1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phương pháp dạy thơ Trung đại

13 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 145 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là lí do tôi lựa chọn đề tài “Một số phương pháp giảng dạy thơ trung đại Việt Nam Ngữ văn 7 ” với mong muốn có thể ứng dụng hiệu quả hơn trong giảng dạy để dạy tốt các bài thơ trữ tìn

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP DẠY THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM NGỮ VĂN 7

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

1 Cơ sở lí luận:

Văn thơ trung đại Việt Nam là bộ phận văn học gắn liền với một giai đoạn cực kì quan trọng trong lịch sử đất nước - giai đoạn nhà nước phong kiến Việt Nam được xác lập,

đi tới chỗ cực thịnh rồi chuyển dần tới chỗ suy vi Giai đoạn văn học này đã để lại một di sản vô cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng, phong phú, đa dạng về nội dung, đạt tới nhiều đỉnh cao về nghệ thuật Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn

bóvới truyền thống cao đẹp của dân tộc Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam”(Phạm Văn Đồng) Chúng ta có

thể tìm thấy trong di sản này những điều giúp lại quá khứ vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng

về tương lai một cách tin tưởng hơn Đối với nhà trường THCS, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trongviệc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ cho học sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu

Việc dạy văn học ở nhà trường nói chung và dạy thơ trữ tình trung đại theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là một vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học văn cũng như nhiều giáo viên giảng dạy văn học quan tâm

2 Cơ sở thực tiễn:

Chương trình Ngữ văn 7 kì I có một số lượng tương đối lớn các văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại Đó là các văn bản nghệ thuật được các nhà thơ Việt Nam sáng tác trong thời kì phong kiến Các tác giả thơ trữ tình trung đại phần nhiều là những thi nhân nổi tiếng, tâm hồn nặng những nỗi đời Làm thơ với họ là mượn cảnh, mượn việc để kí thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế

Qua thực tế giảng dạy thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở trường THCS chúng tôi nhận thấy: Đây là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các tác phẩm văn học trung đại được tính từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX đã cách chúng ta hơn mười thế kỉ, đến với thế

hệ trẻ dưới mái trường phổ thông thế kỉ XXI đã có khoảng cách rất xa về thời gian Vì

Trang 2

thế, người giảng dạy gặp khó khăn trong soạn giảng, nhiều học sinh ít hứng thú, không tích cực trong giờ học những bài văn học cổ Vấn đề đặt ra là phải có những biện pháp tối ưu nhằm giúp giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập thơ trữ tình trung đại Việt Nam

Đó là lí do tôi lựa chọn đề tài “Một số phương pháp giảng dạy thơ trung đại Việt Nam Ngữ văn 7 ” với mong muốn có thể ứng dụng hiệu quả hơn trong giảng dạy để dạy

tốt các bài thơ trữ tình trung đại trong chương trình Ngữ văn 7, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy, học môn ngữ văn ở trường THCS

II Mục đích nghiên cứu:

- Thuận lợi và khó khăn trong việc dạy, học thơ trữ tình trung đại Việt Nam

- Đề xuất những biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy, học thơ trữ tình trung đại Việt Nam

III Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động dạy và học các bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam của giáo viên và học

sinh lớp 7

IV Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Khảo sát việc dạy và học các bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở lớp 7 để nắm bắt hiện trạng một cách chính xác

- Xây dựng cơ sở lí luận của phương pháp phát huy tính tích cực

- Bước đầu đề xuất một số biện pháp trong dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở lớp 7 theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh

PHẦN II :NỘI DUNG.

I Thống kê các văn bản thơ trữ tình trung đại lớp 7:

Dạy đọc hiểu thơ trữ tình, đặc biệt thơ trữ tình trung đại đòi hỏi một cách tiếp cận riêng khác với dạy các văn bản tự sự, miêu tả hay nghị luận Cho nên, trước khi dạy, người thầy cần nắm được hệ thống các văn bản thơ trữ tình trung đại trong chương trình Ngữ văn

7 để từ đó có định hướng, cách khai thác riêng cho từng cụm bài, từng bài Ta có thể theo dõi các tác phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 7 qua bảng hệ thống sau:

4 Qua đèo Ngang Bà Huyện Thanh Quan Thất ngôn bát cú

Trang 3

đường luật

5 Bạn đến chơi nhà Nguyễn Khuyến Thất ngôn bát cú

Đường luật

Như vậy, phần phần lớn các bài thơ Trung Đại Việt Nam thời kì này chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ bởi phong cách thơ Đường của Trung Quốc Chính vì vậy, trong qúa trình dạy, cần bám sát đặc trưng thể loại, các tín hiệu nghệ thuật (chủ yếu là các thể thơ cổ điển, nghệ thuật đối, ước lệ, cách sử dụng từ ngữ) để trên cơ sở đó, dẫn dắt HS đi tìm cái hay, cái đẹp trong tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm

II Thực trạng việc giảng- dạy các tác phẩm văn học trung đại ViệtNam trong nhà trường THCS hiện nay.

1.Về việc dạy của giáo viên :

Chúng ta đều biết rằng văn học Trung đại là bộ phận văn học đồng hành với sự phát triển của xã hội phong kiến Trong các tác phẩm đều viết bằng ngôn ngữ Hán văn cổ hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại ngày nay Vì vậy tìm hiểu, phân tích một tác phẩm văn học Trung đại là việc làm không đơn giản Trong những năm vừa qua đội ngũ giáo viên dạy văn nói riêng đã được trang bị nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã thực sự mang lại hiệu quả tốt Mặc dù vậy vẫn còn những hạn chế trong cách vận dụng phương pháp từ đội ngũ Bản thân những người dạy văn về cơ bản đã tận tâm tận lực với nghề, tích cực nghiên cứu tìm hiểu các kiến thức Tuy nhiên với sự đa dạng và phức tạp của văn học Trung đại thì hiệu quả dạy phần văn học này vẫn không tránh khỏi những hạn chế Các điển tích, điển cố của văn học trung đại là phức tạp và đa nghĩa Vì vậy đòi hỏi phải có một tư duy hết sức khoa học, hết sức sáng tạo đối với đội ngũ giáo viên khi thực hiện phần văn học quan trọng này

2.Việc học của học sinh:

Thể loại, thi pháp văn học cổ có nhiều xa lạ với thi pháp văn học đương đại nên đó là điều khó khăn cho học sinh tiếp nhận.Vốn sống kinh nghiệm thực tế học sinh còn ít, học sinh khó khăn khi tái hiện hoàn cảnh xã hội, hiểu các điển tích, điển cố được sử dụng trong tác phẩm văn học cổ Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển đi lên của đât nước, chúng ta

có những thành tựu quan trong về lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên với cơ chế nền kinh tế thị trường đã tạo ra những phức tạp và những ảnh hưởng không lành mạnh đối với đời sống con người, nhất là thế hệ trẻ Đặc biệt là đối tượng học sinh, trong đó có học sinh bậc trung học cơ sở Một bộ phận lớn học sinh chịu ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực của XH chi phối nên ý thức học tập không cao, thiếu tự giác Trong khi đó, phần văn học trung đại

Trang 4

là phần văn học khó nhất Vì thế, chất lượng học sinh thuyên giảm Ngoài ra, sự quan tâm, cách nhìn nhận của phụ huynh học sinh là sính học các môn Khoa học tự nhiên cũng có những ảnh hưởng không tích cực đến việc nỗ lực phấn đấu của học sinh đối với môn Ngữ văn Điều đó càng đòi hỏi phải có những giải pháp tích cực để nâng cao chất lượng học bộ môn ngữ văn của học sinh, trong đó có phần văn học trung đại Việt Nam

III Một số giải pháp mới dạy thơ trữ tình trung đại lớp 7

1 Giải pháp 1: Tạo không khí giờ học ngay ở bước khởi động từ những tình huống thực

tế, qua đoạn phim hoạt hình, qua câu chuyện lịch sử

Theo phương pháp dạy học tích cực, dạy học cần hình thành kỹ năng, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực của học sinh Vì vậy trong mỗi giờ học giáoviên phải giúp học sinh nhận thức được nhiêm vụ cần giải quyết của bài học, có sự tập trung cao, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự chiếm lĩnh tri thức đồng thời phát huy được những năng lực Để có thể thực hiện được nhiệm vụ đó trước hết giáo viên phải tạo được bầu không khí thoải mái nhẹ nhàng, không gò bó để cuốn hút, giúp các em tiếp nhận tốt nội dung cơ bản của bài học, đặc biệt là đối với giờ dạy văn bản thơ Đường luật Trung Đại có khoảng cách khá xa về mặt thời gian Giáo viên có thể tạo bầu không khí thỏa mái ngay ở phần khởi động bài học để kích thích hứng thú học tập của học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau như từ tình huống thực tế, qua đoạn phim hoạt hình, qua câu chuyện lịch sử, qua việc giới thiệu các địa danh

Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải giáo viên có thể cho học sinh xem đoạn phim hoạt hình “Cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần 2 năm 1285” với thời gian 2 phút, giới thiệu về Trần Quang Khải và trận đánh Hàm Tử ,Chương Dương để thu hút sự chú ý, sau đó dẫn vào bài, tạo sự hứng thú và bước đầu giúp các em có hiểu biết sơ giản về tác phẩm để các em thích thú tìm hiểu bài học

Giáo viên để học sinh bộc lộ và dẫn vào bài.Như vậy với tình huống hết sức gần gũi đã gây được hứng thú với học sinh ,các em không còn thấy bài thơ xa lạ và có tâm thế sẵng sàng khám phá tác phẩm

2 Giải pháp 2: Dạy học tích hợp các với các phân môn và các môn học khác.

Để giờ dạy thơ Đường luật đạt kết quả cao, giáo viên cần chú ý tới việc tích hợp với các phân môn khác như môn Lịch sử, môn Địa lý, môn Giáo dục công dân Có hiểu biết

về các lĩnh vực khác sẽ giúp các em chủ động hơn khi khám phá tác phẩm

Khi dạy thơ Đường luật giáo viên có thể tích hợp với các phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn để củng cố và nâng cao kiến thức cho học sinh Trong mỗi bài thơ Đường luật giáo

Trang 5

viên có thể dễ dàng tích hợp với phân môn tiếng Việt về: từ Hán Việt, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa

Ví dụ: Từ “Nam đế”: Hoàng đế nước Nam, hiểu là “vua nước Nam” Tại sao tác giả không dùng chữ “Nam vương” cũng có nghĩa là “vua nước Nam”? Dùng chữ “Nam đế” tác giả bài “Sông núi nước Nam” muốn biển hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc Đằng sau câu thơ

ta nghe được một tiếng nói mạnh mẽ, kiêu hãnh: Phương Nam ta cũng có đế, bình đẳng, ngang hàng với phương Bắc không kẻ thù nào được phép coi thường

Thực tế khi giảng dạy giáo viên có thể tích hợp với các nội dung khác một cách linh hoạt tùy thuộc vào bài học cụ thể Có thể tích hợp thông qua việc kiểm tra bài cũ, trong hoạt động khởi động, trong câu hỏi tìm hiêu bài, qua viêc sử dụng bảng phụ, tranh ảnh

Nhìn chung nếu giáo viên tích hợp một cách hợp lý, nhuần nhuyễn thì hiệu quả dạy học sẽ tăng lên rõ rệt, nhất là phát huy dược vai trò chủ thể sáng tạo của học sinh

3 Giải pháp 3: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

Như chúng ta đã biết Ngữ Văn là một trong những môn học công cụ, mang tính nhân văn, giúp học sinh phát triển các năng lực và phẩm chất tổng quát Vì vậy, dạy học Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực giúp học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định Thông qua việc học các tác phẩm thơ Đường luật trung đại Việt Nam, giáo viên giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực chung và năng lực chuyên biệt để các em thực sự hiểu được giá tri của tác phẩm

Ở mỗi hoạt đông giáo viên cần có những định hướng phất triển năng lực phù hợp

Ví du: Khi dạy bài “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn khuyến giáo viên có thể giúp học sinh hình thành các năng lực như: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực thẩm mỹ Cụ thể, thông qua việc đọc văn bản giáo viên giúp học sinh hình thành năng lực tiếp nhận văn bản Từ đó học sinh bước đầu có khả năng thu thập các thông tin,cảm thụ được tình bạn trân thành, sâu sắc trong bài thơ

4 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu những thông tin về tác giả, tác phẩm và dẫn

dắt học sinh vào thế giới quan của nhà thơ

*Về tác giả:

Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu những thông tin mà phần chú thích SGK cung cấp, giáo viên cần tìm hiểu những thông tin ngoài văn bản về hoàn cảnh ra đời bài thơ, những mẩu giai thoại, những điển tích, điển cố liên quan đến tác giả và tác phẩm Bằng những kiến thức ấy giáo viên làm cho học sinh nhập cuộc và tìm hiểu tác phẩm tốt hơn, cặn

kẽ hơn, hay trí ít cũng giúp các em vững tâm hơn khi đứng trước những bài thơ Đường luật

Trang 6

Ngoài ra giáo viên có thể đưa học sinh vào thế giới quan của các nhà thơ, bởi tác phẩm văn học là sự phản ánh hiện thực khách quan qua sự nhào nặn của người nghệ sĩ Tác phẩm

là nơi nhà văn gửi gắm tư tưởng tình cảm nên khi dạy giáo viên cần giới thiệu cho học sinh những nét tiêu biểu về thân thế và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm, điều này có ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định ý nghĩa giá trị của tác phẩm

Ví dụ: khi dạy bài “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, ngoài những thông tin mà SGK cung cấp, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh về tác giả như: thơ Bà Huyện Thanh Quan thường viết về thiên nhiên, phần lớn là vào lúc trời chiều, gợi lên cảm giác vắng lặng, buồn bã Cách bà miêu tả trong những bài thơ giống như những bước tranh thủy mặc chấm phá Hơn nữa, nói cho đúng thì cảnh trong thơ bà thực tế cũng không phải

là cảnh mà là tình Tình cảm của bà thường là sự nhớ thương da diết đối với quá khứ vàng son một đi không trở lại Do vậy người ta gọi bà là nhà thơ hoài cổ

* Về tác pẩm:

+ Đặt bài thơ trong hoàn cảnh ra đời

Khi tìm hiểu tác phẩm, giáo viên cần cho học sinh tìm hiểu hoàn cảnh ra đời, vì hoàn cảnh ra đời có ảnh hưởng rất lớn đến giá trị tư tưởng của bài thơ Nếu giáo viên không hướng dẫn học sinh tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm là một điều rất đáng tiếc

Ví dụ: Khi giảng về hoàn cảnh ra đời của bài “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải, ngoài thông tin trong sách giáo khoa, giáo viên có thể cung cấp thêm: thời đại Lí -Trần là thời đại hùng mạnh của hào khí Đông A (Đông A là chiết tự tên họ -Trần gồm hai chữ: chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự) Hào khí Đông A là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là khí thế, là quyết tâm lớn lao của quân dân đời Trần trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước thanh bình Hào khí Đông A không chỉ là tư tưởng, tâm hồn của con người mà còn là nội dung tư tưởng, là âm hưởng bao trùm trong rất nhiều tác phẩm thơ văn Việt Nam thời nhà Trần thế kỉ XII, XIII Vì thế bài thơ mang âm hưởng của chiến thắng

Qua phân tích ví dụ ta thấy: việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử và hoàn cảnh ra đời của văn bản là điều hết sức cần thiết, bởi nhiều giáo viên thường ít quan tâm đến và cho rằng đây là yếu tố không quan trọng Vì vậy khi phân tích bài thơ rất dễ hời hợt, nông cạn

+ Đọc văn bản

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc văn bản một cách tỉ mỉ về giọng đọc và cách đọc

để học sinh bước đầu cảm thụ được vẻ đẹp của âm thanh khi nghe giáo viên đọc, bạn trong lớp đọc hoặc chính mình đọc các bài thơ Đường luật

Trang 7

Giáo viên nên tận dụng triệt để lợi thế này,chuyển hóa thành công có phương tiện dạy học phục vụ cho việc truyền đạt, đồng thời tạo nên sự chú ý và hứng thú cho học sinh

Ví dụ: khi đọc bài “Phò giá về kinh”của Trần Quang Khải giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc:

- Nhịp: 2/3

- Giọng: Sảng khoái, hân hoan, phấn chấn để thể hiện được tinh thần chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nguyên

+ Tìm hiểu phần giải thích nghĩa của từ

Như chúng ta đã biết, Ngôn ngữ thơ Đường luật khái quát tinh luyện và chính xác, cô đọng và hàm xúc Đa số các bài thơ Đường luật sử dụng nhiều yếu tố Hán Việt nên việc tiếp cận văn bản của học sinh rất bỡ ngỡ, nhiều khi do không hiểu nên không nắm bắt được nội dung và nghệ thuật của bài thơ vì thế không có hứng thú và sợ học Một lí do rất dễ hiểu là vốn từ vựng Hán Việt của học sinh rất nghèo nàn nên giáo viên cần giúp học sinh chủ động tìm hiểu nghĩa của các từ đồng thời bồi dưỡng vốn từ Hán Việt cho học sinh, giúp các em bước đầu hiểu văn bản, có năng lực vận dụng từ Hán Việt trong giao tiếp và tạo lập văn bản Đây cũng chính là cách tích hợp với phân môn Tiếng Việt

Học sinh có thể tham khảo trong phần chú thích ở mỗi bài trong SGK

Như vậy sau khi đã có những hiểu biết về tác giả tác phẩm học sinh sẽ vững vàng để tìm hiểu giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng bài thơ

5 Giải pháp 5: Tìm hiểu giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng của bài thơ gắn với Thi

pháp thơ Đường luật

* Tìm hiểu thể thơ

Thể thơ có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu một tác phẩm thơ Đường luật, bỏ qua công đoạn này là giáo viên đó bỏ qua nét tinh hoa độc đáo nhất của thơ Đường luật và hiệu quả cảm nhận tác phẩm của học sinh sẽ giảm đi, vì vậy giáo viên cần hướng học sinh đến việc tìm hiểu thể thơ của từng bài thơ

Ví dụ: khi dạy bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan và bài “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến giáo viên cần giúp học sinh nhận biết thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật, từ đó nhận dạng được thể thơ của tác phẩm Để làm tốt hơn việc này, ngoài những điều đã được cung cấp ở SGK, giáo viên cần giúp học sinh hiểu biết thêm và chỉ rõ cụ thể trong bài: đây là thể thơ được định hình từ thời nhà Đường (Trung Quốc) và được coi là tiêu biểu nhất của thơ Đường luật

+ Về số chữ trong câu, số câu trong bài: Bài thơ có 8 câu, mỗi câu 7 chữ

Trang 8

+ Về vần: Độc vận, vần chân ở cuối câu 1 và các câu chẵn và là vần bằng

+ Về đối: Hai câu thực và hai câu luận thường đối nhau Có khi đối ngay ở hai câu đề

và trốn đối ở hai câu thực và hai câu luận

+ Về niêm: Niêm nghĩa là dính Câu 1 niêm với câu 8, câu hai niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu 7

+Về luật: Theo hệ thống thanh ngang Cho phép “Nhất tam ngũ bất luận” và buộc phải

“Nhị tứ lục phân minh” Có luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng

Tuy có luật thơ chặt chẽ, cũng có thể nói là gò bó nhất trong lịch sử thơ ca nhân loại Nhưng điều kì lạ là với luật thơ nghiêm ngặt như thế mà thành tựu của thơ lại bề thế, phi thường ít thấy Một trong những đặc sắc của thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật chính là tính cô đúc, súc tích được sản sinh từ một kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo Ở nước ta, trong thời trung đại, thơ Đường luật mà chủ yếu là Thất ngôn bát cú (vừa bằng chữ Hán vừa bằng chữ Nôm) đã ngự trị nền thơ Trong thi nghiệp của các nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn

Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, thơ Thất ngôn bát cú Đường luật vẫn chiếm phần chính

* Xác định bố cục của bài thơ:

Việc nắm được bố cục góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu và phân tích bài thơ Nắm được bố cục chính là nắm được mạch cảm xúc của bài thơ.Từ đó giáo viên có hướng đi đúng trong quá trình tìm hiểu giá trị nghệ thuật và nội dung của bài thơ Thông thường bố cục của bài thơ Đường luật tùy thuộc vào thể thơ

- Với thể Thất ngôn bát cú gồm 4 phần (Đề, thực, luận, kết), mỗi phần có một nhiệm

vụ khác nhau

- Với thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt: Gồm 4 phần (Khai đề, thừa đề, chuyển đề, hợp đề) Mỗi phần ứng với một câu thơ và mang nhiệm vụ riêng

- Với thể Ngũ ngôn tứ tuyệt: gồm 4 phần (đề, thực, luận, kết)

Tuy nhiên bố cục của bài thơ có thể thay đổi linh hoạt

Trên thực tế sáng tác, không phải bài thơ nào cũng có kết cấu 4 phần một cách cứng nhắc như vậy Do đó, khi phân tích kết cấu một bài thơ Đường luật phải bám sát vào thực tế của văn bản, không nên áp đặt khuôn mẫu vào việc phân tích mà cần phải linh hoạt để làm nổi bật nội dung của bài thơ

* So sánh phiêm âm với bản dịch thơ

Với những bài thơ Đường luật viết bằng chữ Hán gồm 3 phần: phiên âm, dịch nghĩa

và dịch thơ,không phải ngẫu nhiên mà SGK đưa vào như vậy mà đó là dụng ý có tác

Trang 9

dụng.Vì vậy, giáo viên cần giúp học sinh đọc thật kĩ để so sánh và tìm ra sự khác biệt giữa bản phiên âm với bản dịch thơ.khi đó học sinh không chỉ hiểu mà còn thấy được sự sáng tạo tài tình việc sử dụng từ ngữ điêu luyện và hiểu được tinh thần, tư tưởng, tâm hồn của nhà thơ

- Ví dụ: Khi dạy bài “Sông núi nước Nam” cuả Lý Thường Kiệt giáoviên cần giúp học sinh phát hiện câu 1, 2, 4 vần với nhau ở tiếng cuối Ba tiếng bắt vần với nhau đều là vần bằng, thanh không Ở bản dịch thơ, ba tiếng cuối câu 1, 2, 4 cũng vần với nhau: “ở”, “sở”,

“vỡ” Khác với bản nguyên tác là người dịch dùng vần trắc, hai thanh hỏi, ngã nhưng vẫn đúng luật thơ, đọc lên ta vẫn thấy xuôi tai, hài hòa, cân đối; vẫn thể hiện được tinh thần của bài thơ

* Phân tích giá trị nghệ thuật của bài thơ qua phép đối và các biện pháp nghệ thuật khác

- Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau Đây

là yếu tố bắt buộc trong thơ Đường luật (Đối: đối xứng, đăng đối, đối ứng để tạo nên sự hài hoà chứ không phải đối lập) Thơ Đường luật có tới 11 loại đối như đối câu, đối từ, đối ý, đối nhip Một cặp đối, một cặp thơ được coi là một cặp đốì hoàn chỉnh khi nó đối nhau về:

từ loại, nhịp, ý

Để giúp học sinh hiểu và cảm được hết giá trị nội dung của bài thơ, giáo viên cần phân tích giá trị nghệ thuật của bài thơ qua sự kết hợp phép đối với các biện pháp nghệ thuật khác như: ẩn dụ, so sánh, điệp từ, đảo ngữ Đây là phương pháp đặc trưng khi tìm hiểu thể loại thơ nói chung, thơ Đường luật nói riêng là đi từ tín hiệu nghệ thuật để khám phá nội dung

Ví dụ: Khi hướng đẫn học sinh tìm hiểu hai câu luận trong bài thơ bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan:

“Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, Thương nhà mỏi miêng, cái gia gia”

Giáo viên cần giúp học sinh phát hiện ra nghệ thuật đối được sử dụng trong cặp thơ là cặp đối hoàn chỉnh về cả thanh và ý Kết hợp với biện pháp nghệ thuật đảo ngữ khi đưa hai cum từ “nhớ nước” và “thương nhà” lên đầu câu, cùng cách chơi chữ “quốc”- nước; “gia”-nhà đã nhấn mạnh, làm nổi bật nỗi niềm tâm trạng khắc khoải, nhớ thương của nhân vật trữ tình Từ đó thấy được và đồng cảm với tâm trạng hoài cổ: nhớ nước thương nhà da diết, tiếc một thời đại vàng son huy hoàng của đất nước trong lòng nhà thơ

Qua việc phân tích các biện pháp nghệ thuật và từ ngữ được sử dụng đã hình thành và khơi dậy ở học sinh năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, rung động trước hình tượng, tình cảm được khơi gợi

Trang 10

trong tác phẩm, nhận ra giá trị thẩm mĩ Từ đĩ cảm nhận được giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà thơ Để rồi nâng cao nhận thức sống và hành động vì cái đẹp, cái thiện, thêm yêu Tổ quốc và sống cĩ lí tưởng

* Kết hợp giữa phân tích với những lời bình hay

Trong quá trình giúp học sinh khám phá và tìm hiểu văn bản một cách tích cực, chủ động, sáng tạo giáo viên cũng cĩ thể kết hợp đưa vào đĩ những lời bình hay, những ý kiến đánh giá xác đáng để giúp học sinh tham khảo và cĩ cách cảm, cách nhìn sâu hơn, khái quát hơn

Ví dụ: sau khi phân tích câu thơ cuối của bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến giáo viên cĩ thể bình: Câu kết của bài thơ với âm điệu và ngơn từ thân mật ngọt ngào Bao nhiêu nghèo thiếu, bao nhiên lúng túng, ngượng ngùng bỗng tan đi hết để tình bạn, tình người được thăng hoa Câu thơ ẩn ngụ cả một niềm tự hào về một tình bạn đẹp đẽ, vượt lên mọi thứ vật chất Đặt trong hồn cảnh xã hội đương thời với rất nhiều sự đảo điên của các giá trị và quan hệ, khi thực dân Pháp xâm lược và xã hội Việt Nam đang chuyển dần sang một nước thuộc địa nửa phong kiến thì càng thấy rõ hơn giá trị của sự khẳng định tình bạn, tình người trong bài thơ

IV BÀI DẠY THỰC HÀNH

Văn bản:

QUA ĐÈO NGANG

( Bà Huyện Thanh Quan )

I MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT:

1.Kiến thức:

- Sơ giản về tác giả Huyện Thanh Quan

- Đặc điểm thơ Bà Huyện Thanh Quan qua bài thơ Qua đèo ngang

- Cảnh đèo ngang và tâm trạng tác giả qua bài thơ

- Nghệ thuật tả cảnh, tả tình độc đáo trong văn bản

2.Kĩ năng:

- Đọc hiểu văn bản thơ Nơm viết theo thê thơ thất ngơn bát cú Đường luật

- Phân tích một số chi tiết nghệ thuật tiêu biểu trong bài thơ

3.Thái độ:

- Đồng cảm với tâm trạng của tác giả

II.Giaĩ dục kĩ năng

- Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề , hợp tác , giao tiếp và tự học

III.CHUẨN BỊ:

- GV: giáo án,tranh ảnh

- HS: học bài, soạn bài

IV TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1 Ổn định tổ chức:

2 Kiểm tra bài cũ:

Ngày đăng: 18/04/2022, 01:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w