Sống giữa thời đại mà “sự đụng chạm với phương Tây đã làm tan rã bao nhiêu bức thành kiên cố”, bên cạnh một ông Tây sang trọng như Xuân Diệu chữ của Hoài Thanh, thì Nguyễn Bính xuất hiện
Trang 1- [ \ -
NGUYỄN THỊ NGỌC VI LỚP DH5C1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU: 1
I Lí do chọn đề tài: 1
II Lịch sử vấn đề: 2
III Mục đích nghiên cứu: 7
IV Phạm vi nghiên cứu: 7
V Phương pháp nghiên cứu: 8
VI Đóng góp đề tài: 8
VII Cấu trúc luận văn: 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương I:Cơ sở lí luận: 10
1 Âm hưởng theo từ điển Tiếng Việt: 10
2 Â m hưởng dân gian trong văn chương bác học: 10
2.1.Trong văn học trung đại: 10
2.2 Trong phong trào Thơ Mới: 13
Chương II: Âm hưởng dân gian trong một số sáng tác của Nguyễn Bính: 15
1 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng của tác giả Nguyễn Bính: 15
1.1 Vài nét về tiểu sử: 15
1.2 Các tập thơ tiêu biểu: 15
2 Mấy vấn đề về phong cách thơ Nguyễn Bính: 15
3 Â m hưởng dân gian trong một số sáng tác của Nguyễn Bính: 17
3.1 Nguồn chất liệu đời sống cho việc kiến tạo nội dung thơ: 17
3.1.1 Đề tài: 17
3.1.2 Chủ đề: 25
3.1.3 Cảm hứng tư tưởng thẩm mỹ: 42
3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ: 46
3.2.1 Không gian nghệ thuật 47
Trang 33.2.2 Thời gian nghệ thuật 48
3.3 Ngôn ngữ: 51
3.3.1 Cách xưng hô: 52
3.3.2 Thành ngữ: 54
3.3.3 Chữ số: 56
3.3.4 Giọng điệu 59
4 Hình thức thể loại: 61
PHẦN TỔNG KẾT: 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….66
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
Ba, mẹ và anh chị
Ban giám hiệu trường Đại học An Giang
Quý thầy cô tổ bộ môn Ngữ Văn khoa Sư phạm trường Đại học An Giang
Các phòng ban trong Ban giám hiệu trường Đại học An Giang
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Ngọc Vi
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Thơ ca là nơi để con người bộc lộ tâm tư tình cảm Thơ là tiếng nói của tâm
hồn của niềm mơ ước Thơ bộc lộ ý tưởng đẹp đẽ và cao thượng Sự có mặt của thơ ca
chân chính góp phần chứng minh cho sự tồn tại của những gì tích cực của con người
luôn thiết tha tìm đến và đấu tranh cho một lẽ sống tốt đẹp
Nhà thơ Sóng Hồng xác định “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một
cách cao đẹp” Còn nhà thơ Huy Cận cũng có cùng quan niệm về thơ như thế “cái chỗ
đến cuối cùng của thơ là phải đem đến một cái gì nâng sự sống lên” Nói đúng hơn thơ
ca là một động lực kì thú để nâng cuộc sống cao hơn, đồng thời nâng tầm vóc chúng ta
cao bằng cuộc sống”
Nhưng nếu chỉ dừng ở đấy thì cũng chưa thể nói hết được bản chất của thơ ca
Bởi ngoài việc khơi dậy những hoài bão cao đẹp và rộng lớn của con người và thời đại
thì thơ còn là tiếng nói tình cảm cá nhân, là ước vọng giao hoà giữa con người với
thiên nhiên, với cộng đồng xã hội
Thơ mới lần đầu tiên xuất hiện trên thi đàn như “một cơn gió mạnh từ xa thổi
đến Cả một nền tảng xưa một phen bị điên đảo lung lay Sự gặp gỡ phương Tây là
một cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỉ”(Hoài
Thanh) Và đó cũng là lần đầu tiên “cái tôi cá nhân, trữ tình” được bộc lộ một cách
mạnh mẽ và quyết liệt nhất
Là một đứa con của phong trào ấy Nguyễn Bính được xem như một hiện tượng
khá đặc biệt, đó như một “thanh âm trong trẻo” vang lên vẻ đẹp của hồn quê, trong
tình cảm dạt dào chân quê mà Hoài Thanh gọi “quê mùa như Nguyễn Bính…”
Đối với “lâu đài nghệ thuật” ấy có một sức cuốn hút mạnh mẽ nhưng không
phải là dễ dàng khám phá ra chân lý, nó là cả quá trình tìm tòi, khám phá, suy ngẫm
Trong quá trình ấy thì việc tìm hiểu “Âm hưởng dân gian trong sáng tác của nhà thơ là
một điều có ý nghĩa không nhỏ Hay nói cụ thể hơn, là nhà thơ có “sự tiếp thu trọn vẹn
nền văn minh thôn dã, nền văn hoá xóm làng” mà trước hết âm hưởng dân gian trong
sáng tác Hay nói đúng hơn, nếu đặt trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thơ Nguyễn
Bính có dòng chảy riêng trong dòng chảy chung của thời đại Đó là một âm hưởng rất
riêng rất độc đáo, khác hẳn với các nhà thơ khác cùng thời Đây chính là điều hấp dẫn,
lôi cuốn chúng tôi tiến hành chọn làm nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu “Âm hưởngdân gian” trong một số sáng tác của Nguyễn Bính trước
Cách mạng tháng Tám còn là cơ hội để chúng tôi tìm hiểu sâu sắc hơn về một phong
cách, một tài năng, một tâm hồn xưa đất nước
Trang 6Với tất cả lý do trên, người viết quyết định lựa chọn đề tài “Tìm hiểu âm
hưởng dân gian trong một số sáng tác của Nguyễn Bính trước cách mạng tháng Tám”
làm đề tài nghiên cứu của khoá luận
II Lịch sử vấn đề
Đối với tác phẩm văn chương, để tồn tại bao giờ cũng được thử thách bởi thời
gian và công chúng Thơ Nguyễn Bính không nằm ngoài qui luật ấy, và cho đến nay
thơ ông luôn hằng tồn trong lòng bạn đọc yêu thơ
Có được sức sống bền vững ấy, phần nào không thể phủ nhận vai trò to lớn
của việc chiếm hữu thẩm mỹ từ nguồn sữa ngọt ngào dân gian của tác giả Và cũng vì
sức sống đó mà nghiên cứu thơ Nguyễn Bính cũng được các nhà nghiên cứu đặc biệt
quan tâm Tuy nhiên, vấn đề mà đề tài thực hiện các nhà nghiên cứu thường ít tập
trung lí giải mà chỉ thể hiện rải rác trong các công trình nghiên cứu
1.Trước hết các nhà nghiên cứu đã tiếp cận thơ Nguyễn Bính từ góc độ
xã hội học,việc lý giải thường tập trung ở phương diện đề tài nghĩa là các nhà
nghiên cứu xem vấn đề xã hội thể hiện trong thơ Nguyễn Bính
Giáo sư Hà Minh Đức nhận định Không thoát khỏi quy luật chung Nguyễn
Bính như mang nỗi buồn thế hệ Đó là cái buồn của con người bị hất ra ngoài các
quan hệ cố định nhưng cũng chưa tìm được vị trí của mình trong cuộc đời Thời đại
mà mỗi con người tự cảm thấy mình là những cá nhân cô đơn lạc lõng, bơ vơ đang đi
tìm vị trí cho mình Đó là thời đại của buồn rầu, chán nản, mộng mơ, đợi chờ, mong
mỏi vô định”(Trần Đình Sử) Chính vì vậy ta thấy trong thơ Nguyễn Bính luôn chất
chứa tâm trạng của cái tôi cô đơn
“Tác giả Mã Giang Lân thì xác định “Cũng như nhiều bài thơ của các nhà
Thơ mới khác Cái thiên nhiên ấy rất đẹp, đôi lúc được thi vị hoá, mà cũng rất buồn,
một cái buồn mang tính thời đại”
Sống giữa thời đại mà “sự đụng chạm với phương Tây đã làm tan rã bao nhiêu
bức thành kiên cố”, bên cạnh một ông Tây sang trọng như Xuân Diệu (chữ của Hoài
Thanh), thì Nguyễn Bính xuất hiện như một ngôi sao mang ánh sáng truyền thống
chiếu rọi và đem đến phong vị ngọt ngào giữa thời đại bấy giờ, cảm nhận sâu sắc sự
phôi pha của đời sống bởi nhưng phong trào “Âu hoá`”, cảm nhận cuộc sống đô thị
phồn hoa nhưng đầy lo âu và bất trắc, đồng thời cảm nhận bản thân mình không hoà
nhập được với lối sống thị thành nên cảm thấy bơ vơ lạc lỏng, tăng thêm “mối sầu đô
thị” Và để trút mối sầu ấy, nhà thơ đã quay về với nông thôn, về với cội nguồn dân
tộc cũng như về với chính bản thân mình, cho nên bên cạnh giọng điệu thơ buồn ấy ta
còn bắt gặp những bài thơ mang sắc thái tươi trẻ, trong sáng Đó là khi nhà thơ viết về
quê hương về làng quê với những phong tục tập quán, những sinh hoạt văn hoá,
những hội hè đình đám “Bầu trời quê trong sáng, giếng nước gốc đa thanh bình,
hương bưởi hương cau man mác trong đêm, câu hát câu ca đậm sắc trữ tình” (Hà
Minh Đức)
Trang 7Quay về với cội nguồn, tìm thấy sự thanh thản của tâm hồn, để góp phần giữ
gìn sự trong trẻo thanh khiết của miền đất quê hương, cũng có nghĩa là chống lại sự
thay đổi bởi những tác động của đời sống đô thị hóa lúc bấy giờ, đã “hơn một lần ông
muốn giữ lại cái đẹp chân quê, chống lại lối sống loè loẹt phấn son thị thành của
phong trào Âu hoá”.Và đó có thể xem là một tuyên ngôn cho quan niệm sáng tác
trong thơ Nguyễn Bính
Tìm về với cội nguồn cũng đồng thời là tìm với cái đẹp Nguyễn Bính là nhà
thơ có ý thức suy tôn cái đẹp, những giấc mộng đẹp, cuộc đời đẹp của làng quê, của
tình yêu đôi lứa Thơ ông luôn hướng về cái đẹp trước hết ở sự lựa chọn đề tài, ông ít
miêu tả những cảnh sống nghèo khổ ở nông thôn, những cuộc đời lam lũ vất vả kiếm
sống, những bức tranh u tối trong thiên nhiên Nguyễn Bính quan tâm phát hiện cái thi
vị của con người và cảnh vật
2 Nhìn nhận từ góc độ văn hoá thẩm mỹ
Có nhiều ý kiến đóng góp xác đáng chân thật khách quan về thơ Nguyễn
Bính:
Nhà văn Tô Hoài bàng hoàng xúc động khi đọc những câu thơ Nguyễn Bính
và phải thốt lên “Tầm vóc, thật tầm vóc, mỗi câu thơ của Nguyễn Bính” và nhà văn
khẳng định “Khi nào anh cũng là người của các xứ đồng của cái diều bay, của dây hoa
lý, của mưa thưa mưa bụi, giữa nơi công ăn việc làm vất vả sương nắng Bởi đấy là
cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính”[8;150]
Giáo sư Hà Minh Đức lại nhận xét “trong những bài thơ của mình, Nguyễn
Bính đã miêu tả được văn hoá của làng quê Cộng đồng làng xóm tồn tại từ ngàn đời
đã sản sinh ra nền văn hoá của riêng nó Theo ông “đó là những nền nếp phong tục tập
quán, thế giới tâm làinh qua tín ngưỡng tôn giáo và cách xử sự trong quan hệ giữa
ngươi với người Đó cũng là nền thẩm mỹ đượm màu dân tộc, giản dị chân quê trong
sinh hoạt hằng ngày, lòng hiếu học, giấc mơ quan trạng Tình yêu thề bồi tình cảm gia
đình sâu nặng Cho đến nhưng ngày hội xuân những đêm hát chèo, buổi lễ chùa, lớp
học thầy đồ…Tất cả đều là những bộ phận nhỏ của văn hoá làng quê Chính tầng văn
hoá này đã thâu giữ sâu kín hồn quê và thơ Nguyễn Bính khai thác thành công nếp
văn hoá làành mạnh, giàu chất thẩm mỹ”[12;135]
Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thuý trong hành trình đến với thơ Nguyễn Bính có
một số nhận xét sau “Hình ảnh nông thôn như một cái gì đó bất biến trong không gian
và thời gian gắn l
iền với những đêm hội chèo, mỗi cá nhân được nghĩ ngơi, được tiếp thêm sức
mạnh trong cộng đồng và bởi cộng đồng Nông thôn là nơi có cuộc sống giản dị và
thơ mộng”.[12;183]
“Không dàn dựng không bố trí, thơ nói với ta bằng cái tình cảm thôn dã đã có
từ ngàn năm trước của các cô gái Việt…Nếu như nhà thơ không tiếp nhận văn hoá
dân gian thì không thể có câu thơ giản dị và đẹp như thế” [12;196.]
Trang 8“Cái hoá thân từ những bài ca dao dân ca tủi hờn đau đớn của ông thấm vị
chát đắng từ thưở nằm trong nôi, cái chát đắng của dòng nước mắt âm thầm trong kho
tàng văn hoá dân gian của dân tộc việt”.[12; 198]
Tác giả Đoàn hương có những phát hiện mới mẻ, đó là mối quan hệ giữa nghệ
thuật và đời sống, giữa văn hoá làng xã với văn hoá quốc gia “một mảng đề tài khác
mà nhà thơ không chú tâm lắm nhưng đã đem lại bộ tinh thần riêng cho thơ ông, đó là
sự chuyển tải nghệ thuật đời sống làng quê việt Nam vào đời sống văn hoá chung của
dân tộc”[12;194]
“Bằng sự hoà nhập giữa nghệ thuật và cuộc đời, giữa thi ca và đời sống dân
dã, Nguyễn Bính đã mang lại cho chúng ta những bài thơ như chính bản thân đời
sống”
“Văn hoá dân gian đặc biệt là thơ ca dân gian đã bắt rễ trên mảnh đất màu mỡ
trong tâm hồn nhà thơ và bản thân nhà thơ đến lượt mình chịu ảnh hưởng một cách tự
nhiên gần như vô thức của nó”
“Cũng như văn hoá dân gian, thơ Nguyễn Bính đến với chúng ta một cách
bình dị, nó âm thầm bồi đắp cho chúng ta một quan điểm giản dị về cái đẹp về tình
người Chúng ta thuộc nó lúc nó không hay, vận nó vào mình lúc nào không biết Nó
là cội nguồn của cảm hứng về cái đẹp khởi phát từ dòng sông văn hoá chảy trong đời
sống tâm làinh dân tộc Có lúc nó có thể bị vùi dập, bị tạm quên lãng đi, nhưng nó vẫn
chảy âm thầm và mạnh mẽ trong dòng chảy của một nền văn học dân tộc Việt Nam”
Từ những cơ sở trên, Đoàn Hương đi đến kết luận “Chắc chắn nếu không có
người thầy lớn là văn hoá dân gian mà ông đã tiếp nhận từ thưở trong lòng mẹ thì
chúng ta đã không có Nguyễn Bính” [13;204]
Có thể nói tất cả những ý kiến, nhận xét, đánh giá trên của Đỗ Lai Thuý đồng
thời cũng đã giải thích vì sao độc giả Việt Nam từ bậc trí giả đến người ít chữ, từ kẻ
thành thị đến người nông thôn nhiều thế hệ độc giả đã hơn nữa thế kỉ nay, đều dễ
dàng tiếp nhận và yêu mến thơ Nguyễn Bính
Nhà nghiên cứu Đoàn Đức Phương cùng một cái nhìn với những ý kiến trên,
ông nói “Đọc thơ Nguyễn Bính người ta như sống lại những ngày tết cổ truyền, những
ngày hội xuân, những ngày hội làng, những đêm hát chèo những buổi lễ chùa, những
nét tín ngưỡng tôn giáo và những phong tục tập quán, lớp học thầy đồ, những trò vui
dân dã, cách ăn mặc và nếp sống xa xưa, giấc mơ quan trạng…” “Ông không chỉ tài
ba khi dựng cảnh những ngày hội quê mà còn rất am hiểu và khéo léo khi đặc tả
những nét văn hoá làng quê, cách ăn mặc, qua những nét duyên dáng bề ngoài của
người quê”.[13;219]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Sanh khi nghiên cứu về vấn đề này có nhận
xét “Sáng tác của anh thắm thiết chất dân ca, vì thế nên nó chuyển động dễ dàng vào
tâm linh người đọc ở nhiều lứa tuổi Một tình quê thật tình tha thiết, một hồn quê nặng
Trang 9nghĩa lưu luyến với mọi người tình, mọi người bạn, mọi quan hệ thiết cốt, mọi nhười
đọc gần xa”.[13; 232]
Tác giả Đoàn Hương đóng góp thêm ý kiến “Thơ ông có một đời sống riêng,
một vị trí riêng, trong một góc như sâu kín nhất của đời sống tâm linh văn hoá người
Việt Nam, cái góc nhỏ mà “chú cũng không lấy được”
Nhà phê bình Hoài Thanh đã phát biểu một cách chân thành thắm thiết khi
đọc nhưng vần thơ của thi sĩ đồng quê “Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà
quê ẩn náo trong lòng ta Ta bổng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảch tự nhiên của
ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta Giá
Nguyễn Bính sinh ra thời trước, tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê
vẫn hát quanh năm và những tác phẩm của người bây giờ đã có vô số những nhà
thông thái biết đến”.[2; 337]
3 Từ góc độ thi pháp học
Tác giả Tôn Phương Lan có nhìn nhận sau “Nguyễn Bính mang đến cho
phong trào Thơ Mới một phong cách mộc mạc chân quê, một lối ví von đậm đà màu
sắc ca dao Có lẽ vì thế mà thơ ông dễ đi vào lòng người trong câu hát ru, dễ trở nên
gần gũi với tình cảm của những người quanh năm sống trong lũy tre làng, gắn bó cuộc
đời
Nhà nghiên cứu Đoàn Đức Phương tiếp tục công việc nghiên cứu hình thức
thơ dân gian Nguyễn Bính Ông nói “đến với thơ Nguyễn Bính là đến với những hình
thức dân gian dân tộc, đến với những giá trị văn hoá truyền thống của quãng đại nhân
dân Tác giả còn đặc biệt chú ý đến nội dung thơ Nguyễn Bính “Nguyễn Bính có lối
tư duy hết sức dân dã, cách cảm cách nghĩ của nhà thơ luôn là của đông đảo những
người bình dân, những người sáng tạo và giữ gìn dòng thơ dân gian mà Nguyễn Bính
chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thưở bé: cụ thể, sinh động, cách diễn đạt mộc mạc bình dị
mà gợi cảm thấm đẫm hồn người chân quê”
Tiếp tục ý kiến của Đoàn Đức Phương, Đoàn Hương có ý kiến sau “Chính cái
thi pháp thơ của thơ ca dân gian đã đến sự phóng khoáng và sức mạnh cho bút pháp
của Nguyễn Bính
“Có lẽ ở thế kỉ này Nguyễn Bính làà một trong những nhà thơ đã thành công
làớn khi đem thi pháp của thơ ca dân gian vào trong thi ca hiện đại” [13;200]
“Thành công của thơ Nguyễn Bính là sự thành công của một sự tiếp nhận
những nguyên tắc mỹ học và thi pháp mà ông đã học được từ văn hoá dận gian”
[13;193]
“Thi pháp của thơ ông làà được rút ra từ trong cái bản chất của thơ ca dân gian
chứ không phải là sự bắt chước những câu giải mã hình thức” [13;201]
Giáo sư Hà Minh Đức nhận xét về nghệ thuật thơ nguyễn Bính như sau “Có thể
ông đã chịu ảnh hưởng của điệu than của lààn điệu dân ca Điệu than đã đưa cảm xúc
Trang 10của người đọc đến với những vùng mà sự rung động của trái tim trào lên bao cảm
thương với chuyện đời dang dỡ đắng cay” [13;165]
“Chất dân gian trong thơ Nguyễn Bính đẹp và gợi cảm.Tác giả đã làm sống lại
ca dao trong nguyên thể của nó và có những cách tân sáng tạo” [13;163]
Có thể nói Nguyễn Bính “đã chọn được trong thi pháp ca dao những đặc điểm
yếu tố thích hợp với thời kì hiện đại Đó làà một công việc có ý nghĩa cách tân sáng tạo
và hoàn toàn không dễ dàng”
Cùng với các ý kiến trên, Ngọc Giao đóng góp ý kiến của mình “Điều khiến
tôi lạ là Nguyễn Bính chưa bao giờ đăm chiêu vò tóc về việc hoàn chỉnh một thi phẩm
dài ngắn và khó dễ Anh thường ứng khẩu đọc trước mọi người, coi việc sáng tao một
bài thơ dễ dàng như tớp rượu”
4 Từ góc độ tác động nghệ thuật
Đỗ Lai Thuý càng tinh tế hơn khi nhận xét vế hiệu ứng thẫm mỹ của thơ
Nguyễn Bính Ông nói “Người ta thuộc thơ ông lúc nào không biết, như ca dao tục ngữ
đâu đó nằm sẵn trong vô thức của mỗi người” và “Trong số các nhà thơ cùng thời viết
về nông thôn như Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ… có lẽ chỉ có Nguyễn Bính
là nhận thức sâu sắc được sự thay đổi của thôn quê trước cuộc xâm lăng của đô thị
Nếu thơ của các thi sĩ trên chỉ là những “bức tranh quê”, những bài “thôn ca”, những
hoạ phẩm phong tục và lịch sử quý giá, thì thơ Nguyễn Bính là những nhớ thương lo
âu khắc khoải về sự phôi pha của quê hương Bởi vây sự khác nhau cơ bản giữa thơ họ
là một đằng là nghệ thuật mang tính chất không gian, một đằng là nghệ thuật động,
đậm tính thời gian Sức trẻ của thơ Nguyễn Bính, có lẽ, là thơ của sự thay đổi của cái
dường như không thay đổi” [13;185]
Tác giả Nguyễn Tấn Long thì so sánh với nguồn mạch thơ mới và nhận ra thơ
Nguyễn Bính có: “Mạch thơ như nguồn nước chảy tuôn, tác giả đã sử dụng thơ lục bát
tạo âm điệu nhẹ nhàng êm dịu, buồn lân lân len sâu vào tìm thức, khơi dậy niềm xúc
cảm nghẹn ngào”[13; 281]
Đó cũng làà khả năng sáng tạo ngôn ngữ thơ Đó làà việc “dùng một ngôn ngữ
rất bình dân, những yếu tố thi pháp rất độc đáo của thơ ca dân gian đem lại cho nó một
sinh khí mới mẽ kỳ lạ và tính hiện đại”
Tóm lại thơ Nguyễn Bính “Đó chính là chất thông tuệ khoác y phục giản dị,
chất hiện đại trong nâu sồng dân dã Trí tuệ trong thơ nguyễn Bính là trí tuệ của sương
mù, của hoa bướm, của lửng lơ mây khói” [13;247]
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính đã bàn luận đến
âm hưởng dân gian trong sáng tác của ông nói riêng Nhìn chung những ý kiến nhận
định trên có một vai trò ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc khẳng định tài năng
tâm hồn thơ cũng như sự đóng góp của nhà thơ vào trong phong trào Thơ mới, vào
nền văn học 30-45 này
Trang 11Tuy nhiên, như chúng ta biết một tác phẩm văn chương nào cũng là sự thống
nhất giữa hình thức và nội dung Nội dung muốn chuyển tải được thì phải cần một
phương tiện là hình thưc diễn đạt, ngược lại hình thức sử dụng mà phù hợp, hay và
hấp dẫn thì mới lột tả hết được cái ý nghĩa mà nội dung muốn thông báo Các nhà
nghiên cứu trên chuyên đi sâu vào một góc độ, một khía cạch nên chưa thể có một cái
nhìn đầy đủ, chân xác nhất ý nghĩa giá trị thơ Nguyễn Bính Chẳng hạn, khi đứng
dưới góc độ xã hội học, các nhà nghiên cứu chỉ nhìn vấn đề ở khía cạnh là nó phản
ánh đời sống như thế nào, có như cái “nguyên thể” vốn có của nó không mà ít chú tâm
đến hình thức biểu đạt Ngược lại, dưới cái nhìn của các nhà thi pháp học, thì lại quan
trọng về phương diện hình thức mà thiếu đi sự quan tâm về nội dung bên trong
Chúng tôi với tinh thần học tập, kế thừa, những ý kiến bổ ích của các nhà
nghiên cứu, đi vào tìm hiểu “âm hưởng dân gian” trong một số sáng tác của nhà thơ
trước Cách mạng tháng Tám
III Mục đích nghiên cứu
Nhà nghiên cứu Ngô Thảo có nhận xét “Thế giới vẫn có những con người toàn
thiện và những vật phẩm toàn bích! Nhưng có lẽ những thứ đó để đặt trên bàn thờ
Còn thế gian vẫn sống với những con người chưa toàn thiện và phát triển trong quá
trình sử dụng những vật phẩm chưa toàn bích”[13,374] Thật vậy, con người chúng ta
đã sống, đang sống và sẽ sống với những gì gọi là chưa toàn thiện và toàn bích âý
Theo tôi con đường mà con người đi tìm cuộc sống nó chỉ là “một quá trình”, là một
quá trình để con người tìm kiếm phát hiện, suy ngẫm, thưởng thức và trân trọng giữ
gìn những giá trị trở thành cổ xưa đã đi vào quá khứ Dù vậy, nó cũng không hề “nằm
im dưới đáy mồ” mà luôn được khai quật lên, tìm kiềm phát hiện ra trong đó những tì
vết cũng như những ánh hào quang của nó để thế hệ sau có một cái nhìn đúng đắn
khách quan hơn, để những gì là “chân giá trị” sẽ trở về “chân giá trị”của nó
Cuộc đời – thơ Nguyễn Bính cũng thế, không có điểm dừng, nó là cả một
hành trình để con người tìm kiếm khám phá vẻ đẹp của bức chân dung toàn thiện và
bức tranh thôn quê toàn bích ấy
Tiến hành tìm hiểu âm hưởng dân gian trong một số sáng tác Nguyễn Bính,
nhằm mục đích khám phá ra những giá trị trong thơ của tác giả trên hai bình diện nội
dung và hình thức nghệ thuật
IV Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu âm hưởng dân gian trong một số sáng tác thơ Nguyễn Bính trước
Cách mạng tháng Tám chúng tôi đi vào tìm hiểu hai phương diện Đó là phương diện
nội dung và phương diện hình thức thơ Tất nhiên nội dung và hình thức nghệ thuật bao
giờ cũng là một sự thống nhất hài hòa và cao độ Vì vậy hình tượng thơ không thể
không dung chứa hai mặt đó
Trang 12Vì thế phạm vi nghiên cứu của chúng tôi được xác lập từ cơ sở nói trên Và
chúng tôi xem hệ thống tác phẩm được chọn lọc cho nghiên cứu như là một chỉnh thể
thống nhất, trong đó người viết sẽ đi vào trọng tâm một số tập thơ tiêu biểu của Nguyễn
Bính trước cách mạng tháng Tám như “Lỡ bước sang ngang”, “Tâm hồn tôi”, “Hương
cố nhân”…
V Phương pháp nghiên cứu
Lập trường duy vật biện chứng là cơ sở cho việc khám phá đối tượng nghiên
cứu Đó là Âm hưởng dân gian trong một số bài thơ của Nguyễn Bính trước cách
mạng tháng Tám Thế nhưng, nếu chỉ dừng lại đó thì vẫn là cơ sở, vì vậy để nội dung
nghiên cứu sáng rõ, chúng tôi sử dụng phương pháp như sau
1 Phương pháp phân tích - tổng hợp Chúng tôi tiến hành phương pháp này vì
phương pháp này giúp chúng tôi có thể đi sâu vào vấn đề, bằng hệ thống những luận
điểm và những luận cứ rõ ràng chính xác là cơ sở để thuyết phục người đọc
Với đề tài này, chúng tôi đi vào làm sáng rõ âm hưởng dân gian trong thơ
Nguyễn Bính trên ba phương diện đề tài, chủ đề, cảm hứng thẩm mỹ và thơ của ông
trước cách mạng tháng Tám là những dẫn chứng phong phú và chủ yếu khi tiến hành
phương pháp này
2 Phương pháp hệ thống Đây là phương pháp có ý nghĩa không kém Phương
pháp này giúp chúng tôi có thể trình bày các vấn đề có tính hệ thống, lôgíc nhờ sự sắp
xếp các dẫn chứng và các luận điểm, luận cứ theo một trình tự nhất định
Với đề tài này, chúng tôi còn hệ thống lại các công trình nghiên cứu về cuộc
đời và thơ Nguyễn Bính chủ yếu âm hưởng dân gian trong sáng tác của ông, trên cơ
đó có một cái nhìn khái quát toàn diện hơn về đề tài này
3 Trên tinh thần lý giải và khám phá, phần nào chúng tôi có sử dụng phương
pháp so sánh Phương pháp này giúp chúng tôi có một cái nhìn sâu sắc hơn, xem xét
thơ Nguyễn Bính trong mối liên quan với các nhà thơ cùng thời đặc biệt là nội dung
âm hưởng dân gian được thể hiện trong sáng tác trong âm hưởng chung của thời đại
có điểm gì hay mới mẽ
VI Đóng góp của đề tài
Với đề tài “tìm hiểu âm hưởng dân gian trong một số sáng tác của Nguyễn
Bính trước Cách mạng”, người viết mong muốn góp phần vào việc
Giúp chúng ta có một cách nhìn nhận đánh giá đúng đắn sâu sắc về thơ
Nguyễn Bính, góp phần phục vụ cho việc học tập và giảng dạy tốt hơn
Góp phần nhỏ giúp các bạn sinh viên trong học tập, nghiên cứu và đánh giá về
những đóng góp của thi sĩ vào tiến trình của nền văn học dân tộc
Khẳng định vị trí của nhà thơ trên thi đàn văn học nước nhà Đồng thời ở một
chừng mực nào đó, góp phần vào việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá cổ
Trang 13xưa của cha ông, giữ gìn và bảo vệ sự trong sáng, giàu đẹp của ngôn ngữ dân tộc
trong giai đoạn hiện nay
VII Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần chính
Phần mở đầu
Phần nội dung
Phần kết luận
Trong đó, trọng tâm là phần nội dung với hai chương
Chương I: Cơ sở lí luận của đề tài [từ trang 10 đến trang 15]
Ở phần cơ sở lí luận chúng tôi đi vào tìm hiểu một số vấn đề sau:
Âm hưởng theo từ điển Tiếng Việt
Âm hưởng dân gian trong văn chương bác học
Trong văn chương trung đại
Trong phong trào Thơ mới
Chương II: Tìm hiểu âm hưởng dân gian trong một số sáng tác
của Nguyễn Bính trước cách mạng [từ trang 16 đến trang 62]
Phần nội dung gồm những vấn đề sau:
Âm hưởng dân gian thể hiện trên ba phương diện đề tài, chủ đề và cảm
hứng thẩm mỹ Đề tài chính trong thơ Nguyễn Bính đề tài về tình yêu và ông đi sâu
vào những mối tình dở dang, trắc trở nhưng thơ của ông không mang màu sắc bi quan
bởi nó được dựng trên cái nền của những sinh hoạt văn hóa đậm màu sắc thái dân
gian
Ngoài những phần cơ bản, luận văn còn có phần mục lục ở phía trước và
tài liệu tham khảo ở phía sau
Trang 14PHẦN NỘI DUNG
[]
Chương I Những cơ sở lí luận của đề tài
1 Âm hưởng theo từ điển tiếng Việt
Từ trước đến nay chưa có một giáo trình nào có một khái niệm cụ thể về
thuật ngữ này nhưng nó lại có mặt thường xuyên trên các sách báo.Theo Từ Điển
Tiếng Việt do ông Nguyễn Ngọc Bích, Trần Thu Hằng và Chu Anh Tuấn, Quang
Quý, Quang Minh và theo tự điển do nhóm tác giả Trần Khắc phi, Lê Bá Hán biên
soạn cùng cách giải thích “Âm hưởng là tính cách truyền âm của một phòng hay một
rạp hát” Và nếu chiết tự ra thì ta hiểu rõ hơn về thuật ngữ này Âm là âm thanh,
tiếng động còn hưởng là tiếng vọng lại, như vậy âm hưởng là âm thanh vọng lại.Với
cách lí giải ấy, chúng tôi hiểu âm hưởng nó như cái âm thanh vang vọng bao trùm
lên không gian nào đó và tạo nên một âm hưởng mạnh mẽ và lâu dài Trên cơ sở đó,
chúng tôi hiểu âm hưởng dân gian đó là cái bầu không khí dân gian tỏa khắp trong
các tác phẩm văn học qua các giai đoạn, các thời kỳ và đã được độc giả đón nhận
bằng tấm lòng thành kính và tôn trọng
Âm hưởng dân gian đối với văn học viết nó như một bầu sữa ngọt đã nuôi
dưỡng dòng chảy ấy đi đến ngọn nguồn Nền văn học viết - một đứa con sinh sau đẻ
muộn - thừa hưởng những tinh hoa của văn hóa dân tộc, đến lượt mình không những
đã giữ gìn mà còn phát huy cái tinh hoa ấy đến mức tối cao Nó đem cái không khí
cổ kính xa xưa với những ngày tết cổ truyền rồi những ngày hội hè phả vào trong
không khí thời đại và chính cái mát dịu của làn dân gian phần nào làm vơi đi cái
nóng bức của thời đại Mặt khác, sự tồn tại của làn không khí dân gian trong các tác
phẩm văn học viết phần nào cũng là minh chứng cho sự tồn tại hồn dân tộc vẫn luôn
là mạch nguồn chung của mọi nền văn học
Có thể nói, âm hưởng dân gian đối với văn học viết thể hiện như “cái
hồn”,“cái tinh thần” vì thế nó tác động trên cả hai mặt nội dung và hình thức của các
tác phẩm văn học viết
2 Âm hưởng dân gian trong văn chương bác học
2.1 Trong văn học trung đại
Mỗi một giai đoạn của văn học đều mang đặc điểm riêng Bên cạnh một nền
văn học dân gian truyền thống lâu đời, lưu giữ ở nơi đấy những kinh nghiệm sống,
một nếp cảm, một nếp nghĩ và lối nói năng quen thuộc từ cửa miệng nhân dân, là
sức sống, là kinh nghiệm đấu tranh với xã hội và thiên nhiên, là trí tuệ thông minh
và chất phác và là tất cả những cách ứng xử, những sinh hoạt văn hóa hàng ngày của
người dân lao động thì một nền văn học viết (văn học thành văn, văn học bác học) ra
đời cũng là minh chứng cho sự phát triển văn học dân tộc Một nền văn học đã
Trang 15khẳng định được vị trí của mình bằng những tên tuổi của những cây đại thụ Một
Nguyễn Trãi tài năng uyên bác, một Nguyễn Du sâu sắc tình người, một Hồ Xuân
Hương độc đáo táo bạo, một ông già mù bến ngự, một Nguyễn Khuyến thanh thoát
chốn làng quê, một Tú Xương ngang tàng phóng túng của chốn thị thành
Dù sống và sáng tác trong hoàn cảnh “chịu ảnh hưởng khá nặng nề từ thơ
Đường Trung Quốc” với những quy định khá nghiêm ngặt về niêm, luật, vần, kết
cấu, …nếu không khéo và thiếu bản lĩnh thì các nhà văn, nhà thơ của chúng ta sẽ dễ
rơi vào khuôn sáo Như một quy luật “nơi có hoàn cảnh khắc nghiệt nhất cũng là nơi
để cho những thiên tài bộc lộ khả năng, tài năng và trí tuệ của mình” Rõ ràng cha
ông ta đã đủ bản lĩnh để vượt qua thử thách đó Họ không chỉ biết vay mượn mà còn
biết vận dụng một cách khéo léo và sáng tạo, để những lối thơ xa lạ trở thành một
phương tiện hữu hiệu bộc lộ những tâm tình, ước vọng của những con người Việt
Nam Những thiên tài ấy, họ đã đặt cuộc đời mình trong cuộc đời chung nhân loại,
tạo cho ngòi bút của mình một nền tảng vững chắc không những bằng bản lĩnh và
khả năng độc đáo riêng mà còn bằng “dòng sữa mẹ” ngọt ngào ấm áp, chiếc nôi đầu
đời – dòng văn học dân gian đặc biệt là ca dao – dân ca
Nền văn học dân gian phong phú hơn, giàu có hơn nhờ sự đóng góp không
nhỏ của những câu ca dao, dân ca giàu nhạc điệu, tình cảm Những người dân lao
động vất vả sớm hôm nhưng trên môi vẫn luôn nở nụ cười và cất cao những điệu hò
thân thương; những lời trêu ghẹo, tán tỉnh ngây thơ, trong sáng của những đôi trai
gái… những câu ca dao có từ thời nào, từ khi nào cho đến khi nền văn học viết hình
thành, nó vẫn tồn tại, vẫn không cũ Không khéo léo và nghèo nàn mà vẫn tươi mới
sinh động và đầy sức sống Cho đến một ngày khi dòng thơ Nôm (văn học dân tộc)
xuất hiện vào khoảng thế kỉ XIV, XV bên cạnh đỉnh cao là nền Hán học thì thơ ca
dân gian nhất là lục bát vẫn còn khá phổ biến và sự ảnh hưởng của nó tới các nhà
văn, nhà thơ thời kì này khá đậm
Nguyễn Trãi một nhà nho Hán học uyên thâm, dành trọn cuộc đời mình cho
dân cho nước Những áng văn hùng hồn, không chỉ là những cáo trạng đanh thép,
bản tuyên ngôn của một thời đại mà còn ở mọi thời đại Thế nhưng, trường tồn cùng
thời gian không chỉ là một Nguyễn Trãi với một giọng điệu hào hùng, sang sảng mà
ta còn bắt gặp một Nguyễn Trãi thanh thoát, nhẹ nhàng nhưng cũng không thiếu cái
hài hước, giọng mỉa mai pha lẫn khi ngẫm nghĩ về thế thái nhân tình mang đầy chất
triết lí dân gian
Ca dao có câu “Sông sâu còn có kẻ dò
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”
Cũng với cách so sánh về lòng dạ con người, Nguyễn Trãi có câu
“Biển hiểm nhân gian ai kẻ biết
Ghê thay thế nước vị qua mềm…”
Trang 16Hay “Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết,
Bui một lòng người cực hiểm thay”
Không dừng lại ở đấy, nếu như chiếc nôi ấm áp của thơ ca dân gian góp
phần làm phong phú hơn cho giọng điệu hào hùng của nhà nho Nguyễn Trãi thì bầu
sữa ngọt ngào kia cũng đã mang lại cho tiếng thơ Nguyễn Du thêm mềm mại, trữ
tình hơn Với kiệt tác truyện kiều, Nguyễn Du đã đưa thể thơ lục bát lên vũ đài vinh
quang của dân tộc
Bên cạnh một Nguyễn Trãi đầy triết lí dân gian, một Nguyễn Du mềm mại
trữ tình thì nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng không thua kém gì, đã thâu tóm được trong
khiếu trào lộng của mình nụ cười châm biếm, hóm hỉnh của dân gian bằng lối ngụ ý
bóng gió dè chừng của những câu đố, những cách chơi chữ, cách nói khẩu ngữ dân
gian đã được nữ sĩ họ Hồ vận dụng một cách triệt để
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,
Năm thì mười họa hay chăng chớ
Một tháng đôi lần có cũng không”
( Làm lẽ- Hồ Xuân Hương )
Tiếp nối tính hài hước, hóm hỉnh của Hồ Xuân Hương thì hơn nửa thế kỷ sau
không ai bằng Nguyễn Công Trứ Nhưng đó là cái hài hước, hóm hỉnh đậm đà
phong vị dân gian Tác giả đã xây dựng thành thục thể phú, mang lại cho nó một giá
trị cao Trong đó Hàn nho phong vị phú rất giàu hình ảnh và chất liệu dân gian
Bên cạnh Nguyễn Công Trứ, Tú Xương cũng đầy tính hóm hỉnh dân gian khi
quan sát và miêu tả sự vật xung quanh
“Trên ghế bà đầm ngoi đích vịt
Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng”
( Trần Tế Xương )
Không dừng lại nơi phồn hoa đô hội, chất dân gian ấy còn lan tận đến những
nơi làng quê hẻo lánh và Nguyễn Khuyến là người đã thể hiện sâu sắc điều đó Đó là
những chất liệu ca dao tục ngữ được tác giả sử dụng một cách nhuần nhuyễn Chỉ
riêng một câu thơ khóc vợ, cũng đã chứa đựng nhiều hình ảnh và cách nói năng
quen thuộc, Từ bà lão “hay lam hay làm thắt lưng bó que, xắn váy quay cuồng, tất tả
chân đấm đá chân chiêu” đến ông lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần
lá tọa” đó là cảm hứng lành mạnh về một phong cảnh làng quê thanh bình êm ả
Cánh cò hình ảnh quen thuộc trong ca dao xưa
“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Trang 17Cĩ xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lịng cị con”
Nó trở thành biểu tượng cho nổi vất vả, chịu thương chịu khĩ của người phụ
nữ Việt Nam xưa, hơn thế nĩ cịn là biểu tượng cho phẩm chất cao quí - tấm lịng
thủy chung son sắt của những người mẹ, người vợ Việt Nam Một lần nữa hình ảnh
“cánh cị” dầm sương dãi nắng ấy đã đi vào thơ Trần Tế Xương một cách rất nhẹ
nhàng, chân thành, thấm đượm nghĩa tình
“Lặn lội thân cị khi quảng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đị đơng
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản cơng”
Phan Bội Châu một nhà cách mạng, một chiến sĩ yêu nước, suốt đời dùng
ngịi bút làm vũ khí đấu tranh, đã vận dụng nhiều thể loại như hát dặm hát nĩi, hát
phường vải để phục vụ cho việc tuyên truyền tư tưởng yêu nước
Ảnh hưởng của thơ ca dân gian đến các nhà thơ cĩ nhiều mức độ khác nhau
và tùy thuộc vào quan điểm của các tác giả Cĩ người học tập được trong thơ ca dân
gian như nghĩa nhân đạo, tinh thần lạc quan, ý thức đúng đắn về vai trị của quần
chúng lao động…Cĩ người ở mức độ hạn chế hơn thiên về việc khai thác các thể
loại thơ ca, dân gian và những phương tiện biểu hiện
Nhưng dù thế nào, chúng ta cĩ thể khẳng định một điều rằng: Các nhà thơ
lớn của trung đại và các dân tộc khác trong cùng thời kì này đều tìm thấy ở thơ ca
dân gian một nguồn mạch trong sáng, tươi mát và dồi dào sức sống
2.2 Trong phong trào Thơ Mới
Khơng dừng ở đây, âm vang của thơ ca dân gian lan tỏa đến cả nền văn học
hiện đại, đặc biệt giai đoạn 1930 – 1945 In đậm dấu ấn cuả thời kì này là sự xuất
hiện của phong trào Thơ mới Cái “tơi” lãng mạn cũng đã nhanh chĩng được chấp
nhận và đi vào tình cảm và cuộc sống của cả một thế hệ
Vì sao Thơ Mới lại cĩ một sức ảnh hưởng mạnh như thế ? Nĩi như Hồi
Thanh “Thơ mới là thơ của cái tơi trữ tình” các nhà Thơ Mới lần đầu tiên đã đổi mới
cảm xúc, tạo ra cho mình một cảm xúc mới, nhìn và cảm nhận thiên nhiên, vũ trụ,
con người và cuộc sống trong mối quan hệ hịa hợp Bằng chính rung động của con
tim và khối ĩc Thơ mới đã nĩi lên tiếng nĩi tâm tình của con người một cách chân
thành và thiết tha nhất”
Huy Cận con đẻ của dịng Thơ mới từng nhận xét và phát biểu một cách
khách quan và chân thành về người đã sinh ra mình Ơng cho rằng Thơ mới là thơ
của người, của đời, số phận con người, vui buồn của con người, của cuộc đời là chất
Trang 18liệu của thơ Có lúc người đã thoát lên tiên làm thơ tiên hoặc có người đã chủ trương
thơ điên Nhưng thật ra thơ tiên cũng nói chuyện trần gian và dòng thơ điên vẫn tỉnh
và nhiều khi nói chuyện đời tha thiết da diết tình đời, tình người…
Khi Thơ mới xuất hiện trên thi đàn, nó đã bị thơ cũ đã kích kịch liệt, số phận
của nó phải “ba chìm bảy nổi” Có người cho rằng Thơ mới là tiếng nói lãng mạn xa
vời, thoát li đã vô tình quên đi cái nóng lửa của thực tiễn Nhưng nếu đánh giá như
vậy thì có quá “bất nhẫn” cho nền Thơ mới chăng? Lên tiếng cho vấn đề này, tác giả
Nguyễn Xuân Sanh nhấn mạnh “Thơ mới là những trăn trở sâu xa để tự giải thoát, là
nổi niềm, là những khát khao vui buồn có thật, đợi chờ ước mơ nhớ nhung suy
ngẫm, ảo vọng, lí tưởng, tưởng tượng, những ưu tư xáo động” nhiều tình cảm sót xa,
nhiều tâm niệm bồi hồi, tôi cho cũng điều là mầm mống của sự sống và niềm vui:
niềm vui của trăm nổi lo đời, thầm thỉ mà le lói, long lanh Cũng là tĩnh lặng của
giấc mơ Song không phải không mang theo hơi thở và những hứa hẹn trầm tĩnh hay
phong ba của thời đại của tương lai
Đúng như Giáo sư Trần Đình Sử phát biểu, đó là “thời đại của những hy
vọng và thất vọng lớn, thời đại của những rung chuyển toàn bộ xã hội, trong đó con
người bị hất ra ngoài các quan hệ cố định nhưng cũng chưa tìm được vị trí của mình
trong cuộc đời Thời đại mà mỗi con người tự cảm thấy mình là những cá nhân cô
đơn lạc lõng, bơ vơ đang đi tìm vị trí cho mình Đó là thời đại của buồn rầu, chán
nản, mộng mơ, đợi chờ, mong mỏi vô định”
Nhìn nhận cá nhân trong mối quan hệ với thời đại, có vậy mới cảm thấu
được nỗi buồn của họ - cái buồn thế hệ Hoài Thanh đã rất sâu sắc khi thâu tóm
được “cái hồn thời đại” và phác họa nó lên trên từng gương mặt
Hiểu được không khí thời đại, giúp ta hiểu hơn hơi thở của các nhà Thơ mới
thời bấy giờ, sống trong thời đại như vậy, đặc biệt ảnh hưởng từ nền thơ Pháp họ
càng hiểu sâu sắc hơn nguyên nhân cái buồn ấy.Vậy là mỗi người đã tìm con đường
đi cho riêng mình Nếu Thế Lữ thoát lên tiên, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử quay về
giá trị xa xưa, Xuân Diệu đắm say trong trường tình, vội vã trước dòng thác thời đại
thì Nguyễn Bính - đứa con của phong trào ấy, cứu cánh giúp thi sĩ vượt qua cái buồn
chung là sự trở về với cội nguồn dân tộc, tìm về khung trời đầy kêu gọi, an ủi vổ về
của dòng suối dân gian trong lành và mát lạnh
Trang 19
Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 (khoảng cuối
xuân Mậu Ngọ) tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là tỉnh Hà Nam
Ninh), trong một gia đình nhà nho nghèo
Mồ côi mẹ từ bé, được cậu ruột là ông Bùi Trịnh Khiêm đưa về nuôi và cho
ăn học Do cảnh nhà túng thiếu, nên mới hơn hai mươi tuổi, Nguyễn Bính phải rời
quê theo người anh cả là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Đông, Hà Nội kiếm sống
Nguyễn Bính làm thơ khá sớm, tài năng cuả thi sĩ thật sự nảy nở với thi
phẩm “Cô hái mơ” và đó cũng là tiền đề cho những tập thơ tiếp theo Trong ba năm,
từ 1940 đến 1942, Nguyễn Bính cho ra mắt bạn đọc khắp Bắc Trung Nam liền bảy
tập thơ Với những thi phẩm đó, đặc biệt là “Lỡ bước sang ngang”, “Tâm hồn tôi”,
Nguyễn Bính nhanh chóng được nhiều bạn đọc chú ý
Từ năm 1943 trở về sau, Nguyễn Bính lưu lạc nhiều nơi và đóng góp nhiều
công sức trong công cuộc kháng chiến chống pháp
1.2 Các tập thơ tiêu biểu
Sau hơn 20 năm cầm bút và sáng tác, Nguyễn Bính để lại cho đời hơn 10 tập
thơ trước và sau cách mạng Tiêu biểu: Tâm hồn tôi (1940),Lỡ bước sang ngang
(1940), Hương cố nhân (1941), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mười hai bến nước
(1942), Mây Tần (1942), Không nhan sắc (truyện 1942), Trả ta về (1955), Đồng
Tháp Mười (1955), Gởi người vợ miền Nnam (1955), Đêm sao sáng (1962)…
2 Mấy vấn đề về phong cách thơ Nguyễn Bính
2.1 Phong cách mộc mạc, chân quê
Sự gặp gỡ nhiều nhà nghiên cứu khi tìm hiểu thơ Nguyễn Bính, cho rằng
phong cách chính trong thơ thi sĩ là một phong cách mộc mạc, chân quê
Tác gỉa Tôn Phương Lan trong khi tìm hiểu về phong cách thơ Nguyễn Bính,
có nhìn nhận sau “ khi Xuân diệu, Chế Lan Viên và phần lớn các nhà thơ đương thời
chịu ảnh hưỡng của thơ phương Tây và chính nó đã đem lại cho phong trào Thơ mới
Trang 20những đặc sắc thì Nguyễn Bính mang đến cho phong trào Thơ mới một phong cách
mộc mạc, chân quê, một lối ví von đậm đà màu sắc ca dao Có lẽ vì thế mà ông dễ đi
vào lòng người trong câu hát ru, dễ trở nên gần gũi với tình cảm của những người
quanh năm sống trong lũy tre làng, gắn bó cuộc đời cùng đồng ruộng” [12;209] Và
“Chân quê” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy của tác giả Bài thơ là lời kêu gọi
của chàng trai mong cô gái trở về với chính bản chất thực của mình “đơn sơ, chất
phác, giản dị là nét đẹp tự nhiên của con người Tác giả mong con người giữ nguyên
“quê mùa” ấy cũng là cách gìn giữ “tâm hồn dân tộc”
Chính đặc điểm phong cách này chi phối rất lớn đến các sáng tác của thi sĩ
Tác giả quay về nông thôn, tìm chất liệu sáng tác trong những hình ảnh quen thuộc,
gần gũi với đời sống sinh hoạt của người dân quê Chính đc điểm này làm cho thơ
Nguyễn Bính dễ dàng thấm sâu vào lòng người đọc như phù sa âm thầm bồi đắp cho
dòng ông Ta hãy lắng nghe những câu thơ thật ngọt ngào sau
“Thong thả dân gian nghỉ việc đồng Lúa thì con gái mượt như nhung Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng Ngào ngạt hương bay bướm vẻ vòng”
(Xuân về – 1937)
2.2 Cái tôi cô đơn của một tình yêu dang dở
Mỗi con người sống trên đời không ai không yêu, tình yêu con người vốn rất
phức tạp, nhiều cung bậc, đa dạng phong phú, khó nắm bắt tình yêu có thể nâng con
người lên tột đỉnh hạnh phúc, nhưng cũng có thể đẩy con người xuống vực thẳm của
s ự đau khổ T ình yêu trở thành đề tài muôn thưở của văn chương từ xưa đến nay, là
nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn nhà thơ xưa nay nhất là các nhà thơ trong
phog trào Thơ mới Trên thi đàn văn học, thơ Nguyễn Bính cất lên như tiếng lòng
buồn bã của một trái tim đang thổn thức yêu đương
“Tâm hồn tôi là một bình rượu Rót lần lần giọt mãi xuống nàng Oanh”
Thế nhưng “ Không xua tay nàng vẫn cứ vô tình
Hất ly rượu hồn tôi qua cửa sổ”
(Tựa đề một thiên tình sử)
Tình yêu trong thơ thi sĩ lúc nào cũng chân thực và xúc động nhưng lại hay
dang dở như chính sự dở dang trong cuộc đời thi sĩ Có lẽ vì vậy mà bao trùm lên
trong thơ ông là một giọng điệu buồn thương: “Tình là gì, tình là chi, mà ngàn năm
trước cho đến ngàn năm sau nhân loại vẫn khổ đau vì tình Chính vì v ậy, thơ
Nguyễn Bính hay nói đến những mối tình đơn phương, một phía “Dối lòng, Diệu
vợi, Người con gái ở lầu hoa, Cô hái mơ, Vẩn vơ, Một nghìn cửa sổ…”
Trang 21Có thể nói, chính sự đồng cảnh ngộ ấy giúp thi sĩ Nguyễn Bính dễ dàng thấu
hiểu cảm thông và chia sẻ với những mối tình đơn phương tuyệt vọng của nhân vật
của mình Đó cũng chính là lí do cho sự trường tồn th ơ Nguyễn Bính trong lòng bao
thế hệ độc giả
3 Âm hưởng dân gian trong một số sáng tác của Nguyễn Bính
3.1 Nguồn chất liệu đời sống cho việc kiến tạo nội dung thơ
3.1.1 Đề tài
Theo giáo trình Lí luận văn học tập II do Giáo sư Trần Đình Sử biên soạn, đề
cập Đề tài nh ư sau “đề tài là một phạm vi miêu tả trực tiếp trong tác phẩm để khái
quát lên một phạm vi hiện thực đời sống nhất định có ý nghĩa sâu rộng[15;122]
Phạm vi hiện thực ấy thường được biểu hiện một cách trực tiếp thông qua các nhan
đề hay tên tập thơ Vớí khái niệm này soi rọi vào trong các tác phẩm thơ Nguyễn
Bính với những thi phẩm “Lỡ bước sang ngang”, Tâm hồn tôi” hay “ Người con gái
ở lầu hoa”…thì rõ ràng đề tài xuyên suốt trong thơ Nguyễn Bính là một đề tài tình
yêu
Tình yêu luôn là đề tài muôn thuở của cuộc sống và con người Đã có bao
mối tình vĩ đại đã đi vào trong sử sách và ảnh hưởng mạnh mẻ cho các thế hệ sau
Hai chữ tình yêu mới nghe tưởng như rất đơn giản nhưng không phải ai cũng tìm
được một định nghĩa đích thực và tuyệt đối cho tình yêu, mà ở mỗi người sẽ có một
cách cảm, cách nghĩ về tình yêu theo riêng mình Đương nhiên cái suy nghĩ chủ quan
không thoát ly hiện thực mà nó luôn được đặt trên một nền tảng vững chắc đó chính
là lịch sử thời đại
Mỗi một giai đoạn, một thời kì sẽ có những quan niệm về cuộc sống, con
người, tình yêu khác nhau Có khi ngay trong cùng một giai đoạn,một thời kì, thậm
chí ngay một nhà văn nhà thơ trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau, quan
niệm về tình yêu cũng không giống nhau Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ
có sự khác lạ như vậy Với những thi sĩ khác, tình yêu được bộc lộ một cách trực tiếp,
không có một chút dè dặt
“Tôi yêu em đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai “
(Tôi yêu em – Puskin)
Kiểu tỏ bày tình cảm của người phương Tây là thế, khác xa người người
phương Đông chúng ta Nhưng ta hãy nghe những câu thơ sau đây
“Anh nhớ em nhớ hình nhớ tiếng Anh nhớ em, nhớ lắm em ơi”
(Chế Lan Viên)
Trang 22“Hãy sát đôi môi hãy kề đôi ngực Hãy trộm nhau đôi mái tóc ngắn dài”
(Xuân Diệu)
Táo bạo hơn cả Puskin, Xuân Diệu - một con người rất Á Đông, gương mặt
tiêu biểu của thơ ca giai đoạn 30-45 này lại có những vần thơ đến thế là cùng Nhưng
không phải ai và lúc nào có cùng cách suy nghĩ “mạnh mẽ, dữ dội và cuồng nhiệt”
như Xuân Diệu, Nguyễn Bính một trong những người tiên phong đi ngược lại cách
suy nghĩ “nổi loạn” ấy
“Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê”
(Chân quê – 1936)
Những câu thơ bất tử cùng thời gian cũng chính là tuyên ngôn nghệ thuật của
một nhà thơ suốt cuộc đời đã gìn giữ cho bằng được cái “hồn quê” dân tộc, cái nét
đơn sơ, chân chất, giản dị mà cũng thật nhẹ nhàng, duyên dáng của người Á Đông ta
thời còn trong chiếc nôi của mẹ Âu Cơ và Lạc Long Quân Một con người với quan
niệm như vậy thì có một cái nhìn và suy nghĩ về tình yêu mang đầy chất dân gian là
không có gì lạ Có thể nói “mộc mạc, giản dị, chân thật, thanh đạm, đầm thấm, nhẹ
nhàng mà thiết tha sâu nặng nghĩa tình” là tất cả những từ ngữ dùng để chỉ đặc điểm
thơ tình yêu của Nguyễn Bính
Tình yêu của thi sĩ họ Nguyễn sẽ không dừng lại ở đấy, sâu rộng hơn đó còn là
tình cảm tác giả đối với làng xóm láng giềng, giếng nước, gốc đa mái đình…tất cả
những gì là cuộc sống con người đã đi vào trong thơ ông một cách tự nhiên và chính
những chất liệu dân gian này giúp thơ thi sĩ thấm sâu vào lòng người đọc
Trước hết, tôi xin điểm qua đôi nét về làng quê Nguyễn Bính, Thiện Vịnh làng
quê đã sinh ra và nuôi dưỡng tâm hồn thi sĩ họ Nguyễn, một nhân tố có sức tác động
mạnh mẽ, góp phần quyết định sự thành bại trong cuộc đời của nhà thơ Như Tô Hoài
nhận xét “sức mạnh sáng tạo của Nguyễn Bính cũng từ nơi đồng đất trắng trời trắng
nước này Làng Thiện Vịnh, làng quê trôn rau cắt rốn của ông, cái làng đồng trũng mà
chắc đến mùa nước lũ thì con đê huyện kia chỉ còn là một sợ chỉ mỏng manh bên làng
nước giữa gò đất bờ bụi, tre phao Sao mà lắm gió thế, gió trên đồng đêm ngày giật
lên gào lên từng cơn Làng nước sám ngắt, quanh cảnh tiêu điều lam lũ, ảm đạm nheo
nhóc” Thế nhưng, đọc toàn bộ thơ của thi sĩ chúng ta khó tìm ra được những hình
ảnh cơ cực, lam lũ, vất vả của người dân trước thiên nhiên khắc nghiệt mà chỉ toàn là
những vần thơ bay bỏng lãng mạn
“Bửa ấy,mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”
(Mưa xuân – 1936)
Trang 23Sự gặp gỡ của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình khi tìm hiểu thơ Nguyễn Bính
ở chỗ cho rằng thơ ông quá lãng mạn “hình bóng nó trong thơ lại tươi sáng thơ mộng
và chứa chang thi vị” [13;132 ] Tôi không phủ nhận Nguyễn Bính là một nhà thơ
lãng mạn, nhưng có phải chúng ta nên có một sự suy xét cân nhắc và kỹ lưỡng hơn
vấn đề này Đặc điểm này được lý giải như thế nào và nó có liên quan gì đến chất dân
gian trong thi sĩ họ Nguyễn?
đặc điểm này trong thơ Nguyễn Bính giúp chúng tôi liên tưởng đến những
phẩm chất quý báu của cha ông ta bao đời – một nét đẹp tinh thần, đó là tinh thần bất
khuất, can trường vượt lên từ gian khó bằng một nghị lực phi thường và bằng một trái
tim bay bổng
Xuất thân từ người nông dân, cha ông ta phải luôn chống chọi với thiên tai lũ
lụt, luôn đấu tranh chống ngoại xâm, những gánh nặng ấy nếu không phải là người
nông dân thì khó lòng mà hiểu nổi Vậy mà bên cạnh cái “nợ đời” ấy, ta vẫn luôn bắt
gặp một ánh mắt long lanh trong sáng hồn nhiên, một nụ cười nhẹ nhàng duyên dáng,
một giọng hát êm ái thiết tha, một bàn tay khô cứng nhưng ấm áp nghĩa tình Những
thứ mà người dân có được là gì- tài sản vô giá, đó là một tình yêu, một lòng nhân ái,
đó là một ước mơ, một hoài bảo, một khát vọng và một niềm tin mãnh liệt vào tài
năng và trí tuệ của những con người đất Việt Tất cả những thứ ấy là một sức mạnh vô
giá để con người sống, chiến đấu và chiến thắng moị kẻ thù qua các thời đại
Có thể nói rằng, nếu không có nguồn mạch từ dân gian, không tiếp thu những
suy nghĩ tình cảm, những quan niệm của cha ông xưa thì Nguyễn Bính khó có được
cách nhìn thấu đáo đến như vậy Viết lên những vần thơ lãng mạn, không nhằm lý
tưởng hóa vấn đề như một số người nhận định về thơ ông, phải chăng qua những vần
thơ bay bổng đó, Nguyễn Bính muốn hướng con người đến ý nghĩa khác “lý tưởng
ước mơ cùng niềm tin và nghị lực sẽ giúp con người vượt lên trên những gian khó”
Học tập tinh thần cha ông và đem tinh thần đó vào trong thơ mình phải chăng là sự
bày tỏ tấm lòng tôn kính của mình đối với những giá trị của dân tộc Dõi theo hành
trình thơ Nguyễn Bính ta thấy được tấm lòng ấy trong mảng đề tài tình yêu của thi sĩ
Nguyễn Bính
Là con người ai cũng có cội nguồn Một bờ tre xanh, đồng lúa chín,, một cánh
diều, một dòng sông, một con suối, một đêm trăng ….tất cả nhưng thứ ấy nó như bầu
sữa ngọt đã nuôi lớn bao tâm hồn con người Nguyễn Bính cũng lớn lên từ bầu sửa
mẹ ngọt ngào ấy, hơn ai biết thi sĩ là người hiểu sâu sắc tình cảm của mình với con
người và cuộc sống nơi làng quê
Cuộc sống ấy hiện lên trước nhất với một thiên nhiên thanh bình, ấm áp “một
bầu trời quê trong sáng, giếng nước góc đa thanh bình, hương bưởi, hương cau man
trong đêm, câu hát đậm sắc trữ tình….”
Thiên nhiên đề tài không lạ và được miêu tả bằng chất liệu thi ca truyền thống
thì không hiếm trong văn chương xưa nay và Nguyễn Bính cũng tìm về với những
Trang 24chất liệu quen thuộc ấy nhưng lại có cách biểu hiện của riêng mình Một cánh đồng
mà ở đó còn thơm mùi cỏ rạ, ở đó chiều chiều những em thơ ra thả diều, chăn trâu và
dưới ánh trăng những cô cậu trai gái thì hẹn hò đối đáp bằng những câu hò, điệu hát
băng quơ nào đó
Thiên nhiên sẽ không có hồn nếu thiếu đi con người Đó là những người cha,
người mẹ ngày ngày lao động vất vả ngoài đồng ruộng, chiều chiều trở về cùng quây
quần bên mái ấm gia đình.Cuộc sống cứ lặng lẽ trôi qua cùng nhịp đập thời gian, sẽ
không có thay đổi gì nếu ngày xuân không đến
Truyền thống của nhân dân từ xưa đến nay mỗi khi tết về mỗi người dù đi gần
hay xa thì phải về bên gia đình đoàn tụ cùng cha mẹ, anh chị em.Ttết về là cơ hội để
gia đình hợp mặt và mẹ là người vất vả nhất, có thể nói mọi gánh nặng điều trút lên
đôi vai gầy còm của người mẹ Tất cả những lo toan ấy đã được Nguyễn Bính phát
hiện và miêu tả một cách chân thật và xúc động qua bài thơ “Tết của mẹ tôi”
“Mẹ tôi đi chợ buổi hôm nay Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều
Mẹ tôi lo toan đủ thứ trăm điều”
(Tết của mẹ tôi- 1942) Hình ảnh của người mẹ mỗi khi tết về cùng với bao niềm vui mừng hạnh phúc
và bao gánh nặng lo toan nhưng mẹ vẫn cảm thấy vui và hạnh phúc Hình ảnh người
mẹ chuẩn bị đón tết về gợi lên một bức tranh làng quê trong ngày hội xuân với bao
ánh mắt, nụ cười tưng bừng hớn hở từ cụ già đến trẻ thơ
Làng quê trong thơ Nguyễn Bính hiện lên với những nét “văn hóa”,những
phong tục tập quán, những sinh hoạt cổ truyền bao đời Đúng như nhận định của Hà
Minh Đức về thơ Nguyễn Bính “đó là những nề nếp, phong tục tập quán, thế giới tâm
linh qua tính ngưỡng tôn giáo và cách xử sự trong quan hệ giữa người với người”
Bên cạnh tình yêu đối với làng quê thì tình yêu đôi lứa là đề tài nổi trội nhất
Tình yêu, mùa xuân và tuổi trẻ, ba thuật ngữ này luôn đi liền nhau Vì vậy không phải
ngẫu nhiên trong bốn mùa xuân hạ thu đông thì mùa xuân xuất hieän nhiều nhất trong
thơ của thi sĩ họ Nguyễn Mùa xuân là của những lễ hội, mùa an lành hạnh phúc, là
muà “hồi sinh” của đất trời, cây cối nảy lộc đâm chồi sau những ngày đông giá lạnh,
xơ xác tiêu điều Đây cũng là dịp con người gặp gỡ nhau Người già cao niên thì vui
lễ hội, đình chùa tuổi trẻ thì say sưa trong nhưng điệu múa câu hò câu hát của nhưng
đêm hội làng
Mùa xuân trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều nhà thơ nhất là với các nhà
Thơ mới Anh Thơ nhà thơ nữ trong nhóm Đồng Quê, bằng vài nét phác họa đã gợi
lên một bức tranh mùa xuân với những hình ảnh thật ấm áp thanh bình
“Quán tranh đứng im lìm trong vắng
Trang 25Bên chồm xốn hoa tím rung tơi bời”
(Anh thơ) Khơng thua kém gì Anh Thơ, ĐồnVăn Cừ với một Đám cưới xuân thật tuyệt
“Sau trái đồi lấp lánh ánh sương ngân
Chỉ cĩn nghe văng vẳng tiếng chim xuân
Ca ảnh ơi trên cánh xuân tấm nắng”
( Đồn Văn Cừ)
Vẫn là đề tài ấy, nhưng nếu như Anh Thơ và Đồn Văn Cừ miêu tả thiên
nhiên nĩi chung và cảnh mùa xuân nĩi riêng mang tính “tả chân ” cảnh như thế nào
thì miêu tả như vậy, thì Nguyễn Bính miêu tả cảnh mà vẫn cĩ tình, điểm khác biệt
giữa Nguyễn Bính và các nhà thơ khác chính là ở đĩ
“Đã thấy xuân về với giĩ đơng Với trên màu áo gái chưa chồng Bên hiên hàng xĩm cơ hàng xĩm Ngước mắt nhìn đời đơi mắt trong”
(Xuân về- 1937) Một bức tranh xuân thật trong sáng tươi vui, một thiên nhiên như hồi sinh
Một bức tranh xuân thật cĩ “hồn” và “đơi mắt trong” của cơ gái chính là cái hồn ấy
Đối với nhà thơ, mùa xuân khơng chỉ là mùa của an lành hạnh phúc, mùa của
tuổi trẻ gắn liền với tình yêu mà cịn là mùa của những đơi trai gái hẹn hị nhớ nhung
là mùa của những hy vọng đầy hứa hẹn
Mùa xuân là cả một mùa xanh Giời ở trên cao lá ở cành Luá ở đồng tơi và lúa ở Đồng nàng và lúa ở đồng quanh (Mùa xuân xanh – 1937) Mùa xuân khơng chỉ cĩ ý nghĩa với chúng ta hơm nay, từ lâu nĩ cĩ vị trí trong
lịng dân tộc Nhưng điều cĩ ý nghĩa đặc biệt hơn, mùa xuân đối với làng quê của thi
sĩ càng rộn ràng náo nhiệt hơn với những sinh hoạt, những lễ hội cổ truyền Chính nét
văn hĩa dân gian in đậm trong tiềm thức nhà thơ như một nền tảng vững chắc giúp
ơng thấu hiểu hơn và nĩi lên tiếng nĩi tâm tình của những cơ gái một cách chân thành
và tha thiết
Thế mà hơm nọ hát bên làng
Trang 26Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
( Mưa xuân – 1936) Chính đặc điểm này đã làm cho thơ Nguyễn Bính vừa mang chất dân gian
nhưng cũng rất mới mẽ và hiện đại chính là gì vậy
Có ý kiến cho rằng thiên nhiên chỉ là cái nền để tác giả nói hộ lên tiếng nói
tình yêu của những trai làng, gái làng Vì vậy ta thấy xuất hiện rất nhiều trong thơ thi
sĩ là những hình ảnh quen thuộc gần gũi của làng quê Những thôn Đông thôn Đoài
con đò, bến sông, giàn trầu, buồng cau, giậu mồng tơi, khung cửi đều như nói lên
tiếng nói của trai gái yêu đương
Láng giềng đã đỏ đèn đâu Chờ em chừng dập miếng giầu em sang (Chờ nhau – 1937) Câu thơ đọc lên nghe như thoang thoảng một mùi hương quen thuộc, hình
như trong ca dao xưa thì phải một giậu mồng tơi, một giàn trầu hay một khung cửi
đều mang dáng dấp từ trong dân gian
Dân gian có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện” từ xưa đến nay có biết bao
trai gái gặp gỡ, nên duyên chồng vợ cũng chính là nhờ vào những miếng trầu xanh ấy
“trầu xanh thắm đượm nghĩa tình” một trong những lễ vật không thể thiếu của nhà
trai đưa sang nhà gái trong ngày rước dâu chính là miếng trầu Nguyễn Bính đã mượn
hình ảnh “lá trầu” trong dân gian để làm thành một bài thơ tình yêu thật tuyệt Nói
vậy không có nghĩa là “copy” hòan toàn mà là sự “vay mượn” có sáng tạo Nhờ vậy
những câu thơ đọc lên rất tự nhiên, nhẹ nhàng và cũng thật dí dỏm hồn nhiên
“em nghe họ nói mong manh hình như họ biết chúng mình với nhau”
(Chờ nhau – 1937) Với hình ảnh lá trầu xanh, Nguyễn Bính đã mang lại cho người đọc một cảm
giác sảng khoái ngọt ngào như vừa được tắm mình nơi dòng suối mát lạnh
Bên cạnh lá trầu, giậu mồng tơi trở thành hình ảnh rất quen thuộc trong cuộc
sống hằng ngày của mỗi con người, đặc biệt là người nông thôn Là một món rau dân
dã nhưng khi vào trong thơ thì nó trở thành biểu tượng Biểu tượng cho tình yêu
“Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn”
(Người hàng xóm – 1937) Con đò, bến sông vốn là hình ảnh ẩn dụ của ca dao xưa và nay
Trang 27“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Nguyễn Bính đã vận dụng sáng tạo những hình ảnh này
“Hôm nay dưới bến xuôi đò Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy anh về đâu Cánh buồm nâu…cánh buồm nâu…cánh buồm”
Vốn dĩ là những hình ảnh quen thuộc của đời sống và mang âm hưởng từ ca
dao xưa nhưng khi xuất hiện trong thơ thi sĩ nó lại thấm vào một cái hồn mới “hồn
dân tộc hòa trong hơi thở thời đại”
Tấm Cám trở thành câu chuyện cổ tích nổi tiếng, khi đọc đến câu thơ “em là
con gái trong khung cửi “ thì tôi lại nghĩ ngay đến câu chuyện này Chăn tằm, dệt lụa
là công việc gắn liền với các cô gái Với những đôi tay xinh xắn, trắng trẻo quay đều
trên từng khung cửi theo nhịp đập của thời gian Một công việc không có gì là nặng
nhọc cho lắm nhưng có một ý nghĩa rất lớn, nó đòi hỏi sự cần mẫn, kiên nhẫn, sự
khéo léo cùng một tình yêu trong sáng, giản dị Chính tình yêu ấy là một động lực rất
lớn làm vơi đi sự mệt nhọc của công việc
Hình ảnh chiếc khung cửi ta thấy được một tình yêu hết sức trong sáng đầm
ấm của những đôi trai gái Đó là một tình yêu trong sáng hồn nhiên như những cây
lụa trắng, như một bài thơ, một khúc nhạc nhẹ nhàng, lai láng trong lòng của mỗi
người khi đọc lên những vần thơ như thế Không thể phủ nhận một điều, đọc thơ của
thi sĩ đến những người khó tính nhất cũng không thể phủ được cảm giác “nhè nhẹ”,
“lâng lâng” mát rượi của làn không khí dân dã mộc mạc của cuộc sống con người
nhưng nó không kém cái tha thiết lắng đọng của tình đời tình người
Đến đây ta có thể khẳng định một điều rằng “Nguyễn Bính một tài năng của
thế kỉ XX, nghĩa là một con người mang “vóc dáng hiện đại” hòa trong “tâm hồn dân
tộc” Đó chính là sự kết hợp những nét “đột phá” của riêng thi sĩ với cái “hồn dân tộc”
Đó không chỉ là những phong tục, những sinh hoạt văn hóa của cha ông bao đời mà
nó còn là tất cả những gì là cuộc sống, là một nếp nghĩ, nếp tình cảm đã ăn sâu vào
trong tiềm thức, trong huyết quản của mỗi con người, đã đựợc các thế hệ sau giữ gìn
và phát huy để những giá trị cổ truyền trở thành viên ngọc quý báu của dân tộc Và
Nguyễn Bính chính là một trong những thế hệ sau đã hồn thành sứ mệnh ấy, đã giữ
gìn và phát huy một cách tốt nhất Làm được điều đó chính nhờ cái chất dân gian
thấm sâu vào trong mạch ngầm, cội nguồn tình cảm, suy nghĩ của nhà thơ và bằng tài
năng của mình thi sĩ đã mang cái không khí, cái hơi thở ấy phả vào trong từng câu
chữ, từng hình ảnh thơ
Trang 28Dân gian ta có một đặc điểm, cái gì càng cầu kì phức tạp thì càng không thích
càng đơn giản càng tốt Và đó cũng là đặc điểm làm cho văn học bình dân khác xa với
văn học bác học (Văn học viết) Điều này phù hợp với tâm lý của con người Việt Nam
nhất là với một nền nông nghiệp lúa nước Sự đơn giản ấy thể hiện ngay trong cách ăn
mặc, đặt tên cho con, nào là cu Tèo, cu Tí, cu Chuột hay thằng Hai, thằng Ba, cái
Lớn, cái Bé…vậy đó miễn sao nó vừa đơn giản mà thuận tiện là được Tiếp nhận đặc
điểm này của người dân quê, làng quê Nguyễn Bính hiện lên với những tên gọi hết
sức tự nhiên thân thuộc, đó là những Thôn Đòi, Thôn Đông, những làng Xoài, làng
Ngang, làng Đặng Những tên làng, tên xóm ấy đi vào trong thơ thi sĩ một cách rất tự
nhiên và nó cũng là nơi đã nuôi lớn biết bao tâm hồn, là nơi của những đôi trai gái gặp
gỡ, yêu đương và đi đến thành vợ chồng, thế hệ này cứ nối tiếp thế hệ trước đã giữ gìn
và phát huy cái bản sắc quý báu của riêng mình
Có thể khẳng định rằng, tất cả những hình ảnh hiện lên trong thơ Nguyễn Bính
đó là những hình ảnh thật quen thuộc từ trong dân gian đã được tác giả vận dụng một
cách sáng tạo.Chính vì vậy, đọc đến chỗ nào ta cũng thấy cái âm hưởng dân gian nó
như một làn khói bay tỏa trong khắp không gian thơ Nguyễn Bính, như con suối nhỏ
len lách trong từng ngỏ ngách, từng khe núi, khó có thể phát hiện một cách trực tiếp
nhưng người đọc vẫn luôn cảm nhận được cảm giác “nhẹ nhàng êm ái” như được
quay về với những ngày tháng xa xưa, sống trong thế giới của những truyện cổ tích
thần kì với những cô Tấm siêng năng chăm chỉ, những ông tiên ông bụt hiền lành,
như được sống lại với những ngày hội cổ truyền, những ngày tết nguyên đán, những
bao lì xì của những người ông người bà, được nhìn thấy những nụ cười rạng rỡ trên
đôi môi của những em bé trong bộ đồ mới đầu năm
Không dừng lại ở cách gọi tên làng, tên xóm, từ những cách xưng hô của các
nhân vật trong tác phẩm cũng đã thấp thoáng bóng dáng cách xưng hô trong ca dao
với những đại từ phiếm chỉ không xác định rỏ đối tượng “cô”, “ai” - cách xưng hô hết
sức tự nhiên và khôn khéo của những chàng trai trong các bài ca dao xưa đến ựa mình
Nguyễn Bính đã vận dụng một cách sáng tạo
“Một hôm thấy cô cười cười Tôi yêu yêu qúa nhưng hơi mất lòng”
(Qua nhà – 1936)
Có một điều như đã trở thành quy luật khi trong hiện thực con người không
được toại nguyện, không bằng lòng hay không thỏa mãn với cuộc sống thường tìm
đến với những ước mơ hay những giấc mộng Đúng như nhận định của tác giả Đỗ lai
Thúy “Sự mơ mộng như màn sương mỏng manh, bàng bạc khắp thơ Nguyễn Bính
và“cánh bướm” biểu tương của giấc mộng cũng hình ảnh xuất hiện nhiều nhất trong
thơ thi sĩ
“Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bướm trắng thường sang bên này”
Trang 29Sự mơ mộng vốn trở thành một nếp nghĩ trong thói quen của người Việt Nam
Không phải khi làm ruộng gặp cảnh sái trời sái tiết thì người nông dân thường hay
thốt lên “Cầu cho mưa thuận gió hòa” đó sao? Tưởng như là câu cửa miệng nhưng nó
cũng là ước mơ thật chính đáng, chính những ước mơ ấy tiếp thêm sức mạnh để con
người chống chọi lại thiên nhiên Những lúc mong muốn cái thiện thắng cái ác, lại
xuất hiện hình ảnh ông tiên, ông bụt (Tấm Cám), con phượng hoàng (An khế trả
vàng) giúp cho người hiền tìm lại hạnh phúc Vì vậy, mô típ “giấc mơ” trong thơ
Nguyễn Bính có nguồn gốc từ trong dân gian, trong những chuyện cổ tích và giấc mơ
anh lái đò là một bằng chứng tiêu biểu
Có thể nói, giấc mơ tuy mang tính không thực – hư ảo, nhưng ở khía cạnh
khác nó lại là một niềm tin, nguồn sức mạnh để tiếp sức, nâng đỡ con người vượt qua
những thử thách Đó cũng chính là đặc điểm trong tính cách của con người Á Đông
Một lần nữa ta lại bắt gặp một sự “giao thoa” trong suy nghĩ, trong nhận thức giữa hai
lớp thế hệ Hay nói đúng hơn ta bắt gặp một nếp sống, một nếp nghĩ của cha ông
trong thơ Nguyễn Bính, và đó chính là biểu hiện chất dân gian trong thơ thi sĩ họ
Nguyễn
Tóm lại, tình yêu trong thơ Nguyễn Bính là mảng đề tài xuyên suốt và rộng
lớn trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ, đã thật sự thành công và đã để lại sức sống
mạnh mẽ trong lòng bao độc giả không chỉ ở tình yêu của thi sĩ đối với làng quê, mà
còn là tất cả cuộc sống và con người nơi làng quê mình trong đó tình yêu lứa đôi đã
chiếm một vị trí khá quan trọng trong toàn bộ sáng tác của ông Đó là tình yêu được
bắt nguồn từ trong cội rễ nhân dân, trong lòng dân tộc, gốc rễ ấy ăn sâu bám chặt trở
thành những nét sinh hoạt văn hóa dân gian, những phong tục cổ truyền, và tình cảm
cha ông từ bao đời
3.1.2 Chủ đề
Theo giáo trình lý luận văn học tập II do giáo sư Trần Đình Sử chủ biên định
nghĩa như sau “Chủ đề trong tác phẩm văn học trước hết chỉ một số nét tư tưởng lặp
đi lặp lại trong tác phẩm của nhà văn…” Với ý nghĩa này người ta còn gọi là mô típ
văn học Từ các chủ đề trên mà hình thành vấn đề cơ bản của tác phẩm, phương tiện
chính yếu của đề tài Khi phản ánh hiện thực nhà văn chẳng những xác định một
phạm vi hiện tượng đời sống mà còn tập trung soi rọi một vấn đề có ý nghĩa hàng
đầu trong phạm vi đó
Với định nghĩa này, soi rọi vào trong vấn đề mà tôi vừa trình bày trên ta thấy
“mạch nguồn chảy xuyên suốt và chính yếu trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Bính
vẫn là một mạch cảm xúc của yêu thương, của tình yêu” Nhưng nổi bật trong đề tài
tình yêu ấy, vấn đề được tác giả tập trung soi rọi nhiều nhất đó chính là một tình yêu
dở dang, lỡ làng, một tình yêu đơn phương và tuyệt vọng Qua các nhân vật ta thấy
thấp thoáng bóng dáng của chàng thi sĩ nhà quê mang nặng “khối sầu đơn lẻ”
Trang 30Vấn đề bao trùm trong sáng tác Nguyễn Bính chính là vấn đề tình yêu và
cuộc sống nhưng tình yêu không được may mắn, không tìm được những hạnh phúc
trọn vẹn (kể cả chàng trai và những cô gái) Đó là những nổi niềm băn khoăn trăn
trở, tiếc nuối ngặm ngùi và cuối cùng là sự chia cắt, dang dở Vậy thì tác giả đã lý
giải vấn đề đó như thế nào?.Trước hết với lập trường nhân đạo chủ nghĩa, tác giả
nhận ra những ước vọng sâu xa trong phạm vi đời tư của họ, những khát khao, đòi
hỏi, mong muốn trong tâm tư đã được tác giả đón nhận bằng một tâm hồn và một trái
tim chân thành, bằng một sự đồng cảm sâu xa
Bản thân nhà thơ là nhân tố có sức tác động to lớn, một con người cũng lắm
bất hạnh trong tình duyên, những mối tình không được suông sẻ, để lại vết thương
lòng khó phai nên nhìn đời bằng một cặp mắt khá bi quan chỉ toàn thay sự chia cắc,
sự dở dang Cái nhìn đời của nguyễn Bính là cái nhìn buồn, buồn sâu sắc thấm thía,
nhìn vào đâu anh cũng lọc ra cái khía cạnh xót thương, ly tán, dâu bể vô định
Gió lạnh sương sa nặng hạt rồi
Thuyền ta đậu lại bến này thôi
Sớm mai xuôi ngược về đâu nhỉ?
Nào biết về đâu kẻ ngược xuôi?
(Không đề)
Nhưng cái tình duyên lận đận ấy cũng bởi một nguyên nhân khác “cái
nghèo” và “cái nghiệp thơ” Người đời hay thường chế nhạo bằng một giọng vui đuà
về cái nghèo của người nghệ sĩ Đúng như một người tình cũ của ông từng tâm sự
“Tài thì ở đất này khó có người có được như ảnh, tình thì ai cũng rất thương Nhưng
nếu lấy ảnh thì lấy chi mà ăn, lấy chi đảm bảo hạnh phúc? Cho nên bọn con gái
chúng tôi thời đó, kể yêu thì cũng yêu ảnh thiệt, song đành phải kính nhi viễn chi! ”
Chính nhà thơ nhiều lần thú nhận điều ấy
Ai bảo mắc vào duyên bút mực Suốt đời mang lấy số long đong Người ta đi kiếm giàu sang cả Mình chỉ toàn mơ chuyện viễn vong Hay Châu ngọc làm sao hái được nhiều
Tôi là thi sĩ của thương yêu
Lấy đâu xe cưới ngời hoa trắng?
Với những mâm cau phủ lụa điều?
(Một trời quan tái)
Trang 31Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo Nguyễn Bính không được đến lớp,
phải học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Bạo Đình sau được cậu một là ông Bùi
Trịnh Khiêm nuôi dạy Lớn lên, cũng chính cái nghèo ấy là một trong những nguyên
nhân đã để lại vết thương lòng cho nhà thơ, mối tình trong sáng của thời thơ ấu với
em Nhi mà thi sĩ đã đặt vào đó biết bao hy vọng và mơ ước
“Thưở ấy làm sao thật thái bình Trai hiền với bạn gái đồng trinh Đời say men rượu thơm hoa rụng
Tràn những thơ ngây ngập cảm tình”
Nhưng sự thật đó cũng chỉ là một giấc mộng, khi tỉnh ra
“Hoa thừa rươu ế ấy tình tôi
Xa rồi vườn cũ hoa cam rụng Gặp lại nhau chi muộn mắt rồi”
Tiếp tục hành trình trên con đường tìm kiếm tình duyên ấy, đối với nhà thơ
vẫn là sự nối tiếp của những đắng cay bẽ bàng
… xây bao nhiêu mộng thế là Đến nay phải gọi người là cố nhân … Quả là đau xót cho một tài năng lở dở, tài cao phận thấp, nỗi niềm này đã
phẩn phất trong các sáng tác của thi sĩ và giấc mơ anh lái đò là tiêu biểu hơn cả
Nếu như “nghèo” đối với thi sĩ là một cái tội thì hoàn cảnh xuất thân mồ côi
mẹ lại càng là nguyên nhân đáng thương hơn Đúng như nhận xét của tác giả Hoài
Việt “từ lúc bắt đầu mắt mở lóa ra trước ánh sáng của vũ trụ cho đến lúc nhắm mắt
vĩnh viễn rơi vào cõi hư vô đen kịt anh chưa được một lần cất tiếng gọi mẹ Đối với
sinh vật không có nổi bất hạnh nào lớn hơn thế Tình thương của người cha, người
anh ruột dù thiết tha đằm thấm mấy cũng không thay thế được tình mẫu tử thiêng
liêng, có chăng anh tìm thấy chút nào ở một người như anh thường tâm sự với tôi
một chị Trúc đã đi vào nhiều bài thơ anh, một chị Trúc mà anh gửi gấm bao nhiêu
điều gan ruột [1;250] Tôi hiểu một điều rằng, khi con người mất mát thứ gì trên đời,
nhất là sự mất mát của tình thương, tình thân, tình mẹ con là một điều bất hạnh và
đau khổ vô cùng Để khỏa lấp cái khoảng trống tâm hồn ấy, Nguyễn Bính tìm một
cứu cánh, một chỗ để bám víu, đó là hình ảnh chị Trúc, là nơi mà nhà thơ có thể
nương tựa tâm hồn những khi cảm thấy cô đơn, lạc lõng
Không dừng lại ở những nổi niềm riêng, Nguyễn Bính đã đem cái “hoàn
cảnh riêng” của mình mà hòa vào “cái chung” của thời đại Đúng như nhận xét của
tác giả Trần mạnh Hảo “hãy đọc lại những bài bi hùng của ông như “Giờ Mưa ở
Huế”, “Xuân tha phương”, “Oan nghiệt”…chúng ta sẽ được nhập vào không khí
Trang 32quận quại đến mắt cả hình hài, đau thương một cách dữ dội vừa đồng bóng, để thêm
nổi chia sẽ với vong thân, vong quốc, vong hồn của cả một thế hệ thanh niên 1945
khi mất nước, mất nhà Quả là cái hồn thơ của Nguyễn Bính cuồn cuộn quá, như con
thác chảy phăng xô dạt chủ nghĩa và vầng điệu của một thời và của các thế hệ mai
sau [12;247] hay một ý kiến khác “hít thở khí quyển của thời cuộc, Nguyễn Bính
tránh sao được nổi buồn, đôi lúc còn bi phẩn nửa, bi phẩn trong cô đơn, trong phiêu
bạt
“Một thân lữ thứ sầu phong tỏa Đột ngọn đèn lên bóng rợn tường”
(Xuân vẫn tha hương)
Có lúc người thơ ấy muốn lên đường “Giầy cỏ gươm cùn ta đi đấy (Vũ Quần
Phương) nhưng đi đâu bây giờ khi chưa tìm được một hướng đi cho cuộc đời
Sự kết hợp của ba nhân tố: gia đình, bản thân và thời đại có sức tác động rất
lớn đến sự nghiệp sáng tác thơ ca của Nguyễn Bính và cũng là nhân tố tạo nên những
vần thơ đầy lắng động và sâu xa Nhưng khúc hát trầm buồn kia không trở thành bi
quan bi lụy bởi nó được dạo nên bằng cái hơi thở, cái làn điệu và cái âm vang của
nền văn hóa dân gian, của những tính ngưỡng, những tập tục lễ nghi cổ truyền,những
lễ hội, sinh hoạt văn hóa dân gian, những nếp sống, nếp nghĩ ăn sâu trong tìm thức
của mỗi con người Việt
Có được sự thành công lớn ấy trước nhất do bản thân nhà thơ - một con
người xuất thân từ nông thôn, làng quê Từ thuở biết chập chững đến khi biết tung
tăng bay nhảy, tuổi thơ ấy đã gắn liền với những cánh diều bay, những con trâu con
nghé ngoài đồng ruộng Đến tuổi lớn khôn, cuộc sống gắn liền với những đêm hội
làng những ngày tết cổ truyền…hơn ai hết, anh chàng nhà quê ấy hiểu sâu sắc những
sinh hoạt của cuộc sống làng quê cũng như những kinh nghiệm, suy nghĩ ước mơ,
tình cảm và khát vọng của con người và nhất là người phụ nữ
Không chỉ có thế, trưởng thành đúng vào thời điểm luồng tư tưởng văn hóa
phương Tây như một dòng thác mạnh mẽ, có một sức tác động rất lớn và nó có nguy
cơ cuốn phăng đi tất cả những gì là “giá trị” của quốc gia, dân tộc Nguyễn Bính thấy
được mặt tích cực, tiến bộ của nó nhưng đồng thời cũng nhận ra những tác hại vô
cùng to lớn của nó, không thể “hòa” vào cái dòng chảy chung của thời đại Vì vậy
với ông chỉ còn cách quay về với cội nguồn và chiếc nôi dân gian là tổ ấm, là nơi
sưởi ấm tâm hồn đang trống trải, cô đơn, lẻ loi trước cuộc đời Không riêng gì
Nguyễn Bính, một số người cũng chung suy nghĩ và tâm trạng ấy Mới đầu người ta
cảm thấy nó mới lạ, hấp dẫn, lôi cuốn nhưng thời gian sau con người cảm thấy ngột
ngạt trước nhịp đập xô bồ của nó và trở về với cội ngồn như một nhu cầu giải thoát
và bù đắp về tinh thần là điều có ý nghĩa rất lớn Như vậy, chủ đề tác phẩm đã được
lý giải chủ yếu từ phương diện đời tư cá nhân; xã hội, thời đại, lịch sử; lối sống tâm
lí phong tục sinh hoạt …
Trang 33Để cho sự lí giải của mình có sức thuyết phục nghĩa là có tính chân thực
khách quan, Nguyễn Bính không những để cho nhân vật của mình tự bày tỏ nỗi niềm
bằng giấc mơ quan trạng, nỗi tương tư mong đợi đến tiếc nuối của những cô lái đò,
cô hái mơ…
“Xuân này đến nữa đã ba xuân Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi ước với tình quân”
( Cô lái đò) Đến lượt mình, có những lúc chính thi sĩ từng thốt lên sự trăn trở trong tình
yêu và trước cuộc đời
“Hồn tôi giếng ngọt trong veo
Trăng thu trong vắt biển chiều trong xanh
Hồn cô cát bụi kinh thành
Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe”
(Tình tôi – 1940) Hay “Thế rồi trên bến một đêm kia
Người khách tình duyên lại trở về
Cô gái đã vui duyên phận mới Khách còn trở lại nửa làm chi…”
Sự lí giải chủ đề còn được thể diện thứ hai: lôgic của sự việc miêu tả Hai
mặt này thống nhất với nhau nhưng trong một số trường hợp có sự mâu thuẫn giữa
hai phương diện lí giải đó, chẳng hạn sự lí giải cuộc sống trong truyện Kiều của
Nguyễn Du Chủ đề của tác phẩm là sự bất hạnh của người tài sắc và tác giả đã lí
giải vấn đề ấy bằng quy luật “Tạo vật đố tài” nhưng hình tượng vận động trong thơ
xét cho cùng, nguyên nhân sâu xa của sự bất hạnh ấy chính là do cái xã hội gây nên
Nhưng còn với Nguyễn Bính, ông đã không vướng phải khiếm khuyết ấy Tất cả sự
trắc trở trong tình duyên được tác giả lí giải nếu không phải do cái nghèo của bản
thân thì cũng do cái xã hội còn nhiều quan niệm lạc hậu cố hữu(môn đăng hộ đối),
quyền quyết định vẫn thuộc về cha mẹ… vì vậy sự xuất hiện “giấc mơ quan trạng”
trong thơ thi sĩ là rất hợp lí, bởi khi con người nghèo khổ thì thường hay mơ đến
những thứ tốt đẹp nhất, được làm “quan trạng” đồng nghĩa là con người có tất cả Sự
miêu tả ấy không diễn ra theo lôgic thông thường mà nó được diễn ra theo lôgic của
tâm lý Hình ảnh của cô gái trong Lỡ bước sang ngang cũng được miêu tả theo mạch
Trang 34lôgíc này Một cuộc hôn nhân không có tình yêu, hạnh phúc (do cưỡng ép) thì coi
như đã chết- cái chết của tâm hồn
“Chị giờ sống cũng bằng không Coi như chị đã sang sông đắm đò”
(Lỡ bước sang ngang – 1939)
Vì vậy, các nhân vật trong tác phẩm rất thật, rất có hồn và quen thuộc gần gũi
hơn với chúng ta không chỉ vì nó phù hợp với tâm trạng của những cô gái quê một lần
se duyên không phải bến là trọn đời đau khổ mà thôi” Ca từ trong bài hát sao mà
giống với hơi thở “buồn não ruột” của cô gái trong “Lỡ bước sang ngang” đến như
vậy Lời ca trong bài hát là minh chứng thiết thực cho sức vang của thơ Nguyễn Bính
đến tận ngày hôm nay
Thân phận người phụ nữ cùng với những éo le, những trắc trở trong tình
duyên không phải là đề tài mới lạ Chẳng phải từ xưa ca dao ta đã có biết bao “thân
em” rồi đó sao?
“Thân em như tấm luạ đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
“Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân”
Nguyễn Du với Truyện Kiều bất hửu chẳng phải nói lên thân phận người phụ
nữ đau khổ, lỡ làng trong tình duyên là gì? Sống trong một xã hội mà quan niệm
phong kiến còn quá khắt khe, điạ vị của người phụ nữ chưa được tôn trọng, đánh gía
đúng mức thì “những thiên lệ sử” (Hoàng Như Mai) xuất hiện ngày càng nhiều
Do đó ta thấy xuyên suốt trong tòan bộ sáng tác của Nguyễn Bính là những
mối tình dỡ dang, bất hạnh Nhu cầu muốn được giãi bày, được bộc lộ trở thành nhu
cầu bức thiết nhất của bao người con gái Vì vậy ta hiểu được vì sao “Lỡ bước sang
ngang” hay “Làm dâu” là những thi phẩm có sức tác động mạnh mẽ đến các thế hệ
độc giả đến như vậy
Mở đầu câu chuyện là lời dặn dò của người chị trước khi về nhà chồng
“Cậy em, em ở lại nhà Vườn dâu em đốn mẹ già em thương”
Những câu thơ đọc lên ta có cảm giác quen quen, hình như nó xuất hiện đâu
đó rồi
“Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
(Truyện Kiều)