa xuân – Viễn Phương)
Khi đất nước cần họ biết sống xa nhau Đó là thứ tình yêu lí tưởng, cao đẹp Dù đi đến chân trời góc bể nào thì vẫn luôn nhớ về người yêu Theo từng bước đi của thời gian, nỗi nhớ cũng theo đó mà tăng lên:
Đã bốn năm rồi mình chẳng gặp nhau Chỉ có lá thư trên trang giấy nhỏ
(Viễn Phương)
Thật xót xa khi những người yêu nhau không được sum họp trong giờ phút đón giao thừa thiêng liêng:
Tối giao thừa dào dạt nhớ thương em
Nỗi nhớ người yêu không chỉ dào dạt trong lòng các anh chiến sĩ; ngược lại, các cô gái cũng nhớ da diết, mãnh liệt
Trang 28Trong hành trang ra trận của người lính, có cả tình yêu nhưng chiến tranh đằng đẵng, nỗi nhớ chẳng thể đong đếm Với người ở lại, nỗi nhớ niềm thương trong đợi chờ càng thêm khắc khoải:
Mỗi cánh chim bay qua cửa sổ
em ước mình được vỗ cánh bay theo…
Chín năm trời anh đã mang đi
Cả tình em - xóm nhỏ
(Nhớ - Hoàng Thị Minh Khanh)
Tố Hữu đã từng ước “hóa thành chim” để bay theo người yêu, “hót
cho tim đỡ buồn”, thì nhân vật trữ tình trong bài thơ “Nhớ” cũng vậy Cô
cũng ao ước có đôi cánh vút bay theo người yêu Một ý nghĩ táo bạo càng thể hiện tình yêu đang rực cháy trong cô Nỗi nhớ tuôn tràn, hiện diện mọi lúc, mọi nơi Cô gái đã hòa vào đời sống, công tác kháng chiến nhưng vẫn không thể xua đi nỗi nhớ:
Em nhớ anh không chỉ trong giấc ngủ
em nhớ anh không chỉ lúc dạo chơi
Em nhớ anh không chỉ đêm trăng tỏ
Em nhớ anh không chỉ lúc mưa rơi,
Mà em đã nhớ anh
Cả những lúc soi gương chảy tóc
Cả những lúc công tác bộn bề
Cả những lúc nghe đàn em trẻ học Hay tiếng chim trời ríu rít bay đi (Nhớ - Hoàng Thị Minh Khanh)
Những điệp từ “em nhớ anh không chỉ”, và “cả những lúc” ngày càng nhiều
như những cơn sóng lòng không yên Nỗi nhớ dâng đầy, trùng trùng không sao kể xiết Sự xa cách trong tình yêu đã nâng tình cảm của cô, chấp cánh cho tình yêu và nỗi nhớ:
Ôi cái nhớ sao mà kỳ diệu
Ôi cái thương sao khéo mặn mà (Nhớ)
Qua đây, ta thấy thơ tình yêu thời chiến mang giá trị nhân đạo sâu sắc và toát lên ý nghĩa tố cáo chiến tranh mạnh mẽ Chiến tranh vừa hủy diệt, đảo lộn cuộc sống đời thường, vừa cách ngăn tình yêu thương của con người
Nỗi nhớ thường trừu tượng, khó nắm bắt, thế nhưng nhà thơ nữ Thúy
Bắc đã cụ thể hóa nó thành hình tượng “Sợi nhớ sợi thương”
Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã từng cụ thể hóa nỗi nhớ nhung sầu muộn bằng hình ảnh :
Sầu đông càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê
Trang 29Nay nhà thơ Thúy Bắc sáng tạo thêm hình tượng thơ mới, khá độc đáo để diễn tả nỗi nhớ, nói lên tình yêu sâu thẳm, nồng cháy, đốt lòng cô gái nơi núi rừng Trường Sơn Tứ thơ đầy khám phá, sống động Em dang tay rồi em xòe tay cũng chẳng thể nào xua tan mây như chẳng thể nào xua
đi nỗi nhớ anh yêu:
Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây Bên nắng đốt Bên mưa quay
Em dang tay
Em xòe tay Chẳng thể nào Xua tan mây Chẳng thể nào Che anh được (Sợi nhớ sợi thương – Thúy Bắc) Bài thơ “Sợi nhớ sợi thương” giúp người đọc hiểu được đời sống nội
tâm, tâm hồn trong sáng thanh khiết của những cô gái cầm súng nơi Trường Sơn Đối lập với sự yên tĩnh bề ngoài, trong tâm hồn người con gái là cả một đại dương đang nổi sóng – lớp lớp những ao ước, khát khao đều to lớn, khác thường đến mức chỉ diễn ra trong tâm tưởng mới có thể giải quyết, thỏa mãn Do đó, những hành động của nhân vật trữ tình ở đây cũng dễ hiểu bởi nó được xuất phát từ một trái tim yêu thương vừa mãnh liệt, vừa đằm thắm, sâu sắc:
Rút sợi thương Chằm mái lợp Rút sợi nhớ Đan vòm xanh Nghiêng sườn Đông
mà che mưa anh Nghiêng sườn Tây xòe bóng mát Rợp trời thương Màu xanh suốt
Em nghiêng hết
Về phương anh
Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ, nỗi nhớ càng da diết thì những người yêu nhau càng ước ao làm thật nhiều điều cho nhau Nhân vật trữ tình cố
làm mọi cách “rút, chằm, đan” sợi dây yêu thương để che chở cho người
yêu Nhà thơ Thúy Bắc đã rất tài tình khi lấy những hành động cụ thể để nói lên tình yêu vô bờ bến của cô gái
Trang 30Nỗi nhớ chính là hình tượng xuyên suốt bao trùm trong nhiều bài thơ Ở đó, cái tôi cá nhân tự bộc lộ, đồng thời nói lên sự đồng cảm, san sẻ với những người yêu nhau phải sống trong xa cách do chiến tranh, đạn bom
Chàng trai, cô gái trong “Vườn xưa” của Tế Hanh thật tội! Trong
hoàn cảnh kéo dài cách trở yêu thương và khát vọng cả hai nhiều lần cùng trở lại vườn yêu, nhưng chưa một lần hội ngộ:
Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa Như mặt trăng mặt trời cách trở Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa (Vườn xưa - Tế Hanh)
Thế nên, nỗi nhớ niềm thương như thổi hồn vào tạo vật, cảnh vật vì thế trĩu nặng mang tâm trạng nhân vật trữ tình:
Một ngày xuân em trở lại nhà Nghe mẹ nói anh có về hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thĩ gọi anh về ……
Lần sau anh trở lại một ngày hè Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt Nước như gương soi lẻ bóng hình anh (Vườn xưa – Tế Hanh)
Tác phẩm “Năm mươi năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám”, có đưa ra nhận định: Trong một thời kì dài “những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt”, đó cũng là một điều tự nhiên, và nhà thơ dù có “tự hát” thì vẫn có ý thức được “Nhưng giọng anh đơn lẻ, sao sánh bằng đồng ca” (Phạm Tiến Duật)
Hay nhà thơ Chế Lan Viên đồng cảm nhận, chia sẻ cái nhìn về mối
quan hệ riêng – chung chi phối quan niệm, tư tưởng “mĩ học thời chiến”
(chữ dùng của TS Chu Văn Sơn ):
cho nên những chủ đề, đề tài, sáng tác,…đều phục vụ cuộc chiến đấu của nhân dân Vì thế, những tình cảm riêng tư ít được chú ý Tuy nhiên, qua phần trình bày trên ta thấy vẫn có những bài thơ tình yêu ra đời như một nhu cầu tất yếu không thể thiếu Mảng thơ này đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học kháng chiến, ít nhiều góp thêm một giọng đa âm đa
sắc trong dàn hợp xướng chung của toàn dân tộc
Bên cạnh những bài thơ viết về nỗi nhớ vượt không gian, thời gian trong biển lửa chiến tranh thì cũng có không ít những bài thơ bộc lộ tình
cảm thuần khiết làm rung động lòng người Bài thơ “Biển” là một minh