HỒ CHÍ MINH Phan Đức Ngại ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU TRA ĐA DẠNG LOÀI VÀ QUẦN XÃ THỰC VẬT CỦA RỪNG PHÒNG HỘ NAM HÒN KHÔ, THÀNH PHỐ NHA TRANG – TỈNH KHÁNH HÒA Chuyên ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phan Đức Ngại
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐIỀU TRA ĐA DẠNG LOÀI VÀ QUẦN XÃ THỰC VẬT
CỦA RỪNG PHÒNG HỘ NAM HÒN KHÔ, THÀNH PHỐ
NHA TRANG – TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 60
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN HỢP
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2TÀI LIỆU THAM KHẢO
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phan Đức Ngại
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐIỀU TRA ĐA DẠNG LOÀI VÀ QUẦN XÃ THỰC VẬT
CỦA RỪNG PHÒNG HỘ NAM HÒN KHÔ, THÀNH PHỐ
NHA TRANG – TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 60
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN HỢP
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phan Đức Ngại
ĐIỀU TRA ĐA DẠNG LOÀI VÀ QUẦN XÃ THỰC VẬT
CỦA RỪNG PHÒNG HỘ NAM HÒN KHÔ, THÀNH PHỐ
NHA TRANG – TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN HỢP
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phan Đức Ngại
ĐIỀU TRA ĐA DẠNG LOÀI VÀ QUẦN XÃ THỰC VẬT
CỦA RỪNG PHÒNG HỘ NAM HÒN KHÔ, THÀNH PHỐ
NHA TRANG – TỈNH KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Trang 6hình ảnh và các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào
Nha Trang, ngày 30 tháng 9 năm 2009
Phan Đức Ngại
Trang 7- PGS.TS Trần Hợp, người đã hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
- Quý thầy cô giảng dạy khoa Sinh Trường ĐH Sư phạm TP.HCM
- Quý thầy cô giảng dạy khoa Sinh Trường ĐH Khoa học tự nhiên – ĐH Quốc gia TP.HCM
- TS Phạm Văn Ngọt, giảng viên trường ĐH Sư phạm TP.HCM
- TS Viên Ngọc Nam, giảng viên trường ĐH Nông Lâm TP.HCM
- Quý thầy cô Ban giám hiệu và đồng nghiệp giảng dạy trường CĐ Sư phạm Nha Trang – tỉnh Khánh Hoà
- Quý cô chú Phân viện điều tra quy hoạch và thiết kế nông nghiệp Nam Trung Bô – tỉnh Khánh Hoà
- Ths Bùi Minh Sơn, Trường phòng khí tượng – Đài khí tượng thuỷ văn Nam Trung Bộ - Nha Trang – Khánh Hoà
- CN Trần Giỏi, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Khánh Hoà
- UBND thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hoà
- Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Khánh Hoà
- Phòng Tài nguyên môi trường thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hoà
Đã đóng góp không nhỏ trong thành công ngày hôm nay, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, Ba, Má, Vợ và các bạn bè thân thiết đã động viên giúp đỡ rất nhiều về tinh thần và vật chất để tôi hoàn thành luận văn này
Phan Đức Ngại
Trang 8Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Các nghiên cứu trước đây về đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng phòng hộ ven biển, trong và ngoài nước 5
1.2 Khái quát các nhóm nhân tố sinh thái phát sinh quần thể thực vật của rừng phòng hộ ven biển 6
1.2.1 Nhóm nhân tố tự nhiên 6
1.2.2 Nhân tố con người 19
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Phương pháp luận 24
2.2 Phương pháp nhiên cứu cụ thể 25
2.2.1 Tổng hợp tư liệu và tài liệu đã có 25
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp 25
2.2.3 Khảo sát, thu thập số liệu ở thưc địa 26
2.2.4 Xác định và kiểm tra tên khoa học 28
2.2.5 Lập danh mục thực vật 29
2.2.6 Thu mẫu và bảo quản tiêu bản thực vật 29
2.2.7 Cách lấy mẫu đất về phân tích 31
2.2.8 Phương pháp xử lí, phân tích số liệu 31
Chương 3: KẾT QỦA VÀ THẢO LUẬN 33
Trang 93.1.1 Nhân tố bản địa 33
3.1.2 Nhân tố di cư 39
3.1.3 Giới thiệu một số loài thực vật của rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô – Tp Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa 40
3.2 Các kiểu quần xã thực vật 74
3.2.1 Kiểu rừng trên đất dốc ở chân 74
3.2.2 Kiểu rừng trên đất dốc ở sườn 87
3.2.3 Kiểu rừng trên đất dốc ở sườn gần đỉnh 104
3.3 Nhận xét hiện trạng về mối quan hệ giữa loài, quần xã thực vật của rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô – Tp Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa 110
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10HST: Hệ sinh thái
Otc: Ô tiêu chuẩn
WWF: Quỹ Quốc tế và Bảo vệ thiên nhiên
Trang 11Bảng 1.2: Hướng gió ứng với các cấp tần suất (%) 12 Bảng 1.3: Bảng các yếu tố khí hậu Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà 14 Bảng 1.4: Bảng kết quả phân tích nhóm đất cát ở rừng phòng hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà 16 Bảng 1.5: Bảng kết quả phân tích nhóm đất phù sa không được bồi (P), chua ở rừng phòng hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà 16 Bảng 1.6: Bảng kết quả phân tích nhóm đất phù sa có tầng gley (Pg) ở rừng phòng
hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà 17 Bảng 1.7: Bảng kết quả phân tích nhóm đất xám bạc màu (Xb) ở rừng phòng hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà 17 Bảng 1.8: Bảng kết quả phân tích nhóm đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs) ở rừng phòng hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà 18 Bảng 1.9: Bảng kết quả phân tích nhóm đất đỏ vàng trên đá Granit (Fa) ở rừng phòng hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà 18 Bảng 3.1 Môt số loài thực vật bản địa phân bố ở rừng phòng hộ Nam Hòn Khô – Thành phố Nha Trang – Tỉnh Khánh Hoà 33 Bảng 3.2 Bảng thống kê kết quả xử lí 20 ô tiêu chuẩn 110
Trang 12khoanh vùng nghiên cứu đa dạng loài và quần xã thực vật rừng phòng hộ Nam Hòn
Khô – Thành phố Nha Trang 8
Hình 1.2.: Giản đồ vũ nhiệt Gaussen – Walter có bổ sung của Thái Văn Trừng 14
Hình 3.1 Combretum deciduum Coll et Hemsley - Trâm bầu Combretaceae 41
Hình 3.2 Lantana camara L - Thơm ổi Verbenaceae 42
Hình 3.3 Calotropis gigantea (Willd.) Dryand ex Ait f.- Bồng bồng Asclepiadaceae 43
Hình 3.4 Leucoena leucocephala (Lamk.) de Wit.- Me keo Fabaceae 44
Hình 3.5 Caesalpinia pubercens (Desf.) Hatting - Móc mèo Fabaceae 45
Hình 3.6 Trema orientalis (L.) Bl - Trần mai Ulmaceae 46
Hình 3.7 Connarus cochinchinensis (Baill.) Pierre – Lốp bốp nam Connaraceae 46 Hình 3.8 Capparis annamemsis (Bak.f.) Jac - Cáp Trung bộ Capparaceae 47
Hình 3.9 Ipomoea obscura (L) Ker-Gawl - Bìm bìm mơ Convolvulaceae 47
Hình 3.10 Clitoria ternatea L.- Đậu biếc Fabaceae 49
Hình 3.11 Chromolaena odorata (L.) R King et H.Rob.- Cỏ lào Asteraceae 49
Hình 3.12 Ocinum tenuiflorum L - Hương nhu tía Lamiaceae 50
Hình 3.13 Sida acuta Burm f.- Ké lá nhỏ Malvaceae 51
Hình 3.14 Mimosa diphotricha C Wright ex Sauvalle- Trinh nữ cao Fabaceae 52
Hình 3.15 Alysicarpus vaginalis (L.) A.P de Cand.- Đậu vẩy ốc Fabaceae 53
Hình 3.16 Crotalaria pallida Aiton (C Mucronata Desv., C striata DC.) - Lục lạc Fabaceae 54
Hình 3.17 Gomphrena celosioides Mart - Nở ngày đất Amaranthaceae 54
Hình 3.18 Triunfetta grandidens Hance - Ké đay Tiliaceae 55
Hình 3.19 Canavalia ensiformis (L.) DC - Đậu rựa Fabaceae 55
Hình 3.20 Ipomoea eriocarpa R Br – Bìm bìm lông Convolvulaceae 56
Hình 3.21 Indigofera spicata Forssk var spicata - Đậu tràm Fabaceae 57
Hình 3.22 Tridax procumbens L – Cúc mui Asteraceae 58
Trang 13Hình 3.25 Buchanania reticulata Hance - Mô ca Anacardiaceae 60
Hình 3.26 Acrocephalus indicus (Burm f.) Kuntze – Nhân trần dại Lamiaceae 61
Hình 3.27 Securinega virosa (Willd.) Pax et Hoffm - Phèn trắng 62
Hình 3.28 Breynia fruticosa (L.) Hook.f – Bồ cu vẽ Euphorbiaceae 62
Hình 3.29 Desmos chinensis Lour – Giẻ Annonaceae 63
Hình 3.30 Capparis thorelii Gagnep var pranensis Pierre ex Gagnep - Dây quần quân Capparaceae 64
Hình 3.31 Niebuhria siamensis Kurz - Chan chan Capparaceae 65
Hình 3.32 Gymnema tingens (Roxb.) Spreng Rau mỏ Asclepiadaceae 65
Hình 3.33 Annona squamosa L – Na Annonaceae 66
Hình 3.34 Glochidion velutinum Wight - Bọt ếch Euphorbiaceae 67
Hình 3.35 Streptocaulon juventas (Lour.) Merr - Hà thủ ô trắng Asclepiadaceae 68 Hình 3.36 Elaeocarpus decipiens Hemsl – Côm Elaeocarpaceae 68
Hình 3.37 Derris elliptica (Sweet) Benth - Dây mật Fabaceae 69
Hình 3.38 Lagerstroemia calyculata Kurz – Bằng lăng ổi Lythraceae 70
Hình 3.39 Kopsia harmandiana Pierre ex Pit.- Trang tây Apocynaceae 71
Hình 3.40 Anacardium occidentale L.- Đào lộn hột Anacardiaceae 72
Hình 3.41 Mangifera minutifolia Evrard – Xoài Anacardiaceae 73
Hình 3.42 Hiện trạng rừng ở chân núi ven biển – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 78
Hình 3.43 Phẫu đồ ngang ô tiêu chuẩn số 1 - ở chân núi ven biển – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 79
Hình 3.44 Phẫu đồ dọc ô tiêu chuẩn số 1 - ở chân núi ven biển – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 80
Hình 3.45 Hiện trạng rừng ở chân núi ven biển giáp khu quy hoạch dân cư – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 84
Hình 3.46 Phẫu đồ ngang ô tiêu chuẩn số 2 - ở chân giáp với khu quy hoạch dân cư – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 85
Trang 14Hình 3.48 Hiện trạng rừng ở sườn núi ven biển giáp với biển đông và khu du lịch bãi tiên – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 89 Hình 3.49 Phẫu đồ ngang ô tiêu chuẩn số 3 - ở sườn giáp với biển đông và khu du lịch bãi tiên – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 90 Hình 3.50 Phẫu đồ dọc ô tiêu chuẩn số 3 - ở sườn giáp với biển đông và khu du lịch bãi tiên– rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 91 Hình 3.51 Hiện trạng rừng ở sườn núi giáp với khu quy hoạch dân cư – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 95 Hình 3.52 Phẫu đồ ngang ô tiêu chuẩn số 4 - ở sườn giáp với khu quy hoạch dân
cư – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 96 Hình 3.53 Phẫu đồ dọc ô tiêu chuẩn số 4 - ở sườn giáp với khu quy hoạch dân cư– rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 97 Hình 3.54 Hiện trạng rừng ở sườn núi ven biển giáp với biển đông – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 101 Hình 3.55 Phẫu đồ ngang ô tiêu chuẩn số 10 - ở sườn núi gần biển đông – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 102 Hình 3.56 Phẫu đồ dọc ô tiêu chuẩn số 10 - ở sườn núi gần biển đông – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 103Hình 3.57 Hiện trạng rừng ở sườn gần đỉnh núi – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 107 Hình 3.58 Phẫu đồ ngang ô tiêu chuẩn số 5 - ở sườn gần đỉnh – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 108 Hình 3.59 Phẫu đồ dọc ô tiêu chuẩn số 5 - ở sườn gần đỉnh – rừng phòng hộ Nam Hòn Khô 109
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khánh Hòa là một trong các tỉnh ven biển thuộc Nam Trung Bộ: phía bắc giáp với tỉnh Phú Yên, phía nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía tây, tây nam giáp với tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng và phía đông giáp với biển đông Khánh Hòa có tổng diện tích đất tự nhiên 519.725 ha, trong đó vùng đồi núi chiếm gần 90% diện tích Độ che phủ rừng toàn tỉnh là 38,7% tổng diện tích rừng tự nhiên với diện tích rừng lên tới 181.789,49 ha, và có trữ lượng là 17.287.334 m3 Trong đó, rừng phòng hộ có diện tích 99.261,18 ha, chiếm 54,6% tổng diện tích rừng, và có trữ lượng 9.923.034
m3, chiếm 57,4% trữ lượng rừng toàn tỉnh Nơi đây có điều kiên tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế biển, kinh tế vườn đồi và đặc biệt là phát triển ngành du lịch Nhưng đồng thời, nơi đây đang đối mặt với những thách thức
về sự ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt nguồn trữ lượng tự nhiên diễn ra ngày càng tăng mà nguyên nhân là do sự phát triển kinh tế không bền vững, sự gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa nhanh Từ đó, giảm sút về chất lượng, số lượng và vẽ đẹp của các cảnh quan thiên nhiên, nơi cư trú của những động vật hoang dã, nguy cơ làm giảm sự đa dạng sinh học (ĐDSH) và ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch và kinh tế của tỉnh Thực tế này, đã trở thành mối lo ngại hàng đầu của các nhà khoa học, các nhà quản lí cũng như chính quyền địa phương [17, tr.6- 13, tr.54-55]
Nha Trang là thành phố có diện tích rừng là 1.985,25 ha, chiếm 0,11% diện tích rừng toàn tỉnh, với độ che phủ là 7,9 % (thấp nhất so với các huyện thị trong tỉnh), và có trữ lượng 52.638 m3, chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất [17, tr.12-13] Rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô – Tp Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa có tổng diện tích 1000 ha, ở vĩ độ: từ điểm cực Nam 12o29’08” đến điểm cực Bắc 12o33’28”; kinh độ: từ điểm cực Tây 109o18’73” đến giáp biển Đông
109o24’32, có đường bờ biển dài khoảng 14 km, Phía Tây là đồi núi cao, nơi cao nhất 374,1m, nơi thấp nhất 5m so với mặt nước biển Nơi đây, có những yếu tố thuận lợi cho sự hình thành và phát triển các quần xã thực vật trên núi đá ven biển
Trang 16nhiệt đới gió mùa Rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn khô là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật đặc sắc trên núi đá, là nơi cung cấp nguồn sống cho người dân, đồng thời nơi đây có ý nghĩa rất lớn trong việc điều tiết khí hậu, cải thiện môi trường cho Thành phố Nha Trang
Hiện nay, rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô – Tp Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa đã và đang chịu sự tác động mạnh mẽ của con người như chặt phá rừng
để lấy gỗ củi, lấy đất làm rẩy đã và đang làm diện tích rừng ở đây bị chia cắt nghiêm trọng, nguồn tài nguyên sinh vật bị suy giảm, số lượng cá thể đã và đang giảm đi một cách rõ rệt, một số loài có nguy cơ bị tiêu diệt, làm mất cân bằng hệ sinh thái
Do đó, việc nghiên cứu đa dạng loài và quần xã của rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô nhằm hướng tới việc thống kê, xác định thực trạng suy thoái của các nguồn tài nguyên thực vật, phục hồi và bảo vệ các dạng sinh cảnh, các loài quý hiếm, hạn chế tác động làm biến đổi môi trường, đồng thời đề xuất biện pháp trồng rừng hiệu quả, góp phần cải thiện môi trường, điều tiết khí hậu cho Thành phố Nha Trang và định hướng khai thác, sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên sinh vật Tạo sự cân bằng sinh thái góp phần vào việc phát triển kinh tế bền vững, thân thiện với môi trường cho Thành phố Nha Trang
2 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, điều tra đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng phòng hộ Nam Hòn Khô, ghi nhận những đặc điểm hình thái của cơ quan sinh dưỡng, sinh sản thích nghi với điều kiện môi trường ven biển, để đánh giá tài nguyên, hiện trạng rừng ở Nam Hòn Khô
Phân bố mức ảnh hưởng của điều kiện môi trường ven biển đến sự hình thành các kiểu thực vật của rừng phòng hộ Nam Hòn Khô
Mối quan hệ giữa loài, quần xã thực vật của rừng phòng hộ Nam Hòn Khô Làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo vệ, bảo tồn, và tôn tạo rừng có hiệu quả
Những đóng góp của đề tài:
Trang 17- Xây dựng danh lục, xác định tên chính xác và đầy đủ các loài thực vật của rừng phòng hộ Nam Hòn Khô – Thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa, sắp xếp theo
họ, bộ trong hệ thống tiến hóa
- Mô tả theo phiếu điều tra, định danh theo danh pháp thực vật, bổ sung bằng các ảnh màu, bộ tiêu bản của các loài thực vật, đặc hữu, quý hiếm, có giá trị kinh tế cao của rừng phòng hộ Nam Hòn Khô– Thành phố Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa
- Đánh giá hệ thực vật trên cơ sở xác định tỷ lệ % các đơn vị phân loại trong hệ thực vật Nam Hòn Khô
- So sánh với các hệ thực vật lân cận: Ninh Thuận (Núi Chúa)…
- Đánh giá độ phong phú, độ nhiều mỗi loài
- Khảo sát, ghi nhận các đặc điểm thích nghi về hình thái của các loài thực vật ở vùng núi ven biển Phân chia các dạng sống, phổ dạng sống để xác định các kiểu quần xã và thảm thực vật
- Điều tra thu thập tài liệu liên quan đến kiểu thực vật của rừng ven biển ở địa phương, thu thập số liệu trên ô tiêu chuẩn, định hình cho các kiểu thực vật để làm
cơ sở nhận định về cấu trúc và kết cấu của kiểu thực vật của rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô
+ Điều tra theo tuyến, theo chủ quan và lập các ô tiêu chuẩn định vị
+ Vẽ các phẫu đồ thẳng đứng và hình chiếu tán để đánh giá và định tên cho các kiểu rừng
- Làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp trồng rừng hiệu quả góp phần cải thiện môi trường và điều tiết khí hậu cho thành phố Nha Trang, đồng thời bổ sung thêm
tư liệu cho việc tuyên truyền giáo dục, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho Tỉnh Khánh Hòa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài: “Điều tra đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng phòng hộ Nam Hòn Khô, Thành phố Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa” chỉ khảo sát những
sinh cảnh thuộc kiểu thực vật của rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô, giới hạn trong trong chu vi 20km, có đường bờ biển dài khoảng 14km, phía Tây là đồi núi
Trang 18cao, nơi cao nhất 374,1m, nơi thấp nhất 5m so với mặt nước biển, phía Đông là biển đông, phía Đông Bắc giáp biển đông và khu du lịch Bãi Tiên, và phía Đông Nam là khu quy hoạch dân cư Nghiên cứu về thực vật bậc cao
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, Tỉnh Khánh Hòa đã và đang thực hiện dự án xây dựng rừng phòng
hộ cảnh quan môi trường Tp Nha Trang (từ 1999 – 2010), một trong những rừng phòng hộ quan trọng góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học, điều tiết khí hậu, cải thiện môi trường và cảnh quan cho Thành phố Nhưng hiện nay dự án này chỉ chú trọng bảo vệ, phục hồi và phát triển diện tích rừng ngập mặn vốn hiện nay gần như không còn Trong khi đó, rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn khô là một trong những Hệ sinh thái trong rừng phòng hộ cảnh quan của Tp Nha Trang có ý nghĩa rất lớn trong việc điều tiết khí hậu, cải thiện môi trường thì đã và đang chịu sự tác động của con người như chặt phá rừng để lấy gỗ củi, lấy đất làm rẩy đã và đang làm diện tích rừng ở đây bị chia cắt nghiêm trọng, nguồn tài nguyên sinh vật bị suy giảm, số lượng cá thể đã và đang giảm đi một cách rõ rệt, một số loài có nguy cơ bị tiêu diệt
Do đó, việc nghiên cứu đa dạng loài và quần xã của rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô nhằm hướng tới việc thống kê, xác định thực trạng suy thoái của các nguồn tài nguyên thực vật, phục hồi và bảo vệ các dạng sinh cảnh, các loài quý hiếm, hạn chế tác động làm biến đổi môi trường, đồng thời đề xuất biện pháp trồng rừng hiệu quả, định hướng khai thác và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên sinh vật là rất cần thiết Ngoài ra đề tài là phần điều tra cơ bản làm cơ sở cho Tỉnh tiếp tục bổ sung thực hiện đề án có hiệu quả
5 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận:
- Phần: Mở đầu
- Chương 1: Tổng quan tài liệu
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả và thảo luận
- Phần: Kết luận và kiến nghị
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các nghiên cứu trước đây về đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng phòng hộ ven biển, trong và ngoài nước
1.1.1 Những nghiên cứu về đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng ven biển trong nước
- Hoàng Quốc Trương :Bước đầu nghiên cứu phiêu sinh Vịnh Nha Trang (1961)
- Lê Công Kiệt:Những quần xã thực vật ở ven đảo Cam Ranh (1962)
- Barry : Bản đồ thực bì ven đảo Cam Ranh (1/50.000 ) (1966)
- Nguyễn Hải :Những thay đổi mới về khí hậu và độ mặn ở Nha Trang (1966)
- Phạm Hoàng Hộ :Bước đầu nghiên cứu về thực bì vùng núi ven biển của Việt Nam (1967)
1.1.2 Những nghiên cứu về đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng ven biển ngoài nước
- Wikison và Baker (1994), đã nghiên cứu và đưa ra phương pháp điều tra, đánh giá
đa dạng sinh học biển
- Robert và Jonathan (1994), đã nghiên cứu và hướng dẫn tính toán số lượng ô đo đếm đa dạng sinh học bằng phương pháp ngoại suy
- Primack (1995), đã nghiên cứu và đề xuất các phương pháp bảo tồn đa ngành, nghiên cứu những mối đe dọa với đa dạng sinh học, bảo tồn cấp quần thể và loài, bảo tồn ở cấp quần xã
- Macintosh và ctv (2001), nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn và đa dạng sinh học vùng ven biển ở Ranong – Thái Lan
- Dieter Mueller – Dombois, Kent W Bridge và Curtis Daehler (2005) đã viết sách
“Đánh giá đa dạng sinh học của hệ sinh thái đảo ở vùng nhiệt đới”
Tuy nhiên, chưa có tác giả nào thống kê về đa dạng thực vật ở Nha Trang, đặc biệt nghiên cứu các quần xã thực vật của Nam Hòn Khô Đề tài sẽ giải quyết vấn đề này
Trang 201.2 Khái quát các nhóm nhân tố sinh thái phát sinh quần thể thực vật của rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô
1.2.1 Nhóm nhân tố tự nhiên
* Vị trí địa lý
Khánh Hòa là tỉnh ven biển thuộc Nam Trung Bộ: phía Bắc giáp với Tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp Ninh Thuận, phía Tây, Tây Nam giáp Tỉnh Đắc Lắk, Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông
Tổng diện tích đất tự nhiên 511.725 ha (trong đó huyện Trường Sa chiếm 49.000 ha), gồm 1 thành phố (Nha Trang), 1 thị xã (Cam Ranh), 7 huyện (Vạn Ninh, Ninh Hòa, Diên Khánh, Cam Lâm, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và huyện đảo Trường Sa) [17, tr.6], được giới hạn trong tọa độ
- Vĩ độ: từ điểm cực Nam 11o41’53” đến điểm cực Bắc 12o50’28”
- Kinh độ: từ điểm cực Tây 108o40’26” đến giáp biển Đông
Thành phố Nha Trang là trung tâm hành chính – kinh tế - văn hóa – du lịch – dịch vụ của Tỉnh Khánh Hòa Ranh giới thành phố được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Ninh Hòa
- Phía Nam giáp huyện Cam Lâm và Diên Khánh
- Phía Đông giáp biển Đông
- Phía Tây giáp huyện Diên Khánh
Nha Trang có một vị trí địa lí đặc biệt quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng; có bờ biển dài là trung tâm du lịch của tỉnh cả nước [17, tr.6]
Rừng phòng hộ Nam Hòn Khô có một vị trí rất quan trọng, góp phần tạo cảnh quan và điều hòa khí hậu cho Thành phố Nha Trang
Tọa độ địa lí của rừng phòng hộ Nam Hòn Khô được khảo sát
- Vĩ độ: từ điểm cực Nam 12o29’08” đến điểm cực Bắc12o33’28”
- Kinh độ: từ điểm cực Tây 109o18’73” đến giáp biển Đông 109o24’32
Trang 21OTC3 OTC4
OTC5
OTC10
OTC1 OTC2
OTC3 OTC4
OTC5
OTC10
Trang 22- Phía Nam và Tây Nam là Phường Vĩnh Hải
- Phía Tây Phường Vĩnh Phương
- Phía Đông là khu du lịch Bãi Tiên (giáp biển Đông)
Như vậy, thực vật ở Rừng phòng hộ Nam Hòn Khô được khảo sát thuộc địa giới hành chính Phường Vĩnh Hòa Thành phố Nha Trang
* Địa hình
Trang 23Khánh Hòa là Tỉnh có địa hình khá phức tạp do nằm ở rìa phía Đông của dãy Trường Sơn kéo dài ra sát biển Đông Địa hình Khánh Hòa nhìn chung có độ dốc lớn, thấp dần từ Tây sang Đông và có thể chia thành hai vùng:
- Vùng đồng bằng ven biển
Đồng bằng Khánh Hòa thường có dạng lòng chảo mở về phía đông, kéo dài theo đường bờ biển, bị ba dãy núi nhô ra biển (Núi Đạn, Hòn Khô và núi Cầu Hin) chia cắt thành 4 đồng bằng nhỏ: đồng bằng Vạn Ninh, đồng bằng Ninh Hòa, đồng bằng Nha Trang, đồng bằng Cam Ranh [17, tr.6-7]
Địa hình Nha Trang khá phức tạp, có vùng đồng bằng trũng là khu vực nội thành; vùng đồi núi chủ yếu nằm ở hai đầu Bắc – Nam và phía Tây thành phố, vùng ngoài biển Đông thành phố có nhiều đảo lớn nhỏ
Nha Trang có độ cao từ 0 m đến 900 m so với mặt nước biển, trong đó có những đỉnh núi cao như núi Hòn Thơm (xã Vĩnh Ngọc) có độ cao 224 m, núi Hòn Mặt (xã Phước Đồng) có độ cao 566 m, Hòn Rớ (xã Phước Đồng) có độ cao 338 m, Hòn Xanh (xã Phước Đồng) có độ cao 900 m, Hòn Ngang (Phường Vĩnh Hòa) có
độ cao 320 m, Hòn Khô (Phường Vĩnh Hòa) có độ cao 374,1m, Hòn Chùa (Vĩnh Phương) có độ cao 663 m và Hòn Chọng Gọng (Vĩnh Lương) có độ cao 637 m
- Vùng địa hình bằng thấp, có độ dốc dưới 30: đây là vùng tập trung đông dân
cư, cơ sở hạ tầng xã hội và đất đai sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản,… Vùng địa hình này phân bố ở trung tâm Thành phố có diện tích 8.130,37 ha chiếm 32,33% tổng diện tích tự nhiên
Trang 24- Vùng địa hình có độ dốc 30- 80: Đây là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng
và đồi núi, có diện tích 2.322 ha, chiếm 9,23% tổng diện tích tự nhiên toàn Thành phố Vùng địa hình này tập trung chủ yếu ở phía Tây và Đông Nam Thành phố, nơi sản xuất cây lâu năm, cây lâm nghiệp và khai thác đất, đá xây dựng
- Vùng địa hình có độ dốc 80- 150: loại địa hình này chủ yếu là đồi thấp, có diện tích 6.791,43 ha, chiếm 27,01% tổng diện tích tự nhiên toàn Thành phố Hiện nay, trên địa hình này người dân đã trồng cây nông nghiệp lâu năm và trồng rừng
- Vùng địa hình có độ dốc 150- 200: Loại địa hình này chủ yếu là núi thấp ,
có diện tích 4.622 ha, chiếm 18,38% tổng diện tích tự nhiên toàn Thành phố và phân bố chủ yếu ở phía Tây và Đông Nam Thành phố
- Vùng địa hình có độ dốc trên 200: loại địa hình này chủ yếu là núi cao, có diện tích 3.282 ha, chiếm 13,05% tổng diện tích tự nhiên toàn Thành phố và phân
bố chủ yếu ở phía Tây và Đông Nam thành phố [18, tr.7]
* Khí hậu
Khánh Hòa có chế độ khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa có ảnh hưởng khí hậu đại dương So với các tỉnh phía Bắc thì mùa đông ở Khánh Hòa ít lạnh hơn, còn mùa nóng kéo dài hơn So với các tỉnh phía Nam thì Khánh Hòa có mùa mưa lệch về mùa đông và xuất hiện những đợt mưa ngắn trong mùa này:
- Mùa mưa: từ tháng 8 đến tháng 12, lượng mưa chiếm tới 70 – 80% lượng mưa cả năm
- Mùa khô: từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chỉ chiếm 20 – 30% lượng mưa cả năm
Do ảnh hưởng của vị trí địa lí, địa hình, địa mạo nên khí hậu của Khánh Hòa
có nhiều nét đặc trưng như sau:
- Chế độ gió:
+ Hướng gió:
Mùa Đông ở Khánh Hòa chịu ảnh hưởng của tin phong Đông Bắc với không khí thịnh hành là nhiệt đới Thái Bình Dương (trong khi đó ở miền Bắc nước ta thịnh hành không khí cực đới biến tính) Vào thời kỳ này, mỗi khi áp cao lục địa Châu Á
Trang 25hoạt động mạnh, không khí cực đới mới có điều kiện xâm nhập sau xuống vùng vĩ
độ thấp Luồng không khí lạnh từ lục địa phủ đầy băng tuyết tràn xuống phía Nam qua lục địa Trung Quốc hoặc qua biển Nhật Bản, Hoàng Hải và biển đông Trung Quốc hình thành từng đợt song gây ra gió mùa đông bắc tràn về nước ta Gió mùa Đông Bắc mạnh có thể đến Khánh Hòa theo hai hướng: hướng Bắc dọc theo sườn phía Đông địa phận Tỉnh Khánh Hòa, không khí cực đới đã bị biến tính rất mạnh
mẽ, nên hầu như không thể hiện rõ các thuộc tính ban đầu lạnh và khô
Tại các trạm đo trong Tỉnh cho thấy trong các tháng mùa đông, gió thịnh hành nhất thường có hướng lệch Bắc, tại Nha Trang từ tháng XI đến tháng II năm sau, gió hướng Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc chiếm từ 15 – 37%
Mùa Hạ, không khí xích đạo bắt nguồn từ vùng biển Bắc Ấn Độ Dương kết hợp với một phần tín phong Nam bán cầu vận chuyển lên phía Bắc được gió mùa mùa Hạ đem đến Khánh Hòa theo hai luồng: Một luồng từ phía Tây, Tây Nam thổi tới qua các dãy núi Cam-pu-chia và hạ Lào, sau khi để lại mưa ở sường Tây Trường Sơn, sang đến vùng Duyên Hải miền Trung trong đó có Khánh Hòa đã đem lại thời tiết khô nóng trong các tháng mùa hạ; luồng thứ hai cũng là không khí xích đạo nhưng bắt nguồn từ Nam Thái Bình Dương và một phần của tín phong Nam bán cầu thổi đến theo hướng Nam hoặc Đông Nam, sau khi trải qua quãng đường dài trên biển đã đem lại thời tiết mát mẽ hơn vào các tháng cuối mùa hạ
Như vậy có thể nói chế độ gió ở Khánh Hòa thể hiện trong hai mùa rõ rệt: mùa Đông thịnh hành một trong ba hướng gió chính là Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc; mùa hạ là thời kỳ thịnh hành một trong ba hướng gió Đông Nam, Tây Nam và Tây [9, tr.19-20]
Bảng 1.1: Tần suất hướng gió thịnh hành (%)
NE 15.3
SE 18.2
SE 20.2
SE 22.4
SE 25.2
SE 16.4
SE 15.0
NE 14.0
N 20.5
N 30.7
* Ghi chú: E (Đông), W (Tây), S (Nam), N (Bắc)
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Nam Trung Bộ)
Trang 26Bảng 1.2: Hướng gió ứng với các cấp tần suất (%)
* Ghi chú: E (Đông), W (Tây), S (Nam), N (Bắc)
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Nam Trung Bộ)
+ Tốc độ gió:
Khánh Hòa, tốc độ gió trung bình năm dao động trong khoảng từ 2,4 – 2,8m/s và chênh lệch tốc độ gió trung bình của tháng không vượt quá 0,7m/s Nhìn chung tốc độ gió trung bình của các tháng mùa đông lớn hơn nhiều so với các tháng mùa hạ; từ tháng XI đến tháng II năm sau, tốc độ gió đạt từ 3,3 – 4,5m/s; các tháng còn lại trong năm, tốc độ gió trung bình chỉ đạt 1,6 – 2,7m/s [9, tr.23]
+ Gió đất - gió biển:
Ở Khánh Hòa, hướng gió thay đổi theo chu kỳ ngày và đêm: ban đêm hướng gió từ đất liền ra biển (gió đất); ban ngày, hướng gió từ biển vào đất liền (gió biển) Gió biển thổi vào đất liền xuất hiện lúc mặt trời mọc, mạnh dần lên và đạt cực đại vào lúc qua trưa, sau đó yếu đi Từ lúc mặt trời lặn, gió biển yếu hẳn và dần dần được thay thế bằng gió đất Gió đất duy trì suốt đêm cho tới lúc mặt trời mọc và được thay thế bằng gió biển
Gió đất – gió biển là yếu tố làm giảm bớt tính khắc nhiệt của thời tiết ở vùng ven biển Điều đó thể hiện rõ Khánh Hòa vào mùa hạ, độ ẩm ban ngày lớn làm dịu bớt tình trạng nóng nực
- Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình hàng năm ở Khánh Hòa vào khoảng
260C Trong đó tại Nha Trang 26,10C Biên độ dao động nhiệt năm ở Khánh Hòa vào khoảng 4,70C – 4,80C Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 5, 6, 7 và tháng 8 Nhiệt
Trang 27độ cao nhất tuyết đối năm là 390C Nhiệt độ thấp nhất vào các tháng 12, 1 và 2 Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối năm là 14,40C
- Chế độ ẩm: độ ẩm tương đối trung bình năm ở Nha Trang: 80% Tháng có
độ ẩm cao nhất là 9, 10, 11 Độ ẩm thấp nhất ở Nha Trang là 37%
- Lượng mưa: Phân bố lượng mưa trong tỉnh không đều theo không gian và
thời gian Thời gian lượng mưa tập trung và 3 tháng là IX, X XI, trong đó lượng mưa lớn nhất vào tháng X Theo không gian, lượng mưa năm có dao động khá lớn
từ 1139mm đến 2400mm Lượng mưa trung bình tại Nha Trang 1285
- Lượng nước bốc hơi: trung bình năm ở Nha Trang là 1424mm/năm
Chế độ thời tiết Khánh Hòa khá đặc biệt do có tính biến động cao và phân hóa mạnh liên quan đến vị trí địa lí và điều kiện địa hình phức tạp, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất và đời sống của nhân dân Mùa khô thường hạn hán ở một
số vùng thiếu hoặc không có các công trình thủy lợi Bên cạnh hạn hán là mưa lụt với cường độ cao vào mùa mưa (tháng 10, 11), có ngày mưa đạt đến 400 – 500mm/ngày, gây lũ lụt
- Lũ lụt: Thường xuất hiện vào mùa mưa lũ, đặc biệt vào tháng 11 hàng
năm Sau lụt chất lượng môi trường giảm đi rõ rệt, ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của các sinh vật
- Hạn hán: thường xảy ra vào thời kỳ nhiều nắng , mùa khô, nhiệt độ cao,
mực nước ngầm xuống thấp, dòng chảy mặt giảm đáng kể, kiệt nhất là vào tháng 4
và tháng 7 hàng năm
- Dông: xuất hiện ở Khánh Hòa trong khoảng 40 – 50 ngày/năm vào các
tháng 5 và 9, có khả năng gây gió mạnh, mưa lớn và gây xói lỡ, bào mòn đất
Trang 28Hình 1.2.: Giản đồ vũ nhiệt Gaussen – Walter có bổ sung của Thái Văn Trừng Bảng 1.3: Bảng các yếu tố khí hậu Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà
Trang 29Sông Cái Nha Trang (còn gọi là sông Thác Ngựa ở vùng Thượng Lưu) là con sông lớn nhất tỉnh Khánh Hòa với diện tích lưu vực 2.000 km2 Sông có chiều dài
75 km, hệ só uốn khúc 1,4, hệ số hình dạng 0,3, độ dốc sông 3,7 ‰, mật độ lưới sông 0,8 km/km2 Sông bắt nguồn từ đỉnh Chư Tgo cao 1.475 m, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, khi đến buôn Trai thì đổi sang hướng Tây – Đông là hướng chảy chủ yếu suốt chặng đường còn lại
Đoạn hạ lưu thuộc địa phận thành phố Nha Trang có chiều dài khoảng 10
km, chảy qua các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Ngọc, Phường Ngọc Hiệp, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Vĩnh Thọ, Xương Huân, Vĩnh Phước và đổ ra biển
+ Lưu lượng nước bình quân: Qo =55,70 m3/s
+ Lưu lượng nước mùa kiệt: Qk = 7,32 m3/s
Sông Cái Nha Trang là nguồn cung cấp nước chủ yếu đối với nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, du lịch, dịch vụ, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt của thành phố Nha Trang [17, tr.8-9]
* Địa chất và thổ nhưỡng
- Địa chất:
Địa chất Khánh Hòa cơ bản thuộc các nhóm:
+ Nhóm đá Macma phân bố phần lớn ở phía Tây
+ Nhóm đá phiến phân bố chủ yếu ở huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh
+ Nhóm trầm tích địa tứ phân bố ở vùng ven sông, suối, sườn núi đến chân núi với thành phần bở rời [17, tr.8]
- Thổ nhưỡng:
Theo kết quả điều tra, bổ sung bản đồ đất tỉnh Khánh Hòa (Viện quy hoạch
và thiết kế Nông nghiệp thực hiện năm 2005), thành phố Nha Trang có những nhóm đất sau:
+ Nhóm bải cát, cồn cát và đất cát ven biển ©: diện tích 1.423 ha, chiếm 5,66% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, phân bố chủ yếu ở xã Vĩnh Lương, Vĩnh Thái, Phường Phước Long, Phước Hải, Vĩnh Hoà
Trang 30Bảng 1.4: Bảng kết quả phân tích nhóm đất cát ở rừng phòng hộ Nam Hòn
Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà
Toång soá ( % ) mg/100g ) dÔ tiªu (
+ Nhóm đất phù sa : diện tích 1.416 ha, chiếm 5,63% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, trong đó:
Đất phù sa không được bồi (P), chua có diện tích 190 ha
Bảng 1.5: Bảng kết quả phân tích nhóm đất phù sa không được bồi (P), chua ở rừng phòng hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà
Toång soá ( % ) mg/100g ) dÔ tiªu (
Trang 31Đất phù sa có tầng gley (Pg) có diện tích 943 ha
Bảng 1.6: Bảng kết quả phân tích nhóm đất phù sa có tầng gley (Pg) ở rừng
phòng hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà
Toång soá ( % ) mg/100g ) dÔ tiªu (
Đất phù sa phân bố chủ yếu ven sông Cái Nha Trang và các sông suối khác, tập trung chủ yếu ở các xã Vĩnh Thạnh, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Trung, Vĩnh Phương + Nhóm đất xám bạc màu (Xb) có diện tích 1.518 ha, chiếm 6,04% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố và phân bố chủ yếu ở xã Phước Đồng và ở chân Rừng phòng hộ Nam Hòn Khô
Bảng 1.7: Bảng kết quả phân tích nhóm đất xám bạc màu (Xb) ở rừng phòng
hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà
Toång soá ( % ) mg/100g ) dÔ tiªu (
Trang 32+ Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 16.936,43 ha, chiếm 67,35% tổng diện tích
tự nhiên toàn thành phố Nhóm đất này phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi, đất có tầng dày mỏng, độ dốc lớn, thảm thực vật chủ yếu là cây bụi xen cây gỗ rãi rác (Trong
Bảng 1.9: Bảng kết quả phân tích nhóm đất đỏ vàng trên đá Granit (Fa) ở rừng phòng hộ Nam Hòn Khô Thành phố Nha Trang – Khánh Hoà
Toång soá ( % ) mg/100g ) dÔ tiªu (
Trang 33+ Nhóm đất thung lũng dốc tụ (D) có diện tích 84 ha, chiếm 0,33% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố
+ Đất xói mòn trơ sỏi đá (E) có diện tích 922,79 ha, chiếm 3,67% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố
+ Các loại đất khác có diện tích 591,58 ha [18, tr.9-10]
1.2.2 Nhân tố con người
* Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
- Dân số lao động:
Theo số liệu thống kê 2005, dân số trung bình toàn thành phố Nha Trang có 358.175 người, trong đó dân số thành thị có 277.982 người, chiếm 77,61% dân số toàn thành phố
Tốc độ tăng dân số giảm 1,2% (năm 2000) xuống còn 0,8% (năm 2005), trong đó tăng tự nhiên có 0,4%
Tổng số lao động trong độ tuổi có đến ngày 31/12/2005 là 186.251 người, trong đó lao động nông nghiệp có khoảng 36.000 người
Dân số trên địa bàn phường Vĩnh Hòa là 11.706 người với mật độ 981 người/km2
- Việc làm và thu nhập:
Tỷ lệ người thất nghiệp hàng năm liên tục giảm, hàng năm thành phố giải quyết việc làm cho khoảng 7.800 lao động Năm 2006 giải quyết việc làm mới cho 8.670 lao động, đồng thời tuyển mới và đào tạo ngành nghề cho 6.964 người
Chương trình xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện tốt, tổng số tiền cho các
hộ nghèo vay là 164 tỷ đồng, bình quân 33,2 tỷ đồng/năm
GDP bình quân đầu người 2005 đạt 1.390 USD
GDP bình quân đầu người 2006 đạt 1.552 USD [18, tr.18]
* Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
- Khu vực kinh tế nông – lâm nghiệp – thủy sản
Trong giai đoạn 2001 – 2006, thời tiết, khí hậu trên địa bàn thành phố có nhiều biến động, tình trạng hạn hán kéo dài nên ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản
Trang 34xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, một số vùng sản xuất lúa đã bị nhiễm mặn nên năng suất rất thấp, thậm chí không thể sản xuất được Năm 2005, 2006 là các năm ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm H5N1 và dịch lở mồm long móng ở bò và heo
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2001 – 2005 liên tục tăng, ngoại trừ năm 2005 giá trị sản xuất nông nghiệp giảm mạnh do hạn hán và lũ lụt
Chương trình khuyến nông, khuyến lâm được quan tâm, hàng năm ngân sách thành phố hỗ trợ từ 25 – 71 triệu đồng, góp phần đáp ứng các muc tiêu của chương trình khuyến nông, khuyến lâm Đên nay, diện tích cải tạo vườn tạp thực hiện được
210 ha, bước đầu đã phát triển mô hình kinh tế vườn nhà, vườn rừng phực vụ du lịch
Toàn thành phố đã có 2.571 hộ được giao đất trồng rừng theo chương trình PAM và chương trình 743 của tỉnh Trong giai đoạn 2001 – 2005 đã trồng được 25,6 ha rừng tập trung, 47,40 ha rừng phân tán và chăm sóc 739,80 ha rừng Năm
2006 toàn thành phố trồng được 31.000 cây phân tán các loại
Đối với công tác khai thác, đánh bắt thủy sản, toàn thành phố có 2.105 tàu thuyền đánh bắt bằng động cơ với tổng công suất 60.281 CV và 964 tàu thuyền đánh bắt thủ công Năm 2005 đã đánh bắt được 27.936 tấn thủy sản các loại, doanh thu đạt 264,097 tỷ đồng
Nuôi trồng thủy sản có xu hướng giảm dần diện tích do tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh và môi trường bị ô nhiễm
- Khu vực kinh tế công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn năm 2005 đạt 5.079.270 triệu đồng, tăng hơn 2.267.043 triệu đồng so với năm 2001, chiếm tỷ trọng 37,52% trong cơ cấu kinh tế Đến năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 5.717,6 tỷ đồng, tăng 12,58% so với năm 2005
- Khu vực kinh tế dịch vụ - du lịch – thương mại
Trang 35Kinh tế dịch vụ - du lịch và thương mại phát triển khá nhanh Nhiều điểm du lịch mới đã được hình thành và hoạt động có hiệu quả, du lịch sinh thái bước đầu được chú trọng khai thác Tổng doanh thu du lịch đạt khoảng 678 tỷ đồng/năm
2006, tăng 38% so với năm 2005 [18, tr.15-18]
* Phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Nha Trang là đô thị loại II với dân số trung bình năm 2005 là 358.175 người, trong đó dân số đô thị có 277.982 người, chiếm 77,61% dân số toàn thành phố Tốc
độ tăng dân số giảm 1,2% (năm 2000) xuống còn 0,8% (năm 2005), trong đó tăng
tự nhiên có 0,4%
Quy mô đất xây dựng đô thị theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005 là 4.017,61 ha, bình quân 155,53 m2/người Hiện trạng đất ở và công trình công cộng khá phù hợp, tuy nhiên các loại chỉ tiêu về đất giao thong, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và đặc biệt là đất cây xanh thấp hơn nhiều so với quy chuẩn hiện hành [18, tr.18-20]
* Tình hình giao thông
Hệ thống giao thông trên địa bàn thành phố tương đối thuận tiện và đa dạng, trong giai đoạn 2001 – 2005 tỉnh Khánh Hòa đã đầu tư xây dựng và nâng cấp rất nhiều tuyến đường quan trọng, góp phần thay đổi bộ mặt thành phố theo hướng văn minh hiện đại Các tuyến: Đại lộ Nguyễn Tất Thành, Phạm Văn Đồng nối quốc lộ 1A, con đường này đi ven qua rừng phòng hộ Nam Hòn Khô Việc xây dựng con đường này mở ra tiềm năng phát triển kinh tế, du lịch thương mại to lớn cho thành phố, nhưng bên cạnh đó cũng đã chia cắt một phần của rừng phòng hộ nên đã tác động mạnh mẽ tới hệ sinh thái của rừng phòng hộ [18, tr.18-20]
* Giáo dục – đào tạo
Thành phố đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; có 23/27 xã, phường được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi; 26/27 xã, phường được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ
sở Hiện nay toàn thành phố có 9 trường đạt chuẩn quốc gia
Trang 36Hiện trạng sử dụng đất giáo dục – đào tạo toàn thành phố năm 2006 là 98,58
ha, chiếm 0,39% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố
Việc thực hiện xã hội hóa giáo dục tiếp tục được được đẩy mạnh, các loại hình trường lớp được đa dạng hóa; phong trào toàn dân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục ngày càng sâu rộng với nhiều việc làm thiết thực, như xây dựng qũy khuyến học, huy động nhân lực, vật lực để xây dựng trường lớp, hình thành mới các điểm trường tư thục [18, tr.24]
* Văn hóa
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sồng văn hóa được phát huy sâu rộng, có tác dụng thiết thực trong việc giáo dục lối sống tốt đẹp và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội; các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống được khôi phục; nhiều thôn xóm xây dựng được hương ước, quy ước và xây dựng thôn, khóm không
có tệ nạn xã hội [18, tr.25]
* Thể dục thể thao
Phong trào thể dục thể thao tiếp tục phát triển mạnh cả bề rộng lẫn chiều sâu, thu hút mọi tầng lớp nhân dân, từ thiếu niên nhi đồng đến người cao tuổi tham gia rèn luyện sức khỏe Số người tham gia tập luyện thể dục thể thao ngày càng tăng, chiếm tỷ lệ 25% dân số toàn thành phố Các giải thể thao từ xã phường đến thành phố thường xuyên được tổ chức [18, tr.25]
* Y tế
Công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân có nhiều tiến bộ và đạt được những kết quả nhất định Dịch bệnh không xảy ra trong các năm qua, triển khai đồng bộ và
có hiệu quả chương trình tiêm chủng mở rộng các bệnh truyền nhiễm cho trẻ trong
độ tuổi, đạt tỷ lệ trên 95%; thực hiện tốt chương trình quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, tỷ lệ suy dinh dưỡng hàng năm ở trẻ em đều giảm từ 0,5% - 1% Các cơ sở y tế được tăng cường đầu tư xây dựng mới, nâng cấp và trang bị y dụng
cụ hiện đại phục vụ công tác khám chữa bệnh và vệ sinh phàng dịch [18, tr.25]
* Thương mại, du lịch, dịch vụ
Trang 37Kinh tế dịch vụ - du lịch – thương mại phát triển khá nhanh Qua việc đầu tư tăng cường hệ thống cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, khai thác thế mạnh của các tuyến, điểm du lịch mới đã được mở rộng ở ngoại thành, du lịch sinh thái bước đầu được khai thác Khuyến khích các thành phần kinh tế mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực
du lịch và dịch vụ, đưa ngành du lịch – dịch vụ trở thành ngành kinh tế có tỷ trọng tăng khá trong cơ cấu kinh tế, đạt 56% GDP Tổng doanh thu du lịch năm 2006 đạt 678,55 tỷ đồng, tăng 38,1% so với năm 2005 [18, tr.26-27]
Trang 38Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu đa dạng loài thực vật là một nội dung nhỏ trong công tác điều tra ĐDSH (định nghĩa về ĐDSH của WWF, (1998) đã nêu lên 3 mức độ đa dạng là đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hê sinh thái); còn được gọi là điều tra khu
hệ thực vật, là các hoạt động khảo sát thực địa nhằm cung cấp những thông tin về số lượng loài hiện có và sự phân bố của chúng trong các dạng sinh cảnh nếu có thể Kết quả của việc nghiên cứu này sẽ cung cấp một bảng danh mục các loài có mặt trong khu vực theo hệ thống phân loại, làm cơ sở cho việc nghiên cứu bảo vệ tính
ổn định của các quần thể và hệ sinh thái
Nghiên cứu ĐDSH ở rừng phòng hộ ven biển được dựa trên cơ sở xác định
sự phân bố của các loài theo độ dốc của núi từ chân núi, sườn và đỉnh núi
Nghiên cứu đa dạng loài thực vật có thể được thực hiện ở hầu hết các quốc gia, lãnh thổ có thể được thực hiện bởi bất kì ai yêu quý thiên nhiên Sự ĐDSH được hiểu phổ biến nhất và dễ nghiên cứu nhất ở mức độ đơn giản là sự giàu có của loài Sự đa dạng của loài được đánh giá thông qua sự điều tra, định tên và thống kê
số lượng cá thể và thành phần các loài trong một lãnh thổ để từ đó có những hướng quản lý, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng
Trang 39Sơ đồ nghiên cứu
2.2 Phương pháp nhiên cứu cụ thể
2.2.1 Tổng hợp tư liệu và tài liệu đã có
Tổng hợp tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các ngành nghề của người dân ở khu vực rừng phòng hộ Nam Hòn Khô – Thành phố Nha Trang
tra theo tuyến
Phân tích xử lý phiếu điều tra
Đánh giá số liệu điều tra
Hiện trạng tài nguyên sinh vật
Phân tích mẫu
Đánh giá số liệu phân tích mẫu
Dự báo mức độ suy thoái tài nguyên sinh vật
Trang 40Trên cơ sở phiếu điều tra, chúng tôi tìm cách tiếp cận và phỏng vấn lãnh đạo chính quyền địa phương quản lý khu rừng, những người được khoán giữ rừng, người dân địa phương sống gần rừng phòng hộ về thành phần loài, mức độ phong phú, phân bố thực tại của chúng nhằm khai thác triệt để về tình trạng các loài sinh vật đã và đang hiển diện trong rừng nghiên cứu
2.2.3 Khảo sát, thu thập số liệu ở thực địa
Có nhiều phương pháp điều tra thảm thực vật và thực vật, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chúng tôi đã áp dụng phương pháp điều tra theo tuyến
và ô tiêu chuẩn điển hình, dựa trên phương pháp nghiên cứu thảm thực vật ở rừng
ẩm nhiệt đới Brazin của Cain S và Castro (1990) được GS Thái Văn Trừng cải tiến (1998) trong “Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam” [16, tr.52-71], đồng thời có áp dụng một số phương pháp khác trong các tài liệu [8], [20, tr.41-75, tr.315-331]
Việc thu thập mẫu để xác định tên taxon và xây dựng bảng danh lục thực vật được tiến hành qua nhiều đợt khảo sát thực địa, vào các mùa trong năm (mùa mưa
và mùa khô) và tùy thuộc thời điểm đơm bông kết trái của các loài thực vật khác nhau
Tiến hành khảo sát sơ bộ để xác định các khu vực, các tuyến, địa điểm trên bản đồ thực địa (bản đồ hiện trạng hoặc bản đồ hành chính)
Trong các chuyến thực địa chính, tiến hành khảo sát theo khu vực tuyến, địa điểm trên bản đồ thực địa
Phương pháp điều tra theo tuyến
Thảm thực vật rừng phòng hộ ven biển Nam Hòn Khô, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa được chúng tôi chia thành 3 khu vực khảo sát: khu vực ở chân, khu vực ở sườn và khu vực ở gần đỉnh Các tuyến điều tra thu thập được thiết lập theo đường vị trí chân, sườn và gần đỉnh (được xem như là tuyến chính), các tuyến phụ được mở về hai bên (mỗi bên 10 – 20m) và đi qua các quần xã khác nhau Trên mỗi tuyến, tiến hành ghi chép đặc điểm các kiểu sinh cảnh, điều tra các