1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam– chi nhánh chương dương

124 700 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam – chi nhánh chương dương
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy
Trường học Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 653,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứngtrước tình hình đó ngành Ngân hàng- một ngành có thể nói là ngành luôn điđầu trong công tác đổi mới, mở cửa và cũng là ngành hết sức nhạy cảm đốivới những thay đổi dù là nhỏ, đã đang

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay, khi mà xu thế hội nhập và hợp tác trong tất cả các lĩnh vựccủa nền kinh tế ngày càng trở nên rõ ràng và cần thiết hơn bao giờ hết Đứngtrước tình hình đó ngành Ngân hàng- một ngành có thể nói là ngành luôn điđầu trong công tác đổi mới, mở cửa và cũng là ngành hết sức nhạy cảm đốivới những thay đổi dù là nhỏ, đã đang và sẽ có được những thời cơ rất lớn đểphát huy hơn nữa vai trò của nó đối với bản thân hệ thống ngân hàng, đối vớikhách hàng và đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, nhưng đồng thời hệthống ngân hàng cũng phải đối mặt với rất nhiều thách mới, rất gay gắt từphía các ngân hàng và các định chế tài chính nước ngoài- là các đơn vị có ưuthế rất lớn về vốn, về trình độ quản lý, về khoa học công nghệ Hơn thế nữa,các ngân hàng này lại có bề dày kinh nghiệm trong việc đưa ra các sản phẩmmới, cùng với sự đa dạng phong phú trong danh mục các sản phẩm (trungbình khoảng 600 sản phẩm dịch vụ các loại) sẽ tạo ra những thách thức rất lớnđối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, ngay cả đối với những ngânhàng tốt nhất Nắm bắt được những thách thức đó trong những năm vừa qua,ngành ngân hàng Việt Nam đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần đã

có những nỗ lực rất lớn trong việc đưa ra hàng loạt các sản phẩm dịch vụ mớinhằm thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của toàn xã hội.Trong số đó, hoạt động tín dụng vẫn từng bước khẳng định được vị trí của nóđối với sự tồn tại và phát triển không ngừng của tổng thể nền kinh tế Quốcdân Là một ngân hàng thương mại ra đời khá sớm so với các ngân hàngthương mại cổ phần trong nước, cùng với những kinh nghiệm phong phú củabản thân ngân hàng trong việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ phục vụ kháchhàng, sự linh hoạt trong chính sách, chiến lược kinh doanh, Ngân hàngThương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam đã nhanh chóng xác định chomình một phân đoạn thị trường mục tiêu, là một thị trường tiềm năng trongtương lai, phù hợp với các nguồn lực hiện có của ngân hàng, đó chính là thị

Trang 2

trường bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tếnhà nước, thành phần kinh tế tư nhân và các hộ kinh doanh cá thể, là các đốitượng mà trên thị trường quốc tế được gọi là “Retail Customers”.

Nhờ vậy, ngay sau khi đi vào hoạt động tháng 02 năm 2002, hướngphục vụ chủ yếu của chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thươngChương Dương đã nhằm chủ yếu vào các đối tượng khách hàng trên Tuynhiên, theo thống kê thì cho tới thời điểm hiện nay, khả năng đáp ứng vốn chokhách hàng loại này của tất cả các ngân hàng Việt nam mới chỉ đạt khoảng20% tổng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh Vậy, thực trạng hoạt động tíndụng, chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại nói chung và Ngânhàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Chương Dương đối với các khách hàngtrên là như thế nào?

Được sự giúp đỡ động viên của thầy cô, gia đình và bạn bè, cùng với sựchỉ bảo tận tình của các cán bộ công nhân viên Ngân hàng Thương mại Kỹthương Chương Dương, kết hợp với những kiến thức đã được học tập tạitrường và tại chi nhánh Ngân hàng Thương mại Kỹ thương Chương Dương đã

giúp em tự tin hơn trong việc chọn ra đề tài : “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam– chi nhánh Chương Dương”cho chuyên đề tốt nghiệp.

Nội dung chuyên đề bao gồm ba chương:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng tại các ngân

hàng thương mại

Chương II: Thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng

Thương mại Cổ phần Kỹ thương – Chi nhánh Chương Dương (TechcombankChương Dương)

Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng

Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam – chi nhánh Chương Dương

Trang 3

Hy vọng rằng, với những vấn đề về lý thuyết và thực tiễn về chất lượnghoạt động tín dụng được trình bày trong chuyên đề này sẽ góp phần làm sáng

tỏ phần nào thực trạng, chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Kỹthương Việt Nam, đồng thời, với việc đưa ra một số giải pháp nhằm nâng caochất lượng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại với mong muốnđóng góp một phần lý luận nhỏ bé của mình vào sự phất triển của hoạt độngtín dụng Ngân hàng Thương mại nói riêng và sự nghiệp phát triển toàn ngànhngân hàng nói chung

Trang 4

Vậy Ngân hàng là gì? Chức năng của nó là gì? Xung quanh những vấn

đề này hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau.Có quan điểm cho rằngNgân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với các hoạt động chủ yếu là huyđộng, cho vay, thanh toán Quan điểm khác lại cho rằng Ngân hàng là một tổchức trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là chuyển tiết kiệm thànhđầu tư

Và quan điểm được hầu hết các nhà quản lý Ngân hàng và các nhàkhoa học nghiên cứu về Ngân hàng, đồng tình đó là:

“Ngân hàng là loại hình tài chính cung cấp một dịch vụ tài chính đadạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thựchiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất cứ một tổ chức kinh doanh nàotrong nền kinh tế”

Trang 5

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của các Ngân hàng Thương Mại

Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trongnền kinh tế Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêudùng (cá nhân, hộ gia đình) và với hầu hết các cơ quan chính quyền địaphương (thành phố, tỉnh, )

Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, từ người bán rauquả cho tới người kinh doanh xe ô tô, Ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng

cơ bản phục vụ cho việc mua hàng hoá dự trữ hoặc mua ô tô trưng bày Khidoanh nghiệp và người tiêu dùng cần phải thanh toán cho các khoản hàng hoá,dịch vụ hay cần lập kế hoạch tài chính, họ thường sử dụng các phương tiệnthanh toán, hay thường sử dụng các lời tư vấn của Ngân hàng

Ngân hàng được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử hìnhthành và phát triển của nền sản xuất hàng hoá Quá trình phát triển kinh tế làđiều kiện và đòi hỏi sự phát triển Ngân hàng, đến lượt mình sự phát triển của

hệ thống Ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triểnthông qua các nghiệp vụ mà nó thực hiện

Nghề Ngân hàng sơ khai bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiềncủa các thợ vàng – Mô hình Ngân hàng của những người thợ vàng, hoặc Ngânhàng của những kẻ cho vay nặng lãi, đầu tiên đã dùng vốn tự có để tài trợ chohoạt động của họ và khách hàng của họ chủ yếu là những cá nhân giàu có nhưquan lại, địa chủ,… nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng Sau đó mở rộng ra chovay đối với vua chúa, nhằm tài trợ một phần nhu cầu chi tiêu cho chiến tranh

Sau đó, loại hình Ngân hàng này đã sụp đổ do sự chủ quan, ham siêulợi nhuận, chấp nhận rủi ro cao của các chủ Ngân hàng

Sự sụp đổ này đã gây khó khăn rất lớn cho hoạt động thanh toán, ảnhhưởng xấu đến hoạt động buôn bán Hơn thế nữa, lãi suất của những khoảnvay lại quá cao cho nên chi phí để sử dụng nguồn vốn này rất cao Trước tìnhhình đó, một số nhà buôn đã nhóm lại với nhau và hình thành ra Ngân hàng

Trang 6

phục vụ cho chính bản thân họ và một số nhà buôn quen biết khác và gọi làNgân hàng Thương Mại (NHTM) Như vậy NHTM được hình thành xuất phát

từ Tư bản thương nghiệp và hoạt động của nó gắn liền với quá trình phát triểncủa Tư bản thương nghiệp

Ngân hàng Thương Mại lúc này đã có những khác biệt tương đối lớn sovới Ngân hàng của người thợ vàng, an toàn hơn do hình thức cho vay củaNgân hàng Thương Mại chủ yếu là chiết khấu thương phiếu, là một loại giấy

tờ có giá, đảm bảo cho khả năng hoàn trả của khoản vay chứ không phải làhình thức thấu chi như Ngân hàng của người thợ vàng, tuy thời hạn vay mớidừng lại ở các khoản vay ngắn hạn dựa trên quá trình luân chuyển của hànghoá và đối tượng vay không bao gồm người tiêu dùng, vay trung, dài hạn Sau

đó cùng với quá trình phát triển thăng trầm, sự đổ vỡ cộng với sự phát triểncủa kinh tế khoa học công nghệ, hoạt động của Ngân hàng đã có bước pháttriển rất nhanh Trước hết, đó là sự tách riêng Ngân hàng Trung ương và Ngânhàng Thương Mại, sự đa dạng hoá các loại hình Ngân hàng và các hoạt độngNgân hàng: các loại hình tài trợ cho vay, các phương thức huy động vốn ngàycàng được đa dạng hoá, đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu đa dạngngày càng cao hơn của nền kinh tế Không những thế, khi khoa học công nghệtrở thành một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất xã hội thì hàng loạtcác dịch vụ mới ra đời: dịch vụ ATM, dịch vụ Ngân hàng tại gia,…

Quá trình phát triển này không những làm gia tăng số lượng mà cònlàm tăng quy mô của mỗi Ngân hàng Quá trình tích tụ và tập trung vốn đã tạo

ra những Ngân hàng cực lớn, kèm theo nó là các thành công trong việc thựchiện các nghiệp vụ mà bản thân Ngân hàng không trực tiếp thực hiện theo quyđịnh của pháp luật Quá trình phát triển này đã và đang tạo ra mối liên hệ ràngbuộc ngày càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các Ngânhàng Các hoạt động Ngân hàng xuyên quốc gia và đa quốc gia đã và đang tạo

ra sự liên kết giữa các Ngân hàng ở trong cùng một nước và giữa các nướcvới nhau tạo ra những thuận lợi căn bản trong việc tạo ra các chính sách

Trang 7

chung hoặc tương thích để kiểm soát chung, để kết nối và tạo sự thống nhấttrong điều hành hệ thống Ngân hàng trong mỗi nước và vận hành hệ thốngNgân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế.

Lịch sử phát triển của Ngân hàng, không phải là không phải trải quanhững thăng trầm, những cuộc khủng hoảng và hoảng loạn trong mỗi quốcgia, khu vực và thế giới, gây ra những tổn thất không phải là nhỏ cho nền kinh

tế và gây ra những biến động lớn trong hoạt động chính trị song sau tất cảnhững gì mà Ngân hàng đã làm được đối với sự phát triển của lịch sử nhânloại thì sự tồn tại và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế củamỗi nước và trên toàn thế giới là điều không ai phải nghi ngờ

1.1.3 Chức năng của các Ngân hàng Thương Mại

1.1.3.1 Trung gian t i chính ài chính

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu làchuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổchức trong nền kinh tế: các cá nhân và các tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu,tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là nhữngngười cần bổ sung vốn; loại cá nhân và tổ chức thứ hai là tổ chức cá nhânthặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn chi tiêu chohàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm và nếu như không cóNgân hàng và các trung gian tài chính khác thì để cho những người cần vốn

có cơ hội đầu tư tốt và người có vốn mà lại không có cơ hội đầu tư tốt là rấtkhó, tốn kém nhiều chi phí, lại khó tạo ra được sự phù hợp về quy mô, thờigian vay có thể dẫn đến khả năng bỏ qua cơ hội đầu tư tốt của cả người đi vay

và người cho vay Ngân hàng và các trung gian tài chính khác xuất hiện đãlàm tăng thu nhập cho người tiết kiệm Từ đó mà khuyến khích tiết kiệm đồngthời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư từ đó mà khuyến khích đầu tư Vìvậy mà giải quyết được những khó khăn nêu trên Hơn thế nữa, Ngân hàngcòn có một đội ngũ cán bộ có năng lực cao, có khoa học công nghệ hàng đầu

Trang 8

Do yêu cầu đặc tính của ngành Ngân hàng, nên khả năng thu thập và xử lýthông tin của Ngân hàng có ưu thế rất lớn, đây cũng là nhân tố góp phần làmgia tăng vai trò không thể thiếu được của Ngân hàng trong hoạt động của cảnền kinh tế.

1.1.3.2 Tạo phương tiện thanh toán

Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận Thứnhất là tiền giấy trong lưu thông (Mo) Thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửigiao dịch của các khách hàng tại Ngân hàng Thứ ba là tiền gửi trên các tàikhoản, tiền gửi tiết kiệm, và tiền gửi có kỳ hạn Do vậy không phải như Ngânhàng của người thợ vàng – tạo phương tiện thanh toán thông qua việc pháthành các giấy nợ với khách hàng hay in tiền kim loại, Ngân hàng ngày nay,khi mà điều kiện thanh toán qua ngân hàng phát triển ngày càng nhanh, Ngânhàng và khách hàng nhận thấy nếu khách hàng có được số dư trên tài khoảntiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theoyêu cầu Và khi Ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toáncủa khách hàng tăng lên Do đó bằng việc cho vay Ngân hàng đã tạo raphương tiện thanh toán (tham gia tạo ra M1)

Tương tự như vậy toàn bộ hệ thống Ngân hàng có thể tạo ra khối lượngtiền gửi (tạo ra phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay

1.1.3.3 Trung gian thanh toán

Ở hầu hết các quốc gia hiện nay, Ngân hàng đã trở thành trung gianthanh toán lớn nhất hiện nay Thông qua các dịch vụ thanh toán như thanhtoán bằng séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, các loại thẻ,… Ngân hàng sẽ thaymặt khách hàng thanh toán hàng hoá và dịch vụ Không những Ngân hàngcung cấp cho khách hàng những dịch vụ thuận tiện, nhanh chóng, tiết kiệm

mà thông qua những ưu thế về khoa học – công nghệ Các Ngân hàng còntham gia thanh toán bù trừ thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc qua trung

Trang 9

tâm thanh toán bù trừ và công nghệ càng được mở rộng thì hiệu quả hoạtthanh toán ngày càng cao.

1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm

Xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của các trung gian tài chính nóichung, và của các NHTM nói riêng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hộiloài người là điều không thể không nhắc tới, thế nhưng những tồn tại ở đâu đó

có một nghịch lý đó là không phải ai, không phải bất cứ một công dân nàocũng có thể hiểu một cách rõ ràng và đầy đủ về khái niệm, về hoạt động tíndụng của các NHTM và đứng trên các giác độ nghiên cứu khác nhau hoạtđộng tín dụng cũng được định nghĩa khác nhau xung quanh nội dung chính đó

là quan hệ vay mượn bao gồm cả đi vay và cho vay Tuy nhiên, khi gắn vớimột chủ thể cụ thể như NH thì tín dụng chỉ bao hàm nghĩa cho vay chứ khôngbao hàm hoạt động đi vay của NH

Theo điều 49 luật các TCTD thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 dochủ tịch nước Trần Đức Lương ký công bố ngày 26 tháng 12 năm 1997 “tổchức tín dụng được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thứccho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh chothuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN”

Trong đó cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để kháchhàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi bằngcác nghiệp vụ đã nêu trên Bên cạnh đó, nếu xem xét tín dụng như một chứcnăng cơ bản của NH thì nó sẽ được hiểu như sau:”tín dụng là một giao dịch

về tài sản (tiền hoặc tài sản, hàng hoá) giữa bên cho vay (NH về các định chếtài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác),trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong mộtthời gian nhất định, theo thoả thuận bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô

Trang 10

điều kiện cả vốn gốc và lói cho bờn cho vay khi đến hạn thanh toỏn” - giỏotrỡnh tớn dụng NH – Học viện Ngõn hàng.

1.2.2 Đặc điểm

- Tín dụng có tính thời hạn: Xuất phát từ tính chất tạm thời của quá trìnhchuyển giao quyền sử dụng vốn bắt nguồn ngay từ tính chất của hoạt độnghuy động vốn của các Ngân hàng thơng mại Tín dụng luôn gắn liền với quátrình luân chuyển vốn từ hình thái giá trị sang hình thái hiện vật và ngợc lại,với chu kì của quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng

- Tín dụng có tính hoàn trả: Do chiụ sự chi phối của tính chất thời hạn,nguồn vốn mà bản thân ngân hàng đi vay cũng phải thanh toán theo nhữngquy định cụ thể, hoạt động cho vay của Ngân hàng cũng phải có những ràngbuộc nhất định đối với khách hàng vay để đảm bảo thu hồi vốn theo kế hoạch

định sẵn,nhằm đảm bảo khả năng thanh toán nợ cho các chủ nợ khác củaNgân hàng

- Tín dụng có tính tạm thời: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tìnhtrạng thừa thiếu vốn tạm thời rất thờng xuyên xảy ra.Và để đảm bảo hiệu quảcho công tác sử dụng vốn,các đơn vị kinh tế sẽ phải nhờ đến Ngân hàng nh lànơi để gửu tiền vào để lấy lãi khi guồn vốn d thừa và là nơi đáp ứng tốt nhấtnhững nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh trong trờng hợp đơn vị đó rơivào tình trạng thiếu vốn

gian xỏc định: Cỏc khoản tớn dụng của Ngõn hàng chủ yếu cú nguồn gốc từcỏc khoản tiền gửi của khỏch hàng và cỏc khoản Ngõn hàng vay mượn Ngõnhàng phải cú trỏch nhiệm hoàn trả cả lói lẫn gốc như đó cam kết Do vậy Ngõnhàng luụn yờu cầu người nhận tớn dụng phải thực hiện đỳng cam kết này Đõy

là điều kiện tồn tại và phỏt triển của Ngõn hàng

Trang 11

 Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mụcđích được thỏa thuận với Ngân hàng, không trái với những quy định của phápluật và các quy định khác của Ngân hàng cấp trên Luật phát quy định phạm

vi hoạt động cho các Ngân hàng, trên cơ sở đó mỗi Ngân hàng có thể có mụcđích và phạm vi hoạt động riêng, cụ thể hơn Mục đích tài trợ được ghi rõtrong hợp đồng tín dụng đảm bảo Ngân hàng không tài trợ cho các hoạt độngtrái pháp luật và việc tài trợ do là phù hợp với chính sách của Ngân hàng

quả Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất.Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay chứng minh cho khả năngthu hồi được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ cho Ngân hàng Các khoản tài trợcủa Ngân hàng phải gắn liền với tài sản hình thành của người vay Do vậy,nếu xét thấy không hoặc kém an toàn, Ngân hàng đòi hỏi người vay phải cótài sản đảm bảo

1.2.4.Vai trò

Trên cơ sở phát huy được các chức năng vốn có của Ngân hàng, tín dụngđóng một vai trò hết sức quan trọng đời sống kinh tế xã hội của không chỉ quốcgia đó mà còn ngay cả đối với các nước mà nó có quan hệ giao dịch hay đặt chinhánh

1.2.4.1.Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế

 Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển

Tín dụng cho đến thời điểm hiện nay vẫn giữ chức năng kinh tế hàngđầu của các NHTM Bất kỳ một tổ chức cá nhân nào muốn hoạt động sản xuấtkinh doanh được diễn ra liên tục, đòi hỏi đều phải có vốn kinh doanh(Vốn cốđịnh và vốn lưu động) và các nguồn vốn này phải tồn tại đồng thời phải tồntại dưới ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lưu thông Trong thực tế, sản xuấtkinh doanh không phải lúc nào doanh nghiệp cũng cần một lượng vốn bìnhquân như nhau, nên hiện tượng thừa thiếu vốn tạm thời là tình trạng thường

Trang 12

xuyên xảy ra.Từ đó tín dụng đã góp phần điều tiết nguồn vốn, tạo điều kiệncho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn.

- Tín dụng Ngân hàng đóng góp vai trò quan trọng trong việc giải quyếtvốn tín dụng ứ đọng ở nơi này bù đắp sự thiếu hụt tạm thời ở nơi khác Đặcbiệt đối với các doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng sản xuất thì yêu cầu vềvốn là rất lớn và là mối quan tâm hàng đầu được đặt ra đối với các nhà quản

lý của các doanh nghiệp Bởi lẽ để đẩy mạnh tiến độ phát triển sản xuất khôngthể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà các doanh nghiệp phải biết tận dụngnhững dòng chảy khác của vốn trong xã hội Tín dụng Ngân hàng lúc này sẽđóng vai trò là trung tâm đáp ứng những nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư vàphát triển Như vậy,tín dụng vừa góp phần đẩy mạnh tốc độ tập trung và tíchlũy vốn cho nền kinh tế, vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời gianhuy động vốn cho đầu tư mở rộng sản xuất Trong phạm vi đó, tín dụng giữvai trò điều hòa vốn mà không làm tăng thêm hoặc giảm đi tổng nhu cầutrong nền kinh tế

Thứ hai, tín dụng Ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế Trongnền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được giao quyền tự chỉnh trong xácđịnh ba vấn đề kinh tế cơ bản là: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào? vàsản xuất phục vụ cho đối tượng khách hàng nào? Nghĩa là doanh nghiệp đượcchủ động lựa chọn lĩnh vực đầu tư, quy mô đầu tư theo quy định của pháp luật

và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp Nhưng trên phạm vitoàn bộ nền kinh tế, thì một vấn đề nữa cần phải được đặt ra đó là: cần phảitạo ra sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các vùng, lãnh thổ, giữa các ngành

và trong nội bộ từng ngành, nhất là ở các ngành mũi nhọn và ngành kém pháttriển nhưng cần thiết cho nền kinh tế Thông qua chính sách tín dụng, lãi suất

sẽ được sử dụng như là một công cụ để điều tiết nhu cầu đầu tư cho phát triển,

từ đó góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế chung

Trang 13

Thứ ba, tín dụng Ngân hàng tác động đến chế độ hoạch toán kinh tế, làcông cụ để bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp Các doanhnghiệp có sử dụng vốn tín dụng phải chịu chi phí trả lãi nên phải tính toánhiệu quả chi phí sản xuất: đúng, đủ, kịp thời và chính xác nhằm giảm giáthành sản phẩm, tăng vòng quay vốn để tạo ưu thế cho bản thân doanh nghiệpmình trong cạnh tranh, sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp gópphần nâng cao hiệu quả hoạt động chung của cả nền kinh tế Cũng vì thế màcác ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn bỏ ra các thì sẽ thu hútđược nhiều nguồn lực đầu tư vào do đó cơ cấu kinh tế sẽ bị dịch chuyển.Thêm vào đó, trong điều kiện hiện nay cùng với sự phân công hợp tác quốc tếngày một sâu rộng thì quá trình điều tiết vốn không chỉ giới hạn trong phạm

vi một quốc gia mà hình thành nên các quan hệ tín dụng quốc tế

+ Tín dụng Ngân hàng góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nướcngoài Đây là nguồn vốn do các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài chuyểnvào trong nước đầu tư trực tiếp tạo ra hàng hóa và dịch vụ Đây là nguồn vốnrất lớn và quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế trong nước, giúp cácdoanh nghiệp trong nước bổ sung nguồn vốn, đầu tư tăng năng lực sản xuất,tăng cường chuyển giao công nghệ, giải quyết việc làm và nâng cao trình độquản lý từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng xuất khẩu và thu ngân sách

+ Thông qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, nền kinh tế trong nước sẽthu hút được một nguồn vốn lớn từ các khoản đi vay nước ngoài: đây lànguồn vốn vay từ các tổ chức tài chính quốc tế lớn trên thế giới: IMF, ADB,WB

+ Trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các doanh nghiệp, tổ chức trongnước và các doanh nghiệp tổ chức nước ngoài thì yếu tố không thể thiếu làhoạt động của các Ngân hàng.Thông qua các nghiệp vụ như: nghiệp vụ bảolãnh, nghiệp vụ L/C ngân hàng sẽ đóng vai trò là người trợ thủ đắc lực chocác doanh nghiệp trong quá trình hội nhập và phát triển

Trang 14

hệ hàng - tiền và hệ thống giá cả bị biến động là điều không thể tránh khỏi.

Do đó, một trong những biện pháp được xem là quan trọng trong việc giúptoàn bộ nền kinh tế nói chung giảm thiểu được những hậu quả do lạm phát gây

ra là thông qua việc tác động vào hoạt động tín dụng Mặt khác tín dụng còntạo điều kiện mở rộng công tác thanh toán không dùng tiền mặt Đây là mộttrong những nhân tố tích cực điều tiết giảm việc sử dụng tiền mặt trong lưuthông, một mặt tín dụng còn góp phần giảm các tiêu cực phát sinh mặt khácgiúp cho NHNN thực hiện tốt chức năng kiểm soát lượng tiền trong lưu thông,giảm bớt những hoạt động kinh tế ngầm

Thông qua cụng cụ lãi suất, tín dụng thực hiện được chức năng điều tiếtđầu tư trong nước thu hút đầu tư nước ngoài và thể hiện chính sách của Đảng

và Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể

 Tín dụng ngân hàng tác động tích cực đến quá trình cải thiện và

nâng cao đời sống của dân cư; đặc biệt là dân cư nông thôn.

Ðịnh hướng đầu tư của tín dụng theo hướng kiên trì thực hiện nguyêntắc tự nguyện cùng có lợi, đảm bảo lợi ích vật chất của người dân, góp phầncải tiến cơ cấu và lượng tiêu dùng trong dân cư và đặc biệt là dân cư nôngthôn, tạo ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và quá trình tái sản xuất laođộng, thoả mãn mọi nhu cầu vật chất, văn hoá, giáo dục, y tế của cư dân, cảithiện các quan hệ xã hội thông qua việc cho vay qua các tổ chức đoàn thể xãhội không những thế ngân hàng hiện nay còn đưa ra rất nhiều loại sản phẩmmới: sản phẩm”ô tô xịn”, sản phẩm”nhà mới”, sản phẩm”cho vay du học”,v.v, đã giúp cho người tiêu dùng chủ dộng hơn và sớm thực hiện được nhữngnhu cầu tiêu dùng cũng như nhu cầu sinh hoạt của mình và trong một tương

Trang 15

lai không xa, các sản phẩm này sẽ còn được áp dụng với cả những dân cư khuvực nông thôn, dân cư có thu nhập thấp, trên cơ sở dó giải quyết hiệu quả cácvấn đề xã hội.

1.2.4.2 Tác động của tín dụng ngân hàng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại

- Tín dụng ngân hàng cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng, tạothế mạnh cho ngân hàng trong quá trình cạnh tranh

Tín dụng ngân hàng có chất lượng tốt sẽ tạo thêm được các nguồn thu

từ việc tăng vòng quay vốn tín dụng và thu hút được nhiều khách hàng bằng

sự đa dạng của sản phẩm, dịch vụ tạo ra một hình ảnh tốt về ngân hàng

- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàngbởi nhiều chất lượng tín dụng ngân hàng tốt cho phép ngân hàng có nhữngkhách hàng trung thành, trên cơ sở dó tạo ra những khoản lợi nhuận bổ sungvào nguồn vốn cho ngân hàng

Tín dụng ngân hàng góp phần củng cố các mối quan hệ xã hội trongngân hàng thông qua việc tạo ra điều kiện làm việc tốt nhất, cải thiện đời sốngcho cán bộ công nhân viên, tạo điều kiện để họ yên tâm học tập và công tác

1.2.4.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với người được cấp tín dụng

Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh luôn là một yếu tố khốc liệt

mà các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được, phải đương đầu để làmtốt được điều đó, mỗi doanh nghiệp không những phải biết phát huy, sử dụnghợp lý những nguồn lực sẵn có mà còn phải biết tận dụng những nguồn lực từbên ngoài, đặc biệt là nguồn lực về vốn Tín dụng ngân hàng đã giúp cácdoanh nghiệp giải quyết tốt bài toán nan giải về vốn của mình Hiện nay để cóthể thực hiện được các quyết định đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, cácnguồn vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng được đó là: nguồn vốn tự có (hay

Trang 16

vốn cổ phần), hoặc vốn đi vay Chi phí vốn bình quân của doanh nghiệp trongtrường hợp sử dụng cả hai loại nguồn vốn này được tính theo công thức:

Ko = Ke * We + Kd * Wd

Trong đó:

Ke : giá vốn (chi phí vốn) cổ phần thể hiện bằng mức lợi nhuận màngười sở hữu cổ phần được hưởng với tư cách là người góp vốn

Kd : chi phí sử dụng vốn vay (lãi suất của khoản tiền vay)

Ko : chi phí vốn bình quân của doanh nghiệp

We, Wd: tương ứng là tỷ lệ sử dụng của vốn cổ phần và vốn vay củadoanh nghiệp

Lãi suất tiền vay được tính vào chi phí để khấu trừ thuế, khác với chiphí vốn cổ phần được lấy từ lợi nhuận sau thuế Do vậy nếu sử dụng mức vốnvay ở một mức tỷ lệ hợp lý (thường là dưới 50% tổng vốn đầu tư) sẽ giúpdoanh nghiệp tận dụng được đòn bẩy tài chính do việc vay vốn đem lại thôngqua phần thuế duợc khấu trừ từ chi phí sử dụng vốn vay Tuy vậy, đối vớinguồn vốn tín dụng ngân hàng, không phải lúc nào và với số luợng bao nhiêudoanh nghiệp cũng được đáp ứng và nếu có được đáp ứng thì khi vượt tỷ lệcho phép nó sẽ tạo ra sự tăng thêm của chi phí vốn làm cho hiệu quả dầu tưgiảm đi Do vậy, tín dụng ngân hàng sẽ dặt ra yêu cầu đối với các doanhnghiệp là phải xây dựng cho mình một cơ cấu hợp lý nhằm tối ưu hoá cácnguồn lực, đem lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp Trong điều kiện nước

ta hiện nay, ngân hàng nhà nước đã có quyết định số 1627/ 2001/ qđ-nhnn vềquy chế cho vay đối với các khách hàng, theo quyết định này thì hạn mức chovay đối với các doanh nghiệp không chỉ can cứ vào tỷ trọng vốn vay trongtổng số vốn kinh doanh mà còn căn cứ vào hiệu quả của phương án kinhdoanh Ðiều đó có nghĩa là vốn tdnh giúp các doanh nghiệp đặc biệt là các

Trang 17

doanh nghiệp cổ phần hóa (DNVVN) giảm chi phí vốn, trên cơ sở dó phấnđấu giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thị truờng.

Tín dụng ngân hàng bổ sung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mởrộng hoạt động sản xuất kinh doanh như đã nói ở phần trên, vốn tín dụngngân hàng là phần không thể thiếu đối với việc giải quyết các thiếu hụt tạmthời tại các doanh nghiệp hiện nay Tín dụng ngân hàng không dừng lại ở vaitrò bổ sung nữa mà đã dần trở thành nguồn vốn chủ yếu quan trọng trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhờ có tính linh hoạt của nó

Tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hộilàm ăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, thông suốt quá trìnhlưu thông và nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế Tín dụng ngân hàng còngiúp các doanh nghiệp trang trải các chi phí về đổi mới trang thiết bị, nângcao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị truờng

Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá cácdoanh nghiệp hiện nay

Cũng xuất phát từ vai trò thúc đẩy khả nang cạnh tranh của mình, tíndụng ngân hàng đã tạo ra nhu cầu tập trung vốn là cơ sở dể hình thành cáccông ty cổ phần Ðây là một loại hình doanh nghiệp dựa trên cơ sở góp vốn đểtiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra phong cách làm việc, quản

lý mới trong hệ thống doanh nghiệp, tránh tình trạng trì trệ gây ra những thấtthoát lãng phí lớn cho xã hội

Đối với người tiêu dùng thì tín dụng ngân hàng sẽ giúp họ lựa chọn thờiđiểm, chỉ tiêu tốt nhất, giúp họ thoả mãn tốt nhất những nhu cầu phát sinh.Cũng giống như các doanh nghiệp, người tiêu dùng không phải lúc nào cũngđáp ứng tất cả các nhu cầu của mình và nếu như không có tín dụng ngân hàng

họ sẽ phải chờ dến khi có đủ khả năng thì nhu cầu đã phát sinh mới được đápứng, như vậy nghĩa là nhu cầu của họ dã không được đáp ứng một cách kịp

Trang 18

Như ở trên ta đã thấy được những vai trò quan trọng của tín dụng ngânhàng đối với bản thân ngân hàng, đối với khách hàng và những đóng góp của

nó đối với hoạt động của mỗi quốc gia Các tác động đến các chủ thể trênkhông phải lúc nào cũng tách bạch rõ ràng, riêng rẽ mà nó có mối quan hệmật thiết và tác động qua lại lẫn nhau Do vậy để có thể phát huy được hết vaitrò của hoạt động tín dụng ngân hàng, thì chúng ta cần xem xét chúng trongmối tương quan với các chủ thể trên

1.2.5 Các loại hình tín dụng Ngân hàng thương mại

- Căn cứ theo thời hạn cho vay

+ Cho vay ngắn hạn: là hình thức cấp tín dụng thường có hạn dưới mộtnăm và mục đích sử dụng chủ yếu là để bù đắp sự thiếu hụt vốn tạm thời nhưphục vụ cho thanh toán tiền hàng hoá, tài trợ vốn lưu động hay thanh toánngoại thương,…

+ Cho vay trung hạn: Đây là hìn thức cấp tín dụng có thời hạn từ mộtđến năm năm và thường để đổi mới trang thiết bị, mua sắm máy móc và thờigian khấu hao thường không quá dài để có thể hoàn trả vốn đúng hạn choNgân hàng

+ Cho vay dài hạn: Là khoản cấp tín dụng có thời hạn trên 5 năm vàthường sử dụng để xây nhà xưởng, đầu tư dây chuyền công nghệ với những

dự án sản xuất lớn có thời gian thu hồi vốn dài Các khoản vay này thườngđòi hỏi thế chấp và chịu nhiều rủi ro

- Căn cứ theo khách hàng vay vốn

+ Cho vay các định chế tài chính bao gồm cấp tín dụng cho các Ngânhàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quý tíndụng và các định chế tài chính khác

+ Cho vay các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

+ Cho vay cá nhân

- Căn cứ theo mục đích sử dụng khoản vay

Trang 19

+ Cho vay nhằm mục đích phục vụ sản xuất – kinh doanh.

+ Cho vay nhằm mục đích phục vụ đời sống tiêu dùng

- Căn cứ theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

+ Cho vay không đảm bảo: là loại hình cho vay không có tài sản thếchấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào

uy tín của bản thân khách hàng, đối với những khách hàng tốt, trung thựctrong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thìNgân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng màkhông cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung

+ Cho vay có bảo đảm: Là loại hình cấp tín dụng dựa trên cơ sở các bảođảm như thế chấp hay cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba Đốivới các khách hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng Khi vay vốn đòihỏi phải có bảo đảm, sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêmmột nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn

- Căn cứ theo phương thức cho vay

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: đây là hình thức cấp tín dụng, màNgân hàng và khách hàng cùng ký kết một hợp đồng hạn mức trong đó quyđịnh một khối lượng tín dụng mà khách hàng được phép vay của Ngân hàngtrong một thời gian nhất định, hết thời gian này số còn lại khách hàng chưa sửdụng sẽ không còn giá trị nữa Trong hợp đồng hạn mức có thể bao gồm cácđiều khoản như việc sử dụng vốn vay, lãi suất kỳ hạn trả nợ, cung cấp các báocáo tài chính và các thông tin tài chính và các thông tin về tình hình sản xuấtkinh doanh khác, tài sản đảm bảo, các điều khoản liên quan đến việc chấmdứt hợp đồng chi trả những khoản vay còn tồn đọng Trong thời gian của hợpđồng hạn mức, khách hàng có nhu cầu vay vốn thì chỉ cần nộp đơn xin vay vàlập hợp đồng vay là được Ngân hàng xem xét cho vay theo các nội dung ghitrên hợp đồng hạn mức

Trang 20

+ Cho vay từng lần: đây là hình thức cấp tín dụng mà Ngân hàng vàkhách hàng sẽ ký kết các hợp đồng riêng với mỗi khoản vay khi Ngân hàng

có nhu cầu Mỗi lần ký kết hợp đồng, khách hàng và Ngân hàng sẽ thoả thuậncác nội dung như: số lượng tín dụng, thời hạn khoản vay, lãi suất áp dụng, tàisản đảm bảo,…

+ Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó Ngân hàng cho phép ngườivay được chi trội trên số dư tài khoản thanh toán của mình đến một thời hạnnhất định và trong khoảng thời gian xác định gọi là hạn mức thấu chi Đểđược thấu chi khách hàng phải làm đơn xin Ngân hàng cấp hạn mức thấu chi

và thời gian thấu chi trình lên để Ngân hàng xem xét

+ Cho vây luân chuyển

+ Cho vay trả góp và cho vay gián tiếp

- Căn cứ vào mức độ rủi ro

+ Tín dụng lành mạnh: các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.+ Tín dụng có vấn đề: các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnhnhư: hàng chậm tiêu thụ, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính,…

+ Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn với thờihạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trịlớn

+ Nợ quá hạn khó đòi: nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ kém, tài sảnđảm bảo, trị giá thấp, …

- Phân loại khác

+ Theo ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp,…)

+ Theo đối tượng tín dụng (Tài sản cố định, tài sản lưu động,…)

Trang 21

1.3.Chất lượng tín dụng Ngân hàng thương mại

1.3.1.Quan điểm về chất lượng tín dụng Ngân hàng thương mại

Nếu như quan điểm về tăng trưởng tín dụng được hầu hết các nhà quản lýngân hàng đều thống nhất ở một số nội dung chính được định nghĩa dưới đây:

“Tăng trưởng tín dụng thông thường được hiểu là sự gia tăng đơn thuần về mặt khối lượng tín dụng trong một thời kỳ nhất định Mức tăng trưởng tín dụng có thể duợc thể hiện bằng nhịp độ gia tăng tổng dư nợ tín dụng năm sau so với năm trước”– Tạp chí ngân hàng số 02/2004, thì khái niệm chất lượng tín dụng lại là một

phạm trù rộng và gây ra nhiều tranh cãi Nhưng tựu chung lại các quan điểm do đóđều bao gåm một số nội dung sau: tín dụng ngân hàng cũng là một sản phẩm vàchất lượng của một sản phẩm (dịch vụ) thì lại được biểu hiện ở mức độ thoả mãnnhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính cho người cung cấp tuynhiên, khi chất lượng tín dụng được gắn với chủ thể cụ thể như ngân hàng thì nóđược hiểu là sự dáp ứng những nhu cầu của khách hàng, phù hợp với nhu cầu củaquá trình phát triển kinh tế xã hội và trên cơ sở dó đảm bảo sự tồn tại và phát triểnkhông ngừng cho ngân hàng

Như vậy, chất lượng tín dụng không đơn thuần tạo ra lợi ích cho nhà cungcấp, cho người sử dụng sản phẩm, dịch vụ mà nó còn góp phần to lớn vào sựnghiệp xây dựng và phát triển đất nước, giải quyết các vấn đề xã hội

 Ðối với khách hàng: chất lượng tín dung là sự thoả mãn những nhucầu chi tiêu hợp lý với lãi suất và kỳ hạn hợp lý; thủ tục đơn giản, thuận lợi nhanhchóng đảm bảo thu hút được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các quy tắc,quy trình về tín dụng

 Đối với ngân hàng thương mại (NHTM): chất lượng tín dụng thể hiện

ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực của bảnthân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh và thực hiện đúng theonhững nguyên tắc tín dụng

Trang 22

Theo nghĩa hẹp thì chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại được thểhiện qua tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, nếu tỷ lệ này càng cao có nghĩa làchất lượng tín dụng thay đổi theo chiều hướng không tốt và ngược lại.

 Đối với nền kinh tế - xã hội: khoản tín dụng có chất lượng nghĩa

là nó phải hỗ trợ tốt cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hànghoá, góp phần giải quyết công ăn, việc làm, khai thác và sử dụng hiệu quảmọi nguồn lực tiềm ẩn của đất nước, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trungsản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế

Cùng với quá trình tồn tại và phát triển của ngân hàng, cùng với nhữngđóng góp to lớn của khoa học- công nghệ và kỹ thuật trong công tác phát triểnsản phẩm mới của ngân hàng, tín dụng vẫn khẳng định được vai trò to lớn của nóđối với bản thân ngân hàng, với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước: tíndụng ngân hàng vẫn đóng góp 60 – 80% vào tổng tài sản có và tạo ra lợi nhuậnchủ yếu cho ngân hàng tín dụng ngân hàng vẫn là một điều kiện không thể thiếu

để dảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng, tuy ở mỗi ngânhàng, ở mỗi thời kỳ khác nhau thì mức độ tập trung vào nghiệp vụ này có khácnhau

Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng chỉ có thể phát huy được vai trò to lớncủa nó khi nó được hiểu là khoản tín dụng có chất lượng mà thôi, trường hợpngược lại nó sẽ tạo ra những tổn thất rất lớn cho ngân hàng và cho toàn xãhội

Nếu đứng trên góc độ ngân hàng, thì nâng cao chất lượng tín dụng sẽdem lại một số tác động tốt sau:

- Chất lượng tín dụng ngân hàng được nâng cao sẽ góp phần đảm bảogia tăng lợi nhuận cho ngân hàng

Trang 23

- Nâng cao chất lượng tín dụng có nghĩa là ngân hàng có khả nang thuhồi nợ dầy đủ và đúng hạn, nhờ dó ngân hàng có điều kiện mở rộng khả năngcung cấp tín dụng cũng như các dịch vụ ngân hàng khác thông qua khả nangtăng vòng quay của vốn.

- Nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng sẽ giúp ngân hàng duy trìđược các khách hàng truyền thống và thu hút được các khách hàng tiềm năng,tạo ra một biểu tượng tốt về hình ảnh và uy tín của ngân hàng, nâng cao khảnăng cạnh tranh trên thị truờng trong nước và vươn ra thị truờng quốc tế

Những tác động to lớn trên sẽ góp phần cải thiện tình hình tài chính củangân hàng, tạo ra những ưu thế cho ngân hàng trong cạnh tranh, do vậy, việcnâng cao chất lượng tín dụng là một tất yếu khách quan vì sự tồn tại và pháttriển ổn định lâu dài của các ngân hàng thương mại

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng NHTM

Ðể thực hiện các mục tiêu nâng cao CLTD của mình, các ngân hàngkhông những chỉ dựa vào các chỉ tiêu định týnh mà cần phải xây dựng một hệthống các chỉ tiêu định lượng Trên cơ sở đó, ngân hàng mới có thể có cơ sởtin cậy để phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của ngân hàngmình, qua đó tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng tín dụngcho phù hợp với yêu cầu của khách hàng, của xã hội đối với sản phẩm tíndụng

- Nhóm chỉ tiêu định lượng

+ Doanh số cho vay: được tính bằng cách cộng dồn các khoản cho vaytrong một niên độ kế toán hay trong một kỳ tính nhất định, chỉ tiêu này phảnánh tổng lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân cho khách hàng vay Con sốnày phản ánh xu hướng hoạt động tín dụng của ngân hàng trong từng thời kỳ.Đối với từng đối tượng khách hàng cụ thể có các doanh số phát vay khácnhau

Trang 24

+ Dư nợ tín dụng: được xác định bằng tổng dư nợ tại một thời điểmnhất định (thông thường là vào cuối năm kế toán).

+ Chỉ tiêu thu lãi tín dụng: chỉ tiêu này phản ánh nguồn thu từ cho vay củacác ngân hàng thương mại, là nguồn để chia lãi cổ phần và bổ sung vốn hoạtđộng

+ Doanh số thu nợ: được tính bằng cách cộng dồn các khoản thu nợtrong một niên độ kế toán, chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đãcho khách hàng vay và đã được hoàn trả trong một thời kỳ

+ Ðối với từng khách hàng cụ thể còn có thêm chỉ tiêu dư nợ dối vớiloại khách hàng đó trên tổng dư nợ trên cơ sở của chỉ tiêu này, ngân hàng sẽdiều chỉnh cho phù hợp với chính sách của ngân hàng qua từng thời kỳ đốivới các khách hàng thuộc khu vực kinh tế tu nhân thì tỷ lệ này là dư nợ dốivới khu vực kinh tế tu nhân trên tổng dư nợ

+ Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ: xác định bằng dư nợ cho vay cuối kỳ trừ số

du nợ dầu kỳ và chia cho số du nợ dầu kỳ

Nhóm chỉ tiêu về tang trưởng tín dụng cho thấy khả năng của ngânhàng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, khả năng cạnh tranh và

uy tín của ngân hàng trong hoạt động tín dụng, do vậy nó là chỉ tiêu cần phảiđược xem xét một cách kỹ luỡng trong mối liên hệ với chất lượng tín dụng

- Nhóm chỉ tiêu về nợ quá hạn

Bao gồm một số chỉ tiêu chính sau:

+ Nợ quá hạn/tổng dư nợ

+ Nợ quá hạn khó đòi/tổng dư nợ

+ Nợ quá hạn khó đòi/tổng nợ quá hạn

Trang 25

Trong đó tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư

nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuốitháng, cuối quý hay cuối năm

Nợ quá hạn có khả năng thu hồi là những khoản nợ mà chủ thể vay vẫn

có thể trả được cho ngân hàng Khoản quá hạn này là do sự khó khăn tạm thời

về mặt tài chính hoặc do trong quá trình ký kết hợp đồng tín dụng chưa xemxét một cách cụ thể về chu kỳ vận động của đồng vốn đầu tư, thu nợ khikhách hàng chưa kết thúc chu kỳ kinh doanh

Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi là những khoản vay nợ màkhách hàng vay khó có khả năng trả duợc nợ cho ngân hàng, ngân hàng cónguy cơ mất vốn và lãi cho vay là rất lớn Nguyên nhân của những khoản vaynày có thể do khách hàng vay cố tình lừa đảo hoặc do khách hàng lâm vàotình trạng khủng hoảng tài chính trầm trọng, phá sản

Chỉ tiêu nợ quá hạn là một chỉ tiêu cực kỳ quan trọng để do lường chấtlượng nghiệp vụ tín dụng Một ngân hàng được xem là một ngân hàng có chấtlượng tín dụng tốt khi tỷ lệ nợ quá hạn của nó nhỏ hon hoặc bằng 5% và tỷ lệ

nợ quá hạn khó đòi trên tổng nợ quá hạn là nhỏ và ngược lại với một ngânhàng có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ lớn hơn 5% và tỷ lệ nợ quá hạn quáđòi trên tổng nợ quá hạn cao

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu này để dánh giá thì không phải lúcnào cũng mang lại hiệu quả cao và chính xác do tỷ lệ này bị tác động rất lớncủa các hoạt động cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng quyđịnh

- Nhóm chỉ tiêu về nợ có đảm bảo

Tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ cuối cùng của ngân hàng đối vớikhách hàng vay, khi khách hàng này lâm vào tình trạng mất khả nang thanhtoán, làm ăn thua lỗ, phá sản Bởi vậy, nếu một tỷ lệ lớn các khoản nợ quá hạn

Trang 26

hồi vốn sẽ cao hơn, nghĩa là khoản cho vay sẽ an toàn hơn và chất lượng tíndụng của ngân hàng đó sẽ cao hơn Chỉ tiêu này được xác định dựa trên tỷ lệ

nợ có, tài sản đảm bảo nghĩa là bằng dư nợ quá hạn có tài sản đảm bảo trêntổng dư nợ quá hạn

+ Để phản ánh chính xác hơn khả nang thu hồi nợ từ tài sản đảm bảo,ngân hàng sẽ phải tiến hành phân loại tài sản đảm bảo theo một số tiêu thức:

có đầy đủ hay không có giấy tờ pháp lý, khả năng thanh lý của tài sản Tuynhiên, chỉ tiêu trên mới chỉ phản ánh khả nang chứ chưa phải là số vốn thực tếthu hồi được từ tài sản đảm bảo Do vậy, ngân hàng nên sử dụng đồng thời chỉtiêu này với chỉ tiêu tỷ lệ thanh toán nợ từ tài sản đảm bảo được đo bằng sốtiền thực tế thu được từ khai thác tài sản đảm bảo chia cho tổng dư nợ quá hạncủa các khoản vay có tài sản đảm bảo

+ Chỉ tiêu tốc độ chu chuyển vốn tín dụng (vòng quay vốn tín dụng):

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng chovay mấy lần trong một năm chỉ tiêu này càng lớn có nghĩa là nguồn vốn củangân hàng đã được chuyển nhanh tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinhdoanh

Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này quá cao sẽ làm cho chi phí của ngân hàng

do lãi thu về không đủ bù đắp những chi phí phát sinh từ những khoản tíndụng trên

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại

1.3.3.1 Nhóm nhân tố về phía ngân hàng

Trang 27

Chính sách tín dụng phản ánh định hướng phát triển cơ bản đối với hoạtđộng tín dụng của mỗi ngân hàng qua từng giai đoạn phát triển cụ thể, là kimchỉ nam cho hoạt động tín dụng Để dảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng,ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng phù hợp với nhu cầu của thị truờng(nhu cầu phát triển của nền kinh tế) Với từng đối tượng khách hàng qua từngthời kỳ và phù hợp với đường lối phát triển của đảng và nhà nước đồng thờikết hợp được lợi ích của cả nguời gửi tiền, ngân hàng và người đi vay tiền

Chính sách tín dụng của mối ngân hàng qua từng thời kỳ còn tác độngđến chất lượng tín dụng thông qua nội dung của quy trình tín dụng: đây làtrình tự tổ chức thực hiện các nội dung kỹ thuật, nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cáchlàm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộcchức năng, nghiệp vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có liên quan.Quy trình tín dụng là một nhân tố mà tính khoa học hợp lý của nó sẽ góp phần

to lớn trong việc tạo ra một khoản vay có chất lượng cao

- Chất lượng thẩm định dự án

Thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét một cách khách toàn diện cácnội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án trước khi raquyết định đầu tư nhằm giúp cho ngân hàng rút ra được các kết luận chínhxác về tính khả thi của dự án Từ đó, ra các quyết định cho vay Thêm vào đó,công tác thẩm định dự án còn giúp ngân hàng thuận tiện hơn trong quá trìnhkiểm tra, giám sát khoản vay, v.v, thông qua việc so sánh giữa các chỉ tiêu kếhoạch và các chỉ tiêu bên vay thực hiện được

- Tổ chức nhân sự:

Con người luôn là một yếu tố vô cùng quan trọng quyết định sự thànhbại trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động củangành ngân hàng nói riêng Ðặc biệt, trong thời đại ngày nay khi mà khoa họcchông nghệ dã trở thành lực lượng sản xuất chính thì hơn bao giờ hết, yếu tốcon người càng khẳng định được vị trí trung tâm của nó: yếu tố con người vừa

Trang 28

là chủ thể của quá trình sản xuất kinh doanh đồng thời cũng lại là mục tiêucuối cùng của mọi quá trình sản xuất kinh doanh đó là phục vụ ngày càng tốthơn nhu cầu ngày càng cao hơn của con người Trong ngành ngân hàng, yếu

tố con người là một yếu tố không thể thiếu trong việc tạo ra các khoản tíndụng tốt thông qua các công tác xúc tiến tiếp xúc, đặt quan hệ giao dịch, kiểmtra giám sát khách hàng và thu đầy đủ cả gốc và lãi số tiền đã phát vay Do

đó, muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, đặc biệt là trong hoạtđộng tín dụng, Ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, đượcđào tạo bài bản, tinh thông nghiệp vụ, có kiến thức sâu về nhiều lĩnh vực, nắmvững các văn bản pháp luật có liên quan và trong quá trình sử dụng cần phảithường xuyên xem xét, bố trí, bồi dưỡng kiến thức phù hợp với yêu cầu, nănglực cña mỗi người, tạo điều kiện để họ bắt kịp được sự phát triển khôngngừng của nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó, người cán bộ Ngân hàng còncần phải có tư cách đạo đức tốt, liêm khiết, tôn trọng pháp luật và các quyđịnh của Ngân hàng Không chạy theo lợi ích riêng trước mắt mà cấu kết vớikhách hàng rút tiền của Ngân hàng gây thiệt hại không những cho riêng hệthống Ngân hàng mà còn cho toàn bộ nền kinh tế

- Hệ thống thu nhập và xử lý thông tin tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng của các Ngân hàng rất đadạng, phức tạp, từ doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp hỗn doanh, doanhnghiệp tư nhân đến hộ gia đình; từ khu vực sản xuất vật chất đến các hoạtđộng dịch vụ, du lịch Yếu tố đầu tiên mà các Ngân hàng dựa vào để đánh giámức độ rủi ro tín dụng, từ đó mà quyết định có cấp tín dụng hay không, là sựhiểu biết nhất định về khách hàng Mức độ hiểu biết về khách hàng, phụ thuộcvào lượng thông tin thu thập được và xử lý hiệu quả các thông tin đó Cácthông tin đó bao gồm hai loại: thông tin đó bao gồm hai loại: Thông tin tàichính và thông tin phi tài chính Thông tin tài chính phản ánh tình hình tàichính và do đó giúp xác định cụ thể khả n¨ng hoàn trả của khách hàng, giúpcác cán bộ tín dụng phân tích tính tổng của tài sản, khả năng thanh toán, khả

Trang 29

năng sinh lời, điểm hoà vốn, dự toán thu chi tiền mặt, các thông tin này đượcphản ánh qua các báo cáo tài chính cả trong quá khứ và hiện tại, danh mục tàisản có thể dùng làm đảm bảo tín dụng, các bản kế hoạch và dự toán và cácthông tin thông qua các Ngân hàng, các doanh nghiệp khác, các cơ quan quản

lý, từ các phương tiện thông tin đại chúng đã có quan hệ, bài viết với kháchhàng Đối với các khoản vay có đảm bảo thì cũng cần lưu ý đến khả năngthương mại của tài sản đảm bảo, dự báo trước diễn biến giá cả tài sản đảmbảo trên thị trường, còn thông tin phi tài chính là loại thông tin phản ánh mụcđích sử dụng về việc khách hàng có thiện chí hoàn trả khoản tín dụng haykhông? đó là các thông tin có tính trực giác, trong quá trình tiếp xúc, phỏngvấn khách hàng là chủ yếu và đóng vai trò quan trọng Đặc biệt, việc cán bộtín dụng đi khảo sát, nghiên cứu tại cơ sở của người vay giúp ích rất nhiềutrong việc thu thập thông tin có tính chất định tính về khách hàng, không thểhiện thành con số cụ thể nhưng nó lại giúp hình dung khá dễ dàng về tìnhtrạng hiện thời của khách hàng Ví dụ như việc quan sát tình hình hoạt động ởvăn phòng kho bãi, chú ý chỗ làm việc của nhân viên kế toán, văn phòng làmviệc của nhân viên kế toán, tiếp xúc và kế cận trực tiếp với các lãnh đạo hiệntại

Trên cơ sở những thông tin đó các Ngân hàng sẽ quyết định có cấp tíndụng cho khách hàng hay không? Và nhờ đó Ngân hàng có thể tăng cườngthêm, như vậy sẽ quyết định đến tính an toàn của khoản vay Thực hiện tốtcông tác thu thập và xử lý thông tin, Ngân hàng nhất định sẽ giảm được rủi rotín dụng tới mức có thể chấp nhận được

- Công nghệ: đây là yếu tố tác động tới chất lượng tín dụng Ngân hàngThương Mại ở một số khía cạnh sau:

+ Hệ thống quản lý rủi ro tín dụng: các Ngân hàng có tính chất và mức

độ phức tạp của các hoạt động tín dung khác nhau có các biện pháp quản lýrủi ro tín dụng cụ thể khác nhau, nhưng một chương trình quản lý rủi ro tín

Trang 30

dụng toàn diện bao gồm 5 phần chính như: tạo một môi trường có mức độ rủi

ro tín dung phù hợp, xây dựng quy trình cấp tín dụng hợp lý, duy trì quá trình

đo lường và quản lý tín dụng, bảo đảm kiêm soát rủi ro tín dụng đầy đủ, nângcao vai trò của các cơ quan giám sát

+ Hệ thống thu thập và xử lý thông tin: công nghệ ảnh hưởng rất lớnđến khả năng thu thập và xử lý thông tin tín dụng: Một Ngân hàng có trình độkhoa học - công nghệ hiện đại, trang thiết bị tiên tiến, hiệu quả hoạt động cao,sản phẩm đa dang, phong phú, nhiều tiện ích, v.v sẽ góp phần thu hút đượcnhiều khách hàng đặc biệt là những khách hàng ưa mạo hiểm, khách hàng cóđầu óc kinh doanh linh hoạt đồng thời vẫn giữ được niềm tin, uy tín củakhách hàng truyền thống

Như vậy, công nghệ là điều kiện tiên quyết và không thể thiếu để Ngânhàng có những khách hàng vay có chất lượng cao, khả năng thanh toán lớnđồng thời tránh cho Ngân hàng gặp phải những cú sốc lớn gây lên sự sụp đổnhanh chóng một Ngân hàng và trong cả hệ thống, đồng thời tạo ra sự chuẩn

bị chu đáo đối phó với những tình huống xấu nhất xẩy ra, giúp Ngân hàng giảiquyết được những vấn đề vô cùng to lởn trong việc duy trì sự tồn tại và pháttriển lâu dài của Ngân hàng; chủ động trong việc quyết định cho vay và xử lýcác khoản cho vay một cách có hiệu quả, đảm bảo an toàn tín dụng, cải thiệntình hình tài chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng ThươngMại

- Hoạt động kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng của Ngân hàngThương mại

Kiểm soát nội bộ là một bộ phận cấu thành của quản lý và thuộc tráchnhiệm của ban điều hành Hệ thống kiểm soát nội bộ là cơ cấu tổ chức cộngvới những biện pháp, thủ tục do ban điều hành của một Ngân hàng chấp nhận,nhằm hỗ trợ thực thi mục tiêu của ban điều hành đảm bảo khả năng thực tiễn,tiến hành kinh doanh trong trật tự và có hiệu quả

Trang 31

Phạm vi bản chất của hệ thống kiểm soát phải tính đến phạm vi côngviệc, sự phân bổ các giao dịch, mức độ rủi ro liên quan đến từng loại hoạtđộng hàng ngày được quản lý cấp trên kiểm soát, mức độ tập trung, phạm vi

và các phương pháp xử lý số liệu trên máy vi tính

Đây là hoạt động bao gồm các công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ củaNgân hàng Thương Mại Kiểm toán của cơ quan kiểm toán bên ngoài và kiểmtra của thanh tra Ngân hàng nhà nước là một hoạt động giữ vai trò quan trọngnhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ThươngMại Trong đó, quan trọng nhất vẫn là hoạt động kiểm toán nội bộ của cácNgân hàng Thương Mại vì nó là một trong những công cụ quan trọng nhấttrong công tác quản lý, điều hành của ban lãnh đạo Ngân hàng Thông quahoạt động này, phát hiện những sơ hở, yếu kém, những sai phạm trong quản

lý, bảo vệ hữu hiệu tài sản của Ngân hàng Xuất phát từ mục tiêu của kiểmtoán nội bộ đối với các hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanhnói chung và hoạt động tín dụng Ngân hàng Thương Mại nói riêng nhằm đánhgiá tính nghiêm túc, tính đúng đắn của toàn bộ quy trình tín dụng, đánh giátình trạng rủi ro của toàn bộ hoạt động tín dụng và cơ cấu rủi ro tín dụng.Đồng thời đưa ra được những biện pháp tối ưu nhất trong việc phòng tránhđược những tổn thất có thể xảy ra, đảm bảo cho mọi hoạt động của Ngân hàngtiến hành thường xuyên liên tục, an toàn và hiệu quả

- Các nhân tố khác

Bên cạnh những nhân tố nêu ra ở trên thì vẫn còn tồn tại một số yếu tốnhư vốn, v.v cũng gây ra những tác động không phải là nhỏ trong việc duy trìcác hoạt động thường nhật, duy trì khả năng phát triển lâu dài, tạo niềm tincủa Ngân hàng đối với công chúng, tạo cho Ngân hàng một tấm đệm chốnglại rủi ro phá sản, là nguồn bù đắp cho tổn thất bắt nguồn từ những khoan chovay và đầu tư kém hiệu quả, từ sự quản lý yếu kém Một Ngân hàng khả năng

đủ mạnh về vốn sẽ có khả năng mở rộng quy mô cho vay, đáp ứng được nhu

Trang 32

cầu đa dạng của khách, tạo được mối quan hệ truyền thống với nhiều kháchhàng, có điều kiện hơn trong việc thu hút đội ngũ lao động có trình độ chuyênmôn nghiệp vụ cao, đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại, tăng các tiện íchcủa sản phẩm mà các Ngân hàng cung cấp, giảm phiền hà cho khách hàng vayvốn, v.v giảm thiểu được các chi phí trong quản lý, thu thập phân tích thôngtin về khách hàng và do đó sẽ thu được lợi nhuận cao do tiết kiệm được chiphí theo quy mô.

1.3.3.2 Những nhân tố ngoài Ngân hàng

- Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng Năng lực tàichính của doanh nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có, hệ số mở, khả năngthanh toán, khả năng sinh lời,v.v Tiềm lực và kinh nghiệm quản lý kinh doanhcủa doanh nghiệp càng cao, khả năng trả nợ ngân hàng càng lớn và như vậy, nógóp phần nâng cao chất lượng tín dụng Tuy nhiên, khả năng tài chính của doanhnghiệp chỉ được đánh giá chính xác khi các báo cáo tài chính của doanh nghiệpphải đầy đủ, trung thực và có hậu của các cơ quan, doanh nghiệp kiểm toán có

uy tín

- Triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp

Khi ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp thì lợi ích của ngân hàng sẽtrở nên gắn bó với lợi ích của doanh nghiệp Một doanh nghiệp đang trongtình trạng thị phần bị thu hẹp, nhà cung cấp không ổn định,v.v thì khả nănghoàn trả vốn tín dụng ngân hàng sẽ không được đảm bảo Ngược lại, một triểnvọng tương lai sáng sủa sẽ là cơ sở để ngân hàng ra quyết định cho vay

Theo những nội dung đã nêu trên, ta thấy rằng khách hàng chính lànhân tố quan trọng nhất quyết định cuối cùng đối với sự tăng lên hay giảm đichất lượng tín dụng ngân hàng do khách hàng chính là chủ thể đi vay, do vậyviệc các ngân hàng có thu lại được vốn và lãi đúng hạn, theo đúng hợp đồnghay không phụ thuộc rất lớn vào khách hàng

Trang 33

Bên cạnh đó những nội dung liên quan đến khách hàng như sự thay đổitrong nhân sự - sự già hoá dân số - sự gia tăng số người chuyển nghề - thànhlập các doanh nghiệp mới ở các độ tuổi; sắc tộc, kiểu gia đình, mức thu nhậpcũng là những yếu tố quan trọng đối với việc hình thành đội ngũ cán bộ làmviệc phù với các môi trường khác nhau, xây dưng và triển khai các tiêu chuẩntín dụng, các hình thức tín dụng phù hợp.

 Nhóm nhân tố thuộc môi trường

- Môi trường kinh tế

Những diễn biến về lạm phát, giá cả, bất động sản, tỷ giá ngoại tệ, tổngmức tăng trưởng tín dụng nói chung và luồng vồn từ bên ngoài thường lànhững yếu tố gây ra những yếu kém trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt cóthể gây ra những rối loạn mang tính hệ thống, khi tất cả các ngân hàng đềuchịu tác động một lúc bởi những thay đổi trên

Sự bất ổn của nền kinh tế: tăng trưởng kinh tế âm, thâm hụt tài chínhlớn không có khả năng chông đỡ, bù đắp, tự do hoá tài chính quá nhanh dânđến những hành vi thiếu thận trọng, tự do hoá về cán cân vốn không tươngxứng với sự phát triển của nền kinh tế nội địa, sự tăng, giảm giá đột biến củatài sản có thể là những nguyên nhân gây ra rủi ro hệ thống; sự cho vay trànlan đối với hoạt động đầu cơ tài chính vào thị trường bất động sản và thịtrương chứng khoán so với các mặt hàng khác và sự cho vay như vậy lại dựatrên giá trị tài sản thế chấp là một trong những nguyên nhân kéo chất lượngtín dụng xuống thấp ngược lại, hoạt động kinh tế cũng như những biến độngtrên thị trường là không đáng kể và có thể dự đoán được thì sẽ góp phần quantrọng vào việc nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng Thương Mại; giảiquyết tốt mối quan hệ giữa cung và cầu vốn đáp ứng được nhu cầu về vốn chophát triển kinh tế ngày càng cao

- Môi trường pháp lý

Trang 34

Với một môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu tính đồng bộ, thốngnhất giữa các luật, văn bản dưới luật, sự sách nhiễu của các văn bản hànhchính có liên quan sẽ khiến cho các doanh nghiệp gặp phải nhiều khó khăn,thiếu đi tính linh hoạt cần thiết, do vậy vốn đưa vào kinh doanh sẽ chứa đựngnhiều rủi ro Cùng với nó là sự thay đổi trong chính sách tiền tệ hoặc chínhsách tài khoá của chính phủ qua từng thời kỳ cũng gây ra những ảnh hưởngkhông nhỏ cho ngân hàng trong quá trình hoạt động của nó Vì vậy việc xâydựng môi trường pháp lý lành mạnh, ôn định sẽ tạo thuận lợi trong việc nângcao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có các ngân hàngThương Mại.

- Môi trường chính trị

Môi trường chính trị đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọngtrong kinh doanh, đặc biệt là đối với lĩnh vực hoạt động nhạy cảm như Ngânhàng Tính ổn định về chính trị trong nước là một nhân tố tạo ra những thuậnlợi và cũng gây ra những khó khăn không phải là nhỏ đối với hoạt động củacác doanh nghiệp nói chung và hoạt động tín dụng của các Ngân hàngThương mại nói riêng Một khi xảy ra những diễn biến gây bất ổn định vềchính trị như: chiến tranh, xung đột sắc tộc mâu thuẫn nội bộ giữa các đảngphái chính trị, bạo động, biểu tình, bãi công, cấm vận, thì như vậy nghĩa làcác doanh nghiệp trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài sẽ khôngthể yên tâm đầu tư vốn vào quốc gia đó, doanh số phát vay không thể có cơhội tốt để tăng lên và phần tăng lên đó lại rất khó có khả năng hoàn trả lại choNgân hàng chứ chưa nói gì đến việc chất lượng tín dụng được nâng cao doviệc mất ổn định, như vậy sẽ làm tê liệt quá trình sản xuất, lưu thông hànghoá bị đình trệ, vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh khó có thể thu hồi

- Môi trường cạnh tranh

Đối với các NHTM thì các tổ chức trung gian tài chính khác như:ccông ty bảo hiểm, các công ty tài chính, các NHTM cùng hệ thống hoặc cácNHTM cùng hệ thống nhưng khác địa bàn được xem là những đối tác cùngkinh doanh Mối quan hệ giữa NHTM và các tổ chức trên là mối quan hệ

Trang 35

tương tác, tác động qua lại lẫn nhau và các tổ chức trên vừa là đối thủ cạnhtranh đồng thời cũng là đối tác kinh doanh của Ngân hàng Và do đó, tác độngcủa đối thủ cạnh tranh tới chất lượng hoạt động tín dụng cũng diễn ra theo haichiều hướng:

Thứ nhất để chiếm ưu thế trong cạnh tranh mỗi Ngân hàng luôn phảiquan tâm tới đầu tư trang thiết bị hiện đại, tăng cường thu hút, đào tạo thêmđội ngũ lao động trình độ cao, không ngừng củng cố khuếch trương uy tín, thếmạnh của Ngân hàng mình, chiều hướng này sẽ góp phân nâng cao chất lượngtín dụng Bên canh đó, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các Ngân hàng cũng làmcho các Ngân hàng bỏ qua một số điều kiện cần thiết trong quy trình tín dụngnhằm khả năng cạnh tranh trên thị trường, thu hút thêm khách hàng, do vậy sẽlàm cho chất lượng tín dụng của Ngân hàng sụt giảm

- Môi trường tự nhiên

Các yếu tố về môi trường tự nhiên như: thiên tai, lũ lụt, địa bàn hoạtđộng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay, thu hồi nợ hay nóicách khác là ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Mặc dù rủi ro này là khó dựđoán nhưng bù lại những rủi ro loại này lại chiếm không lớn, hơn thế nữaNgân hàng lại được chia sẻ rủi ro, thiệt hai với các công ty bảo hiểm hoặcđược Nhà nước hỗ trợ khi thiệt hại xảy ra ở quy mô lớn và mang tính hệthống

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH CHƯƠNG

DƯƠNG 2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam tại Chi nhánh Techcombank Chương Dương

2.1.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam

Ngân hàng Thương Mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam được thành lậpngày 27/9/1993 theo giấy phép thành lập số 1534/QĐ-UB do UBND thànhphố Hà Nội cấp ngày 04/9/1993 giấy phép hợp đồng số 0040/NH-CP dothống đốc NHNN Việt Nam cấp ngày 06/08/1993, giấy phép kinh doanh số

055697 do trọng tài kinh tế Hà Nội (nay là Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội)cấp ngày 07/9/1993 Tên gọi tắt là Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam, tênTiếng Anh là Viet Nam Technological and Commercial Joint Stock Bank(Techcombank)

NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam được thành lập ngày 27/9/1993 tại 24

Lý Thường Kiệt với số vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng và mục tiêu ban đầu

là nhằm trở thành một thế giới tài chính hiệu quả nối liền nhà tiết kiệm và nhàđầu tư đang cần vốn để kinh doanh, phát triển nền kinh tế trong thời kỳ mởcửa

+ Năm 1995: Vốn điều lệ của Techcombank tăng lên 51,495 tỷ đồng.Cùng với nó là sự ra đời của chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, khởi đầu cho

sự phát triển rộng khắp nhanh chóng của hệ thống Techcombank Việt Nam

+ Năm 1996: chi nhánh Techcombank Thăng Long và phòng Giám đốcNguyễn Chí Thanh ra đời ở miền Bắc và chi nhánh Techcombank Thắng Lợi

Trang 37

trực thuộc Techcombank thành phố Hồ Chí Minh ra đời ở miền Nam Cùngvới đó là sự gia tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng.

+ Năm 1998: Trụ sở chính chuyển sang toà nhà Techcombank 15 ĐàoDuy Từ, Hà Nội Chi nhánh Techcombank Đà Nẵng ra đời đánh dấu sự pháttriển rộng khắp của Techcombank trên cả nước

+ Năm 1999: Khai trương phòng giao dịch số 3 tại phố Khâm Thiên HàNội với số vốn điều lệ lên 80,02 tỷ đồng

+ Năm 2001: Vốn điều lệ: 102,345 tỷ đồng Đồng thời ký kết hợp đồngvới nhà cung cấp phần mềm hệ thống Ngân hàng hàng đầu trên thế giớiTenemos Holding NV về việc triển khai hệ thống phần mềm Ngân hàngGloBus cho toàn hệ thống Techcombank nhằm đầu tư ngày càng tốt hơn nhucầu của khách hàng

+ Năm 2002: Thành lập chi nhánh Chương Dương và chi nhánh HoànKiếm tại Hà Nội; chi nhánh Hải Phòng; chi nhánh Thanh Khê tại Đà Nẵng vàchi nhánh Thanh Bình tại thành phố Hồ Chí Minh Techcombank giờ đây cóthể tự tin là NHCP có mạng lưới giao dịch rộng nhất tại thủ đô Hà Nội

+ Năm 2003: khai trương Techcombank Chợ Lớn

Vốn điều lệ là 117,870 tỷ đồng Đồng thời Tech còn chuẩn bị phát hành

cổ phiếu mới để tăng vốn điều lệ Techcombank lên 202 tỷ đồng Đây là công

cụ nhằm vào mục tiêu gióp cho Techcombank Việt Nam trở thành NHTMCPhàng đầu Việt Nam

Đáp lại những nỗ lực không ngừng nghỉ của toàn bộ cán bộ – côngnhân viên Ngân hàng trong công tác phục vụ khách hàng Ngày 17/9/2003NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam đã được The Bank of NewYork (Mỹ) chứngnhận là đã đạt Excellent F.A.S.T (Exxcellent fully Automated, StraightThrought- tạm dịch là xử lý điện chuyển tiền tự động tốt) Nghĩa là tỷ lệ điệnchuẩn cao phải đạt hơn 90% và phải được xử lý hoàn toàn bằng máy tính (tỷ

Trang 38

lệ này ở Techcombank là 98% năm 2001, 95,5% năm 2002 và hiện tạiTechcombank Việt Nam cũng rất quan tâm đến công tác mở rộng hoạt độngcủa hệ thống Techcombank ra thế giới: Hiện Ngân hàng có trên 400 đại lýtrên 67 nước và lãnh thổ trên toàn thế giới với trên 7000 địa chỉ giao dịch ởChâu Âu, Châu, Bắc Mỹ Ngoài ra Techcombank còn rất chú ý đến các hoạtđộng văn hoá, thể thao khác như: tài trợ cho giải golf, BMW Việt Nam classicHanoi 2003, cho giải bóng đá sinh viên Cúp Hoà Phát, đồng thời Ngân hàngcòn phối hợp với một số tổ chức khác trao học bổng cho sinh viên xuất sắcthuộc các trường ĐHNT, KHKTQD, Học viện Ngân hàng, Học viện Tàichính, v.v và đây đã trở thành hoạt động thường niên từ năm 2001.

2 1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Techcombank

Chương Dương

Nhận thấy những xu hướng cần thiết phải mở rộng hoạt động chi nhánh

ở Hà nội về phía Gia Lâm, nơi sẽ trở thành trung tâm Hà Nội trong tương laigần, lại là khu đông dân cư và được sự giúp đỡ, ủng hộ cán bộ nhân viên cácđơn vị thành niên Tổng Công ty Hàng không Việt Nam khu vực Gia Lâm (làmột trong những cổ đông lớn của Techcombank từ năm 1997), HĐQTTechcombank Việt Nam đã ra quyết định số 01992 ngày 21/11/01 thành lậpchi nhánh cấp hai Techcombank Chương Dương căn cứ theo quyết định số90/2001/QĐ-NHNN ngày 07/02/2001 của Thống đốc NHNN Việt Nam banhành “Quy định về việc mở, thành lập, chấm dứt hoạt động của SGD, chinhánh văn phòng đại diện đơn vị sự nghiệp của NHTM”, và theo điều lệNHTMCP Kỹ Thương Việt Nam, công văn số 659/NH-TD ngày 15/11/2001của GĐNHNN thành phố Hà Nội, Chi nhánh Teehcombank Chương Dươngđược đặt tại toà nhà Airmex 100 Nguyễn Văn Cừ, Gia Lâm, Hà Nội, có condấu riêng, hạch toán theo hướng dẫn của Tổng giám Dương đối với chi nhánhcấp 2 Trong những ngày đầu thành lập, bộ máy của Techcombank ChươngDương rất gọn nhẹ (chỉ bao gồm 10 người), nhưng vẫn đảm bảo thực hiện đầy

đủ chức năng của một chi nhánh, nhờ vậy Techcombank Chương Dương đã

Trang 39

vượt qua được những bỡ ngỡ buổi ban đầu và đạt được một số thành tích đángkhen ngợi: Chương Dương trở thành Chi nhánh đầu tiên trong toàn hệ thốngđang triển khai thành công phần mềm Globus Đây cũng là đơn vị duy nhấttrong hệ thống cung cấp những dịch vụ mới mẻ như dÞch vô quản lý thu - chi,cho vay thÊu chi trên tài khoản bằng hình thức tín chấp sản phẩm hiện đượccung cấp cho 9 đơn vị thành viên thuộc Tổng Công ty hàng không Việt Nam.

Ngoài sức trẻ của một chi nhánh mới được thành lập, TechcombankChương Dương còn được biết đến như là một chi nhánh ghi được nhiều “kỷlục” nhất trong hoạt động kinh doanh: là đơn vị đầu tiên chỉ sau 3 tháng hoạtđộng đã có lãi Chi nhánh chương Dương cũng khá thành công trong công tácthu hút khách hàng: từ chỗ chỉ có một số ít khách hàng mà chủ yếu là kháchhàng từ trung tâm Hà Nội sang (đây là hạn chế của Ngân hàng) trong nhữngngày đầu thành lập

Sau 2 năm hoạt động lượng khách hàng của chi nhánh đã lên đến hơn

400, trong đó có những khách hàng lớn như: VietnamAirlines; công ty xâydựng DELTA; Discovery Diamonds; v.v Với đội ngũ vẹn 15 cán bộ nhânviên, lợi nhuận trước dự phòng rủi ro trong 6 tháng đầu năm 2003 của chinhánh đã vượt định mức 700 triệu VNĐ, tổng dư nợ đạt 70 tỷ VNĐ, huy độngvốn dân cư đã đạt trên 85 tỷ đồng Techcombank Chương Dương cũng là chinhánh có mức chi phí hoạt động nằm trong mức lý tưởng, bằng 4,98% tổngdoanh thu nhờ vào chính sách triệt để tiết kiệm Thực tế hơn 2 năm hoạt độngcho thấy với một đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình, có trình độ chuyênmôn cao, Techcombank Chương Dương đang có những cơ hội rất lớn, vàcùng toàn hệ thống, Techcombank Chương Dương chắc chắn sẽ còn lập đượcnhiều thành công mới bổ sung thêm vào danh sách những thành công mà chinhánh đã đạt được

Trang 40

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức: bao gồm 4 phòng

Nhân sự bao gồm 6 người:

- Trưởng phòng: Nguyễn Đức Trang

Có nhiệm vụ điều hành hoạt động phòng kinh doanh và chịu tráchnhiệm trước Giám đốc về : tín dụng, thẻ, v.v của cả khách hàng là cá nhân vàdoanh nghiệp

- 03 chuyên viên khách hàng (về lĩnh vực dịch vụ Ngân hàng và dịch

+ Kinh doanh tiền tệ, ngoại hối

+ Thanh toán quốc tế: L/C, v,v

PHÒNG GIÁM ĐỐC

Phòng kế toán giao dịchNguyÔn §øc Phong

Bé phËn kho quü Phòng Kinh doanh

NguyÔn §øc Trang

Ngày đăng: 19/02/2014, 09:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:  Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam– chi nhánh chương dương
Bảng 2 Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn (Trang 52)
Bảng dưới đõy sẽ chỉ rừ dược khả năng tiếp cận với nguồn vốn tớn dung  Ngân hàng của các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác  nhau tại Chi nhánh Techcombank Chương Dương: - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam– chi nhánh chương dương
Bảng d ưới đõy sẽ chỉ rừ dược khả năng tiếp cận với nguồn vốn tớn dung Ngân hàng của các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tại Chi nhánh Techcombank Chương Dương: (Trang 53)
Bảng 4: Cơ cấu tín dụng theo loại tiền - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam– chi nhánh chương dương
Bảng 4 Cơ cấu tín dụng theo loại tiền (Trang 55)
Bảng 6: Tăng trưởng tín dụng tại chi nhánh Techcombank Chương Dương - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam– chi nhánh chương dương
Bảng 6 Tăng trưởng tín dụng tại chi nhánh Techcombank Chương Dương (Trang 59)
Bảng 7: Tỷ lệ nợ có đảm bảo qua các năm của một số sản phẩm tín dụng - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam– chi nhánh chương dương
Bảng 7 Tỷ lệ nợ có đảm bảo qua các năm của một số sản phẩm tín dụng (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w