Đối tượng nộp thuế : Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định tại điều 3 của luật thuếgiá trị gia tăng lác tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hànghoá, dịch vụ ch
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU Thuế giá trị gia tăng được tiến hành thí điểm ở Việt Nam từ tháng 9 năm 1993 Qua một thời gian thực hiện, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn và chọn những bài học thành công, thất bại của một số nước trên thế giới, dự thảo luật được xây dựng từ đầu năm 1995, được Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 11 thông qua vào giữa tháng 5 năm 1997 và bắt đầu áp dụng chính thức trên diện rộng từ 1/1/1999 Việc ban hành thuế giá trị giá tăng là một bước cải cách quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của Việt Nam.
Về lý thuyết, thuế giá trị gia tăng có tính khoa học rất cao, có khả năng tạo được công bằng trong việc thu thuế, khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, xuất khẩu,bảo hộ sản xuất trong nước, ổn định nguồn ngân sách Nhà nước và đặc biệt là khắc phục được sự trùng lắp, chồng chéo qua nhiều khâu của thuế doanh thu.
Sau một thời gian thuế giá trị gia tăng đi vào cuộc sống, chúng ta đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, đây là một sắc thuế còn rất mới đối với nước ta nên trong quá trình áp dụng không tránh khỏi những vướng mắc Việt Nam đang trong tiến trình phát triển và hội nhập với nền kinh tế Khu vực và Thế giới Một trong những yêu cầu đặt ra trong quá trình hội nhập là phải tiến hành cải cách, đổi mới và hoàn thiện hệ thống thuế hiện hành để phù hợp với điều kiện phát triển
và hợp tác Quốc tế là tất yếu
Qua tìm hiểu, nghiên cứu, bản thân muốn biết thêm về sắc thuế này, em xin
chọn đề tài “ Thuế giá trị gia tăng trong Thương mại dịch vụ và vai trò của nó trong thúc đẩy kinh doanh ” Đề án được trình bày gồm những phần sau:
Chương I : Thuế giá trị gia tăng trong Thương mại dịch vụ.
Chương II : Thực trạng của thuế giá trị gia tăng trong Thương mại dịch
vụ nước ta hiện nay.
Chương III : Hướng giải quyết những vướng mắc của luật thuế giá trị gia tăng trong các ngành nói chung và Thương mại dịch vụ nói riêng.
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Đặng Đình Đào đã giúp em hoàn thành đề
án này Do còn hạn chế về trình độ và điều kiện nên khi trình bày đề án còn nhiều sai sót, kính mong thầy cô xem xét, chỉ bảo để đề án được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên : Lương Ngọc Hoàng.
Trang 2CHƯƠNG I : THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG THƯƠNG MẠI DỊCH
- Thuế giá trị gia tăng là loại thuế đánh trên diện rộng, bởi lẽ qua loại thuếnày về mặt lý thuyết mọi hàng hoá và dịch vụ đều có thể đưa vào diện đánhthuế
- Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế tinh trên giá thể hiện ở chỗ tiền thuếphải được tính một tỷ lệ % nhất định trên giá cả mà không phải là số tiền cốđịnh trên hàng hoá và dịch vụ
- Thuế giá trị gia tăng đánh trên nhiều giai đoạn khác nhau từ sản xuất,phân phối đến tiêu thụ các loại hàng hoá và dịch vụ
- Trong đó, giá trị tăng thêm là khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch
vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và khoản giátrị tăng thêm này do người tiêu dùng chịu
2 Mục đích :
Mục đích của thuế giá trị gia tăng là nhằm khuyến khích các nhà doanhnghiệp đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động, chất lượngsản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, tạo tích luỹ cao cho doanh nghiệp, tăng tỷ lệhuy động cho Ngân sách Nhà nước Thuế giá trị gia tăng góp phần khuyếnkhích mạnh mẽ sản xuất hàng hoá xuất khẩu vì mức thuế hàng xuất khẩu là0%, ngoài ra còn được thoái trả lại toàn bộ số thuế giá trị gia tăng đã nộp ởkhâu trước, tạo điều kiện cạnh tranh trên thị trường Khu vực và Thế giới Thuếgiá trị gia tăng hàng nhập khẩu có tác dụng thiết thực bảo vệ sản xuất kinhdoanh hàng nội địa, đẩy mạnh sản xuât hàng hoá theo hướng xuất khẩu
3 Vai trò của thuế :
Trong nền kinh tế thị trường, thuế có vai trò chủ yếu sau :
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước : Thuế là nguồn thuvật chất quan trọng đảm bảo cho sự phát triển và tồn tại của bộ máy Nhà nước
Trang 3và các mục tiêu kinh tế xã hội khác, để có một nền tài chính Quốc gia lànhmạnh thì chủ yếu phải dựa vào nguồn thu từ mọi nội bộ nền Kinh tế Quốc dân.Tuy nhiên, giới hạn của thuế không bao giờ cho phép lớn hơn hoặc bằng thunhập Quốc gia thuần.
- Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế : Thuế có vai tròquan trọng trong việc kiểm kê, kiểm soát, phân tích, hướng dẫn và điều chỉnhhoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác trong tất cả các thànhphần Kinh tế Việc xác định đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ giữa các loạithuế, xác định mức thu hợp lý giữa các đối tượng tính thuế, phương pháp quản
lý thuế phải góp phần khuyến khích, nâng đỡ hoạt động sản xuất kinh doanh,
mở rộnh thị trường của các doanh nghiệp, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùnghợp lý
- Thuế góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, điềuhoà thu nhập và thực hiện công bằng xã hội : bình đẳng về động viên, đónggóp giữa các thành phần kinh tế thể hiện qua việc áp dụng chính sách thuếthống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư,
từ đó khuyến khích cải tiến kỹ thuật, đầu tư vốn, chất xám để có thui nhậpchính đáng
4 Nội dung của thuế giá trị gia tăng :
Như vậy, phạm vi áp dụng của thuế giá trị gia tăng có thể bao gồm :
- Hoạt động kinh doanh nhập khẩu
- Hoạt động sản xuất mặt hàng thuộc diện đánh thuế tiêu thụ đặc biệt
- Hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nói chung bao gồm cả sản xuấtnông nghiệp đang thuộc diện chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp
* Điều kiện áp dụng :
Trang 4- Công tác kế toán và hoá đơn chứng từ ở doanh nghiệp Hoá đơn chứng từ
là căn cứ pháp lý để thực hiện tính thuế, kê khai thuế giá trị gia tăng Cơ sởtính thuế là giá trị tăng thêm , vì vậy, muốn xác định được giá trị tăng thêm thìdoanh nghiệp phải thực hiện ghi chép đầy đủ để xác định được đầu vào, đầu
ra
Mặt khác, đối với doanh nghiệp thực hiện theo phương pháp khấu trừ, không
có hoá đơn thuế giá trị gia tăng của bên bán thì sẽ không được khấu trừ phầnthuế giá trị gia tăng đã nộp ở khâu trước
- Công tác quản lý của cơ quan thuế : Thực hiện luật thuế không những tácđộng đến công tác quản lý của các doanh nghiệp mà cả cơ quan thuế cũng phảicải tiến phương pháp quản lý như :Cấp mã số thuế, áp dụng tin học vào côngtác thuế, phát hành và quản lý hoá đơn chứng từ, phát huy tinh thần tự giáccủa doanh nghiệp trong việc tự tính thuế, tự kê khai thuế và nộp thuế theothông báo vào kho bạc Nhà nước Qua đó quản lý được đối tượng nộp thuế,hạn chế được thất thu ngân sách và tiêu cực trong lĩnh vực thuế
4.1.2 Đối tượng nộp thuế :
Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định tại điều 3 của luật thuếgiá trị gia tăng lác tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hànghoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, không phân biệt ngànhnghề, hình thức, tổ choc kinh doanh ( gọi chung là cơ sở kinh doanh ) và các
tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng ( gọichung là người nhập khẩu )
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ gồm :
- Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo luậtdoanh nghiệp, luật doanh nghiệp Nhà nước và luật hợp tác xã
- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổchức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức, đơn vị sựnghiệp khác
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham giahợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các công tynước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam khôngtheo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, nhóm người kinh doanhđộc lập và các đối tượng kinh doanh khác
Trang 54.1.3 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng :
Hàng hoá, dịch vụ dưới đây không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng:
nuôi trồng thuỷ sản chưa ché biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơchế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất và bán ra
5 Chuyển quyền sử dụng đất thuộc diện chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất
6 Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê
7 Dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư
8 Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng vàcác loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh
9 Dịch vụ y tế
10 Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục, thể thao không nhằm mục đíchkinh doanh, biểu diễn nghệ thuật, sản xuất phim, phát hành và chiếu phimnhựa, phim vidio tài liệu
14 Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân
cư, duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sángcông cộng, dịch vụ tang lễ
15 Duy tu, sửa chữa, xây dung các công trình văn hoá, nghệ thuật, công trìnhphục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà tình nghĩa bằng nguồn vốn đóng gópcủa nhân dân và vốn viện trợ nhân đạo
16 Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt
Trang 617.Điều tra, thăm dò địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loại điều tra cơ bản củaNhà nước.
18.Tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nước sạch do tổ chức, cánhân tự khai thác để phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn, miền núi, hải đảo,vùng sâu, vùng xa
19 Vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh
20 Hàng nhập khẩu trong các trường hợp sau : Hàng viện trợ nhân đạo, việntrợ không hoàn lãi, quà tặng cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị
vũ trang nhân dân, đồ dùng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy chếmiễn trừ ngoại giao, hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễnthuế
21 Hàng hoá chuyển khẩu, quá cảnh, mượn đường qua Việt Nam, hàng tạmnhập khẩu, tái xuất khẩu và tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu
22 Hàng hoá, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải Quốc tế và các đối tượngtiêu dùng ngoài Việt Nam
23 Chuyển giao công nghệ
24 Vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng chưa được chế tác thành các sản phẩm
Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất
* Giá tính thuế : Theo quy định tại điều 7 luật thuế giá trị gia tăng và điều
6 của nghị định số 79/2000/NĐ - CP, giá tính thuế giá trị gia tăng của hànghoá, dịch vụ được xác định như sau :
- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra hoặccung ứng cho các đối tượng khác là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng
Trang 7- Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng ( + ) vớithuế nhập khẩu, giá nhập khẩu tại cửa khẩu làm căn cứ tính thuế giá trị giatăng được xác định theo các quy định về giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu.Trường hợp hàng hoá nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giátính thuế giá trị gia tăng là giá hàng hoá nhập khẩu cộng với ( + ) thuế nhậpkhẩu xác định theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn giảm.
- đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cơ sở kinh doanh xuất để tiêu dùngkhông phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hoặc cho sản xuất, kinh doanh hànghoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng thì phải tính thuế giá trị gia tăngđầu ra Giá tính thuế tính theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùngloại
- Đối với dịch vụ do phía nước ngoài cung ứng cho các đối tượng tiêu dùng
ở Việt Nam, giá tính thuế giá trị gia tăng là giá dịch vụ phải thanh toán chophía nước ngoài
- Dịch vụ cho thuê tài sản bao gồm cho thuê nhà xưởng, kho tàng, bến bãi,phương tiện vận chuyển, máy móc thiết bị
Giá tính thuế giá trị gia tăng là giá cho thuê chưa có thuế Trường hợp chothuê theo hình thức thu tiền từng kỳ hoặc thu trước tiền thuê cho một thời hạnthuê thì thuế giá trị gia tăng tính trên số tiền thu từng kỳ hoặc thu trước, baogồm cả các khoản thu dưới hình thức khác như thu tiền để hoần thiện, sửachữa, nâng cấp nhà cho thuê theo yêu cầu của bên thuê
- Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do Chính phủ quy định
* Thuế suất : Luật thuế giá trị gia tăng hiện nay quy định 4 mức thuế suất :
0%, 5%, 10%, 20% trong đó :
1 Mức thuế suất 0% đối với hàng hoá xuất khẩu
2 Mức thuế suất 5% đối với hàng hoá, dịch vụ :
a) Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt
b) Phân bón, quặng để sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu bệnh và chất kíchthích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng
c) Thiét bị và dụng cụ y tế, bông và băng vệ sinh y tế
d) Thuốc chữa bệnh, phóng bệnh
e) Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập
Trang 8f) Đồ chơi cho trẻ em, sách khoa học – kỹ thuật, sách văn học nghệ thuật,sách phục vụ thiếu nhi, sách pháp luật, trừ sách văn bản pháp luật quy địnhtại khoản 13 điều 4 của luật thuế giá trị gia tăng.
g) Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa qua chế biếngồm cả con giống, cây giống, hạt giống, trừ đối tượng quy định tại khoản 1điều 4 của luật này
h) Lâm sản ( trừ gỗ, măng ) chưa qua chế biến, thực phẩm tươi sống.i) Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá
j) Bông sơ chế từ bông trồng ở trong nước
k) Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác
l) Dịch vụ khoa học, kỹ thuật
m) Dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp
3 Mức thuế suất 10% đối với hàng hoá, dịch vụ :
l) Cho thuê nhà, kho tàng, bến bãi,nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phươngtiện vận tải
Trang 9p) Các loại hàng hoá, dịch vụ khác không quy định tại khoản 1, khoản 2,khoản 4 điều này, trừ hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản xuất,khâu nhập khẩu.
4 Mức thuế suất 20% đối với hàng hoá, dịch vụ :
a) Vàng, bạc, đá quý do cơ sở kinh doanh mua vào
b) Khách sạn, du lịch, ăn uống
c) Sổ xố kiến thiết và các loại hình sổ xố khác
d) Đại lý tàu biển
e) Dịch vụ môi giới
Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có thể sửa đổi,
bổ sung danh mục hàng hoá, dịch vụ theo các mức thuế suất quy định tại điềunày và phải báo cáo để Quốc hội phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất
4.2.2 Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng:
Thuế giá trị gia tăng cơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo mộttrong hai phương pháp: Phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trựctiếp trên thuế giá trị gia tăng Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượngnộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bánvàng, bạc, đá quý, ngoại tệ thì cơ sở phải hạch toán riêng hoạt động kinhdoanh này để tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng
Đối tượng áp dụng và việc xác định thuế phải nộp theo từng phương phápnhư sau:
a) Phương pháp khấu trừ thuế:
Đối tượng áp dụng: Là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệpthành lập theo luật doanh nghiệp Nhà nước, luật doanh nghiệp, luật hợp tác xã,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanhkhác, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trêngiá trị gia tăng
Xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp:
phải nộp được khấu trừ
Trang 10Trong đó, thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng ( = )giá tính thuế của hàng hoá,dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với ( x ) thuế suất thuế giá trị gia tăng của hànghoá, dịch vụ đó
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừthuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải tính thuế và thu thuế giá trị gia tăng củahàng hoá, dịch vụ bán ra Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, cơ sở kinhdoanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế giá trị gia tăng và tổng số tiềnngười mua phải thanh toán Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, khôngghi giá chưa có thuế và thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng của hànghoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ.Doanh thu chưa có thuế được xác định bằng giá bán trừ ( - ) thuế tính trên giábán
b) Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng trực tiếp trên giá trị gia tăng:
Trang 11Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng là:
- Cá nhân sản xuất,kinh doanh là người Việt Nam
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán,hóa đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế Xác định thuế giá trị gia tăng phải nộp ;
Số thuếGTGT = GTGTcủa hàng hóa x Thuế suất thuế GTGT của phải nộp dịch vụ chịu thuế hàng hóa, dịch vụ đó.
GTGT của hàng hóa = Doanh số của hàng - Giá vốn của hàng hóa, dịch vụ hóa, dịch vụ bán ra dịch vụ bán ra
Giá trị gia tăng xác định đối với một số nghành nghề kinh doanh như sau:
- Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh bán hàng là số chênh lệch giữa doanh
số bán với doanh số vật tư, hàng hóa, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất, kinhdoanh Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán được doanh số vật tư, hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng với doanh số bán hàng ra thì xác địnhnhư sau:
Giá vốn hàng bán ra bằng ( = ) doanh số tồn đầu kỳ, cộng ( + ) doanh
số mua trong kỳ, trừ ( - ) doanh số tồn cuối kỳ.
Ví dụ: Một cơ sở A sản xuất đồ gỗ, trong tháng bán được 150 sản phẩm,tổng doanh số bán là 25 triệu đồng
- Giá trị vật tư, nguyên liệu mua ngoài để sản xuất 150 sản phẩm là 19 triệuđồng trong đó:
+ Nguyên liệu chính ( gỗ ): 14 triệu
+ Vật liệu và dịch vụ mua ngoài khác: 5 triệu
Thuế suất thuế giá trị gia tăng là 10%, thuế giá trị gia tăng cơ sở A phải nộpđược tính như sau:
+ Giá trị gia tăng của sản phẩm bán ra:
25 triệu đồng – 19 triệu đồng = 6 triệu đồng
Trang 12+ Thuế giá trị gia tăng phải nộp:
6 triệu đồng x 10% = 0,6 triệu đồng
- Đối với xây dựng, lắp đặt là số chênh lệch giữa tiền thu về xây dựng, lắp đặtcông trình, hạng mục công trình ( - ) chi phi vật tư nguyên liệu, chi phí độnglực, vận tải, dịch vụ và chi phí khác mua ngoài để phục vụ cho hoạt động xâydựng, lắp đặt công trình, hạng mục công trình
- Đối với hoạt động vận tải là số chênh lệch giữa tiền thu cước vận tải, bốc xếptrừ ( - ) chi phí xăng dầu, phụ ting thay thế và chi phí khác mua ngoài dùngcho hoạt động vận tải
- Đối với hoạt động kinh doanh ăn uống là số chênh lệch giữa tiền thu về bánhàng ăn uống, tiền phục vụ và các khoản thu khác trừ ( - ) giá vốn hàng hóa,dịch vụ mua ngoài dùng cho kinh doanh ăn uống
- Đối với hoạt động kinh doanh vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ, giá trị gia tăng là
số chênh lệch giữa doanh số bán ra vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ trừ ( - ) giá vốncủa vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ bán ra
- Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế giá trị gia tăng theophương pháp khấu trừ thuế có kinh doanh mua bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ
áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng, cơ sở phải hạch toánriêng thuế giá trị gia tăng đầu vào để kê khai thuế giá trị gia tăng phải nộp củahàng hóa, dịch vụ theo từng hoạt động kinh doanh và phương pháp tính thuếriêng
Trường hợp không hạch toán được riêng thì được xác định phân bổ thuếgiá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tương ứng với tỷ lệ doanh thu của hànghóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp khấu trừ thuế trêntổng doanh thu bán hàng phát sinh trong kỳ
- Đối với các hoạt động kinh doanh khác là số chênh lệch giữa tiền thu về hoạtđộng kinh doanh trừ ( - ) giá vốn của hàng hóa, dịch vụ mua ngoài để thựchiện hoat động kinh doanh đó
Doanh số hàng hóa, dịch vụ bán ra quy định trên đây bao gồm cả các khoảnphụ thu, phí thu thêm ngoài giá bán mà cơ sở kinh doanh được hưởng, khôngphân biệt đã thu tiền hay chưa thu được tiền
Trang 13Doanh số hàng hóa, dịch vụ mua vào quy định trên đây bao gồm các khoảnthuế và phí đã trả tính trong giá thanh toán hàng hóa, dịch vụ mua vào
- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháptính trực tiếp trên giá trị gia tăng không được tính giá trị tài sản mua ngoài,đầu tư, xây dựng làmm tài sản cố định vào doanh số hàng hóa, dịch vụ muavào để tính giá trị gia tăng
4.3 Phương pháp xác định giá trị gia tăng làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng phải nộp đối với từng cơ sở kinh doanh như sau:
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch
vụ có hoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán thì giá trị gia tăng được xácđịnh căn cứ vào giá mua, giá bán ghi trên chứng từ
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán hànghoá, dịch vụ, xác định được đúng doanh thu bán hàng, dịch vụ theo hoá đơnbán hàng hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ thìgiá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu nhân với tỷ lệ (%) giá trị giatăng tính trên doanh thu
- Đối với cá nhân ( hộ ) kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủhoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hìnhkinh doanh của từng hộ ấn định mức doanh thu tính thuế giá trị gia tăng đượcxác định bằng doanh thu ấn định nhân với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trêndoanh thu
Tổng cục thuế hướng dẫn các cục thuế xác định tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tínhtrên doanh thu làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng phù hợp với từng nghànhnghề kinh doanh và hợp lý giữa các địa phương
4.4 Các quy định khác.
* Hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá, dịch vụ.
Từ hai phương pháp tính thuế có hai loại hoá đơn phù hợp với từngphương pháp tính thuế và phù hợp với trình độ quản lý, kế toán của đối tượngnộp thuế Đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ sử dụng hoá đơnthuế giá trị gia tăng được khấu trừ, đối tượng nộp thuế theo phương pháp tínhthuế giá trị gia tăng được sử dụng hoá đơn thông thường
Trang 14Cở sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phươngpháp khấu trừ thuế sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng Khi lập hoá đơn bán hànghoá, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định trênhoá đơn và ghi rõ: Giá bán chưa có thuế, phụ thu và phí tính ngoài giá bán(nếucó), thuế giá trị gia tăng , tổng giá thanh toán đã có thuế Nếu cơ sở kinhdoanh bán hàng hoá, dịch vụ không ghi tách riêng số bán và thuế giá trị giatăng, chỉ ghi chung giá thanh toán thì thuế giá trị gia tăng, đầu ra phải tính trêngiá thanh toán Cơ sở kinh doanh không được tính khấu trừ thuế giá trị giatăng( trừ trường hợp hàng hoá, dịch vụ đặc thù được dùng chứng từ giá thanhtoán là giá đã có thuế giá trị gia tăng)
Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế trực tiếp trên giá trị giatăng và các cơ sở kinh doanh hang hoá, dịch vụ không thuộc đối tương chịuthuế giá trị gia tăng, sử dụng hoá đơn thông thường Giá bán hàng hoá, dịch vụghi trên hoá đơn là giá thực thanh toán đã có thuế giá trị gia tăng( đối với hànghoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng )
Cơ sở kinh doanh muốn sử dụng hoá đơn, chứng từ khác với quy địnhchung, phải đăng ký với Bộ tài chính ( Tổng cục thuế ) và chỉ được sử dụngkhi đã được thông báo bằng văn bản cho sử dụng Mọi trường hợp doanhnghiệp đăng ký sử dụng hoá đơn theo mẫu quy định
Các cơ sở kinh doanh phải thực hiện việc quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng
từ theo quy định về chế độ hoá đơn, chứng từ do Bộ tài chính ban hành Các
cơ sở kinh doanh phải thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ cóhoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật
* Mã số thuế:
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý đối tượng nộp thuế, Thủ tướngChính phủ ra quyết định số 75/1998/QĐ_TTg ngày 4/4/1998 quy định về mã
số đối tượng nộp thuế
Các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế là đối tượng nộp thuếtheo pháp luật Việt Nam đều phải thực hiện kê khai, đăng ký thuế với cơ quanthuế để câp mã số xác định đối tượng được nộp thuế (gọi tắt là mã số thuế ),
mã số thuế được sử dụng để nhận diện đối tượng nộp thuế Mỗi một đối tượngnộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạt động
từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động Mã số thuế đã được cấp sẽkhông được sử dụng lại để cấp cho đối tương nộp thuế khác
Trang 15Các đối tượng nộp thuế phải ghi mã số của mình trên mọi giấy tờ giao dịch,chứng từ hoá đơn mua, bán, trao đổi kinh doanh trên các sổ sách kế toán, trêncác giấy tờ kê khai thuế, chứng từ nộp thuế và các biểu mẫu kê khai với các cơquan quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật Các đơn vị được sử dụnghoá đơn tự in phải in sẵn mã số thuế của mình ở góc trên bên phải củaơ từng
tờ hoá đơn
* Hoàn thuế giá trị gia tăng :
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừthuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau :
- Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở nên có luỹ kế số thuế đầu vàođược khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra được hoàn thuế Số thuế được hoàn là sốthuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế
- Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá xuất khẩu nếu có số thuế đầuvào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theotháng hoặc chuyến hàng ( nếu xác định được thuế giá trị gia tăng đầu vàoriêng của chuyến hàng )
Đối với hàng hoá uỷ thác xuất khẩu, gia công xuất khẩu qua một cơ sởkhác ký hợp đồng gia công xuất khẩu, đối tứợng hoàn thuế là cơ sở có hànghoá đi uỷ thác xuất khẩu, cơ sở trực tiếp gia công hàng hoá xuất khẩu
- Đối với cơ sở mới thành lập, đầu tư tài sản mới đã đăng ký theo phươngpháp khấu trừ nhưng chưa có phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế giá trịgia tăng đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được xét hoàn thuếđầu vào theo tổng năm Số thuế giá trị gia tăng đầu vào của tài sản đầu tư đượchoàn
có giá trị lớn từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế trong quý
- Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, hợp nhất, chia tách, giảithể, phá sản có thuế giá trị gia tăng nộp thừa, cơ sở có quyền đề nghị cơ quanthuế hoàn lại số thuế giá trị gia tăng nộp thừa
- Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩmquyền theo quy định của pháp luật
Cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn đối tượng được hoàn thuế lậpđúng, đủ các hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo đúng quy định Chịu trách nhiệmkiểm tra, xem xét hồ sơ, giải quyết hoàn thuế trong thời gian 15 ngày kể từngày nhận được hồ sơ hoàn thuế của đơn vị gửi đến Trường hợp phải kiểm
Trang 16tra, xác minh, bổ sung hồ sơ… thì thời gian tối đa là 30 ngày Nếu không đủthủ tục và điều kiện hoàn thuế phải trả lời cho đơn vị biết trong khoảng thờigian 7 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ.
- Thuế đầu vào dược khấu trừ phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấutrừ khi xát định số thuế phải nộp của tháng đó
- Các cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừthuế được tính khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào theo tỷ lệ ( % ) tính trêngiá hàng hoá dịch vụ mua vào không có hoá đơn giá trị gia tăng theo quy địnhsau :
Tỷ lệ 2% đối với hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa qua chế biến,đất đá cát sỏi và các loại phế liệu mua vào không có hoá đơn
Tỷ lệ 3% đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăngmua của cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trịgia tăng có hoá đơn bán hàng
5 Tác động của thuế giá trị gia tăng trong thương mại dịch vụ :
Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng khắc phục được sự trùng lắp thuế nên có tác động tích cực đến sản xuất và thương mại,dịch vụ Có một số ngành nghề, mặthàng không tránh khỏi khó khăn, lúng túng ban đầu do chậm chuyển đổi phùhợp với mức thuế mới như bốc xếp, xây dựng, khách sạn, ăn uống, nhà hàng,
du lịch… Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ đã kịp thời ban hành cácvăn bản pháp quy tháo gỡ khó khăn như : cho bổ sung một số hàng hoá, dịch
vụ không chịu thuế, mở rộng việc khấu trừ thuế… Đến nay, các cơ sở đó đã đivào ổn định, sản phẩm tăng, nộp thuế đầy đủ và có lãi
Các hoạt động dịch vụ có khá hơn, giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng3,5% so với năm 1998 Thuế giá trị gia tăng còn giúp các doanh nghiệp của tất
Trang 17cả các thành phần kinh tế tăng cường quản lý như : ghi chép ban đầu, mở sổsách kế toán và mua bán hàng hoá có hoá đơn, chứng từ, đổi mới công nghệ,nâng cao chất lượng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trong tình hình mới.
Về lưu thông hàng hoá, vì thuế giá trị gia tăng chỉ điều tiết trên phần giá trịtăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên đã thúc đẩy việc lưu thông hàng hoáthuận lợi Tính chung cả năm 1999, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng5,1% và tăng dần năm 2001: 11,1%; năm 2002: 11,3% ; năm 2003: 12% và kếhoạch 2004 tăng 13%
Thứ hai, thuế giá trị gia tăng và các luật thuế mới đã khuyến khích đầu tưtrong nước, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ hiệh đại.Với các ưu đãi về thuế, các nhà đầu tư sẽ đầu tư nhiều hơn vào thị trườngtrong nước, hình thành nên các tổ hợp sản xuất cũng như mạng lưới kinhdoanh, buôn bán với quy mô lớn Các hệ thống, mạng lưới bán hàng liên tụcphát triển với các hình thức phong phú đa dạng Ví dụ như các doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài, năm 2002 nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nướcngoài đạt 34000 tỷ đồng gấp 1,54 lần so với năm 1995 …
Môi trường kinh doanh đã không bó hẹp trong phạm vi các đô thị, do cónhững ưu đãi, các doanh nghiệp phải cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong nội bộngành Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp đã dần dần thay đổi thị trường mụctiêu của mình, chuyển hướng từ đô thị về các vùng nông thôn, miền núi làmtăng hiệu quả của mạng lưới kinh doanh Thương mại
Thứ ba, thuế giá trị gia tăng đã góp phần khuyến khích xuất khẩu, mở rộngthị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, kích thích phát triển sản xuất kinhdoanh hàng hoá xuất khẩu, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Luậtthuế giá trị gia tăng quy định hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% vàđược
hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào nên đã khuyến khích xuất khẩu, tạo điềukiện để hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh được về giá với hàng hoá tương
tự của các nước trên thế giới
Đối với hàng hoá nhập khẩu, rõ ràng là việc thuế suất sẽ có tác dụng lớnđối với việc tăng hay giảm lượng hàng hoá mua bán đó Tuy nhiên, thuế suấtcủa các mặt hàng thường xuyên thay đổi cho phù hợp với tình hgình trongnước và Quốc tế Như trong thời gian qua, việc tăng giá thép trên thị trườngthế giới đã có tác động mạnh đến thị trường sắt thép trong nước Thị trường
Trang 18sắt thép trở nên khan hiếm, giá sắt thép tăng cao, ảnh hưởng đến cả người sảnxuất cũng như người tiêu dùng Vì vậy , một trong những biện pháp để bình
ổn thị trường sắt thép trong nước là giảm thuế nhập khẩu phôi thép Ngày27/2/2003, Thứ trưởng Bộ Tài chính đã kí quyết định giảm thuế suất nhậpkhẩu ưu đãi đối với 6 nhóm mặt hàng sắt thép từ mức 5-40% xuống còn 3-20% Việc giảm thuế này đã có tác động tích cực đến việc bình ổn thị trườngsắt thép, chi phí của các doanh nghiệp giảm xuống khoảng 400.000 đồng mộttấn Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp duy nhất để bình ổn thị trườngthép, nhưng cũng là một phương thức hiệu quả để đạt mục tiêu
Thứ tư, thuế có tác động bảo hộ sản xuất trong nước, làm hạn chế việcnhập khẩu cũng như lưu thông hàng hoá qua biên giới đối với mặt hàng đó.Tuy nhiên, không phải mặt hàng nào cũng được bảo hộ, mà nó phải tuỳ thuộcvào loại hàng hoá dịch vụ, tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của đất nước,cũng như mục đích của Nhà nước
Thứ năm, tác động đến tổng thu ngân sách Nhà nước, góp phần ổn địnhđược ngân sách Nhà nước, huy động nguồn lực để phát triển đất nước trongtương lai
Cuối cùng, xét ở tầm vĩ mô, thuế giá trị gia tăng trong hoạt động thương mại
và dịch vụ giúp cho Nhà nước có thể quản lý tốt hơn, thu thuế dễ dàng hơn,tránh tình trạng thu chồng chéo, khó xác định số thuế phải nộp của các doanhnghiệp, tăng ngân sách Nhà nước Bởi lẽ, lĩnh vực thương mại là một lĩnh vựcKinh tế quan trọng của đất nước, là lĩnh vực đem lại nhiều ngoại tệ, bảo đảmcho người dân được sử dụng những hàng hoá thiết yếu cũng như cao cấp đểthoả mãn nhu cầu của mình
Nhìn chung, các luật thuế áp dụng trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ
đã bảo đảm được yêu cầu của nhà nước đề ra, góp phần thúc đẩy sản xuất pháttriển, mở rộng lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, tăng cường công tác hạch toán, kế toán và thúc đẩy việcmua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ, tạo điều kiện chống thất thu thuế, bảođảm nguồn thu ổn định, lâu dài và ngày càng tăng cho ngân sách Đồng thời,góp phần hoàn thiện hệ thống, chính sách thuế ở nước ta, phù hợp với sự vậnđộng và sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp táckinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới
II Kinh nghiệm thực hiện thuế giá trị gia tăng ở một số nước:
Trang 191 Thuế giá trị gia tăng áp dụng ở một số nước trên thế giới:
1.1 Trung Quốc.
- Thuế giá trị gia tăng của Trung Quốc được bắt đầu áp dụng từ năm 1984.Tuy nhiên, do những quy định về thuế năm đó được coi là phức tạp, khôngcông bằng và rất khó áp dụng vì chủ yếu được áp dụng ở cơ sở sản xuất Đếnnăm 1994, luật thuế giá trị gia tăng mới được ban hành thay cho thuế giá trịgia tăng năm 1984
- Về cơ bản, thuế giá trị gia tăng năm 1994 của Trung Quốc là một loạithuế đánh trên diện rộng, từ khâu sản xuất đến khâu bán lẻ
- Thuế giá trị gia tăng của Trung Quốc có hai điểm khác biệt quan trọng sovới thuế giá trị gia tăng ở các nước Châu Á khác:
Thứ nhất, tài sản cố định bị đánh thuế giá trị gia tăng song lại không đượckhấu trừ thuế đầu vào
Thứ hai, hầu hết các dịch vụ đều không chịu thuế giá trị gia tăng(thay vào
đó, các dịch vụ này chịu thuế kinh doanh)
* Một số nhân xét và bài học về việc thực hiện thuế giá trị gia tăng của TrungQuốc:
- Về đối tượng nộp thuế:
Có hai loại đối tượng: Đối tượng nộp thuế thông thường ( chiếm 20%) vàđối tượng nộp thuế nhỏ( chiếm 80%), căn cứ vao doanh số bán hàng và điềukiện hạch toán của từng đối tượng
Tiêu chí để trở thành đối tượng nhỏ như sau:
Đối với các đối tượng kinh doanh dịch vụ: Các cơ sở có doanh số chịuthuế giá trị gia tăng hàng năm dưới 1 triệu NDT
Đối tượng kinh doanh hàng hoá có doanh số chịu thuế hàng năm dưới 1,8triệu NDT
Những cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp không thường xuyên tiến hành cáccác hoạt động chịu thuế, không kể có doanh số là bao nhiêu cũng được coi làđối tượng nộp thuế nhỏ
Trong số các đối tượng nộp thế thì có tới 80% là đối tượng nộp thuế nhỏ và20% là đối tượng nộp thuế thông thường
Khi đối tượng nộp thuế nhỏ có chế độ hạch toán lành mạnh và khả nănghạch toán chính xác thuế đầu ra, thuế đầu vào, số thuế phải nộp hoàn toàn tuânthủ theo các chế độ kế toán và những yêu cầu của cơ quan thuế, thì có thể trở
Trang 20thành đối tượng nộp thuế thông thường, nếu được cơ quan thuế có thẩm quyềnchấp nhận.
- Căn cứ và phương pháp tính thuế: Tương ứng với hai nhóm đối tươngnộp thuế, có hai phương pháp tính thuế:
Các đối tượng nộp thuế nhỏ được áp dụng thuế doanh thu với một mứcthuế suất thống nhất là 6% trên doanh thu, không được phép miễn giảm vàkhấu trừ thuế Từ 1998, mức thuế này giảm xuông còn 4%
Các đối tượng nộp thuế thông thương được áp dụng phương pháp khấu trừthuế Số thuế phải nộp sẽ là: Số chênh lệch giữa số thuế đầu ra sau khi đã khấutrừ thuế đầu vào cho giai đoạn đó Nếu như số thuế đầu ra ít hơn hay không đủ
để bù đắp thuế đầu vào, thì số thuế đầu vào vượt trội đó được chuyển sang cácgiai đoạn tiếp theo để bù đắp
Đối tượng nộp thuế thông thường mua nông sản miễn thuế; phế liệu vàdịch vụ vận chuyển, không được cung cấp hoá đơn, giá trị gia tăng đặc biệt sẽđược khấu trừ theo tỷ lệ là 10% theo giá thực mua
Với việc quy định một phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ,còn những đối tương có doanh số chưa đạt tới ngưỡng tối thiểu chịu thuế giátrị gia tăng thì áp dụng thuế doanh thu đơn giản, đã tạo thuận lợi cho công tácquản lý thuế
Thuế giá trị gia tăng của Trung Quốc được áp dụng cả đối với hàng chịuthuế tiêu thụ đặc biệt, do đó rất dễ dàng trong quản lý Đối với hàng nhậpkhẩu, thuế giá trị gia tăng đánh trên cả thuế hải quan và thuế tiêu dùng( nếucó)
- Đối với hàng xuất khẩu
Theo quy định thuế giá trị gia tăng năm 1994, những hàng hoá xuất khẩuchịu thuế xuất 0% và được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đã nộp ở khâu đầuvào Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, việc hoàn thuế đã phát sinh một số vấn đề phức tạp khác như: Số lượng thuế phải hoàn trả tăng lên nhanh chóng,tốc độ hoàn thuế tăng nhanh hơn cả tốc độ thu thuế và lương xuất khẩu, tìnhtrạng gian lận trong việc nhận các khoản hoàn thuế dẫn đến thất thu nghiêmtrong cho ngân sách, gây cản trở cho công tác hoàn thuế kịp thời đối vớinhững doanh nghiệp làm ăn hợp pháp
Để giải quyết những khó khăn trên, Hội đồng Nhà nước đã quyết địnhgiảm tỷ lệ hoàn thuế từ 1/7/1995 căn cứ vao gánh nặng mà các doanh ngiệp
Trang 21xuất khẩu phải gánh chịu ,đồng thời củng cố công tác hành chính về việc hoànthuế khi xuất khẩu Các tỷ lệ hoàn thuế cụ thể được quy định như sau:
3% đối với nông sản và than
10% cho các sản phẩm công nghiệp được sản xuất hay chế biến từ nguyênvật liệu nông nghiệp và các sản phẩm khácchịu thuế suất thuế giá trị gia tăng
là 13%
14% cho các hàng hoá chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 17%
Đến 01/01/1996 mức hoàn thuế này được giảm xuống còn 9%
Việc giảm tỷ lệ hoàn thuế đối với hàng xuấ khẩu đã có tác dụng giảm bớt sựcăng thẳng đối với ngân sách nhà nước Đồng thời do chú trọng tới việc đảmbảo tốc độ cũng như độ chính xác trong quá trình hoàn thuế cho nên quyền lợicủa các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn được đảm bảo, hoạt động xuất khẩu đượcđẩy mạnh
đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vẫn phải chiu thuế giá trị gia tăng
Giai đoạn II( Từ 1989 – 1994 ): Từ 1/4/1989, thuế giá trị gia tăng được
mở rộng tới người bán buôn và áp dụng đối với 21 loại dịch vụ Về nguyêntắc, tất cả các dịch vụ đều là đối tượng chịu thuế , song In đônêxia cũng quyđịnh một số trường hợp được miễn : dịch vụ y tế , ngân hàng ,giáo dục vàkhách sạn (vì đã có một loại thuế địa phương đánh vào khách sạn)
Giai đoạn III: Bắt đầu từ tháng 1/1995 thuế giá trị gia tăng tiếp tục mởrộng đối tượng nộp thuế tới người bán lẻ Tuy nhiên , những người bán lẻ códoanh thu dưới một ngưỡng nhất định không thuộc diện chịu thuế giá trị giatăng
Theo đánh giá của Bộ tài chính Indonexia ,việc áp dụng thuế giá trị giatăng theo từng giai đoan như trên là một trong những yếu tố dẫn đến thànhcông của thuế giá trị gia tăng ở nước này
Một số kinh nghiệm cụ thể được rút ra từ thực tế Inđônêxia :
Trang 22-Về ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng tới số thu ngân sách và giá cả: Khi
áp dụng thuế giá trị gia tăng, giá cả ở Inđônêxia vẫn ở mức ổn định, khôngtăng Trong khi đó số thu ngân sách lại tăng lên Năm 1989 , sau 5 năm ápdụng thuế giá trị gia tăng , số thu từ thuế giá trị gia tăng đã tăng từ 1% lên3,5% GDP
- Thuế giá trị gia tăng của Indônexia chỉ có hai mức thuế suất là 0% và10% điều này làm cho luật thuế giá trị gia tăng của Inđonexia rất đơngiản ,thuận lợi cho công tác quản lý thuế
-Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thành từng giai đoạn là một yếu tố đảmbảo sự thành công của thuế giá trị gia tăng ở nước này
-Do quy định mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vẫn phải chịu thuế giá trịgia tăng nên Indonexia hầu như không gặp phải khó khăn gì trong việc xử lýđối với loại hàng hoá này
-Quy định hoàn thuế giá trị gia tăng của Indonexia rất rõ ràng và có nhữngchỉ dẫn cụ thể nên cán bộ thuế hầu như khong có cơ hội để trì hoãn hoặc cảntrở quá trình hoàn thuế
-Công tác tuyên truyền cho đối tượng nộp thuế cần hết sức quan trọng Banđầu, Indonexia găp phải rất nhiều phản ứng từ những đối tượng nộp thuế do họkhông biết phải làm gì để đươc nộp thu Chỉ khi cơ quan thuế cung cấp nhữnghưỡng dẫn cụ thể, rõ ràng đối với từng trường hợp cụ thể thì những phản ứngnày mới lắng xuống
- Tình trạng gian lận giá trị gia tăng được thực hiện dưới nhiều hình thức,phổ biến nhất là việc sử dụng hoá đơn giả ở khâu đầu vào nhằm tăng số thuếđược khấu trừ Cũng có một số trường hợp gian lận được đưa ra toà án, songvẫn không ngăn chặn được hiện tượng này
1.3 Singapore:
Với nhận thức là việc đánh thuế đối với hàng nhập khẩu không mang tínhchất là một loại thuế đánh trên giá trị gia tăng nên ở Singapore không dùng tênthuế giá trị gia tăng như ở các nước mà gọi là thuế hàng hoá và dịch vụ Thuếhàng hoá và dịch vụ (GST) ở Singapore được áp dụng vào ngày 1/4/1994 Sựban GST là một phần trong kế hoạch đổi mới toàn bộ hệ thống thuế của Chínhphủ Singapore Điều này cho thấy sự thay đổi quan trọng trong chính sáchquản lý tài chính từ việc chú trọng các loại thuế trực tiếp đánh trên thu nhậptới các loại thuế gián tiếp đánh vào tiêu dùng Song song với việc ban hành
Trang 23GST, thuế suất thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập cá nhân và thuế tài sảnđược giảm xuống, từ đó duy trì được tính cạnh tranh quốc tế của hệ thống thuếcủa Singapore
Để giảm tối đa chi phí tuân thủ và chi phí hành chính liên quan tới việc ápdụng GST cho cả đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế, đảm bảo cho hệ thốngGST hoạt động có hiệu quả, GST của Singapore được xây dựng rất đơn giản:
- Thuế đánh vào tiêu dùng trong nước, sử dụng phương pháp khấu trừ trên
cơ sở hoá đơn và áp dụng một mức thuế suất thống nhất là 3%
- Giảm tối đa các loại hàng hoá và dịch vụ được hưởng thuế suất 0%, chỉxuất khẩu và một số ít dịch vụ quốc tế đặc biệt mới được hưởng thuế suất 0%
- Giảm tối đa việc miễn giảm thuế cho các loại hàng hoá và dịch vụ
- Singapore cũng quy định ngưỡng đăng ký thuế: các doanh nghiệp có cungcấp chịu thuế hàng năm lớn hơn 1 triệuUSD Singapore đều phải đăng ký GST.Theo quy định này, chỉ có khoảng 20% tổng số doanh nghiệp (35000doanh nghiệp) phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký thuế
- Khác với một số nước thực hiện miễn thuế giá trị gia tăng hoặc áp dụngthuế suất 0% đối với lương thực, thực phẩm, y tế và các nhu yếu phẩm khácnhằm giúp đỡ các hộ có thu nhập thấp, Singapore cho rằng những ưu đãi nhưvậy có lợi cho các hộ có thu nhập cao hơn các hộ có thu nhập thấp Chính vìvậy, hệ thống GST của Singapore bao phủ hầu hết các loại hàng hoá và dịchvụ
Về giá cả: Theo kinh nghiệm của các nước, khi áp dụng GST thường chỉgây tăng giá một lần Lường trước sự tăng giá đó và hạn chế đến mức thấpnhất sự lợi dụng của các nhà buôn có thể dẫn đến lạm phát, Chính phủSingapore đã tiến hành:
- Làm việc với các nhóm tiêu dùng và người bán lẻ để phổ biến với các nhàbuôn và dân chúng về GST và ảnh hưởng của nó tới giá cả hàng hoá và dịchvụ
- Theo dõi chặt chẽ mọi sự tăng giá và tiến hành điều tra mọi khiếu nại về các hiện tượng gian lận của các nhà buôn
- Khuyến khích các nhà buôn không tăng giá bằng toàn bộ mức thuế GST,
mà rút bớt một phần vào giá thành bù đắp bằng sự tiết kiệm tăng lên từ việcgiảm thuế thu nhập công ty khi GST được thực thi
2 Vận dụng kinh nghiệm vào Việt Nam:
Trang 24- Để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc áp dụng thuế giá trị gia tăngphải có một thời gian áp dung thử thuế giá trị gia tăng sau đó mới áp dụngrộng rãi cho mọi nghành nghề.
- Không áp dụng một mức thuế suất duy nhất cho tất cả các nghành nghề
để khuyến khích một số nghành nghề phát triển cũng như hạn chế nhữngngành nghề không cần thiết cho nền kinh tế quốc dân
- Dần dần đưa việc thực hiện chế độ hoá đơn chứng từ, sổ sách kế toán đivào nề nếp, đi đến việc chấm dứt không có hoá đơn
- Cần chú trọng đến công tác tuyên truyền về ý nghĩa, mục tiêu, yêu cầucủa chính sách thuế mới cũng như yêu cầu về nghiệp vụ để tranh thủ ý kiếncủa nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý cũng như nhà kinh doanh, ngườitiêu dùng Đặc biệt là có sự quan tâm giải đáp thắc mắc cụ thể để tranh thủ sựđồng tình, ủng hộ của các tầng lớp dân cư, thúc đẩy tinh thần tự nguyện, tựgiác chấp hành nghĩa vụ kê khai, nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA THUẾ GTGT TRONG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
NƯỚC TA HIỆN NAY
I Tình hình thương mại dịch vụ hiện nay:
Thực hiện chính sách đổi mới kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV( 1986 ), với nền kinh tế nhiều thành phần đã làm cho kinh tế Việt Nam cónhững thay đổi lớn lao không phải chỉ ở mức tăng trưởng mà còn thay đổi cơcấu kinh tế Hoạt động dịch vụ xuất hiện ngày càng nhiều và tỏ ra thích ứngnhanh vì đem lại hiệu quả kinh tế cao Nhìn chung, tỷ trọng dịch vụ tăng dầntrong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước từ 32,48% năm 1985 lên 38,46% năm
2002 Tương ứng với sự tăng trưởng dịch vụ là sự giảm tỷ trọng nông lâm –ngư nghiệp từ 40,17% năm 1985 xuống còn 22,99% năm 2002 Đồng thờicông nghiệp và xây dựng có tăng mặc dù tăng không lớn ( so với dịch vụ ) từ27,35% năm 1985 lên 38,55% năm 2002 Có thể đánh giá rằng sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Việt Nam trong hơn 15 năm là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng tích cực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước
Trong các ngành dịch vụ phải kể tới vai trò không nhỏ của lĩnh vực thươngmại Những năm đổi mới vừa qua, thương mại phát triển khá, bảo đẩm lưu
Trang 25chuyển, cung ứng vật tư, hàng hoá trong cả nước và trên từng vùng Thươngmại quốc doanh được săp xếp lại theo hướng nắm buôn bán, tham gia kinhdoanh, bán lẻ đối với một số mặt hàng thiết yếu; thương mại ngoài quốc doanhtăng lên đáng kể về số lượng, từ đó góp phần làm cho thị trường trong nướcsôi động phong phú Mạng lưới chợ, các điểm bán hàng hoá và kinh doanhdịch vụ phát triển rộng khắp trên phạm vi cả nước Hệ thống siêu thị, trungtâm thương mại, hội chợ và triển lãm hàng hoá được hình thành và phát triển.Phương thức kinh doanh đã được đổi mới theo hướng văn minh hiện đại.Nhiều hình thức thu hút khách hàng của các nước tiên tiến trên thế giới được
áp dụng như: Tổ chức các hội chợ ( hội chợ thương mại quốc tế, hội chợ hàngchất lượng cao, hội chợ hàng đêm,… ) quảng cáo tiếp thị khuyến mại dịch vụsau bán hàng ( bảo hành, bảo trì ) bán hàng qua điện thoại, fax Đội ngũ nhânviên, nhà quản lý trong lĩnh vực thương mại dịch vụ đã trưởng thành nhiềumặt, biết cách thu hút khách hàng bằng chính chất lượng phục vụ của mình
Từ đó, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng liên tụctrong hơn 10 năm ( 1991-2003 ) với mức tăng bình quân hằng năm là 27,7%.Mức bán lẻ bình quân đầu người /năm cũng tăng đáng kể từ 0,3 triệu đồngnăm 1990 lên 1,7 triệu đồng năm 1995 và 2,8 triệu đồng năm 2000 và 3,7 triệuđồng năm 2003 Đồng thời, năm 2003 tóc độ tăng trưởng kinh tế của ViệtNam là 6,68% đứng thứ hai thế giới sau Trung Quốc, tổng mức lưu chuyểnhàng hoá tăng 112,1%
Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu về thị trường
trong nước thời kỳ 1991 – 2004.
(%)
Bán trong nước
Chỉ số giátiêu dùng
Ngàn tỷđồng
Nhịp tăng(%)
Nhịp tăng
GDP
Trang 26145,87161,90185,60200,92219,40
241,84272,79305,53345,25
75,553,331,439,029,644,8120,411,014,68,29,212,618,512,812,0013,00
12,996,133,894,423,105,472,181,352,531,721,361,821,251,811,671,73
167,5117,5105,2114,4112,7
104,5103,6109,2100,199,4
100,8104,0103,0104,0
Bên cạnh thành tựu nêu trên, về cơ bản nền thương mại nước ta vẫn là một
nền thương mại nhỏ, sức mua còn thấp, chất lượng hàng hoá dịch vụ chưa cao;khả năng cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp trên thị trường trong nước
và quốc tế còn thấp Môi trường pháp lý cho hoạt động thương mại – dịch vụ còn chưa đồng bộ, thay đổi luôn… Vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Phát triển mạnh thương mại, nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động để mở rộng thị trường trong nước và hội nhập quốc tế có hiệu quả”
II Tình hình thực tế áp dụng thuế giá trị gia tăng trong thương mại dịch
vụ ở Việt Nam:
Thuế giá trị gia tăng ở Việt nam được tiến hành thí điểm từ tháng 9/1993.Qua một thời gian thực hiện, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam vàchọn lọc những bài học thành công, thất bại ở một số nước, dự thảo luật đượcxây dung từ đầu năm 1995, được Quốc hội khoá 9, kỳ họp thứ 11 thông quavào
giữa tháng 5/1997 đã bắt đầu áp dụng chính thức trên diện rộng từ 1/1/1999