Với cách tiếp cận theo quá trình thì cho rằng: Kế hoạch sản xuất kinhdoanh là một quá trình liên tục xoáy trôn ốc với chất lượng ngày càng tăng kể từkhi chuẩn bị xây dựng cho tới lúc chu
Trang 1Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt NamĐộc lập-Tự do-Hạnh phúc
******
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : sisomphu singdala
Sinh viên lớp : Kinh tế đầu tư 46 A
Khoa : Kinh tế đầu tư
Khoá : 46
Tôi xin cam đoan nội dung chuyên đề này là hoàn toàn do tôi nghiên cứu
và hoàn thiện đúng theo quy chế của trường Kinh Tế Quốc Dân Tôi xin chịutrách nhiệm về những gì đã viết trong bản chuyên đề này
Hà Nội, Ngày 01 Tháng 05 Năm 2008
Người viết, Người cam đoan
sisomphu singdala
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Phần I - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN KẾ HOẠCH TRONG DOANH NGHIỆP 3
I TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP 3
1 Khái niệm về kế hoạch trong doanh nghiệp 3
1.1 Khái niệm về kế hoạch trong doanh nghiệp 3
1.2 Vai trò của kế hoạch trong doanh nghiệp 5
1.2.1 Tập trung sự chú ý vào các mục tiêu 5
1.2.2 Ứng phó với những sự bất định và sự thay đổi 5
1.2.3 Tạo khả năng tác nghiệp kinh tế 7
1.2.4 Làm dễ dàng cho việc kiểm tra 8
1.3 Nội dung cơ bản của kế hoạch kinh doanh 8
2 Các loại hình kế hoạch trong doanh nghiệp 10
2.1 Theo mức độ tổng quát 10
2.1.1 Sứ mệnh 11
2.1.2 Chiến lược 11
2.1.3 Các kế hoạch tác nghiệp 12
2.2 Phân loại kế hoạch theo thời gian 14
2.3 Phân loại theo cấp quản lý 14
II PHƯƠNG PHÁP LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 15
1 Phương pháp luận xây dựng kế hoạch kinh doanh 15
1.1 Quan điểm khi xây dựng công tác kế hoạch 15
Trang 31.2 Những yêu cầu đổi mới công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp 15
1.3 Căn cứ xây dựng kế hoạch 17
1.4 Quy trình xây dựng kế hoạch 19
2 Các chỉ tiêu kế hoạch trong doanh nghiệp 21
2.1 Căn cứ vào tính chất của các chỉ tiêu 21
2.3 Căn cứ vào phân cấp quản lý 22
3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng kế hoạch của doanh nghiệp 22
3.1 Tính không chắc chắn của môi trường kinh doanh 23
3.2 Sự hạn chế của các nguồn lực 24
3.3 Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp 24
3.4 Quá trình tổ chức thông tin, thống kê, kế toán 25
3.5 Cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hoá của Nhà nước 26
4 Phương pháp lập kế hoạch 26
4.1 Phương pháp cân đối 26
4.2 Phương pháp tỷ lệ cố định 27
4.3 Phương pháp phân tích chu kỳ sống của sản phẩm 27
4.4 Phương pháp đường cong kinh nghiệm 28
4.5 Phương pháp mô hình PIMS (chiến lược thị trường ảnh hưởng đến lợi nhuận) 28
Phần II - THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH Ở CÔNG TY TNHH TM & XNK VIỄN ĐÔNG 30
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH TM & XNK VIỄN ĐÔNG 30
Trang 41 Quá trình thành lập và phát triển 30
2.1 Chức năng, nhiêm vụ 31
2.1.1 Chức năng của công ty 31
2.1.2 Nhiệm vụ của công ty 32
2.2 Quyền hạn 33
3 Các lĩnh vực hoạt động 34
3.1 Kinh doanh xuất nhập khẩu 34
3.2 Công tác bán lẻ 35
3.3 Công tác bán buôn, tìm kiếm hợp đồng 35
II NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH CỦA CÔNG TY TNHH TMXNK VIỄN ĐÔNG 38
1.Cơ cấu tổ chức của công ty 38
2.Đặc điểm thiết bị và dây chuyền công nghệ 42
3.Đặc diểm về nhân sự của công ty 43
4.Đặc diểm về tài chính của công ty 44
5.Năng lực sản xuất 46
III THỰC TIỄN LẬP KẾ HOẠCH KINH DOANH Ở CÔNG TY TNHH TM & XNK VIỄN ĐÔNG 46
1.Các loại kế hoạch kinh doanh hiện nay của công ty 46
2.Các căn cứ xây dựng kế hoạch của công ty 47
2.1.Kết quả nghiên cứu thị trường 47
2.2.Năng lực hiện có 49
2.3.Kết quả đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch năm trước 49
3.Quy trình lập kế hoạch kinh doanh hiện nay của công ty 50
Trang 54.Phân tích công tác lập kế hoạch ở công ty 51 4.1.Phân tích công tác lập kế hoạch dựa trên cơ sở đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời gian qua 51 4.2.Phân tích công tác lập kế hoạch thông qua việc hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh đến năm 2010 52
4.2.1 Chiến lược sản xuất kinh doanh đến năm 2010 của công ty 52 4.2.2 Đánh giá việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh so với chiến lược đề ra 54
IV ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TẠI CÔNG
TY VIỄN ĐÔNG 54 1.Những kết quả đạt được 54 2.Những mặt hạn chế 55 Phần III - MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TẠI CÔNG TY TNHH TMXNK VIỄN ĐÔNG 57
I PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN KẾ HOẠCH 58
II MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TẠI CÔNG TY TNHH TM & XNK VIỄN ĐÔNG 60
1 xây dựng thực hiện quy chế làm việc nhằm xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của các bộ phận trong công tác lập kế hoạch 61
2 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu và dự báo thị trường 62 2.1 Phải nghiên cứu tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới thị trường 63 2.2 Phương pháp nghiên cứu 65
3 Nắm vững và khai thác tối đa các nguồn lực để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh 70
Trang 63.1 Về máy móc thiết bị 70
3.2 Về nguyên vật liệu 70
3.3 Về công tác định mức 71
3.4 Năng lực của bộ phận tổ chức thực hiện 72
4 Hoàn thiện phương pháp lập kế hoạch 72
5 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lập kế hoạch 74
KẾT LUẬN 76
Danh mục tài liệu tham khảo 77
Trang 7MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường đã đưa đến cho các doanh nghiệp Việt nam kháiniệm “Thương trường là chiến trường” Quả thực, trong thời đại hiện nay cácDoanh nghiệp phải cạnh tranh nhau trên một chiến trường không có tiếng súng
nổ Doanh nghiệp nào nắm bắt kịp thời và chớp lấy thời cơ thì Doanh nghiệp đóthắng thế
Công ty TM XNK Viễn đông là một doanh nghiệp kinh doanh các mặthàng Pha lê nhập ngoại vì thế kế hoạch kinh doanh là khâu quan trọng bậc nhấtnhằm mang lại mục tiêu lợi nhuận của công ty Những năm vừa qua nhờ vàophương pháp lập kế hoạch đúng đắn mà doanh thu của công ty tăng lên đáng kểqua các năm, tạo ra được sức cạnh tranh giúp công ty có chỗ đứng trên thươngtrường Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế Xuất
phát từ cơ sở đó, tôi quyết định lựa chọn đề tài cho chuyên đề thực tập là: “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch kinh doanh tại công ty TMXNK Viễn Đông ” Mục
tiêu nghiên cứu của tôi là nhằm tìm ra những mặt được và những mặt yếu kémtrong từng khâu để tiến tới hoàn thiện phương pháp lập kế hoạch đồng thời tạođược uy tín của công ty trong con mắt người tiêu dùng
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương :
Chương I : Những vấn đề lý luận cơ bản về kế hoạch trong doanh nghiệp Chương II: Thực tiễn công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh ở công ty TMXNK Viễn Đông
Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh ở công ty TMXNK Viễn Đông
Trang 8Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn Giảng viên Th.s Phạm Thanh Hưng
và toàn thể các anh chị trong công ty TMXNK Viễn Đông đã nhiệt tình giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt bản báo cáo này
Trang 9Phần I - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN KẾ HOẠCH
TRONG DOANH NGHIỆP
I TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP
1 Khái niệm về kế hoạch trong doanh nghiệp
1.1 Khái niệm về kế hoạch trong doanh nghiệp
Cũng như mọi phạm trù quản lý khác, đối với công tác lập kế hoạch cũng
có nhiều cách tiếp cận khác nhau Mỗi cách tiếp cận đều xem xét kế hoạch theomột góc độ riêng và đều cố gắng biểu hiện đúng bản chất của phạm trù quản lýnày
Với cách tiếp cận theo quá trình thì cho rằng: Kế hoạch sản xuất kinhdoanh là một quá trình liên tục xoáy trôn ốc với chất lượng ngày càng tăng kể từkhi chuẩn bị xây dựng cho tới lúc chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch nhằm đưahoạt động của doanh nghiệp theo các mục tiêu đã định
Theo quan niệm của STEINER thì: “Công tác lập kế hoạch là một quá trình bắtđầu từ việc thiết lập các mục tiêu và quyết định chiến lược, các chính sách, kếhoạch chi tiết để đạt được mục tiêu Nó cho phép thiết lập các quyết định khả thi
và nó bao gồm chu kỳ mới của việc thiết lập mục tiêu và quyết định chiến lượcnhằm hoàn thiện hơn nữa”
Trong cách tiếp cận này, khái niệm hiện tượng tương lai, tính liên tục củaquá trình, sự gắn bó của hàng loạt hành động và quyết định để đạt được mongmuốn đều đã được thể hiện
Với cách tiếp cận theo nội dung và vai trò:
Trang 10Theo HERY FAYOL: Kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bản củachu trình quản lý cấp công ty Xét về mặt bản chất, hoạt động này là nhằm xétcác mục tiêu của phương án kinh doanh, bước đi trình tự và cách tiến hành cáchoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo RONNEY: Hoạt động kế hoạch là một trong các hoạt động nhằmtìm ra con đường huy động và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả đểphục vụ các mục tiêu kinh doanh
Trong thời bao cấp, ở Việt nam quan niệm: Công tác lập kế hoạch là tổngthể các hoạt động nhằm xác định các mục tiêu, các nhiệm vụ của sản xuất kinhdoanh, về tổ chức đời sống và tổ chức thực hiện để đạt được các mục tiêu đó,trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan, các chủ trương đường lối của Đảng
và Nhà nước trong từng thời kỳ
Các khái niệm trên đây cho thấy khái niệm kế hoạch được đề cập chủ yếuthông qua các nội dung của nó mà chưa làm nổi bật đặc tính về thời gian, mức
độ những nét hết sức đặc trưng của kế hoạch
Theo cách tiếp cận hiện nay được nhiều người sử dụng ở Việt nam thì: Kếhoạch là những chỉ tiêu, những con số dự kiến, ước tính trước trong việc thựchiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó để đạt được hiệu quả cao nhất (Tức là phù hợpvới yêu cầu về thị trường, phù hợp với pháp luật và khả năng thực tế của doanhnghiệp)
Theo quan niệm này thì những chỉ tiêu, những con số phải có cơ sở khoahọc, cơ sở thực tế và nó phải được thể hiện ở bảng biểu kế hoạch Những con sốchỉ tiêu này mang tính khả năng và muốn biến chúng thành hiện thực thì phải ápdụng hệ thống các biện pháp
Trang 11Việc lập kế hoạch là quyết định trước xem trong tương lai phải làm gì?làm như thế nào? và làm bằng công cụ gì? khi nào làm? và ai làm?.
Mặc dù ít tiên đoán được chính xác trong tương lai và những yếu tố nằm ngoài
sự kiểm soát có thể phá vỡ cả những kế hoạch tốt nhất đã có nhưng không có kếhoạch thì các sự kiện xảy ra một cách ngẫu nhiên và ta sẽ mất đi khả năng hànhđộng một cách chủ động
1.2 Vai trò của kế hoạch trong doanh nghiệp
Việc lập kế hoạch có 4 mục đích quan trọng bao gồm: Tập trung sự chú ývào các mục tiêu, ứng phó với những bất định và thay đổi, tạo khả năng tácnghiệp kinh tế, giúp cho các nhà quản lý kiểm tra
1.2.1 Tập trung sự chú ý vào các mục tiêu
Do toàn bộ công việc lập kế hoạch là phần đạt được các mục tiêu của cơ
sở, cho nên chính hoạt động lập kế hoạch tập trung sự chú ý vào các mục tiêunày Nhưng kế hoạch được xem xét đủ toàn diện sẽ thống nhất được những hoạtđộng tương tác giữa các bộ phận Những người quản lý, mà họ thực sự đang gặpphải những vấn đề cấp bách, buộc phải thông qua việc lập kế hoạch để xem xéttương lai, thậm chí cần phải định kỳ sửa đổi và mở rộng kế hoạch để đạt được
các mục tiêu dã định.
1.2.2 Ứng phó với những sự bất định và sự thay đổi
Sự bất định và thay đổi làm cho việc lập kế hoạch trở thành tất yếu Giốngnhư một nhà hằng hải không chỉ lập hành trình một lần rồi quên nó, một người
Trang 12kinh doanh không thể lập một kế hoạch sản xuất kinh doanh và dừng lại ở đó.Tương lai rất ít khi chắc chắn, tương lai càng xa thì kết quả của quyết định mà tacần phải xem xét sẽ càng kém chắc chắn, một uỷ viên quản trị kinh doanh có thểthấy hoàn toàn chắc chắn rằng: Trong tháng tới các đơn đặt hàng, các chi phí sảnxuất, năng suất lao động, sản lượng, dự trữ tiền mặt sẵn có, và các yếu tố kháccủa môi trường kinh doanh sẽ ở một mức độ xác định Song, một đám cháy, mộtcuộc bãi công không biết trước, hoặc việc huỷ bỏ một đơn đặt hàng của mộtkhách hàng chủ yếu sẽ làm đảo lộn tất cả Hơn nữa, nếu lập kế hoạch cho mộtthời gian càng dài thì người quản lý càng ít nắm chắc về môi trường kinh doanhbên trong và bên ngoài và về tính đúng đắn của mọi quyết định.
Thậm trí ngay khi tương lai có độ chắc chắn cao, thì một số kế hoạch cần thiết:
Thứ nhất là: Các nhà quản lý vẫn phải tìm cách tốt nhất để dạt được mục
tiêu Với điều kiện chắc chắn, trước hết đây là vấn đề thuộc toán học tính toán,dựa trên các sự kiện đã biết xem tiến trình nào sẽ đem lại kết quả mong muốnvới chi phí thấp nhất
Thứ hai là: Sau khi tiến trình đã được xác định, cần phải đưa ra các kế
hoạch để sao cho mỗi bộ phận của tổ chức sẽ biết cần phải đóng góp như thế nàovào công việc phải làm
Ngay sau khi có thể dễ dàng dự đoán được sự thay đổi thì vẫn nảy sinhnhững khó khăn khi lập kế hoạch Việc sản xuất loại ô tô nhỏ sử dụng ít nhiênliệu là một ví dụ Không thể ngay lập tức chuyển từ sản xuất ô tô cỡ lớn và cỡtrung bình sang cỡ nhỏ, nhà sản xuất phải quyết định tỷ lệ sản xuất giữa các loại
ô tô và làm thế nào để trang bị máy móc cho cả dây truyền này sản xuất có hiệuquả Tuy nhiên, nhà sản xuất có thể lựa chọn các phương hướng rất khác nhau,khi đã nắm chắc về sự thay đổi công ty có thể phải cân nhắc kỹ lưỡng để bán lỗ
Trang 13phần kinh doanh xe cỡ lớn và cỡ trung bình để tập trung vào việc thiết kế và sảnxuất loại xe cỡ nhỏ, với hy vọng trở thành công ty hàng đầu trong ngành sản xuất
ô tô cỡ nhỏ Thực tế, đó là cách mà các công ty Nhật Bản đã làm
Khi các nhà quản lý không thể thấy được các xu thế một cách dễ dàng thìviệc có được một kế hoạch tốt có thể gặp nhiều khó khăn hơn nữa Nhiều nhàquản trị đã đánh giá thấp hoặc không đánh giá đủ sớm về tầm quan trọng của giá
cả lạm phát, về sự tăng lãi suất nhanh chóng và khủng hoảng năng lượng nhữngnăm 70, kết quả là họ đã đối phó không kịp thời với những biến động về thịtrường và vật liệu dẫn tới sự tăng chi phí sản xuất Thậm chí đến cuối nhữngnăm 1960 đầu 1970 sự cố ô nhiễm nước và không khí cũng chưa được quan tâmđúng mức
1.2.3 Tạo khả năng tác nghiệp kinh tế
Việc lập kế hoạch sẽ cực tiểu hoá chi phí vì nó chú trọng vào các hoạtđộng hiệu quả và phù hợp
Kế hoạch thay thế cho sự hoạt động manh mún, kế hoạch không được phối hợpbằng sự nỗ lực có định hướng chung, thay thế những phán xét vội vàng bằngnhững quyết định có cân nhắc kỹ lưỡng
Ở phạm vi cơ sở sản, xuất tác dụng của việc lập kế hoạch càng rõ nét.Không một ai, đã từng ngắm nhìn bộ phận lắp ráp ô tô trong một nhà máy lớn
mà lại không có ấn tượng về cách thức mà các bộ phận và các dây chuyền phụghép nối với nhau Từ hệ thống băng tải chính hình thành ra thân xe, và các bộphận khác nhau được hình thành từ các dây chuyền khác Động cơ, bộ truyền lực
và các phụ kiện được đặt vào chỗ một cách chính xác đúng vào thời điểm đã
Trang 14định Quá trình này đòi hỏi phải có một kế hoạch sâu rộng và chi ly mà nếu thiếuchúng việc sản xuất ô tô sẽ rối loạn và tốn kém quá mức.
1.2.4 Làm dễ dàng cho việc kiểm tra
Người quản lý không thể kiểm tra công việc của các cấp dưới nếu không
có được mục tiêu đã định để đo lường Như một người lãnh đạo cấp cao đã từngnói: “Sau khi tôi rời khỏi văn phòng lúc 5 giờ chiều, tôi không còn quan tâm tớinhững việc đã xảy ra trong ngày hôm đó, tôi chẳng thể làm gì được nữa, tôi chỉxem xét những việc có thể xảy ra vào ngày mai hoặc ngày kia, hoặc vào năm tới,bởi vì tôi còn có thể làm được một việc gì đó về những vấn đề này” Có lẽ đây làmột quan niệm cực đoan, nhưng nó cũng nhấn mạnh tới một điều quan trọng là
sự kiểm tra có hiệu quả là sự kiểm tra hướng tới tương lai
1.3 Nội dung cơ bản của kế hoạch kinh doanh
Kế hoach trong doanh nghiệp là thể hiện kĩ năng tiên đoán mục tiêu pháttriển và tổ chức thực hiện mục tiêu đề ra Công tác này bao gồm các hoạt động:
- Lập kế hoạch: Đây là khâu giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong công tác kếhoạch hoá doanh nghiệp, nó là quá trình xác định mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch và
đề xuất chính sách giải pháp áp dụng Kết quả của việc soạn lập kế hoạch là mộtbản kế hoạch của doanh nghiệp được hình thành và nó chính là cơ sở cho việcthực hiện các công tác sau của kế hoạch Bản kế hoạch của doanh nghiệp là hệthống các phương hướng nhiệm vụ , mục tiêu và các chỉ tiêu nguồn lực vật chất,nguồn lực tài chính cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu phát triển doanh nghiệpđặt ra trong thời kì kế hoạch nhất định Kế hoạch doanh nghiệp chính là thể hiện
Trang 15ý đồ phát triển của các nhà lãnh đạo quản lí đối với hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp và các giải pháp thực thi.
Bản kế hoạch doanh nghiệp được hình thành để trả lời những câu hỏi mang tínhbản chất của nó như sau: (1) Trạng thái của doanh nghiệp hiện tại, kết quả vànhững điều kiện hoạt động kinh doanh? (2) Doanh nghiệp muốn được phát triểnnhư thế nào? (3) làm thế nào để sử dụng có hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệpnhằm đạt được các mục tiêu đề ra?
- Tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá kế hoạch lànhững hoạt động tiếp sau của công tác kế hoạch hoá nhằm đưa kế hoạch vàothực tế hoạt động của doanh nghiệp Đây là quá trình tổ chức, phối hợp hoạtđộng của các bộ phận, cá yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp, triển khai các hoạtđộng khác nhau theo các mục tiêu kế hoạch đặt ra Quá trình triển khai kế hoạchkhông chỉ đơn giản là xem xét những hoạt động cần thiết của doanh nghiệp mà
nó còn thể hiện ở khả năng dự kiến, phát hiện những điều bất ngờ có thể xuấthiện trong quá trình hoạt động và khả năng ứng phó những điều bất ngờ Quátrình kiểm tra, theo dõi, điều chỉnh kế hoạch giúp doanh nghiệp không chỉ xácđịnh được tất cả những rủi ro trong hoạt động của mình mà còn có khả năngquản lí rủi ro với sự hỗ trợ của việc tiên đoán có hiệu quả và sử lí những rủi ro
đó trong quá trình thực hiện mục tiêu đặt ra Công tác đánh giá kết quả sẽ là cơ
sở giúp cho doanh nghiệp xây dựng những phương án kế hoạch tiếp theo mộtcách chính xác và sát thực hơn
Trang 162 Các loại hình kế hoạch trong doanh nghiệp
Hệ thống kế hoạch của một tổ chức là tổng thể của nhiều loại kế hoạch cómối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một định hướng chung nhằm thực hiện mụctiêu tối cao của hệ thống
Để đảm bảo hoạt động của một tổ chức cần phải xây dựng được một hệ thống kếhoạch bao gồm nhiều loại kế hoạch khác nhau và được phân định theo nhiều tiêuchí khác nhau
- ChÝnh s¸ch.
- Thñ tôc.
- Quy t¾c.
Trang 172.1.1 Sứ mệnh
Là bức thông điệp thể hiện lý do tồn tại của tổ chức, nó trả lời cho câu hỏi:
Tổ chức tồn tại vì mục đích nào? Sứ mệnh bao gồm:
- Sứ mệnh được công bố: Thông báo cho mọi người một cách công khai,thông qua thị trường để doanh nghiệp đạt được mục tiêu, nó được thể hiện thôngqua các khẩu hiệu, các triết lý kinh doanh ngắn gọn
- Sứ mệnh không được công bố: Thể hiện lợi ích tối cao của doanh nghiệp
Xu hướng chung ngày nay là: Cố gắng làm cho hai loại sứ mệnh này xíchlại gần nhau
Sứ mệnh là cơ sở đầu tiên để xác định mục tiêu chiến lược của hệ thống và
nó cũng là cơ sở để xác định phương thức hành động cơ bản của tổ chức
Chiến lược của một tổ chức là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều cấpchiến lược khác nhau và nhiều loại chiến lược khác nhau
Theo cấp chiến lược của một tổ chức thường có 3 cấp chiến lược, được thể hiệntrong sơ đồ sau:
Trang 182.1.3 Các kế hoạch tác nghiệp
Đây là loại kế hoạch nhằm cụ thể hoá chiến lược và triển khai các chiếnlược Có hai nhóm cơ bản:
* Kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng một lần:
- Chương trình: Bao gồm một số các mục đích, chính sách, thủ tục, quy
tắc, các nhiệm vụ được giao, các bước phải tiến hành, các nguồn lực có thể huyđộng và các yếu tố khác Chương trình được hỗ trợ bằng ngân quỹ cần thiết Mộtchương trình quan trọng thường ít khi đứng một mình, thường là một bộ phậncủa một hệ thống phức tạp
Chương trình thường có mục tiêu lớn quan trọng, mang tính độc lập tươngđối trong quá trình phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu
- Dự án: Có mục tiêu thường cụ thể, quan trọng, mang tính độc lập tương
đối Nguồn lực để thực hiện mục tiêu thường phải rõ ràng đối với tất cả các hìnhthái nguồn lực theo thời gian và không gian
Chiến lược chung của tổ chức
Chiến lược của đơn vị
Marketing Chiến lược
nghiên cứu &
phát triển
ChiÕn l îc s¶n xuÊt ChiÕn l îc tµi chÝnh Chiến lược
nguồn nhân
Trang 19- Các ngân sách (ngân quỹ): Là bản tường trình các kết quả mong muốn
được biểu thị bằng các con số Có thể coi đó là chương trình được “số hoá”.Ngân quỹ ở đây không đơn thuần là ngân quỹ bằng tiền, mà còn có ngân quỹthời gian, ngân quỹ nhân công, ngân quỹ máy móc thiết bị, ngân quỹ nguyên vậtliệu
* Kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng nhiều lần:
- Chính sách: là quan điểm, phương hướng và cách thức chung để ra quyết
định trong tổ chức Trong một tổ chức có thể có nhiều loại chính sách khác nhaucho những mảng hoạt động trọng yếu của tổ chức mình
Chính sách là kế hoạch theo nghĩa nó là những quy định chung để hướngdẫn hay khai thông cách suy nghĩ và hành động khi ra quyết định Các chínhsách giúp cho việc giải quyết các vấn đề trong các tình huống nhất định và giúpcho việc thống nhất các kế hoạch khác nhau của tổ chức Các chính sách là tàiliệu chỉ dẫn cho việc ra quyết định trong phạm vi co dãn nào đó Chính sáchkhuyến khích tự do sáng tạo nhưng vẫn trong khuôn khổ một giới hạn nào đó,tuỳ thuộc vào các chức vụ và quyền hạn trong tổ chức
- Thủ tục: Là các kế hoạch thiết lập một phương pháp cần thiết cho việc
điều hành các hoạt động trong tương lai Đó là sự hướng dẫn hành động, là việcchỉ ra một cách chi tiết, biện pháp chính xác cho một hoạt động nào đó cần phảithực hiện Đó là chuỗi các hoạt động cần thiết theo thứ tự, theo cấp bậc quản lý
- Quy chế (Quy tắc): Giải thích rõ ràng những hành động nào có thể làm,
những hành động nào không được làm Đây là loại kế hoạch đơn giản nhất.Không nên nhầm lẫn giữa thủ tục và quy tắc Các quy tắc gắn với hướng dẫnhành động mà không ấn định trình tự thời gian, trong khi đó thủ tục cũng bao
Trang 20hàm sự hướng dẫn những quy định cả trình tự thời gian cho các hành động Hơnnữa các chính sách hướng dẫn việc quyết định trong khi quy tắc cũng là sựhướng dẫn nhưng không cho phép có sự lựa chọn trong khi áp dụng chúng Nhưvậy, so với quy tắc và thủ tục, chính sách có độ linh hoạt cao hơn.
2.2 Phân loại kế hoạch theo thời gian
- Kế hoạch dài hạn: Là kế hoạch cho thời kỳ từ 5 năm trở lên
- Kế hoạch trung hạn: Cho thời kỳ từ 1 đến 5 năm
- Kế hoạch ngắn hạn: Cho thời kỳ dưới 1 năm
2.3 Phân loại theo cấp quản lý
- Kế hoạch cho toàn tổ chức
- Kế hoạch cho các phân hệ và bộ phận của tổ chức
- Kế hoạch cho các cá nhân trong tổ chức
Trang 21II PHƯƠNG PHÁP LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1 Phương pháp luận xây dựng kế hoạch kinh doanh
1.1 Quan điểm khi xây dựng công tác kế hoạch
Sau hơn 10 năm đổi mới công tác kế hoạch ở các doanh nghiệp tuy đã cónhiều chuyển biến tích cực song cũng có nhiều khó khăn và hạn chế Vì vậy, kếhoạch trong doanh nghiệp đang tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện trên các mặtsau: Thực hiện cơ chế tự chủ trong quá trình xây dựng, điều chỉnh, tổ chức thựchiện và đánh giá thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều phải hướng vàomục tiêu lợi nhuận và phục vụ khách hàng Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệpphải tự nghiên cứu để nắm vững thị trường, xác định phương án kinh doanh trên
cơ sở nhận thức các cơ hội và rủi ro trên thị trường Về nguyên tắc trong điềukiện mới các doanh nghiệp được chủ động xây dựng kế hoạch của mình trên cơ
sở phải đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh và hợp đồng ký kết, tuy vậyphạm vi tự chủ và các biện pháp thực hiện của Nhà nước cần phải xác định cụthể cho từng loại doanh nghiệp
1.2 Những yêu cầu đổi mới công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Công tác lập kế hoạch sản xuất trong cơ chế tập trung quan liêu bao cónhững lợi ích nhất định Nhưng khi chuyển sang cơ chế thị trường nó không cònphù hợp nữa Do vậy yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với doanh nghiệp là phải đổi
Trang 22mới công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị mình cho phù hợp với cơchế thị trường Quá trình đổi mới đó cần quán triệt các yêu cầu chủ yếu sau đây:
- Công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp, quán triệt yêu cầu hiệu quả.
Các doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu hiệu quả, nó là tiêu chuẩnhàng đầu cho việc xây dựng, lựa chọn và quyết định phương án kế hoạch củadoanh nghiệp
- Kế hoạch hoá doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu hệ thống đồng bộ.
Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống thống nhất, bao gồm các phân hệ là cácdoanh nghiệp Thực hiện yêu cầu này, trong các khâu công tác kế hoạch hoá phảiđảm bảo cho mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đồng hướng và góp phần thúcđẩy việc thực hiện mục tiêu bao trùm của cả hệ thống
- Công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu "vừa tham vọng vừa khả thi" Mục tiêu lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp công nghiệp phải
xây dựng để thực hiện các phương án đó Tuy nhiên các kế hoạch này phải cókhả năng thực thi
- Công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu "kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế" Hay hệ thống mục tiêu kế hoạch phải
được xây dựng và điều chỉnh linh hoạt theo yêu cầu thay đổi của môi trường vàđiều kiện kinh doanh
- Công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu kết hợp đúng đắn các loại lợi ích kinh tế trong doanh nghiệp kể cả lợi ích kinh tế trong
doanh nghiệp kể cả lợi ích xã hội Đây là động lực cho sự phát triển, là cơ sở choviệc thực thi có hiệu quả các phương án kinh doanh
Trang 231.3 Căn cứ xây dựng kế hoạch
Việc xác định các căn cứ vững chắc để xây dựng kế hoạch là việc làm rấtquan trọng và cần thiết nhằm đảm bảo cho kế hoạch của doanh nghiệp đượchoạch định khả thi và đạt hiệu quả cao
Các căn cứ chủ yếu khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh gồm:
1 Căn cứ vào chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước
Trong công tác hoạch định về nguyên tắc doanh nghiệp được quyền tựchủ, song giới hạn và phạm vi của việc phát huy quyền tự chủ là pháp luật vàchính sách phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế xãhội của Đảng và Nhà nước Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, nếunhững hoạt động của nó đi ngược lại xu thế phát triển, phạm vi những lợi íchchung của nền kinh tế (hệ thống) nó sẽ bị đào thải, ngược lại nếu nhận thức vàhoà mình vào xu thế phát triển, phạm vi những lợi ích chung của nền kinh tế (hệthống) nó sẽ bị đào thải, ngược lại nếu nhận thức và hoà mình vào xu thế pháttriển thì nó mới có thể phát triển bền vững và ổn định
Căn cứ này góp phần làm cho phương án phát triển của doanh nghiệp hợp
lý, đúng hướng
2 Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường
Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vựchoạt động và phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả Kết quả nghiên cứunhu cầu thị trường phải phản ánh được quy mô, cơ cấu đối với từng sản phẩm vàdịch vụ của doanh nghiệp, có tính đến tác động của các nhân tố làm tăng hoặcgiảm cầu để đáp ứng yêu cầu của công tác hoạch định Những kết quả nghiên
Trang 24cứu này có thể tập hợp theo mức giá để xác định mục tiêu kinh doanh phù hợpvới phân đoạn thị trường hoặc theo khách hàng để đảm bảo sự gắn bó giữa sảnxuất với các yếu tố hỗ trợ Căn cứ vào số lượng các đối thủ cạnh tranh, sự biếnđộng giá cả trên thị trường sẽ làm tăng hiệu quả thực hiện của phương án kếhoạch.
Đối với doanh nghiệp trong ngành xây dựng thì thị trường cũng lại rất đặcbiệt cũng như đặc trưng về sản phẩm của nó Do đó việc nghiên cứu nhu cầu thịtrường là rất quan trọng trong công tác lập kế hoạch của công ty
3 Căn cứ vào kết quả phân tích và dự báo về tình hình sản xuất kinh doanh, về khả năng và nguồn lực có thể khai thác
Doanh nghiệp căn cứ vào kết quả phân tích hoạt động kinh tế thời kỳtrước và dự báo khả năng tương lai ứng với các nguồn lực có thể cóD, đặc biệt làdựa vào những lợi thế vượt trội của doanh nghiệp về các mặt chất lượng sảnphẩm, kênh tiêu thụ hợp tác liên doanh, khoa học công nghệ, cạnh tranh sẽ gópphần làm tăng tính khả thi của các phương án kế hoạch Trọng tâm phân tích cầntập trung vào các chỉ tiêu chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh
4 Căn cứ vào hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật
Đây là căn cứ quan trọng làm cơ sở cho công tác hoạch định Môi trườngkinh doanh biến đổi rấy nhanh đòi hỏi hệ thống này cần đượchoàn thiện và sửađổi sau mỗi chu kinh doanh Hệ thống định mức kỹ thuật của doanh nghiệp phảigắn bó phù hợp với hệ thống định mức tiêu chuẩn của ngành và nền kinh tế quốcdân
Trang 251.4 Quy trình xây dựng kế hoạch
Quá trình xây dựng kế hoạch trong các doanh nghiệp bao gồm nhiều khâu
Từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc là tạo được một kế hoạch tối ưu được thôngqua và áp dụng
Có thể mô tả quy trình xây dựng kế hoạch theo các bước qua sơ đồ sau:
Bước 1: Khẳng định kế hoạch bậc cao hơn
Trang 26Kế hoạch bậc cao bao gồm các đường lối và các mục tiêu của cấp trên,trước khi hoạch định một kế hoạch nào đó các nhà hoạch định phải xem xétđường lối, các mục tiêu tổng thể của cấp trên Vì kế hoạch đặt ra cũng như cácmục tiêu không thể mâu thuẫn với các đường lối và các mục tiêu của cấp trên
Bước 2: Xác định và lựa chọn các cơ hội kinh doanh
Đây là bước khởi đầu của quá trình lập kế hoạch sản xuất kinh doanh Ởbước này người lập kế hoạch phải nhận thức rõ được trên thị trường có những cơhội nào thuận lợi hoặc khó khăn cho doanh nghiệp mình Từ đó lựa chọn các cơhội để hoạch định kế hoạch một cách tối ưu Cơ hội đó có thể là một nhu cầumới xuất hiện của người tiêu dùng hoặc những thông tin về thị trường, về cạnhtranh, về quy mô, về cơ cấu nhu cầu, điểm mạnh điểm yếu cùng với khả năng vànguồn lực của doanh nghiệp
Hai bước khẳng định kế hoạch bậc cao và nghiên cứu dự báo là 2 khâukhông nằm trong quá trình hoạch định kế hoạch mà là khâu tiền hoạch định
Bước 3: Xác định các mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh
Ở bước này các nhà hoạch định cần phải biết rõ các cơ hội kinh doanh củadoanh nghiệp mình và nắm được khả năng nguồn lực của doanh nghiệp mình, từ
đó đi tới các mục tiêu của chính sách Các mục tiêu này có thể là mục tiêu dàihạn (chiến lược) hoặc là các mục tiêu ngắn hạn như mục tiêu về tốc độ tăngtrưởng kinh doanh, mục tiêu về lợi nhuận
Bước 4: Xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh
Có nhiều cách thức để đạt được mục tiêu, đó chính là các phương án, mỗiphương án sản xuất kinh doanh đều đưa đến các mục tiêu cần đạt được Cácphương án sản xuất kinh doanh này đều được lập ra dựa trên nhiều con đường.Các con đường đó đều đi tới mục tiêu đã định
Trang 27Bước 5: Lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh tối ưu
Khi đã xác định được các phương án sản xuất kinh doanh ở bước 4 Cácnhà hoạch định chính sách cần phải lựa chọn, xem xét xem các phương án nào làtối ưu nhất tức là các phương án nào đạt mục tiêu một cách hiệu quả nhất vànhanh nhất, ít tốn chi phí nhất Đồng thời các phương án được lựa chọn tối ưuphải giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội đang được đặt ra
Bước 6: Thông qua và quyết định sản xuất kinh doanh
Khi các nhà hoạch định đã xác định được các phương án tối ưu, phương
án tối ưu này phải được đưa ra hội đồng quản trị, hoặc các phòng ban có liênquan, sau đó các phòng ban này thông qua đồng ý với các phương án được lựachọn và thực hiện phương án, quyết định và thể chế thành một kế hoạch sản xuấtkinh doanh cụ thể
2 Các chỉ tiêu kế hoạch trong doanh nghiệp
Các chỉ tiêu kế hoạch là các đích, các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, cóthể tính toán, so sánh, phân tích được Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch của doanhnghiệp có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
2.1 Căn cứ vào tính chất của các chỉ tiêu
- Các chỉ tiêu chất lượng: Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh các mặt chất
lượng của hoạt động kinh doanh Chẳng hạn, chỉ tiêu năng suất lao động, tỷ lệlợi nhuận bình quân, tỷ lệ doanh thu
- Các chỉ tiêu sản lượng: Bao gồm các chỉ tiêu về hướng phấn đấu của
doanh nghiệp về mặt sản lượng, quy mô của các hoạt động Ví dụ chỉ tiêu giátrị sản lượng hàng hoá, giá trị tổng sản lượng, số lượng lao động các loại
Trang 28- Các chỉ tiêu giá trị: Là các chỉ tiêu được đo lường bằng đơn vị tiền tệ.
- Các chỉ tiêu hiện vật: Là các chỉ tiêu được đo bằng các đơn vị hiện vật
như: Tấn, lít, cái, chiếc, bộ
2.3 Căn cứ vào phân cấp quản lý
- Các chỉ tiêu pháp lệnh: Là các chỉ tiêu của Nhà nước giao cho các doanh
nghiệp nhà nước Đó là các chỉ tiêu được quy định thống nhất về nội dungphương pháp tính toán có tính chất bắt buộc trong thực hiện
- Các chỉ tiêu hướng dẫn: Là chỉ tiêu không có ý nghĩa bắt buộc trong
thực hiện, song lại bắt buộc về nội dung và phương pháp tính toán Trong điềukiện nền kinh tế thị trường các chỉ tiêu này được áp dụng rộng rãi nhằm phục vụhoạt động thông tin kinh tế và phân tích các chỉ tiêu kinh tế quốc dân
- Các chỉ tiêu tính toán: Là các chỉ tiêu từng doanh nghiệp quy định và
tính toán phục vụ cho công tác quản lý và kế hoạch trong phạm vi doanh nghiệp
3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng kế hoạch của doanh nghiệp
Nếu như vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước là tất yếu trong thời đạingày nay thì vai trò to lớn của kế hoạch là không thể phủ nhận được, không có
kế hoạch thì một công ty hay bất kỳ một tổ chức nào khác sẽ như con thuyềnkhông người lái và chỉ chạy vòng quanh Không có kế hoạch sẽ chẳng còn đất đểdoanh nghiệp hoạt động vì lý do đơn giản chẳng ai biết nó định đi đến đâu Cóthể thấy công tác kế hoạch chịu nhiều ảnh hưởng của các nhân tố sau:
Trang 293.1 Tính không chắc chắn của môi trường kinh doanh
Xây dựng kế hoạch là quá trình chuẩn bị để đối phó với sự thay đổi và tìnhhuống không chắc chắn của môi trường kinh doanh mà chủ yếu là các nhân tốtrong môi trường nền kinh tế và môi trường ngành Tuy nhiên vấn đề quan trọng
là phải tính toán, phán đoán được sự tác động của môi trường kinh doanh
Sự không chắc chắn của môi trường kinh doanh được thể hiện dưới 3 hình thức:
Tình trạng không chắc chắn: Xảy ra khi toàn bộ hay một phần môi trường
được coi là không thể tiên đoán được
Hậu quả không chắc chắn: Là trường hợp mặc dù đã cố gắng nhưng nhà
quản lý không thể tiên đoán được những hậu quả của sự kiện hay sự thay đổi củamôi trường đối với các doanh nghiệp, do đó dẫn đến sự không chắc chắn
Sự phản ứng không chắc chắn: Là tình trạng không thể tiên đoán được
những hệ quả của một quyết định cụ thể hay sự phản ứng của tổ chức đối vớinhững biến động của môi trường
Nhìn chung công việc của người xây dựng kế hoạch phải đánh giá tínhchất và mức độ không chắc chắn của môi trường để xác định cách thức phản ứngcủa tổ chức và triển khai các kế hoạch thích hợp ở những lĩnh vực có mức độkhông chắc chắn thì việc xây dựng kế hoạch là không mấy phức tạp, nhưngnhững lĩnh vực có mức độ không chắc chắn cao đòi hỏi kế hoạch phải được xácđịnh rất linh hoạt
Trang 303.2 Sự hạn chế của các nguồn lực
Khi lập kế hoạch doanh nghiệp đã gặp một trở ngại lớn là sự hạn chế củacác nguồn lực Thực tiễn cho thấy sự khan hiếm của các nguôn flực là bài toánlàm đau đầu các nhà quản trị khi lập kế hoạch Chính điều này nhiều khi làmgiảm mức tối ưu của phương án kế hoạch được lựa chọn
Trước hết cần nói đến nguồn nhân lực, đây vốn được coi là một trongnhững thế mạnh của Việt nam nhưng thực tế ở các doanh nghiệp còn rất nangiải Lực lượng lao động thừa về số lượng nhưng lại yếu về chất lượng Số lượnglao động có trình độ quản lý, tay nghề cao vẫn thiếu, lực lượng lao động trẻ vẫncòn phải đào tạo nhiều
Tiếp đến cần phải kể đến sự hạn hẹp về tài chính Tiềm lực tài chính yếu
sẽ cản trở sự triển khai các kế hoạch, hơn nữa nó cũng giới hạn việc lựa chọnnhững phương án tối ưu
Cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung của doanh nghiệp cũng là nguồn lực hạnchế Đó là khả năng hạn chế về máy móc thiết bị, công nghệ, nhà xưởng khotàng Thực tiễn ở các doanh nghiệp ở nước ta hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuậtcòn rất yếu và thiếu Điều đó đã cản trở việc xây dựng và lựa chọn những kếhoạch sản xuất tối ưu nhất
3.3 Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp
Mục tiêu được hiểu theo một cam kết cụ thể đối với thực hiện một kết quả
có thể đo lường trong khoảng thời gian đã định Các mục tiêu được xác địnhcàng cụ thể càng tốt trên phương diện: Số lượng, các điều kiện cụ thể hay những
Trang 31dữ liệu có thể đo lường được và được thể hiện trong những khoảng thời giannhất định Dưới đây là 3 câu hỏi để kiểm tra và điều chính một mục tiêu:
- Mục tiêu đã đề cập đến kết quả hoàn thành như thế nào?
- Mục tiêu này xác định khi nào thì kết quả chờ đợi được hoàn thành?
- Có thể đo lường được kết quả chờ đợi hay không?
Mục tiêu hữu ích của doanh nghiệp phải thoả mãn cả 3 câu hỏi này, nếumục tiêu không thoả mãn bất kỳ câu hỏi nào cũng gây khó khăn cho quá trìnhlập kế hoạch
3.4 Quá trình tổ chức thông tin, thống kê, kế toán
Nhà kinh tế học người Anh Roney cho rằng: “Muốn chiến thắng trongcạnh tranh một mặt công ty hoạt động trong nền kinh tế thị trường trước hết phảinắm được thông tin, tiếp đó phải xây dựng cho mình các chiến lược và kế hoạchđầy tham vọng”
Trong quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh thông tin sẽ giúp
ta đánh giá so sánh và lựa chọn phương án Thông tin giúp bộ phận lãnh đạocủa doanh nghiệp có được các quyết định đúng đắn, kịp thời
Thống kê và kế toán là hai công cụ đặc biệt có ý nghĩa đối với công tácquản lý và công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh nói riêng Tổ chứcthông kê, kế toán đầy đủ, chính xác, kịp thời, sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp thực
sự đi vào cơ chế hạch toán, xây dựng có hiệu quả giúp cho bộ phận kế hoạch lựachọn, xây dựng những phương án sản xuất tối ưu nhất.Tuy nhiên ở nước ta cácdoanh nghiệp chưa thực sự chú ý đúng mức công tác thống kê
Trang 323.5 Cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hoá của Nhà nước
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác xây dựng kếhoạch sản xuất kinh doanh Một cơ chế quản lý phù hợp sẽ thúc đẩy hoạt động
kế hoạch sản xuất phát triển, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanhnghiệp.Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ chế quản lý cho thấy càng đi sâuvào cơ chế thị trường càng phát sinh nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứugiải quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý và kế hoạch của Nhà nước Nhà nướccần tiếp tục giải quyết các tồn đọng, vướng mắc trong những năm chuyển đổi đểthực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp song vẫn đảm bảo yêu cầu quản lýtập trung thống nhất của Nhà nước
4 Phương pháp lập kế hoạch
Trong thực tế các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp hoạchđịnh Tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu mà các doanh nghiệp áp dụng cácphương pháp khác nhau Ở Việt nam hiện nay các doanh nghiệp chủ yếu vẫn sửdụng phương pháp cân đối trong việc xây dựng kế hoạch
4.1 Phương pháp cân đối
Phương pháp này gồm các bước sau:
Bước 1: Xác định khả năng (bao gồm khả năng sẵn có và khả năng chắc
chắn có) của doanh nghiệp và yếu tố sản xuất
Bước 2: Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về các yếu tố sản xuất.
Trong cơ chế thị trường, phương pháp cân đối được xác định với nhữngyêu cầu sau:
Trang 33- Cân đối được thực hiện là cân đối động Cân đối để lựa chọn phương ánchứ không phải cân đối theo phương án đã được chỉ định Các yếu tố của cân đối
là những yếu tố biến đổi theo môi trường kinh doanh, đó là nhu cầu thị trường vàkhả năng có thể khai thác của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch
- Thực hiện cân đối liên hoàn, tức là tiến hành nhiều cân đối kế tiếp nhau
để bổ sung và điều chỉnh phương án cho phù hợp với thay đổi của môi trường
- Thực hiện cân đối trong những yếu tố truớc khi tiến hành cân đối tổngthể các yếu tố Kết quả cân đối tổng hợp phải là căn cứ xác định năng lực sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định hoặc điều chỉnhphương án kinh doanh của doanh nghiệp
4.2 Phương pháp tỷ lệ cố định
Nội dung của phương pháp này là tính toán một số chỉ tiêu của năm kếhoạch theo tỷ lệ đã được xác định trong năm báo cáo trước đó Có nghĩa là coitình hình của năm kinh doanh giống như tình hình của năm báo cáo đối với một
số chỉ tiêu nào đó
Phương pháp này cho thấy kết quả nhanh nhưng thiếu chính xác nên chỉ
sử dụng trong trường hợp không đòi hỏi độ chính xác cao và thời gian khôngcho phép dài
4.3 Phương pháp phân tích chu kỳ sống của sản phẩm
Chu kỳ sống của sản phẩm (vòng đời của sản phẩm) là khoảng thời gian từkhi nó được đưa ra thị trường cho đến khi nó không còn tồn tại trên thị trường.Trừ một số sản phẩm hàng hoá thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày, hành hoá
Trang 34có tính chất thời trang, mau hỏng hoặc sản phẩm có tính thời vụ còn lại, nóichung chu kỳ sống của sản phẩm được đặc trưng bởi 4 giai đoạn chủ yếu (4 pha):Triển khai (thâm nhập), tăng trưởng, bão hoà và suy thoái Tưong ứng với mỗigiai đoạn là các vấn đề và cơ hội kinh doanh Doanh nghiệp cần nhận biết đặcđiểm của từng giai đoạn để quyết định khối lượng sản xuất, vì mỗi giai đoạn củachu kỳ sống có mức độ tiêu thụ trên thị trường khác nhau.
4.4 Phương pháp đường cong kinh nghiệm
Thực chất của phương pháp này là phân tích đối thủ cạnh tranh trong cùngngành nghề trên cơ sở mối quan hệ giữa việc giảm chi phí trên một đơn vị sảnphẩm và việc tăng số lượng sản phẩm, từ đó tiến hành lập kế hoạch
4.5 Phương pháp mô hình PIMS (chiến lược thị trường ảnh hưởng đến lợi nhuận)
Theo phương pháp này, khi hoạch định kế hoạch doanh nghiệp phải phântích 6 vấn đề lớn:
- Sức hấp dẫn của thị trường như: Mức tăng trưởng thị trường, tỷ lệ xuấtkhẩu
- Tình hình cạnh tranh: Phân tích thị trường tương đối của doanh nghiệp
so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
- Hiệu quả của hoạt động đầu tư: Cường độ đầu tư, doanh thu trên mỗihoạt động đầu tư
- Sử dụng ngân sách doanh nghiệp: Chi cho marketing trong doanh thu, hệ
số tăng sản xuất
Trang 35- Các đặc điểm của doanh nghiệp như: Qui mô doanh nghiệp, mức độphân tán của doanh nghiệp.
- Phân tích sự thay đổi của các yếu tố: Phần thị trường liên kết, giá cả, chấtlượng sản phẩm và sự thay đổi sản lượng
Phương pháp này là phát hiện ra sự trao đổi các kết quả có tính chất chiếnlược để từ đó xác định kế hoạch
Trang 36Phần II - THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
SẢN XUẤT KINH DOANH Ở CÔNG TY TNHH TM & XNK
VIỄN ĐÔNG
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH TM & XNK VIỄN ĐÔNG
1 Quá trình thành lập và phát triển.
Công ty TNHH TM & XNK Viễn Đông được thành lập theo Quyết định
số 998/BTM- TCLĐ ngày 20/11/2003 của Bộ trưởng Bộ thương mại Công tyđược xác định là đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có tài khoảnViệt Nam và ngoại tệ và có con dấu riêng để giao dịch
Trực thuộc công ty có 2 văn phòng đại diện (một tại Thượng Hải-TrungQuốc, một tại Praha- Cộng hoà Séc), 1 xưởng gia công sản xuất và 3 cửa hàngbày bán pha lê, thuỷ tinh cao cấp tại Hà Nội
Tên giao dịch : Công ty TNHH TM & XNK Viễn Đông
Trụ sở : 934 Đê La Thành- Đống Đa- Hà Nội
Trang 37Ngay từ khi ra đời Công ty hoạt động kinh doanh áp dụng hình thức kinhdoanh mới theo cơ chế thị trường, các hoạt động của Công ty đặc biệt là hoạtđộng kinh doanh xuất nhập khẩu đã từng bước phát triển, ngành hàng và thị trư-ờng ổn định, tạo được lòng tin với khách hàng Công ty trực tiếp tìm kiếm thịtrường, giao dịch đàm phán với bạn hàng để tiến hành xuất nhập các lô hàngphục vụ cho sản xuất và tiêu dùng.
Trong quá trình hoạt động Công ty luôn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao,hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch Theo đăng ký kinh doanh thì ngoàikinh doanh trong nước Công ty còn kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu vànhận uỷ thác xuất nhập khẩu hàng hóa.Hiện tại mặt hàng kinh doanh nhập khẩuchủ yếu của công ty là pha lê từ các nước Tiệp Khắc, Trung Quốc, Italia, NhậtBản
2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty
2.1 Chức năng, nhiêm vụ
2.1.1 Chức năng của công ty
Công ty là một đơn vị kinh tế tư nhân thực hiện chế độ hạch toán kinh tếđộc lập với mục đích là kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa để góp phần thúcđẩy sản xuất phát triển, tạo ra thu nhập cho bản thân Công ty cũng như làm lợicho xã hội thông qua các hoạt động của mình Nói cách khác, chức năng chínhcủa công ty TNHH TM & XNK Viễn Đông là kinh doanh trong nước và thamgia các hoạt động xuất nhập khẩu các loại hàng hóa phục vụ cho quá trình CNH -
Trang 38HĐH đất nước trên cơ sở kết hợp lợi ích của cả các bên là Công ty - Nhà nước
và tập thể cán bộ công nhân viên của Công ty
Quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã có, tạo thêmnguồn vốn mới cho sản xuất kinh doanh Tiến hành đầu tư, mở rộng sản xuất đổimới trang thiết bị, bù đắp chi phí, cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu, làm trònnghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, phấn đấu thực hiện chỉ tiêu kế hoạch xuấtnhập khẩu ngày càng cao
Thực hiện tốt các chính sách cán bộ, quản lý tài sản, tài chính, lao động,tiền lương, tiền thưởng do Công ty quản lý, làm tốt công tác phân phối laođộng, đào tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề, nghiệp vụ chocán bộ công nhân viên trong Công ty
Tuân thủ và thực hiện tốt các cam kết trong hợp đồng mua bán ngoại ơng và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu của Công ty
thư-Nghiên cứu nắm vững môi trường pháp luật, kinh tế, văn hóa để giúp choviệc kinh doanh tốt hơn Tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, tham gia đàm phán,
ký kết trực tiếp hoặc thông qua đơn hàng
Trang 39Nghiên cứu thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng, gia tăng khối lượng,hàng hóa xuất nhập khẩu, mở rộng thị trường ngoài nước, phát triển xuất nhậpkhẩu.
Tổ chức gia công, chế tác phục vụ cho nhu cầu kinh doanh
Tiến hành xuất nhập khẩu uỷ thác hoặc trực tiếp xuất nhập khẩu
Thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, đặc biệt là đóng thuế, bảo toàn và pháttriển đồng vốn được giao, quản lý và sử dụng đúng ngoại tệ
Tiến hành làm tốt công tác bảo hộ lao động, trật tự xã hội, bảo vệ môi ường, bảo vệ tài sản XHCN
Được tiến hành liên doanh, liên kết hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực đăng kýkinh doanh trên cơ sở bình đẳng tự nguyện, hai bên cùng có lợi
Được vay vốn tiền Việt Nam và ngoại tệ tại các ngân hàng Việt Nam và nướcngoài, được huy động vốn nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh của Công ty, được
tự trang trải nợ vay và tự thực hiện quy định về quản lý ngoại tệ của Nhà nước
Được mở rộng cửa hàng, ngành hàng kinh doanh theo quy định của Nhànước, được dự các hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm của mình trong và
Trang 40ngoài nước, được mời bên nước ngoài hay cử cán bộ ra nước ngoài đàm phán kýkết hợp đồng, tìm hiểu thị trường và trao đổi kinh nghiệm.
Được lập các văn phòng đại diện, chi nhánh ở trong và ngoài nước theoquy định của pháp luật Được phép tiến hành thu thập và cung cấp các thông tin
về kinh tế và thị trường thế giới
3 Các lĩnh vực hoạt động
3.1 Kinh doanh xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động chính của Công ty, trong vòng 4năm từ 2004 - 2007 hoạt động xuất nhập khẩu có được một số kết quả
Bảng 1 Tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty.
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty)
Nhìn vào bảng ta thấy trong các năm thì kim ngạch xuất nhập khẩu củaCông ty đều tăng Năm 2003 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty là5.413 nghìn USD nhưng sang đến năm 2007 con số này đã là 12.256 nghìn USD.Như vậy trong vòng 4 năm thì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên đến2,3 lần Kim ngạch nhập khẩu cũng tăng mạnh là do Công ty tiến hành nhậpkhẩu mặt hàng có giá trị lớn, hơn thế Công ty còn nhập một số dây chuyển sảnxuất và chế tác Pha lê nhằm phục vụ cho thị trường trong và ngoài nước Kim