1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre

105 862 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Sự Sinh Trưởng Và Khả Năng Ra Hoa Của Cây Hoàng Lan (Cananga Odorata (Lamk.) Hook.F.& Thomson) Trồng Ở Huyện Giồng Trôm, Tỉnh Bến Tre
Tác giả Trần Công Danh
Người hướng dẫn TS. Phạm Văn Ngọt
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Sinh Thái Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Sinh Học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 3,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này cho thấy nhu cầu về tinh dầu là rất lớn và là một thị trường có nhiều triển vọng Do đó, việc chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với ứng dụng tiến bộ khoa học công n

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

NGHIÊN CỨU SỰ SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG RA HOA

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

“ Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các s ố liệu và kết quả được tôi trình bày trong luận văn là trung thực và chưa

t ừng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác”

TR ẦN CÔNG DANH

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình để gửi đến

TS Phạm Văn Ngọt- một người Thầy đáng kính, đã hết lòng chỉ bảo, hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức về chuyên môn hết sức quý báu, những kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học Thầy đã luôn động viên, chia sẻ những khó khăn, luôn bên cạnh giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn :

• Quý Thầy Cô đã giảng dạy trong suốt 3 năm học, những người đã truyền đạt kiến thức và luôn giúp đỡ tôi về chuyên môn cũng như

những tài liệu tham khảo

• Ban Chủ Nhiệm Khoa Sinh học trường Đại học Sư Phạm Thành phố

Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

• Quý Thầy Cô Phòng Khoa Học Công Nghệ - Sau Đại Học đã giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập

• Quý Thầy Cô phòng thực hành phân tích Hóa – Lý đã tạo điều kiện thuân lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và học tập

• Gia đình anh Phạm Nguyễn, ấp Phú Trị, xã Châu Hoà, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn

• Thầy Quách Văn Toàn Em, cùng các em sinh viên Trần Thụy Kim Hà, Bùi Thanh Phong, Nguyễn Thị Như Ý đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập, ghi nhận các số liệu thực tiễn

• Gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập

và nghiên cứu để luận văn được hoàn thành

TR ẦN CÔNG DANH

Trang 4

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

h : chiều cao của cây hoàng lan

∆h : độ tăng trưởng chiều cao của cây

d : đường kính thân

∆d : độ tăng trưởng đường kính thân

l : chiều dài cành cấp 1

∆l : độ tăng trưởng chiều dài cành

c : đường kính cành

∆c : độ tăng trưởng của đường kính cành

n : số cành bị tỉa

∆n : số cành bị tỉa trung bình hằng tháng

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Việt Nam đang trong quá trình “ công nghiệp hoá - hiện đại hoá “ với chủ

trương là tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến và đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu Hằng năm chúng ta xuất khẩu tinh dầu đạt 15 triệu USD (nhưng

nhập khẩu đến 25 triệu USD mà chủ yếu là hương liệu ) Điều này cho thấy nhu cầu

về tinh dầu là rất lớn và là một thị trường có nhiều triển vọng

Do đó, việc chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với ứng dụng

tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đưa cây tinh dầu vào cơ cấu cây trồng, xây dựng các vùng sản xuất nông lâm nghiệp tập trung, kết hợp với trồng xen hợp

lý - hình thành những vườn cây chất lượng cao gắn với công nghệ sau thu hoạch và

chế biến xuất khẩu mở ra nhiều triển vọng mới đáp ứng được cả yêu cầu về kinh tế

lẫn chính trị : giúp xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế-văn hoá, cải tạo

và phục hồi hệ sinh thái bảo vệ môi trường sống… thông qua việc sử dụng lao động nhàn rỗi, tận dụng nguồn đất trống đồi trọc ở một số vùng nhất là nông thôn

và đồi núi

Nước ta có khoảng 657 loài thực vật có chứa tinh dầu, thuộc 357 chi và 114 họ (chiếm 6,3% tổng số loài, 15,8% tổng số chi và 37% tổng số họ) [14] Tuy nhiên

mới chỉ khai thác trong tự nhiên hoặc đưa vào gây trồng khoảng 20 loài (chiếm 3%

số cây tinh dầu đã biết) Những cây được trồng và khai thác chủ yếu hiện nay là sả

(Cymbopogon sp.), b ạc hà ( Mentha arvensis), hương nhu (Ocimum gratissimum),

húng quế ( Osimum basilicum), hồi ( Illicium verum), quế (Cinnamomum cassia), màng tang (Litsea cubeba), tràm (Melaleuca cajuputi ), … [15] Việc tìm kiếm

những cây tinh dầu có giá trị kinh tế cao đưa vào sản xuất nhằm đa dạng hoá tinh

dầu xuất khẩu, xây dựng một vùng nguyên liệu và chế biến tinh dầu – hương liệu có

ý nghĩa chiến lược về kinh tế , chính trị và xã hội Bên cạnh đó cần có những nghiên cứu chuyên sâu về các điều kiện sinh thái, môi trường sống, giống, kỹ thuật

trồng và chăm sóc để nâng cao sản lượng tinh dầu

Trang 6

Hoàng lan (Cananga odorata (Lamk.) Hook.f.& Thomson) còn gọi là ngọc lan tây, ylang-ylang thuộc họ Na (Annonaceae) đã được trồng tập trung quy mô sản

xuất hàng hóa ở nhiều nước như Philippines, quần đảo Camoros, Réunion, Indonesia, tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc, đảo Madagascar Indonesia là nước

trồng nhiều hoàng lan, diện tích lên đến 160.000 ha với sản lượng tinh dầu hàng năm khoảng 120 tấn Hoàng lan là loài cây ưa sáng , thích hợp vùng nhiệt đới Hoa hoàng lan chứa tinh dầu (ylang -ylang oil) có mùi thơm hấp dẫn, được ưa chuộng trong công nghiệp hương liệu và tinh dầu này từ lâu đã được điều chế nước hoa nổi

tiếng Chanel No5 và là nguyên liệu chính để sản xuất ra hầu hết các loại nước hoa đắt tiền Tinh dầu có hương vị đặc biệt nên còn được sử dụng trong công nghiệp chế

biến thực phẩm và đồ uống Tinh dầu hoàng lan cũng được dùng làm thuốc chữa

bệnh cao huyết áp, chữa chứng nhịp tim nhanh, sốt rét, bệnh đường ruột, viêm gan…Cây hoàng lan là cây trồng có tiềm năng sinh lợi rất lớn , cây trồng 2 năm tuổi

có thể ra hoa với số lượng nhỏ, đến 4 – 5 năm tuổi ra hoa rất nhiều và khai thác đến

50 năm Mỗi cây cho khoảng 20kg hoa /năm Hàm lượng tinh dầu trong hoa có từ 1 – 2% Một kg tinh dầu hoàng lan có giá từ 81 – 97 đô la Mỹ

Ở Việt Nam , cây hoàng lan chưa được trồng đại trà để lấy tinh dầu cũng như chưa được quan tâm nghiên cứu , chúng chỉ được trồng rãi rác ở các công viên, trường học, nhà dân để lấy bóng mát, làm cảnh Điều này rất đáng tiếc vì cây hoàng lan là loại cây tinh dầu có triển vọng ở nước ta Việc nghiên cứu các điều kiện sinh thái thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển cây hoàng lan ở các vùng khác nhau

của nước ta nhằm cung cấp những thông tin khi đưa loài cây này vào trồng với quy

mô sản xuất hàng hóa,tạo nguồn nguyên liệu lấy tinh dầu đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu là rất cần thiết

Vì thế, chúng tôi tiến hành đề tài : “Nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (Cananga odorata (Lamk.) Hook.f.& Thomson )

tr ồng ở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre”

Trang 7

2- M ục tiêu đề tài

- Đánh giá về sự sinh trưởng cây hịang lan trồng tại huyện Giồng Trơm , tỉnh

Bến Tre với một số mật độ trồng cây khác nhau

- Cung cấp những dẫn liệu bước đầu về khả năng ra hoa và hàm lượng tinh

dầu của hoa hồng lan

3- Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu những cây hồng lan ở giai đoạn từ 1 đến 2 năm sau khi trồng, tỉa thưa và cắt ngọn ở độ cao 2m với các mật độ 2m x 2m, 2m x 4m và 4m x 4m

• V ề sinh trưởng: nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều cao, đường kính

thân cây, cành sơ cấp, sự tỉa cành, đường kính tán và sinh khối

• Về khả năng ra hoa: nghiên cứu quá trình ra hoa và sự phát triển của hoa

hồng lan

• B ước đầu tìm hiểu về hàm lượng tinh dầu và năng suất hoa hồng lan

4- Ph ạm vi nghiên cứu

Do điều kiện hạn hẹp về thời gian đề tài chỉ nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh

trưởng và khả năng ra hoa của cây hồng lan trong giai đoạn 2 năm sau khi trồng

5- Ý ngh ĩa của đề tài

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1-Nghiên c ứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng của

th ực vật

1.1.1- Ảnh hưởng của ánh sáng

Ánh sáng là nhân tố quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của thực

vật Những cây được chiếu sáng đều thì mọc thẳng, chiếu sáng không đều thì mọc

lệch về hướng có ánh sáng Nguyên nhân do phía chiếu sáng sẽ tích điện dương, phía còn lại tích điện âm và các chất di chuyển đến nơi tích điện tích âm làm cho nơi đó sinh trưởng mạnh hơn dẫn đến cây bị uốn cong Những cây mọc trong tối thường dài, thân mảnh và có màu nhạt do trong tối protein được tổng hợp ít còn glucid được tổng hợp nhiều Mặt khác, chu kỳ phân chia của tế bào giảm trong khi

sự tăng trưởng của tế bào cao nên cây cao nhưng mảnh khảnh

Hiện tượng tỉa cành tự nhiên của cây liên quan đến điều kiện chiếu sáng.Khi cây bắt đầu khép tán thì những cành phía dưới bị các cành ở phía trên che mất ánh sáng do vậy quang hợp của nó giảm nhưng nó vẫn hô hấp tiêu hao dưỡng chất Kết

quả là khi lượng chất tích luỹ không đủ bù năng lượng tiêu hao thì cành khô héo dần

và rũ xuống Nghiên cứu của Ngô Trí Lực (1967) về vai trò của ánh sáng đối với sự

tỉa cành của tre nứa Ông kết luận ánh sáng đã kích thích sự ra cành của các mắt thân cây nứa lá nhỏ.[10]

Ánh sáng cũng ảnh hưởng đến cấu tạo giải phẫu của lá Giải phẫu của lá phản ánh chính xác nhu cầu ánh sáng của cây và hiện trạng mà nó chịu đựng Cây sinh trưởng trong điều kiện chiếu sáng khác nhau thì có hình thái, giải phẫu khác nhau.Trên cùng một cây, lá ở phần ngọn (ngoài sáng ) thường nhỏ, dày, cứng, có

tầng cutin dầy nhiều mô giậu nhiều gân, lá có màu nhạt Lá ở phía trong chỗ bị che bóng phiến thường to, mỏng, mềm, biểu bì mỏng, tầng cutin mỏng có khi không có,

lá có màu lục thẫm, gân ít, lỗ khí to và ít [10]

Trang 9

Ánh sáng ảnh hưởng đến lượng diệp lục trong lá: cây mọc thiếu ánh sáng có màu nhạt, lá bị vàng dần, vì thiếu ánh sáng lá không tạo được diệp lục mà chỉ có sắc

tố vàng xanthophin và carotin Khi cây đủ ánh sang thì lá có màu lục Cây sinh trưởng trong điều kiện ánh sáng yếu thì lượng diệp lục trong lá cao hơn ngoài ánh sáng mạnh do ánh sáng làm oxi hóa chất sắt của diệp lục (Phan Nguyên Hồng 1978) Nghiên cứ u của Nguyễn Hữu Thước và cộng sự (1965 ) trên hai cây lim và

xà cừ đã cho thấy điều đó [10]

- Ánh sáng còn ảnh hưỏng đến cường độ của quang hợp M.Ia Ôsretcôp đã nghiên cứu cường độ quang hợp của lá thông trong điều kiện chiếu sáng trong bóng

và ngoài sáng đã thu được kết quả như sau: ở cường độ chiếu sáng thấp (khoảng 1000-2000 lux ) thì cường độ quang hợp lá trong bóng bằng 2- 4 lần lá ngoài sáng Nhưng ở độ chiếu sáng cao (20.000 – 40.000 lux) thì cường độ quang hợp của lá trong bóng trên 1dm2 chỉ là 0,6 - 1,0 mg CO2, trong khi đó lá ở ngoài sáng tăng lên nhiều: 0,9 - 2,0mg CO2

1.1.2- Ảnh hưởng của thực vật khác lên sự sinh trưởng của cây

Các loài thực vật trong điều kiện được trồng chung với nhau sẽ có tác động qua lại với nhau Rễ sẽ cạnh tranh về nguồn chất dinh dưỡng và nước dẫn đến hiện tượng loài này sẽ bóp nghẹt rễ của loài kia làm loài kia sinh trưởng chậm

Tán lá các loài cũng sẽ cạnh tranh về điều ki ện ánh sáng, loài nào sinh trưởng

mạnh thì loài đó sẽ chiếm ưu thế về nhu cầu ánh sáng.[10]

1.1.3 Hi ện tượng ưu thế ngọn

Ưu thế ngọn là hiện tượng phổ biến đối với thực vật Đó là sự ức chế của chồi

ngọn lên sự sinh trưởng của chồi bên, rễ chính lên rễ phụ Nếu cắt bỏ chồi ngọn tức

là loại bỏ ưu thế ngọn thì các chồi bên được giải phóng khỏi trạng thái ức chế tương quan của chồi ngọn và lập tức sinh trưởng mạnh Có nhiều trường hợp cần loại bỏ

ưu thế ngọn để tăng phân cành, phân nhánh như với cây ăn quả, cây cảnh, cây công nghiệp.Nguyên nhân là do sự cạnh tranh dinh dưỡng của chồi ngọn lên chồi bên:

Trang 10

mô phân sinh chồi ngọn là trung tâm lôi cuốn dòng chất dinh dưỡng ưu tiên nên

chồi bên nghèo dinh dưỡng, không sinh trưởng được

Auxin có vai trò quan trọng trong hiện tượng ưu thế ngọn Tuy nhiên các phytohoocmon khác cũng có vai trò qu an trọng trong điều chỉnh hiện tượng này, đặc biệt là xytokinin Xytokinin được rễ cây tổng hợp rồi vận chuyển lên ngọn làm

yếu ưu thế ngọn Tỉ lệ auxin/xytokinin càng cao thì ưu thế ngọn càng mạnh mẽ, còn

tỉ càng thấp thì sự phân cành càng chiếm ưu thế [24]

1.2- Nh ững nghiên cứu trên thế giới về cây hoàng lan

Hoàng lan còn được gọi là ylang-ylang Một số nhà khoa học giải thích rằng tên gọi ylang-ylang là xuất phát từ tiếng Tagalog đọc từ chữ ilang-ilang có nghĩa là hoa của các loài hoa bởi vì hoa hoàng lan có mùi thơm đặc biệt gồm mùi của rất nhiều loài hoa khác hợp lại mà thành, nó vừa có mùi của hoa lài và tinh dầu cam

đắng (Citrus aurantium); vừa có mùi của hoa hồng, vừa có mùi dịu dàng của hoa

thủy tiên và dạ lan hương Đây là loài cây có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á

và được nhập trồng ở Ấn Độ, Trung Quốc , các đảo Thái Bình Dương, các nước châu Phi và châu Mỹ [2][11]

Philippines là nước đầu tiên đã đưa cây hoàng lan vào trồng để lấy tinh dầu ở quy mô sản xuất hàng hóa, tiếp theo đó là Indonesia Vào năm 1770, cây hoàng lan được đưa từ Philippines vào trồng ở đảo Réunion Và sau đó gần một thế kỷ, hoàng lan trở thành cây kinh tế quan trọng đối với đảo này Vào những năm đầu thế kỷ 20, hoàng lan được du nhập vào trồng nhiều ở đảo Comoro s (mệnh danh là đảo dầu thơm) và trở thành cây công nghiệp quan trọng Hiện nay, việc trồng hoàng lan để

lấy tinh dầu đem lại nguồn lợi đáng kể ở nhiều quốc gia như Madagascar, Indonesia, Trung Quốc, Réunion… [2][6]

Theo Oyen và cộng sự (1999) thì cây hoàng lan ưa điều kiện nóng ẩm ở các khu vực thấp trong vùng nhiệt đới, với nhiệt độ trung bình năm 21 - 270C, lượng mưa hàng năm 1500 – 2000m Tại đảo Java (Indonesia), hoàng lan tái sinh tốt trong

rừng ẩm thường xanh và rừng Tếch (Tectona grandis) Ở New Guinea gặp hoàng

Trang 11

lan sinh trưởng trên các khu vực có độ cao đến 850m so với mực nước biển Cây sinh trưởng và phát triển tốt trên các vùng đất màu mỡ, đất nham thạch, quang đãng,

hiều ánh sáng, đất hơi chua đến hơi kiềm (pH: 4,5 - 8) Ở Samoan (quần đảo ở Nam Thái Bình Dư ơng) người ta trồng hoàng lan xen với chuối, dừa, cây ăn quả [2][27][30]

Hình 1.1- Hoàng lan l được trồng xen

trong chuối, dừa ở Samoan

Hình 1.2 Hoàng lan được trồng ở

Madagascar Trong tài liệ u “Species Profiles for Pacific Island Agroforestry”, Harley I Manner and Craig R Elevitch (2006) đã mô tả về đặc điểm hình thái, phấn bố của hoàng lan và công dụng của hoàng lan Về sinh trưởng thì cây sinh trưởng nhanh khi gặp điều kiện thuận lợi, có thể đạt 2m chỉ trong 1năm Cây thường phân bố ở

những vùng đất thấp hoặc những rừng tái sinh có độ cao 800 – 1200m so với mực nước biển, những vùng này thường là những vùng có lượng mưa lớn bình quân 700 – 5000mm/năm và có nhiều ánh sáng Độ pH thích hợp cho cây là thường trung tính

Tr ồng hoàng lan ở Madagascar

Trang 12

hơi ngã sang acid yếu, không được trồng cây những nơi nhiễm mặn với nồng độ

muối cao Đây là loài cây được dùng để phục hồi rừng, để phủ xanh các vùng đất

trống ở Guam Cây có thể chịu đựng được nhiệt độ thấp nhất từ 10 – 180

C, nhiệt độ cao nhất là 28 – 350C, nhiệt độ thích hợp trung bình là 18 – 280C sẽ giúp cho cây sinh trưởng phát triển tốt nhất Đất trồng cây thường thích hợp nhất với đất cát, sét

chứa nhiều mùn hoặc đất sét, ngoài ra còn thấy rằng cây thích hợp với đất đỏ bazan

có nguồn gốc từ nham thạch núi lửa, đất cát màu mỡ có nhiều mùn Cây 1,5 – 2 năm tuổi thì bắt đầu ra hoa , mỗi cây trưởng thành có thể cho 20 – 100kg hoa trong

1 năm [29]

Về sản lượng thu hoạch, ở Madagasca, vùng Nosy Bé người ta trồng 500ha thu được 800.000kg hoa và sau khi chưng cất thì thu được 20.000kg tinh dầu ylang-ylang Còn ở quần đảo Comoro s, mỗi 1 ha người ta thu hái 900 – 1500kg hoa và chưng cất được 18 – 30kg tinh dầu ylang –ylang loại thượng hạng (MweziNet 2000)

[32]

Việc nhân giống hoàng lan chủ yếu từ hạt Hạt được gieo trong các túi bầu đất đến khi có 6 – 10 lá đem trồng trên diện tích đại trà Trên các diện tích trồng Hoàng lan để lấy hoa cất tinh dầu trong sản xuất hàng hóa, khoảng cách thường được trồng 6 x 6m Tuy nhiên ở đảo Pohnpei thuộc liên bang Micronesia (đảo quốc

ở Thái bình Dương) người ta trồng hoàng lan mật độ 4 x 4m [2][6] [33]

Ở một số vùng như Samoa- nằm ở trung tâm Nam Thái Bình Dương, người ta

trồng xen hoàng lan với chuối, dừa, cây ăn quả khác.[26]

 Ding, J.K và các cộng sự (1988) đã nghiên cứu thành phần hoá học trong tinh dầu (ylang-ylang oil) của hoa hoàng lan (sinh trưởng tại Vân Nam – Trung

Quốc) qua các giai đoạn phát triển khác nhau Bằng phương pháp sử dụng sắc ký

kết hợp khối phổ (GC/MS) để phân tích các mẫu tinh dầu hoàng lan có xuất xứ khác nhau, Ding, J.K và các cộng sự (1988) cho biết thành phần hóa học tinh dầu hoàng lan qua bảng 1.1

Trang 13

B ảng 1.1- Hàm lượng các chất (%) trong tinh dầu

ở các giai đoạn phát triển của hoa hoàng lan

STT H ợp chất

Hàm lượng (%) trong tinh dầu

N ụ xanh

Hoa xanh

Hoa n ửa xanh,

Trang 14

Như vậy tinh dầu trong hoa hoàng lan ở Vân Nam (Trung Quốc) gồm khoảng

22 hợp chất, trong đó có các thành phần chín h là β -caryophyllen (25,44%), γ-muurolene (17,09%), Geranyl acetate (13,41%), p-cresyl methyl ether (11,55%),

α-farnesene (6,39%)

Ngoài ra các tác giả trên còn cho biết:

+ Tinh dầu hoàng lan có xuất xứ từ Lào chứa khoảng 25 hợp chất, chủ yếu là

caryophyllen (25,68%), γ-muurolene (15,76%), linalool (10,64%), farnesyl

acetate (9,48%), α-humulene (6,48%)

+ Thành phần hóa học trong tinh dầu hoa hoàng lan tại Thái Lan khá phức tạp,

gồm tới 31 hợp chất, trong đó chủ yếu là α-farnesene (38,72%),

β-caryophyllen (11,39%), γ-muurolene (11,38%), farnesol (8,39%) và linalool

(6,62%) [18]

1.3- Nh ững nghiên cứu ở Việt Nam

- Lã Đình Mỡi và cộng sự (2002) cho biết chi Cananga có khoảng 2 – 3

loài tại châu Á và châu Đại Dương Tất cả các giống trồng khai thác hoa lấy tinh

dầu hoặc trồng làm cảnh thuộc loài Cananga odorata được xếp vào 2 nhóm:

 Nhóm Cananga (Cananga odorata forma macrophylla Steenis) có các cành

mọc ngang gần như vuông góc với thân cây, lá có kích thước lớn (10 x 20 cm) Các

giống thuộc nhóm này được trồng tại đảo Java, đảo Fiji và Samoa Tinh dầu từ hoa

có chất lượng thấp và được gọi là “cananga oil”

 Nhóm Ylang Ylang (Cananga odorata forma genuina Steenis) có các cành

rủ xuống, lá nhỏ, có nguồn gốc từ Philippines Hiện chúng được trồng rộng rãi tại

khắp các khu vực thuộc vùng nhiệt đới Tinh dầu từ hoa (ylang ylang oil) có chất

lượng cao [17][18]

Các tác giả cũng cho biết ở khu vực thấp, hoàng lan bắt đầu ra hoa 2 năm

tuổi, khi đó cây cao độ 2m Nhưng khi trồng trên các khu vực đồi núi có độ cao

khoảng 500 m so với mặt biển thì phải sau 7 năm tuổi cây mới bắt đầu ra hoa Ở

Trang 15

nước ta, cây ra hoa tháng 5 – 7, có quả tháng 8 – 10 Ở điều kiện khí hậu nhiệt đới

cũng như trong trồng trọt, cây có thể ra hoa, kết quả hầu như quanh năm.[17][18]

- Công trình của Trương Mai Hồng và cộng sự vào năm 2002 đã nghiên cứu

sự phát triển và già chín của hạt hoàng lan (Cananga odorata (Lam) Hook F et

Thoms)” từ một cây hoàng lan 10 tuổi, cao 17m, đường kính thân (D1,3) 8,8cm được

trồng ở trường Đại học Nông Lâm TP.HCM và thu được một số kết quả như sau: + Ước lượng một cây hoàng lan cho hơn 30.000 hạt

+ Số hạt/quả khoảng 6 – 12 hạt

+ Xác định thời điểm chín thu hoạch là 98 ngày sau hoa nở

- Phạm Phương Bình (2007) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón lên

sự nảy mầm của Hoàng lan và theo dõi sự sinh trưởng của chúng trong giai đoạn vườn ươm Tác giả đã xác định:

+Tỉ lệ hạt nẩy mầm trung bình là 93,17%

+Số ngày nẩy mầm trung bình của hạt 30,56 ngày

+Thời gian hạt kéo dài nẩy mầm trung bình là 18,27 ngày

+Thời gian nẩy mầm bình quân là 40 ngày, quá trình nẩy mầm kéo dài 60

ngày

+ Tỉ lệ sống của cây con trong giai đoạn vườn ươm là cao (95%)

+Cây hoàng lan tăng trưởng chiều cao , đường kính, số lá, diện tích lá, số

cành cấp I tốt nhất ở nghiệm thức N2% , photpho 3%, 4% [3]

Nghiên cứu về tinh dầu hoa hoàng lan có các công trình sau:

- Vũ Ngọc Lộ (1996) nghiên cứu về kỹ thuật khai thác, chế biến và những ứng

dụng của cây tinh dầu có nói đến kỹ thuật chưng cất tinh dầu hoàng lan bằng phương pháp chưng cất nhờ hơi nước và tách ra thành các cấp khác nhau (extra chiếm 15%; first grade chiếm 15%; second grade chiếm 30%; third grade chiếm 40-50% trong tinh dầu) tương ứng với khoảng thời gian chưng cất [14]

Trang 16

- Lã Đình Mỡi và cộng sự (2002) cho biết tinh dầu chứa trong hoa (1,6-1,7%

ở hoa tươi), trong lá (0,10-0,14% ở lá tươi) và một lượng rất nhỏ trong quả hoàng lan Thành phần hoá học chủ yếu của tinh dầu lá (ở hoàng lan được trồng tại khu

vực Hà Nội) gồm caryophyllene (30-36%), germacren (20-23,5%) và α-humulene (10-12,5%) Như vậy thành phần chính trong tinh dầu lá là các hợp chất serquiterpen (khoảng trên dưới 70%) Ngoài ra còn có các hợp chất đáng chú ý như α-farnesene (1,0-2,0%), và linalool (khoảng 1%) Cũng với hoàng lan tại khu vực

Hà Nội nhưng tinh dầu thu được từ hoa lại có các thành phần khác hẳn so với tinh

dầu lá Những thành phần chính trong tinh dầu hoa thường gồm linalool 30,0%), Benzyl benzoate (3,5-18,5%), germacren (3,5-18,5%), benzyl acetate (5,0-13,5%), cis-caryophyllen (1,5-13,5%) và α-farnesene (1,0-11,0%) Tinh dầu trong

(20,0-quả lại chứa chủ yếu là carbinen (34,3%), mycren (24,7%) và α-pinen (11,1%) Các tác giả còn cho biết là thành phần hoá học của tinh dầu trong hoa hoàng lan thường biến động trong giới hạn rất rộng trong mối quan hệ với các yếu tố di truyền, các giai đoạn phát triển khác nhau của hoa, các mùa vụ thu hái, các khu vực phân bố địa lý khác nhau và cả kỹ thuật chưng cất tách chiết tinh dầu…Về công

dụng của tinh dầu hoa hoàng lan, ông cho biết tinh dầu hoàng lan được ưa chuộng trong công nghiệp hương liệu, công nghiệp chế biến thực phẩm, và cũng được dùng làm thuốc chữa bệnh về tim mạch, viêm loét, tiêu hoá, điều trị trong xoa bóp, dưỡng

da chống lão hoá, tăng khả năng kích dục [13][14]

- Thành phần tinh dầu hoa hoàng lan (trồng rải rác ở công viên và nhà dân ở ven

Hồ Tây, Hà Nội) ở 2 giai đoạn hoa xanh và hoa vàng như ở bảng 1.2

Trang 17

B ảng 1.2 Hàm lượng các chất (%) trong tinh dầu

ở hai giai đoạn phát triển của hoa hoàng lan

Các kết quả trong bảng trên đã cho thấy các thành phần hoá học chính trong

tinh dầu hoa hoàng lan tại khu vực Hồ Tây – Hà Nội ở 2 giai đoạn hoa xanh và hoa

vàng gần như ổn định, tuy có tăng giảm về hàm lượng song không nhiều.[13]

- Phạm Văn Ngọt và cộng sự (2009) đã tiến hành nghiên cứu ly trích tinh dầu

hoa hoàng lan bằng hai phương pháp chưng cất hơi nước và tẩm trích trong ether

dầu hỏa, cũng như xác định thành phần hóa học trong tinh dầu hoàng lan từ những

cây hoàng lan 3 năm tuổi trồng ở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre như sau:

+ Chưng cất hoa hoàng lan bằng nước cho hàm lượng tinh dầu ít hơn so với

phương pháp trích bằng ether dầu hoả Nguyên nhân là do trong phương pháp

chưng cất bằng nước, lượng tinh dầu bay hơi trong quá trình tiến hành chưng cất,

ngoài ra lượng tinh dầu còn nằm lại một phần trong nước chưng cất và phần còn lại

thất thoát do không thể thu hồi hết ở khâu làm khan để loại nước

Trang 18

+ Hàm lượng tinh dầu trong hoa hoàng lan chưng cất bằng nước từ 0,65 – 0,68% và hàm lượng tinh dầu trong hoa này theo phương pháp tẩm trích bằng ether

dầu hỏa từ 1,27 – 1,32%

+ Có 10 hợp chất được xác định trong thành phần tinh dầu hoàng lan, trong đó thành phần hợp chất chiếm tỉ lệ cao trong tinh dầu hoa hoàng lan ở cả hai giai đoạn hoa xanh và hoa vàng là Benzyl benzoate và Benzyl acetate Ở giai đoạn hoa xanh thì hàm lượng Benzyl benzoate (25,041%) cao hơn so với hàm lượng Benzyl benzoate ở giai đoạn hoa vàng (18,630%), ngược lại hàm lượng Benzyl acetate ở giai đoạn hoa vàng (19,034%) lại cao hơn so với hàm lượng Benzyl acetate ở giai đoạn hoa xanh (12,881%) Tỉ lệ các thành phần hoá học còn lại trong tinh dầu hoàng lan ở hai giai đoạn hoa xanh và hoa vàng cũng có sự chênh lệch nhưng không quá nhiều khoảng từ 0,2 – 3,5 %

Qua những tư liệu và công trình khoa học của các tác giả khác nhau được trình bày ở trên cho thấy ở Việt nam chưa có công trình nào nghiên cứu hay đề cập đến quá trình sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan khi đ ược trồng với các

mật độ khác nhau

Trang 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây hoàng lan

2.1.1- V ề tên gọi

+ Ở mỗi địa phương, cây hoàng lan có những tên gọi khác nhau như:

Cananga odorant (French)

Ilang ilang-ilang ilang, alang alang-ilang (Guam, CNMI)

Moso‘oi (Samoa)

Sa‘o (Solomon Islands: Kwara‘ae)

Ylang ylang, perfume tree, cananga (English)

Apurvachampaka, chettu sampangi, karumugai (India)

Ilang-ilang, alang-ilang (Philippineses)

Kadatngan, kadatnyan (Myanmar)

Kernanga (Indonesia)

Kenanga, chenanga, ylang-ylang (Malaysia) [25]

+ Ở Việt Nam cây hoàng lan cũng được gọi với nhiều tên khác nhau như

ng ọc lan ta, công chúa, ngọc lan tây, ylang-ylang Một số nhà khoa học giải thích

rằng tên gọi ylang-ylang là xuất phát từ tiếng Tagalog đọc từ chữ ilang -ilang có nghĩa là hoa của các loài hoa, nguyên do là hoa hoàng lan có mùi thơm đặc biệt

gồm mùi của rất nhiều loài hoa khác hợp lại mà thành, nó vừa có mùi của hoa nhài

và tinh dầu cam đắng (Citrus aurantium), vừa có mùi của hoa hồng, vừa có mùi dịu

dàng của hoa thủy tiên và dạ lan hương [4][34]

Trang 20

+ Ngoài ra, hoàng lan cũng còn có những tên gọi khác theo khoa học như: Canangium fruticosum Craib; Canangium odoratum (Lam.) Baill ex King; Canangium scortechinii King, Uvaria odorata Lam.Nhưng tên khoa học được sử

dụng rộng rãi là: Cananga odorata (Lamk.) Hook f & Thomson

Bắc Mỹ còn đa số sống ở vùng nhiệt đới Ở Việt Nam có khoảng 26 chi với 128

loài, phần lớn là cây mọc hoang dại ở các rừng thứ sinh Đa số các loài trong họ này

có các công dụng đặc biệt như: Xylopia aethiopica hạt được dùng làm gia vị, Unona

hạt có thể thay thế cho tiêu, giống Annona cho trái ăn rất ngon, hoa của Cananga odoratum rất thơm do có chứa linalol và geraniol trong thành phần tinh dầu

2.1.3- Đặc điểm hình thái và sinh thái

2.1.3.1- Đặc điểm hình thái

+ Cây gỗ thường xanh, cao 6 – 15m, đường kính thân khoảng 30 –50 cm, không có bạnh gốc, cành thường mọc ngang dễ gãy, cành non rũ xuống

+ Lá đơn, mọc cách, xếp thành hai hàng trên cành nhỏ, dễ rụng Phiến lá mềm,

mỏng, hình trái xoan hay hình trứng, dài 15 – 20cm, rộng 5 – 8cm, mép có lượn

sóng, đầu thon, mặt trên không có lông, mặt dưới hơi có lông, có 9 – 10 cặp gân

phụ, cuống lá dài 1 – 2 cm

Trang 21

+ Cây ra hoa quanh năm, hoa màu xanh vàng đến màu vàng, mọc thành cụm trên các cành ngắn không có lá, mỗi chùm từ 2 – 7 hoa, 6 cánh tràng lượn sóng hình

giải đầu thuôn nhọn, gốc tròn xếp làm hai vòng, có gân song song Bộ nhuỵ gồm

8-10 lá noãn rời, bầu nhuỵ hơi có lông, vòi rõ và núm nhuỵ phình rộng hình đinh ghim Nhị nhiều, ngắn, trung đới thành mũi cao

+ Quả còn non màu xanh, hình trứng ngược hơi dài, nhẵn không có lông, kích

cỡ 1,5 – 2,5cm x 0,8 – 1,0cm, vỏ quả dày khoảng 2mm, khi chín vỏ màu xám tro

nhạt dần chuyển sang nâu đen, thịt vỏ màu vàng nhạt Có 7 – 9 quả rời đính trên

cuống ngắn, mỗi quả chứa 3 – 12 hạt Hạt dẹp, lúc non nhỏ mềm màu trắng đến khi chín hạt cứng, màu nâu dài khoảng 0,5 – 0,7cm

Hình 2.1- Cây Hoàng lan tr ồng trước nhà dân ở huyện Giồng Trôm

Trang 22

2.1.3.2-Đặc điểm sinh thái

+ Cây ưa sáng, mọc nhanh, thích đất thoát nước, thường được trồng quanh nhà, trong công viên, không thấy mọc tự nhiên Cây hoàng lan rất khó ra rễ nên hiện nay không thể nhân giống bằng chiết cây, chỉ có thể nhân giống bằng hạt

+ Thích hợp với những vùng có lượng mưa lớn bình quân 700 – 5000mm/năm

và có nhiều ánh sáng, pH trung tính hơi ngã sang acid yếu, không được trồng cây

Hình 2.2- Hoa - Qu ả - Hạt của cây Hoàng lan

Trang 23

những nơi nhiễm mặn với nồng độ muối cao Đất trồng cây thường thích hợp nhất

với đất cát, sét chứa nhiều mùn hoặc đất sét, ngoài ra còn thấy rằng cây thích hợp

với đất đỏ bazan có nguồn gốc từ nham thạch núi lửa, đất cát màu mỡ có nhiều mùn Ngưỡng nhiệt phát triển từ 10 – 180C đ ến 28 – 350C, nhiệt độ thích hợp trung bình là 18 – 280C sẽ giúp cho cây sinh trưởng phát triển tốt nhất [23]

+ Phân bố: cây có nguồn gốc Đông Nam Á đã được nhập trồng ở Ấn Độ, Trung Quốc, Réunion, Comoros, một số nước châu Phi và châu Mỹ [16][32]

2.1.4- Giá tr ị

+ Gỗ hoàng lan nhẹ, màu vàng nhạt, thớ mịn dùng tiện, khắc, làm văn phòng

phẩm, dễ gia công, chế biến, nhưng kém bền, dễ nứt nẻ, mối mọt, chủ yếu làm củi + Hoa rất thơm cho tinh dầu có giá trị kinh tế cao (ylang ylang oil)

• Tinh dầu hoàng lan được dùng rộng rãi trong công nghiệp sản xuất nước hoa theo phong cách phương Đông, là thành phần chính để sản xuất nước hoa Chanel N05 Nhiều tác giả có những nhận xét như sau: hương thơm ngào ngạt, sang

trọng hơi giống hương thơm của hoa thủy tiên và dạ lan hương [15]

• Về công dụng tinh dầu: có tác dụng khuấy động cảm xúc con người, giúp cân

bằng rối loạn cơ thể, mang đến cảm giác thoải mái, tâm trí thanh thản, bình yên và được coi như một loại thuốc tốt làm dịu đi sự mệt mỏi của cơ thể, rất tốt cho những người hay lo âu và căng thẳng Ngoài ra, tinh dầu hoàng lan còn rất hiệu quả trong điều trị và chăm sóc da, giúp làm dịu viêm sưng da, điều tiết các chất bã nhờn, làm

giảm huyết áp cao, làm giảm sự căng cơ, được dùng chữa bệnh sốt rét, bệnh đường

ruột, viêm gan…[5] [35]

2.2- Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1- Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu - xã Châu Hoà, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

Trang 24

2.2.1.2- Đặc điểm tự nhiên của vùng nghiên cứu

+ T ỉnh Bến Tre- có tọa độ từ 9o48’ đến 10o

20’ vĩ độ Bắc và từ 106o48’ đến

105o57’ kinh độ Đông; có 7 huyện và 1 thị xã, là một trong những tỉnh thuộc khu

vực đồng bằng sông Cửu Long, được hình thành bởi ba cù lao: An Hòa, Bảo và Minh, do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ nên qua nhiều thế kỷ.[311

Hình 2.3- Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre (Tỉ lệ 1 : 400.000)

Địa điểm nghiên cứu

+ Diện tích tự nhiên của tỉnh xấp xỉ 2285 km2, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang (có ranh giới chung là sông Tiền), phía Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây giáp tỉnh

Vĩnh Long (có ranh giới chung là sông Cổ Chiên), phía Đông giáp biển với chiều dài 65 km

CHÂU THÀNH

BÌNH ĐẠI

GI ỒNG TRÔM

T ỈNH

VĨNH LONG

T ỈNH TRÀ VINH

T ỈNH

TI ỀN GIANG

BI ỂN ĐÔNG

Trang 25

+ Bến Tre có địa hình tương đối bằng phẳng rải rác có xu thế thấp dần từ Tây sang Đông, nghiêng dần ra biển, có nhiều giồng cát hình vòng cung quay lưng ra

biển là kết quả của quá trình lấn biển Sự chênh lệch tuyệt đối giữa vùng đất cao

nhất và thấp nhất không quá 3,5m Những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không

có rừng cây lớn, chỉ có những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông Bốn

bề đều có sông nước bao bọc với một hệ thống đường thuỷ và một hệ thống kênh

rạch chằng chịt đan vào nhau như những mạch máu chảy khắp ba dải cù lao

+ Độ cao tuyệt đối có nơi đạt trên 5 m, đa số từ 3 đến 3,5 m Còn một phần đất cao nằm theo các bờ biển cổ với những gờ bờ biển gọi là giồng với độ cao tuyệt đối từ 2 đến 5 m Đa số địa danh cao đều mang thêm từ "Giồng" ở phía trước như

Giồng Trôm, Giồng Tre

Cuối cùng là đất trũng thấp luôn luôn ngập dưới mực triều trung bình, gồm

có đất đầm mặn và bãi thuỷ triều Loại này không vượt quá 0,5m.[31]

+ Huy ện Giồng Trôm

Huyện Giồng Trôm có diện tích tự nhiên 31.142 ha, nằm khoảng giữa cù lao

Bảo Đất canh tác nông nghiệp đạt xấp xỉ 25.000 ha Nền đất được cấu tạo từ phù sa

của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, cùng với mạng lưới sông rạch chằng

chịt, Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng

2.2.1.3- Đặc điểm khí hậu của vùng nghiên cứu

+ Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới cận xích đạo nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt

độ trung bình hàng năm từ 26-27o

C; không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới

20oC Lượng bức xạ khá dồi dào, trung bình đạt tới 160 kcal/m2 Tổng số giờ nắng trong năm đạt trên dưới 2.630 giờ Trong mùa khô, số giờ nắng trung bình mỗi ngày đạt từ 8 – 9 giờ Tháng mùa mưa trung bình từ 5 – 7 giờ trong ngày nên Bến Tre thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng

Trang 26

+ Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão, vì nằm ngoài vĩ độ thấp (bão thường xảy

ra từ vĩ độ 15o

bắc trở lên) Ngoài ra, nhờ có gió đất liền, nên biên độ dao động ngày đêm giữa các khu vực bị giảm bớt

+Trong năm có 2 mùa rõ rệt:

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 - trùng với mùa gió mùa Tây- Nam, lượng

mưa trung bình hàng năm từ 1250 - 1500 mm, ngoài ra còn có mùa gió chướng từ tháng 9 đến tháng 11, đẩy nước biển chảy ngược vào các sông, kênh rạch gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

• Mùa khô t ừ tháng 11 đến tháng 4 năm sau- trùng với gió mùa Đông-Bắc với

lượng mưa vào khoảng 2 đến 6% tổng lượng mưa cả năm

+ Do có nhiều kênh rạch, sông ngòi nên độ ẩm trong không khí ở Bến Tre tương đối cao, sự chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng khô

nhất vào khoảng 15%

• Mùa khô, độ ẩm trung bình 73% đến 80%,

• Mùa mưa độ ẩm trung bình từ 83% đến 90% Riêng tháng 12 và tháng 1, độ

ẩm trung bình chỉ từ 40 - 50% [21]

+ Độ bốc hơi (theo ống piche): vào mùa khô, nắng nhiều, độ ẩm không khí

thấp, do đó lượng bốc hơi cao, trị số ngày đêm đạt đến 6 mm Vào những tháng mùa mưa, chỉ số đạt khoảng từ 2,5 – 3,5 mm trong một ngày đêm Tháng 9, độ bốc hơi

nhỏ, đạt từ 2 – 3 mm trong một ngày đêm

Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng khí hậu Bến Tre rất thích hợp với nhiều loại cây trồng Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi cho sự quang hợp và phát dục của cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên, ngoài thuận lợi trên, Bến Tre cũng gặp những khó khăn do thời tiết nóng ẩm nên thường có nạn sâu bệnh, dịch bệnh, và nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm

Trang 27

B ảng 2.1 - Nhi ệt độ, lượng mưa của tỉnh Bến Tre

(%)

Lượng bốc hơi trung bình

(mm)

S ố giờ nắng trung bình

Trang 28

2.2.1.4- Đặc điểm thổ nhưỡng của vùng nghiên cứu

+ Theo Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp, 1977-1978) thì đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại + Năm 1984-1985, Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II đã điều chỉnh lại và phân ra làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ Theo đó 4 nhóm đất chính gồm :nhóm đất cát, nhóm phù

sa, nhóm đất phèn và nhóm đất mặn

Nhóm đất cát: chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh): Lớp đất

mặt thường khá mịn- là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác

Nhóm đất phù sa hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%)

Nhóm đất phèn: Hầu hết thuộc loại phèn hoạt động, có 2 dạng chủ yếu: dạng

có h ữu cơ xen kẽ trong các tầng đất xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông

lớn hay kênh rạch , dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có

nhiều giồng cát

Nhóm đất mặn - Chiếm lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có

lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển

Như vậy, về mặt thổ nhưỡng khu vực xã Châu Hoà, huyện Giồng Trôm

nằm trong vùng đất phù sa, ít chịu ảnh h ưởng của nhiễm mặn do thuỷ triều nên thuận lợi cho việc phát triển cây trồng

2.2.2- Th ời gian nghiên cứu

Từ tháng 03/2007 đến 09/2009

Trang 29

2.3- P hương pháp nghiên cứu

- Tiến hành ngắt ngọn cây ở vị trí 2m tính từ mặt đất, chặt bỏ chuối khi cây hoàng lan cao hơn 2m (tháng 03/2008) và tiến hành tỉa thưa (hình 2.6) Có 3 lô thí nghiệm:

 LÔ 1 – không tỉa thưa mật độ 2m x 2m )

 LÔ 2 – tỉa thưa theo mật độ 2m x 4m

 LÔ 3 – tỉa thưa theo mật độ 4m x 4m

- Mỗi lô thí nghiệm theo dõi 30 cây

Hình 2.4- Sơ đồ bố trí thí nghiệm trồng cây hoàng lan xen với chuối

Trang 30

a Mật độ 2m X 2m b Mật độ 2m X 4m c Mật độ 4m X 4m

Hình 2.5- Sơ đồ bố trí thí nghiệm trồng hoàng lan

sau khi ch ặt bỏ chuối và tỉa thưa

Trang 31

Trước khi cắt ngọn, chúng tôi tiến hành ghi nhận các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, đường kính thân, đường kính tán, chiều dài và đường kính cành, sinh khối Các chỉ tiêu sinh trưởng trên được theo dõi 2 tháng/ 1lần

Các lô thí nghiệm được bón phâ n, tưới nước và chăm sóc như nhau, cụ thể

2.3.2- Nghiên c ứu các chỉ tiêu sinh trưởng

2.3.2.1- Phương pháp đo chiều cao cây và chiều dài các cành

+ Đo chiều cao cây

- Dùng thước cây đo 2 tháng một lần, đo từ mặt đất đến đỉnh ngọn

- Tăng trưởng chiều cao cây: ∆h

∆h =hn+1 - h n

hn : chiều cao thân cây đo lần thứ n

hn+1 : chiều cao thân cây đo lần thứ n+1

+ Đo chiều dài cành

- Đánh dấu vị trí các cành 1, 5, 10 tính từ vị trí 2m trở xuống

- Chiều dài cành được tính từ gốc cành đến đỉnh chồi ngọn

Tăng trưởng chiều dài cành : ∆l

∆l =l n+1 - l n

ln : chiều dài cành đo lần thứ n

ln+1 : chiều dài cành đo lần thứ n+1

Trang 32

2.3.2.2- Phương pháp đo đường kính thân và đường kính cành

+ Đo đường kính thân

- Dùng thước kẹp để đo đường kính thân ở vị trí:cách mặt đất 10cm

- Tính tăng trưởng đường kính thân: ∆d

∆d = d n+1 - d n

dn: đường kính thân đo lần thứ n

dn+1: đường kính thân đo lần thứ n+1

+ Đo đường kính các cành

-Chọn cành trên cùng tính từ vị trí 2m trở xuống

-Tiến hành đo đường kính các cành bằng thước kẹp

- Tính tăng trưởng đường kính cành : ∆c

∆c = c n+1 - c n

cn: đường kính cành đo lần thứ n

cn+1: đường kính cành đo lần thứ n+1

2.3.2.3- Th ống kê số lá trung bình/cây và tính diện tích lá trung bình/cây

- Chọn 10 cây có chiều cao và đường kính trung bình và đếm số lá trên cây

cho mỗi lô thí nghiệm

- Chọn 3 lá bánh tẻ ở mỗi cây và vẽ 30 lá lên giấy kẻ li

- Tính diện tích trung bình của 1 lá và diện tích lá trung bình / cây

Trang 33

2.3.2.4- Th ống kê số cành chết do hiện tượng tỉa cành tự nhiên

+ Các cành dưới thấp thường bị hiện tượng tỉa cành tự nhiên do thiếu

nước hoặc thiếu ánh sáng

+ Số cành bị tỉa trung bình hàng tháng ∆n :

n = n n+1 - n n

nn: S ố cành bị tỉa đếm ở lần thứ n

nn+1: S ố cành bị tỉa đếm ở lần thứ n+1

2.3.3- Phương pháp đo cường độ ánh sáng

Dùng máy ANNA F11 để đo cường độ ánh sáng ở mỗi lô thí nghiệm Đo ở

vị trí 1m, đặt máy hướng về phía đông để đo cường độ ánh sáng

2.3.4- Phương pháp đo độ ẩm và nhiệt độ không khí

Sử dụng máy Testo 635 để đo độ ẩm và nhiệt độ không khí ở mỗi lô thí nghiệm Cầm máy ở vị trí 1m, điện cực hướng về phía đông để đo các giá trị

2.3.5- Ph ương pháp nghiên cứu một số đặc điểm cấu tạo của hoa

- Chọn một vài hoa có màu vàng

- Quan sát dưới kính lúp một số đặc điể m cấu tạo của hoa: đài hoa, cánh hoa, bộ nhị, bộ nhụy

- Cắt mỏng cánh hoa, nhuộm kép

- Đặt mẫu lên kính, quan sát dưới kính hiển vi nhằm xác định vị trí cũng như loại mô tiết và tích lũy tinh dầu

2.3.6- Phương pháp nghiên sự sinh trưởng của hoa và quả

- Chọn bất kỳ 5 cây hoàng lan trong các lô thí nghiệm, đánh số thứ tự các

cây được chọn từ 1-5

- Trên m ỗi cây chọn 2 cành bất kỳ và đánh số thứ tự 10 cành được chọn

Trang 34

- Trên mỗi cành có nhiều nụ và hoa ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau nên chỉ chọn 3 nụ mới bắt đầu hình thành (ở thời điểm tiến hành nghiên cứu) để theo dõi sự phát triển của nụ hoa qua từng ngày (tổng số hoa theo dõi là 30 hoa) Sự phát triển của nụ hoa được theo dõi bằng việc đo kích thước chiều ngang, chiều dọc

của nụ hoa qua từng ngày, thông qua đó xác định được thời điểm nụ hoa mở lá đài

- Sau khi nụ hoa mở lá đài sẽ theo dõi sự tăng trưởng của hoa thông qua chỉ

số tăng trưởng cánh hoa từ khi nụ hoa hình thành đến khi hoa tàn, cánh rụng

- Theo dõi số cây ra hoa, lượng hoa ra ở mỗi lô thí nghiệm

Thông qua việc theo dõi tăng trưởng của hoa sẽ xác định được thời điểm hoa

bắt đầu chuyển từ màu xanh sang màu vàng, sau đó chuyển sang màu vàng hẳn - hoa “chín”

- Theo dõi sinh trưởng của quả từ lúc hoa tàn đến khi quả chín

2.3.7 Phương pháp tính năng suất hoa

- Thu hái các hoa hoàng lan (cánh hoa có màu xanh vàng – vàng) t ừ các cây ở

3 lô vào các ngày 18/4/2009, 25/4/2009, 03/5/2009, 10/05/2009

- Cân khối lượng hoa thu được từ các cây Tính khối lượng hoa trung bình thu

từ mỗi cây, sau đó cộng dồn khối lượng hoa trung bình qua các đợt thu hái khác nhau

2.3.8 Phương pháp ly trích tinh dầu:

Các hoa hoàng lan được thu hái vào sáng sớm, để ráo nước Hoa hoàng lan sau khi thu hái, được cân khối lư ợng, cắt nhỏ sau đó cho vào bình thủy tinh ngâm với dung môi ether dầu hỏa trong 20h và giữ ở nhiệt độ phòng Ngày hôm sau tiến hành

ly trích tinh dầu bằng phương pháp tẩm trích bằng dung môi ether dầu hỏa (petroleum ether) có nhiệt độ sôi 60 -90o

C tại phòng thí nghiệm Thực vật của khoa Sinh, trường Đại học Sư phạm, thành phố Hồ Chí Minh trong 3 lần vào các ngày 18/4/2008, 25/04/2009 và 03/05/2009

Trang 35

+ Nguyên t ắc:

- Dựa trên hiện tượng thẩm thấu, khuếch tán và hòa tan của tinh dầu có trong các mô cây đối với các dung môi hữu cơ

- Yếu tố quan trong nhất cho sự thành công của phương pháp này là phẩm

chất và đặc tính của dung môi sử dụng, do đó dung môi dùng trong tẩm trích cần

phải đạt các yêu cầu sau:

 Hòa tan hoàn toàn và nhanh chóng các cấu phần có mùi thơm trong nguyên

liệu

 Hòa tan kém các hợp chất khác như sáp, nhựa dầu có trong nguyên liệu không có tác dụng hóa học với tinh dầu

 Không biến chất khi sử dụng lại nhiều lần

 Hoàn toàn tinh khiết, không có mùi lạ, không độc, không ăn mòn thiết bị, không tạo thành hỗn hợp nổ với không khí và có độ nhớt kém

 Nhiệt độ sôi thấp vì khi chưng cất dung dịch ly trích để thu hồi dung môi, nhiệt độ sôi cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu Điểm sôi của dung môi nên thấp hơn điểm sôi của cấu phần dễ bay hơi nhất trong tinh dầu

 Ngoài ra cũng cần có thêm các yếu tố phụ khác như giá thấp, dễ tìm… + Qui trình thực hiện:

Sau khi ngâm hoa trong 20h, chiết lấy phần dung môi bao gồm tinh dầu, chất béo, sáp hòa lẫn vào nhau đem cô đặc dưới áp suất thấp (cô quay) thu được tinh dầu

Trang 36

thô Phần tinh dầu thô này bao gồm chất béo, sáp và một ít ether dầu hỏa nhưng lượng ether dầu hỏa này không đáng kể Dung môi ether dầu hỏa thu được sau khi

cô quay sẽ được làm khan loại nước và có thể sử dụng cho lần tẩm trích tiếp theo

Hình 2.8 Hoa hoàng lan ngâm trong ether d ầu hỏa

Tuy nhiên vì ether là dung môi rất dễ bay hơi nên lượng ether thất thoá t qua các khâu lá rất lớn Vì vậy lượng dung môi thu hồi được thường bị hao hụt rất nhiều

so với lượng ban đầu

Tinh dầu thô sau khi thu được cho ethanol tinh khiết vào khuấy đều cho vào tủ

lạnh ở nhiệt độ 0-2oC (khoảng 7-10 ngày) vì ở nhiệt độ này chất béo và sáp sẽ đông đặc lại chỉ còn tinh dầu hòa tan trong ethanol [20]

Sau đó tiến hành gạn phần dung dịch phí trên chất béo để tiến hành loại chất béo và sáp ra khỏi tinh dầu Phần dung dịch này này là hỗn hợp bao gồm: tinh dầu, ethanol tinh khiết và một ít ether dầu hỏa (không đáng kể) Đem hỗn hợp trên tiếp

tục cô quay để loại hết phần ether dầu hỏa và ethanol tinh khiết, thu được tinh dầu tinh khiết

Trang 37

Vì được tiến hành ở nhiệt độ phòng nên thành phần hóa học của tinh

dầu ít bị thay đổi, tinh dầu thu được có mùi thơm tự nhiên

+ Khuy ết điểm:

- Thất thoát dung môi trong quá trình ly trích do dung môi dễ bay hơi

- Qui trình tương đối phức tạp

Ch ất béo, sáp

B

Trang 38

* Tóm t ắt qui trình:

Hình 2.10 Qui trình ly trích tinh d ầu theo phương pháp tẩm trích bằng

ether d ầu hoả

Hoa hoàng lan

Cân khối lượng

Dung môi ether dầu hỏa

* 20h

* Nhi ệt độ

H ỗn hợp tinh dầu thô + dung môi

Cô quay * 80 – 85 atm

* 30 – 32 o C

Ngâm

Etanol tinh khiết

Trang 39

2.3.9- Phương pháp nghiên cứu sinh khối

+ Chọn ra mỗi lô 3 cây có chiều cao, đường kính thân trung bình để tính sinh khối vào thời điểm 1 năm sau khi trồng ( 10/2007 ) và 2 năm sau khi

Xi

1

X : giá trị trung bình; Xi: trị số đo đếm; n: số mẫu đo đếm

- Độ lệch tiêu chuẩn: phản ánh độ sai lệch hoặc độ giao động của các giá

trị với giá trị trung bình

S = [1/(n−1)*∑(x −x)2]

i ới i =1…n Trong đó: - n là số mẫu quan sát ( n > 30 ) - S: Độ lệch chuẩn

- Xi: trị số đo đếm - X: giá trị trung bình

- So sánh trung bình 2 mẫu

Tính

2

2 2 1

2 1

2 1

n

S n S

X X U

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1- M ột số đặc điểm sinh thái ở nơi nghiên cứu

3.1.1- Thành ph ần lý hoá học của đất

Thành phần cơ giới và hóa học của đất được trình bày ở bảng 3.1

B ảng 3.1-Thành phần cơ giới và hóa học của đất trồng cây hoàng lan

(Ngày l ấy mẫu 24/8/2006)

Dễ tiêu (mg/kg) Tổng số (%) Cát Thịt Sét N P 2 O 5 K 2 O N P 2 O 5 K 2 O

+ Vào mùa mưa đất ẩm ướt, ở độ sâu 40 cm có nước Vào mùa khô đất tầng 0 –

20 cm hơi khô, các tầng từ 20 – 60 cm đất ẩm ướt và ở độ sâu 60 cm có nước

Ngày đăng: 19/02/2014, 09:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1- Cây Hoàng lan tr ồng trước nhà dân ở huyện Giồng Trôm - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 2.1 Cây Hoàng lan tr ồng trước nhà dân ở huyện Giồng Trôm (Trang 21)
Hình 2.2-  Hoa - Qu ả  - H ạt của cây Hoàng lan - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 2.2 Hoa - Qu ả - H ạt của cây Hoàng lan (Trang 22)
Hình 2.3- B ản đồ hành chính tỉnh Bến Tre   (T ỉ lệ 1 : 400.000 ) - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 2.3 B ản đồ hành chính tỉnh Bến Tre (T ỉ lệ 1 : 400.000 ) (Trang 24)
Hình 2.4-  Sơ đồ bố trí thí nghiệm trồng cây hoàng lan  xen v ới chuối - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trồng cây hoàng lan xen v ới chuối (Trang 29)
Hình 3.2. Cây hoàng lan b ị chuối lấn áp - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.2. Cây hoàng lan b ị chuối lấn áp (Trang 42)
Hình 3.3- S ự cạnh tranh giữ a r ễ hoàng  lan và rễ chuối - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.3 S ự cạnh tranh giữ a r ễ hoàng lan và rễ chuối (Trang 43)
Hình 3.4- H ệ rễ của cây Hoàng lan - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.4 H ệ rễ của cây Hoàng lan (Trang 44)
Hình 3.5-  Bi ểu đồ tăng trưởng đường kính  trung bình thân cây hoàng lan - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.5 Bi ểu đồ tăng trưởng đường kính trung bình thân cây hoàng lan (Trang 46)
Hình 3.6-  Biểu đồ tăng trưởng  chi ều cao trung bình  thân cây hoàng lan - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.6 Biểu đồ tăng trưởng chi ều cao trung bình thân cây hoàng lan (Trang 48)
Hình 3.7- Cây hoàng lan sau 8 tháng tr ồng - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.7 Cây hoàng lan sau 8 tháng tr ồng (Trang 49)
Hình 3.9- Cây hoàng lan  sau 2 năm trồng  (lô 2m x 4m) - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.9 Cây hoàng lan sau 2 năm trồng (lô 2m x 4m) (Trang 50)
Hình 3.10-  Cây hoàng lan sau 2 năm trồng  (lô 4m x 4m) - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.10 Cây hoàng lan sau 2 năm trồng (lô 4m x 4m) (Trang 50)
Hình 3.13-  Đồ thị về sự tăng trưởng đường kính  trung bình cành hoàng lan - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.13 Đồ thị về sự tăng trưởng đường kính trung bình cành hoàng lan (Trang 54)
Hình 3.21-  Các giai đoạn phát triển của hoa hoàng lan                                       ( t ừ 1 đến 24 ngày tuổi  ) - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.21 Các giai đoạn phát triển của hoa hoàng lan ( t ừ 1 đến 24 ngày tuổi ) (Trang 61)
Hình 3.23- M ột cành hoa hoàng lan được theo dõi sự sinh trưởng - nghiên cứu sự sinh trưởng và khả năng ra hoa của cây hoàng lan (cananga odorata (lamk.) hook.f.& thomson) trồng ở huyện giồng trôm, tỉnh bến tre
Hình 3.23 M ột cành hoa hoàng lan được theo dõi sự sinh trưởng (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w