GS Hoàng Phê, năm 1975 có bài " Phân tích ngữ nghĩa" [58].Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên hai tiền đề lý luận quan trọng trong việc phân tích ngữ nghĩa: - Cần nghiên cứu ngữ nghĩa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYẾN VĂN HƯƠNG
VAI TRÒ CỦA HƯ TỪ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH HÀM Ý
TRONG NGÔN NGỮ NGUYỄN CÔNG HOAN
TP Hồ Chí Minh – 1997
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYẾN VĂN HƯƠNG
VAI TRÒ CỦA HƯ TỪ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH HÀM Ý
TRONG NGÔN NGỮ NGUYỄN CÔNG HOAN
TP Hồ Chí Minh – 1997
Trang 3Đề tài "Vai trò của từ hư trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan" được chúng tôi chọn để làm luận án tốt nghiệp thạc sĩ của mình Trong quá trình nghiên cứu, bản thân đã được GS.TS Nguyễn Đức Dân - Trường ĐHKHXH - NV Thành phố
Hồ Chí Minh, PTS Nguyễn Thị Hai - Trường ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh, tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ Chúng tôi xin bày tỏ lòng bết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu đó
Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến PGS Cao Xuân Hạo, PGS.TS Trần Ngọc Thêm, PTS Dư Ngọc Ngân, PTS Trịnh Sâm, các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ Văn, Phòng NCKH Trường ĐHSP thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và các đồng nghiệp
đã động viên giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án này
Trang 4DẪN LUẬN
I Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Một cách khái quát, xét ở mức độ miêu tả ngữ nghĩa, có thể có hai lớp từ đối lập nhau: lớp từ mang ý nghĩa từ vựng cụ thể, xác thực gọi là thực từ và lớp từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực gọi là hư từ Vai trò ý nghĩa của thực từ đã rõ ràng, còn đối với hư từ
là những vấn đề còn nhiều bàn luận Trong thực tế sử dụng, nhất là trong giao tiếp, hư từ đóng một vai trò quan trọng Mức độ quan trọng của hư từ được thể hiện ở chỗ: Nếu không
có nó thì khó có thể thực hiện giao tiếp một cách dễ dàng chưa nói đến là không thể thực hiện được
- Từ trước đến giờ, người ta chủ yếu chỉ đề cập nghĩa của thực từ còn hư từ thì cho rằng, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp chứ không có ý nghĩa từ vựng Nói như vậy, chúng ta sẽ khó lòng giải thích được sự khác nhau giữa các hiện tượng ngôn ngữ kiểu như:
l(a) Những cái bút
1(b) Một quyển sách
2(a) Quyển sách này giá 5 đồng
2(b) Quyển sách này giá chỉ 5 đồng
2 (c) Quyển sách này giá những 5 đồng
Sự khác nhau giữa các câu trên là do các từ "những", "một", "chỉ" gây nên Như vậy giữa những câu có hư từ và những câu không có hư từ có chứa đựng những thông tin khác nhau Có được những thông tin khác nhau đó là do các nét nghĩa của hư từ tạo nên Rõ ràng
hư từ ngoài chức năng biểu thị ý nghĩa ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp nó còn có chức năng biểu thị ý nghĩa tự thân của nó Vấn đề là phải vạch ra được ranh giới khác nhau do hư từ đem lại
- Để góp phần trả lời vấn đề đặt ra, chúng tôi nghĩ rằng không thể tập hợp và miêu tả các hư từ cụ thể để vạch ra ranh giới ý nghĩa mà bản thân các hư từ đó thể hiện Hướng chủ yếu là phải tập hợp những câu, đoản ngữ có sử dụng các hư từ để khảo sát và vạch ra vai trò, tác dụng của các hư từ đó Đó chính là mục đích của luận án này
Trang 5II: Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cuối những năm 70 đầu 80, giới nghiên cứu ngữ học đã nhận thấy hư từ có vai trò quan trọng trong việc hình thành hàm ý Từ đó các nhà ngôn ngữ học đã có những bài nghiên cứu về hư từ
1.1 GS Hoàng Phê, năm 1975 có bài " Phân tích ngữ nghĩa" [58].Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên hai tiền đề lý luận quan trọng trong việc phân tích ngữ nghĩa:
- Cần nghiên cứu ngữ nghĩa không chỉ các đơn vị của ngôn ngữ mà còn cả của các đơn vị lời nói
- Nghĩa từ phải được nghiên cứu trong mối quan hệ nhiều mặt: từ với hiện thực, trong cấu trúc nội bộ, trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp với những nghĩa từ khác
Từ hai tiền đề lý luận này, tác giả đã đưa ra quan niệm của mình về phân tích nghĩa của từ một cách toàn diện trong những quan hệ ngữ nghĩa sinh động và phức tạp trong tổ hợp
từ, trong câu cụ thể Có thể coi đó là "một số ý kiến coi như là một thí nghiệm giải quyết vấn
đề phân tích ngữ nghĩa, một vấn đề trung tâm của ngữ nghĩa học" [11] Ở đây GS Hoàng Phê
đã đưa ra một hướng phân tích mới mẻ so với phương thức truyền thống - từ góc độ logich ngữ nghĩa
1.2 Năm 1981, Hoàng Phê lại có bài "Ngữ nghĩa của lời" [59] đặt vấn đề lời nói hàng ngày có hai phần: hiển ngôn (trực tiếp nói ra một cái gì đó) và hàm ngôn (gián tiếp nói ra một cái gì đó) Tác giả khẳng định nhiệm vụ của ngôn ngữ học, nghĩa học là tìm hiểu ngôn ngữ của lời, phải xuất phát từ ngữ nghĩa của lời để cuối cùng quay về ngữ nghĩa của lời (và của văn bản) Từ các kết luận của C.J Fillmore, của O.Ducrot, của Grice, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa tiền giả định - hiển ngôn - hàm ngôn - hàm ý - ngụ ý để xác định câu trúc ngữ nghĩa của lời Đặc biệt ông đã đưa ra phương pháp phân tích ngữ nghĩa của lời, của câu và có thể áp dụng phương pháp giải như giải một bài toán: tiền đề, qui tắc, định lý Tác giả đã vận dụng phương pháp này để phân tích những lời có hàm ngôn trong tác phẩm "Sống mòn" của Nam Cao Rõ ràng tác giả đã cố gắng "công thức hóa" trong việc phân tích ngữ nghĩa của lời
1.3 Trong bài "Tiền giả định và hàm ý, trong ngữ nghĩa của từ" [61], GS Hoàng Phê
đã phân tích ngữ nghĩa của các câu để xác định vai trò của các hư từ trong việc tạo ra tiền giả định và hàm ý của câu Từ các phân tích cụ thể tác giả đã đi đến kết luận:
Trang 6- Có những từ ngữ không thể tách rời ngữ nghĩa của câu, vì vậy phải xuất phát từ ngữ nghĩa của câu mới có thể hiểu được cụ thể và đầy đủ nghĩa của từ
- Có những từ mà chức năng ngữ nghĩa là thực tại hóa một tiền giả định hoặc tạo nên một hàm ý của câu
- Những từ thông thường gọi là hư từ nhưng thường có một hàm lượng nghĩa rất lớn
và nghĩa của nó có một vai trò rất quan trọng trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu
2 GS Nguyễn Đức Dân đã có nhiều công trình nghiên cứu và nhiều bài viết có hệ thông về Logich ngữ nghĩa - một vấn đề lý thú và hóc búa của ngôn ngữ học
2.1 Năm 1977, giáo trình "Những mô hình ngôn ngữ" của GS Nguyễn Đức Dân - Đại học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh - có giới thiệu về khái niệm tiền giả định và xác định nghĩa của từ có 2 phần: Hiển ngôn và hàm ngôn
2.2 Năm 1984, bài "Ngữ nghĩa của hư từ: Định hướng nghĩa của từ" [16] GS Nguyễn Đức Dân đã đặt vấn đề về ý nghĩa của hư từ Do nhu cầu giao tiếp, hư từ đã hình thành hàng loạt kiểu định hướng nghĩa khác nhau Bài này đã nghiên cứu các định hướng nghĩa theo lý thuyết các hành vị ngôn ngữ Từ phân tích những ví dụ cụ thể, tác giả đã xác định những định hướng nghĩa về sự đánh giá; những định hướng về sự khẳng định, chấp nhận, đồng tình, bác
bỏ ; những định hướng về sự bày tỏ thái độ Mỗi định hướng nghĩa đều được tác giả phân tích một cách Logich, chặt chẽ, rõ ràng mạch lạc và đã khái quát được những mô hình tổng quát
2.3 Bài viết "Ngữ nghĩa các hư từ: Nghĩa của cặp từ" [17], Nguyễn Đức Dân đã dùng phương pháp phân tích, chứng minh, khái quát hóa để đi đến xác định ý nghĩa của các từ hư trong các kiểu câu trúc, các kiểu quan hệ giữa hai vế (X và Y), (nhân quả hay nghịch nhân quả) Chính nhờ xác định được nghĩa của những cặp từ mà chúng ta dễ dàng định hướng được nghĩa của những bộ phận trong câu trúc câu phức chứa đựng các cặp từ đó Như vậy, chúng ta có thể giả thích nghĩa của câu chính xác hơn, chặt chẽ hơn và "thấy được bản chất nhiều hiện tượng ngôn ngữ thú vị"
2.4 Trong một bài khác, Nguyễn Đức Dân - Trần Thị Chung Toàn đã tìm hiểu chức năng luận cứ của các từ "cũng - chính - cả - ngay" [25] Bài báo này đề cập hai vấn đề:
Trang 7- "cũng" là một từ dùng để đối chiếu
- Con đường hư hóa và những nét khác biệt về sắc thái nhấn mạnh của các từ: Cả - ngay - chính
Qua phân tích các ví dụ cụ thể, vấn đề thứ nhất đã khái quát được cấu trúc dùng
"cũng" để đối chiếu, vấn đề thứ hai được chứng minh bằng cách so sánh các câu có chứa các từ: " Chính - cả - ngay" với các câu không chứa các hư từ đó để vạch ra con đường hư hóa của các hư từ đó và vai trò nhấn mạnh của nó Những vấn đề được đặt ra và giải quyết trong bài viết đã giúp chúng ta giải thích được các hiện tượng phong phú của ngôn ngữ
2.5 Toán học ngày càng thâm nhập vào tất cả các ngành khoa học, trong đó có ngôn ngữ học Cuốn giáo trình " logich ngữ nghĩa cú pháp " của GS Nguyễn Đức Dần [19] đã trình bày những kiến thức cơ bản về logich học và một số phương pháp mô tả ngôn ngữ tự nhiên nhằm cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản để tiếp cận và nắm bắt được các công trình ngôn ngữ học hiện đại Có thể đây là cuốn sách đầu tiên của giới Việt ngữ học đã trình bày một cách có hệ thống các khái niệm cơ bản về logich học và mối quan hệ của nó với ngôn ngữ Đó là những tri thức cần thiết cho những người nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung và ngữ nghĩa cú pháp nói riêng Trong giáo trình này, tác giả đã vận dụng các qui luật của Logich học để nghiên cứu về lĩnh vực ngữ nghĩa cú pháp
2.6 Trong bài " Logich các từ nối" [22], Giáo sư Nguyễn Đức Dân đã đi sâu tìm hiểu
cơ sở logich của sự hình thành nghĩa của các từ " trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau" theo hai hướng phương thức cơ bản: Theo quan hệ không gian giữa hai đối tượng và theo quan điểm nhìn trong khi nói, những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ không gian, con đường tạo nên sự chuyển nghĩa của các từ này Thông qua phân tích các ví dụ cụ thể, tác giả rút ra cơ chế hay
có thể nói là qui luật sử dụng các từ đó Cách giải quyết các vấn đề rõ ràng, khúc chiết có sức thuyết phục cao
2.7 Trong cuốn sách "tiếng cười thế giới" [24], khi phân tích các phương pháp gây cười, tác giả Nguyễn Đức Dân đặc biệt chú ý đến cơ sở logich và vai trò của ngôn ngữ trong việc gây nên tiếng cười trong các truyện cười của thế giới.Theo tác giả "Có những truyện cười dựa trên cơ sở logich, ở đó người ta cười vì những tình huống, sự kiện thể hiện sự mâu thuẫn, một bản chất tức cười nào đó Có những truyện cười vai trò của ngôn ngữ trở nên đặc biệt quan trọng, người ta nhận ra các tình huống, sự kiện tức cười nhờ có công cụ của ngôn ngữ"
Trang 8Bàn về vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật gây cười, tác giả đặc biệt chú ý đến vai trò của các cấu trúc ngữ pháp, nghệ thuật biểu hiện hàm ý và xây dựng các lối nói mơ hồ
2.8 Cuốn "logich và Tiếng Việt" [23], xuất bản năm 1996 Đây là cuốn sách đề cập một cách có hệ thống những kiến thức cơ bản của logich cổ điển và logich hiện đại, mối quan
hệ giữa logich với ngôn ngữ Đặc biệt GS Nguyễn Đức Dân đã vận dụng quan điểm của Logich học để khảo sát và giải thích các hiện tượng tiếng Việt Ở đây, nhiều hiện tượng về ngôn ngữ và logich được tác giả phân tích lý giải và phân định một cách khá rạch ròi làm cơ
sở cho việc vận dụng để nghiên cứu tiếng Việt Chúng tôi cho rằng cuốn sách là một tài liệu quí giá cho những ai đang có nhu cầu học tập và nghiên cứu tiếng Việt nói riêng và ngôn ngữ nói chung, đặc biệt là lĩnh vực logich ngữ nghĩa
3 GS Đỗ Hữu Châu là một trong những nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã vận dụng khái niệm tiền giả định trong địa hạt ngữ nghĩa" ( Nguyễn Đức Dân) và dụng học Có thể đề cập một số công trình nghiên cứu của ông về vấn đề này:
3.1 Bài "Các yếu tố dụng học của tiếng Việt" [8] đã đưa yếu tố dụng học vào tọa độ thứ 4 trong hệ qui chiếu ba tọa độ để xem xét các sự kiện ngôn ngữ Trên cơ sở khái niệm dụng học đã được xác định, dựa vào ý kiến của Fill more [Tổng quát một câu thường có hai thành phần nghĩa M - p (M là thành phần hình thái, p là lõi miêu tả ], tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng trong P cũng chứa các yếu tố dụng học xuất hiện trong giao tiếp, nhưng chính các tín hiệu dụng học mới tạo nên các M của ngữ nghĩa của câu Phân tích M để vạch ra các loại tín hiệu dụng học, bước đầu tác giả nêu lên 4 loại tín hiệu Đó là các tín hiệu định vị chức năng, biểu thị thái độ trí tuệ , biểu hiện các hành vi ngôn ngữ và các động từ ngữ vi Có thể nói chức năng dụng học là một hướng nghiên cứu mới mẻ của nghĩa học tiếng Việt so với truyền thống
3.2 Cuốn giáo trình "Đại cương về ngôn ngữ học tập II".[12] phần V GS Đỗ Hữu Châu đã tập trung giới thiệu về dụng học (chương I), phân tích các hành vi ngôn ngữ (chương IV) và ý nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tường minh (hiển ngôn) (chương V) Có thể coi đây là một trong những công trình vận dụng lý thuyết ngữ dụng học của các nhà ngôn ngữ học thế giới
để nghiên cứu dụng học của tiếng Việt một cách tương đối hệ thống Chương I, tác giả giới thiệu một cách khái quát về dụng học, một vấn đề khá mới mẻ và lý thú Chương II phân tích các hành vi ngôn ngữ Bản thân các đơn vị ngôn ngữ có tính trừu tượng, không hiện thực Nó
Trang 9động của ngôn ngữ, AuStin đã mở ra một hướng nghiên cứu mới cho ngôn ngữ - hành vi ngôn ngữ
Lý thuyết lập luận (chương III) là một lĩnh vực mới trong ngôn ngữ học thế giới Đối với Việt Nam nó lại càng mới mẻ hơn Đi vào lý thuyết lập luận đã mở ra một hướng nghiên cứu mới không chỉ đối với lĩnh vực ngữ dụng mà còn góp phần phát hiện ra những đặc trưng mới trong cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Việt Nam
Mặc dù chưa có điều kiện để nghiên cứu một cách toàn diện về lý thuyết hội thoại, nhưng những điều mà tác giả nêu ra trong chương IV đã giới thiệu cho chúng ta những tri thức cơ bản về cấu trúc và chức năng hội thoại của Tiếng Việt Đó là cơ sở để đi sâu vào lĩnh vực mới mẻ này
Chương V tác giả đã giới thiệu về bản chất của một phát ngôn gồm 2 phần: Phần ý nghĩa nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ gọi là ý nghĩa tường minh và phần ý nghĩa được suy ra từ các yếu tố ngoài ngôn ngữ gọi là ý nghĩa hàm ẩn bẳn chất của vấn đề phải được hiểu bắt đầu từ khái niệm ý nghĩa không tự nhiên, khái niệm tiền giả định và hàm ngôn
4.1 Tác giả Lê Đông cũng có nhiều bài nghiên cứu về hư từ đăng trên tạp chí ngôn ngữ Bài " Ngữ nghĩa - ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: Ý nghĩa đánh giá của các hư từ" [27], tác giả đã đề cập đến thuộc tính đánh giá của hư từ, được cụ thể hóa qua phẩm chất ngữ nghĩa
- ngữ dụng của các thành phần mà nó dạng thức hóa và chế định trong cấu trúc Với ý nghĩa đánh giá của chúng, hư từ là phương tiện để đưa vào câu vào văn bản những nội dung hàm ẩn khác nhau, tham gia vào việc tạo nên chiều sâu của văn bản và tổ chức, liên kết các nội dung hiển ngôn Tác giả đã vạch ra các kiểu nghĩa đánh giá (6 kiểu) Theo tác giả các kiểu ý nghĩa đánh giá của hư từ nhiều khi không tồn tại một cách tách rời mà có thể đan bện vào nhau nhiều kiểu ý nghĩa đánh giá Như vậy, theo quan điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng, tác giả đã miêu
tả và xác định khá rõ ý nghĩa đánh giá của hư từ và vai trò của nó trong việc hình thành các hàm ẩn
4.2 Với hướng nghiên cứu đó,bài "Ngữ dụng - ngữ nghĩa của hư từ: Siêu ngôn ngữ và
hư từ tiếng Việt" [28], tác giả Lê Đông đã sử dụng khái niệm siêu ngôn ngữ để miêu tả ngữ dụng, ngữ nghĩa của hư từ và các cấu trúc khác có chứa nó trong hệ thống tiếng Việt Tác giả
đã chứng minh hư từ có thể đóng vai trò tác tử mang thông tin siêu ngôn ngữ, nói cách khác
hư từ đóng vai trò một tác tử cấu tạo nên kiểu phát ngôn siêu ngôn ngữ Ở đây tác giả có sự phân biệt các loại siêu ngôn ngữ: Siêu ngôn ngữ nội hướng - ngoại hướng, siêu ngôn ngữ hiện thực và siêu ngôn ngữ tiềm tàng Theo tác giả, hư từ ngoài việc tham gia tạo nên các phát ngôn siêu ngôn ngữ đồng thời còn góp phần chế định luôn vị trí, vai trò tương đối
Trang 10của phát ngôn trong văn bản, tham gia vào việc chỉ ra quan hệ logich - ngữ nghĩa - ngữ dụng của các phát ngôn, chỉ ra dòng vận động của đối thoại" (trang 50 - ngôn ngữ số 2 -92) Chỉ ra chức năng siêu ngôn ngữ của hư từ đã giúp chúng ta chủ động hơn trong việc sử dụng từ ngữ, trong việc miêu tả các câu và mối quan hệ của nó trong đối thoại
5.1 Nguyễn Anh Quế là một trong những nhà ngôn ngữ học có những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu hư từ của tiếng Việt Bài "Về vấn đề phân định hư từ trong tiếng Việt" [67], tác giả đã đề xuất cách phân định căn cứ vào khả năng của từ tham gia vào việc hình thành câu, hình thành đoản ngữ để phân chia vốn từ theo trật tự hai bước sau đây:
- Bước 1: Căn cứ vào khả năng tham gia tổ chức đoản ngữ để phân thành hai loại: (a) Loại có khả năng làm thành tố đoản ngữ
(b) Loại không có kha năng làm thành tố đoản ngữ
- Bước 2: Chuyển từ đoản ngữ lên câu có 2 loại:
(a) Những từ làm trung tâm đoản ngữ, làm thành phần câu bao gồm các thực từ
(b) Những từ không làm trung tâm đoản ngữ, không làm thành phần câu đó là những
a Khái quát về hư từ và hư từ về tiếng Việt
b Phân định và phân loại hư từ tiếng Việt
c Ý nghĩa chức năng của hư từ và vấn đề hư hóa
d Một số kết quả khảo sát hư từ với chức năng là một tín hiệu ngôn ngữ
Trang 11Có thể nói rằng: Nhờ tiếp thu quan điểm của những người đi trước, đồng thời điều chỉnh hướng nghiên cứu nên bản luận án đã khái quát được tất cả các hư từ Ở đây, tác giả không chỉ phân tích ý nghĩa và chức năng của hư từ trong các kết cấu mà còn xem xét cả hoạt động của chúng trong giao tiếp, đề xuất những tiêu chí nhận diện hư từ, khảo sát kỹ vấn đề hư hóa và tìm hiểu mối liên hệ có tính qui luật giữa chức năng và ý nghĩa của hư từ Bản luận án
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong công tác nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt
6.l.Tác giả Lê Xuân Thai với bài "Về việc hiện thực hóa tiền giả định tổ hợp của động
từ và tính từ (trên cứ liệu tiếng Việt" [74] đã chủ yếu đề cập việc hiện thực hóa tiền giả định
tổ hợp Tiền giả định tổ hợp của động từ, tính từ có hai loại: Tiền giả định khái quát và tiền giả định đơn loại Tiền giả định tổ hợp được hiện thực hóa theo hai hình thức: hiển minh và không hiển minh Nói chung, khi hiện thực hóa, tiền giả định tổ hợp đơn loại thường mang hình thức hiển minh còn tiền giả định khái quát thường mang hình thức phi hiển minh Vấn
đề đặt ra là tại sao tiền giả định tổ hợp lại cần phải hiện thực hóa trong câu Theo tác giả, việc hiện thực hóa tiền giả định là do nguyên nhân về ngữ nghĩa, về ngữ pháp và về sự phân đoạn thực tại của câu (nguyên nhân về thông báo) Mục đích của hiện thực hóa là để đáp ứng đòi hỏi của sự phân đoạn thực tại Nó được dùng trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định Sự hiện thực hóa tiền giả định tổ hợp do nguyên nhân thông báo có thể tạo ra những câu đồng nghĩa với câu không có hiện thực hóa đó Rõ ràng việc nghiên cứu tiền giả định của động từ - tính từ nhằm hiểu sâu hơn, đúng nghĩa hơn động từ - tính từ Đó là cơ sở để hiểu rõ ngữ nghĩa của câu
6.2 Bài "Mấy nhận xét về các phương tiện tổ hợp cú pháp trong tiếng Việt" [ 75], Lê Xuân Thai đã nêu ra một số nhận xét về khả năng hành chức của trật tự từ, hư từ và ngữ điệu trong tiếng Việt và mối quan hệ tương tác giữa chúng với tư cách là những phương tiện tổ hợp cú pháp Qua phân tích các sự kiện ngôn ngữ cụ thể, tác giả đã đi đến kết luận: "Trong tiếng Việt có một sự phân công giữa các phương tiện tổ hợp cú pháp: trật tự từ giữ vai trò chính yếu biểu thị các phạm trù thuần tuy chức năng, còn hư từ thì phụ trợ trong việc biểu thị các phạm trù ngữ pháp, cú pháp" (trang 38 - Ngôn ngữ số 1 - 85) Như vậy, mặc dù mỗi phương tiện cú pháp tổ hợp có chức năng riêng nhưng giữa chúng có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau Chẳng hạn, trật tự từ với tư cách giữ vai trò chính yếu trong các phương tiện cú pháp tổ hợp nhưng tự thân nó cũng không đảm bảo được trọn vẹn chức năng chính yếu của nó mà cần
có sự "giúp sức" của các phương tiện khác
Trang 127 GS Hoàng Tuệ qua bài viết " Hiển ngôn với hàm ngôn, một vấn đề thú vị trong chương trình lớp 11 PTTH hiện nay" [85] đã giúp cho các giáo viên cũng như học sinh nhận thức được rằng đây là một vấn đề đang hấp dẫn các nhà ngôn ngữ và lần đầu được đưa vào giảng dạy ở bậc phổ thông, vấn đề thì thú vị nhưng không đơn giản Để hiểu được bản chất vấn đề, chúng ta dựa vào phương pháp lường phân của Ducrot để chia đôi nghĩa phát ngôn thành nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn Muốn hiểu một phát ngôn, văn bản, người đọc (nghe) phải hiểu được hiển ngôn, hàm ngôn, ẩn ý, tiền giả định và những yếu tố ngoài ngôn ngữ Có thể nói rằng, nếu qua giáo viên học sinh được trang bị đầy đủ khái niệm hiển ngôn, hàm ngôn thì bản thân họ sẽ đễ dàng hơn trong việc tiếp nhận văn bản và cảm thụ văn chương
8 Bài "Ngữ nghĩa và chức năng của các từ: được, bị, phải trong tiếng Việt hiện đại" [73] của Tác giả Vũ Thế Thạch đã trình bày một kiến giải về đặc điểm ngữ nghĩa - chức năng của chúng Ba từ "được, bị, phải" đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập nhưng chưa có ý kiến thống nhất Trong bài này, Vũ Thế Thạch từ góc độ phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa - chức năng đã rút ra nhận xét: " Được, bị, phải là những từ chỉ thuộc tính Khi đứng trước và sau các từ chỉ thuộc tính khác nghĩa của chúng bị hư hóa Khi đứng trước các từ chỉ thuộc tính nét nghĩa "tiếp nhận" mang tính khái quát cao Khi đi sau các từ chỉ thuộc tính nét nghĩa này
bị lược bỏ Với mức độ hư hóa khác nhau trong những trường hợp khác nhau chúng có thể coi là hư từ hay không phải hư từ nhưng nghĩa của chúng vẫn nằm trong môi quan hệ chặt chẽ"
9 Trong lĩnh vực văn học, Lê Thị Đức Hạnh là người có nhiều bài nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Công Hoan, trong đó có những bài đi sâu tìm hiểu nghệ thuật viết truyện ngắn của ông Chẳng hạn:
9.1 Bài " Nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan" [37] Bài viết này trình bày qua nghệ thuật hiện thực, những nét đặc sắc trong nghệ thuật viết truyện ngắn, nghiên cứu nghệ thuật trào phúng, sở trường của nhà văn Nói về ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan, tác giả cho rằng: "Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng , có chọn lọc và nâng cao nên có đậm hương của Ca dao, tục ngữ Những chữ dùng của ông thường giản dị, giàu hình ảnh cụ thể hay so sánh, ví von làm cho người đọc dễ có những liên tưởng thú vị" Nhìn chung ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan trong sáng, chính xác có được bản sắc tốt đẹp của tiếng nói dân tộc
Trang 139.2 "Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan" [36] Trong bài viết này tác giả gần như đã thống kê được những nét đặc sắc của nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Qua hàng loạt nét đặc sắc được tác giả nêu lên, chúng ta nhận thấy Nguyễn Công Hoan đã vận dụng sáng tạo các phương pháp gây cười độc đáo của truyện cười dân gian Việt Nam và thế giới [dựa trên cơ sở logich, khai thác ngôn ngữ nhân vật, các biện pháp tu từ ] Nhờ vậy nghệ thuật trào phúng của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan mang nhiều cung bậc: mức khôn hài với nụ cười thỏa mái → nụ cười ngộ nghĩnh
→ trào phúng mỉa mai, châm chích, diễu cợt, tố cáo → đả kích sâu độc gây cho người đọc thái độ căm phẫn khinh miệt hơn là hài hước → có lúc nụ cười lắng đọng, thấm sâu vào bên trong nhưng mà cay đắng xót xa
10 Nguyễn Thanh Tú có bài: Lời văn mỉa mai trong "Đồng hào có ma" của Nguyễn Công Hoan in trên báo Giáo dục và Thời đại [85] Bài vết này, tác giả đã phân tích quan niệm nghệ thuật độc đáo, tài sử dụng thứ ngôn ngữ suồng sã để "lật ngửa", "lộn trái" đối tượng, tài
sử dụng nguyên tắc tổ chức lời văn nhằm mục đích mỉa mai, phê phán đối tượng trong truyện ngắn "Đồng hào có ma" Âm hưởng chủ đạo của câu chuyện là giọng điệu mỉa mai, "đan bện" với các "sắc điệu chỉ trích", "sắc điệu phê phán tố cáo"
Tất cả các bài viết thuộc lĩnh vực nghiên cứu văn học, các tác giả chủ yếu tập trung phân tích về tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan chứ không đi sâu phân tích, khảo sát hiện tượng ngôn ngữ cụ thể trong truyện ngắn của nhà văn
11 Cơ sở lý luận cho việc phân tích Tiếng Việt về những vấn đề trên đây đều bắt nguồn từ những thành tựu của giới ngôn ngữ học thế giới, tiêu biểu như C.J.Fill More, O Ducrot, Austin, Krice, Kerbrat Orecchioni Từ cuối những năm 70, một số nhà ngôn ngữ học Việt nam đã tập trung nghiên cứu ngữ nghĩa - ngữ dụng tiếng Việt và bước đầu đã đạt được những thành tựu đánh kể Những thành tựu đó đã mở ra một hướng mới đầy triển vọng trong việc nghiên cứu tiếng Việt Là vấn đề mới mẻ và phức tạp nên nhiều nội dung, phương pháp cần phải được tiếp tục nghiên cứu, bàn bạc để làm sáng tỏ Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi chủ yếu tập trung tìm hiểu vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan
Trang 14III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Giới thuyết khái niệm
1.1 Khái niệm về hư từ
1.1.1 Định nghĩa: "Hư từ là từ không có khả năng độc lập làm thành phần câu, được dùng để biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ"(1)
- "Hư từ là một tập hợp không lớn về số lượng các từ, bản chất của ý nghĩa hư từ là tính chất ngữ pháp, là phương tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ Bản chất đó qui định các hư từ không làm trung tâm đoản ngữ, chỉ làm thành phần phụ một cách hạn hữu, còn đa số hư từ được làm yếu tố liên kết và "xúc tác" của các đơn vị cấu trúc ngữ pháp"(2)
Nêu lên hai trong số nhiều định nghĩa về hư từ của tiếng Việt, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy: mặc dù còn có những tiểu dị nhưng trên đại thể đều gặp nhau ở những điểm sau đây:
- Không có khả năng độc lập làm thành phần trung tâm của đoản ngữ, không làm thành phần chính của câu
- Dùng làm yếu tố liên kết biểu thị mối quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ
- Hư từ không có ý nghĩa từ vựng mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp Hư từ là từ loại đối lập với thực từ
1.1.2 Phân loại Hư từ tiếng Việt bao gồm hai tập hợp: hư từ từ pháp (từ phụ diễn các
ý nghĩa ngữ pháp của thực từ ) và hư từ cú pháp (chức năng liên kết) gọi là quan hệ từ (liên từ
Trang 15Ngoài ra, trong tiếng Việt còn có những nhóm từ vừa mang tính chất quan hệ từ, vừa mang tính chất từ loại Có thể nêu hai nhóm tiêu biểu
- Nhóm từ chỉ hướng: ra, vào, lên, xuống
- Nhóm từ chỉ vị trí: trước, sau, trong, ngoài, giữa
Đối với nhóm này việc xác định phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Đây là một vấn đề lý thú nhưng còn nhiều ý kiến chưa thống nhất
Việc phân chia quan hệ từ theo ngữ pháp truyền thống được chia thành: liên từ và giới
từ Tuy nhiên để xác định ranh giới liên từ và giới từ một cách triệt để là một vấn đề hết sức khó do tính chất đa chức năng của các yếu tố Do vậy giải pháp thỏa đáng là tất cả các hư từ
cú pháp tập hợp trong một phạm trù chung gọi là kết từ hay từ nối Quan hệ từ có thể chia thành: Các liên từ thuần tuy và các liên giới từ
Trên đây là quan niệm truyền thống về hư từ Quan niệm đó chỉ mới đề cập đến quan
hệ ngữ pháp thuần tuy mà chưa đả động đến ngữ nghĩa của hư từ với tư cách là những yếu tố phát ngôn Hướng nghiên cứu hư từ trong quan hệ với ngữ nghĩa của câu sẽ khắc phục được tình trạng phiếm khuyết của ngữ pháp truyền thống
1.2 Khái niệm về hàm ý
12.1 Định nghĩa
Nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích hàm ý nhưng để đi đến một định nghĩa trọn vẹn thì thật không đơn giản
- Từ điển tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học - 1992) định nghĩa: "Hàm ý”
(1) Có chứa đựng một ý nào đó bên trong
(2) Ý được chứa đựng ở bên trong, không diễn đạt ra trực tiếp”(1)
- Đỗ Hữu Châu quan niệm:"Hàm ý là những ý nghĩa hàm ẩn nằm trong ý định truyền báo của người nói"(2)
- Về thuật ngữ: Theo Đỗ Hữu Châu "Hàm ngôn không tự nhiên và tiền giả định không
tự nhiên được gọi chung là các hàm ý của phát ngôn"(3)
Trang 16Chẳng hạn: Cấu trúc câu "A nhưng B" thì "từ A làm ta có khuynh hướng rút ra kết luận K Tuy nhiên sẽ không có kết luận ấy vì B cũng đúng, mà từ B làm ta có khuynh hướng rút ra kết luận ngược lại "không K", cả hai vế người ta nói có hàm ý chấp nhận khuynh hướng toàn cục sẽ rút ra kết luận của B"(1)
A không kém gì B → hàm ý đánh giá cao A
A không hơn gì B → hàm ý đánh giá thấp A
Như vậy để có những hàm ý khác nhau phải có những cơ chế ngôn ngữ khác nhau Hàm ý ngôn ngữ được hình thành từ các hàm ý hội thoại: Lúc đầu đầu được xác định trong một tình huống hội thoại, khi nó độc lập với cảnh huống sẽ trở thành cơ chế ngôn ngữ để biểu thị một hàm ý ngôn ngữ
(b) Hàm ý hội thoại
Hàm ý hội thoại không được gợi ra do các yếu tố qui ước (yếu tố ngôn ngữ) mà do cách vận dụng phương châm cộng tác hội thoại và các nguyên tắc trong phương châm này, Grice chia hàm ẩn hội thoại thành hai kiểu: Hàm ẩn khái quát (hàm ẩn chuẩn) và hàm ẩn đặc thù
- Hàm ẩn khái quát: Cuộc hội thoại được xây dựng trên cơ sở 4 phương châm:
+ Phương châm lượng: đóng góp đúng, cần và đủ thông tin
+ Phương châm chất: đóng góp những điều xác thực
+ Phương châm quan hệ: Nói những điều liên quan đến vấn đề, không lạc đề
+ Phương châm tình thái: Không nói mơ hồ, tối nghĩa, nói mạch lạc, rõ ràng và gọn
- Hàm ẩn đặc thù: Đây là loại hàm ẩn vi phạm cố ý nguyên tắc hội thoại để khai thác chúng nhằm tạo ra hàm ý Grice đặt tên cho cách dùng này là sự xúc phạm hay là sự khai thác các nguyên tắc cộng tác hội thoại Cơ chế như sau: Khi phát ngôn chệch ra khỏi một nguyên tắc nào đó mà người nghe vẫn tiếp tục lý giải nó sao cho phù hợp với sự cộng tác trong hội thoại
1.3 Vấn đề hư từ tiếng Việt
Hư từ tiếng Việt có số lượng không lớn nhưng việc xác định bản chất của nó không phải đơn giản Từ những năm 70 về trước, nhiều bài viết, nhiều chuyên luận nghiên cứu tiếng Việt đã miêu tả cặn kẽ và sâu sắc về hư từ Với quan điểm ngữ pháp truyền thống, các nhà ngôn ngữ học cơ bản thống nhất: Hư từ chỉ có nghĩa ngữ pháp chứ không có nghĩa từ vựng Nếu chấp nhận hư từ không có nghĩa từ vựng thì sẽ khó lòng giải thích được vô số hiện tượng kiểu sau đây:
Trang 17Tương tự các câu 3, 4, 5, 6 đều có lối thông báo "Chị Hằng ốm" nhưng do các từ
"bị","còn bị" "hãy còn" chi phối nên giữa các câu đó có mức độ ý nghĩa khác nhau Điều đó chứng tỏ rằng: hư từ ngoài nghĩa ngữ pháp còn chứa đựng ngữ nghĩa khác Để trả lời vấn đề
đó, các nhà ngôn ngữ học đã chuyển hướng nghiên cứu khác so với ngữ pháp truyền thống
Đó là hướng nghiên cứu hư từ trong quan hệ của câu (cấu trúc ngữ nghĩa của lời) Khuynh hướng này đã hấp dẫn các nhà nghiên cứu từ cuối những năm 70 đến nay
2 Phạm vi nghiên cứu
Hư từ về phương diện lý thuyết đã được các nhà ngữ pháp, các nhà Logich ngữ nghĩa dày công nghiên cứu và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Vì là một đối tượng nghiên cứu phức tạp nên vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nhất là về ý nghĩa từ vựng của hư từ Từ thực
tế đó, luận án này chúng tôi không đi vào tìm hiểu hư từ về phương diện lý thuyết mà chủ yếu thông qua khảo sát tập truyện ngắn "Ngựa người và người ngựa" để xác định vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan Từ thực tế mô tả ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan, chúng ta sẽ xác định cụ thể vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý Qua đó góp phần chứng minh tính đúng đắn của quan niệm cho rằng hư từ cũng mang
ý nghĩa tự thân, ý nghĩa đánh giá
3 Nhiệm vụ cụ thể
3.1 Thế nào là hàm ngôn, các loại hàm ngôn (qua một số ví dụ cụ thể)
3.2 Phương pháp dùng tiền giả định để xây dựng hàm ý của Nguyễn Công Hoan
- Khái niệm tiền giả định
- Những cơ chế sử dụng các từ: có, những, thôi, kia, mà
3.3 Hành vi ngôn ngữ và hàm ý trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan:
- Khái niệm hành vi ngôn ngữ
- Khái niệm hàm ý ?
- Hành vi ngôn ngữ và việc hình thành hàm ý được sử dụng trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan như thế nào? Câu hỏi, phủ định, chất vấn
Trang 183.4 Hàm ý hội thoại (tình huống hội thoại) trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan 3.5 Vai trò của thứ tự và điểm nhấn (liên quan đến hư từ đặt trước, đặt sau từ
"nhưng") được sử dụng trong ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan
4 Kết luận chung
IV Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
1 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, trong quá trình tiếp cận và phân tích đối tượng, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp, đặc biệt là các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng linh hoạt để hỗ trợ, tác động lẫn nhau khó có thể tách bạch rạch ròi, trong đó có thể nêu lên mấy phương pháp chủ yếu được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu như sau:
- Đọc và tiếp cận về lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
- Tìm đọc những công trình nghiên cứu, vận dụng vào từng tác giả, tác phẩm cụ thể Phương pháp này giúp chúng tôi nắm được tình hình, bao quát thống kê, phân loại tài liệu và tích lũy các sự kiện
- Tìm đọc những bài nghiên cứu ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan
- Nhìn nhận, phân tích lại những điều đã viết ra về Nguyễn Công Hoan và bổ sung những nhận định mới dưới góc độ logich - ngữ nghĩa - ngữ dụng
- Đọc, thống kê phân loại, tiến hành phân tích, khảo sát các hiện tượng ngôn ngữ cụ thể trong tập truyện ngắn "Ngựa người và người ngựa" của Nguyễn Công Hoan
2 Nguồn tài liệu tham khảo
- Tài liệu tham khảo chủ yếu là các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trong nước và một số tài liệu dịch của nước ngoài
- Sự kiện ngôn ngữ được trích dẫn từ 36 truyện ngắn chọn lọc của Nguyễn Công Hoan
in trong tập "Ngựa người và người ngựa" (NXB Văn học - Hà nội -1988)
- Tìm đọc những công trình, bài viết về Nguyễn Công Hoan
Trang 19V Đóng góp của luận án
1 Về mặt lý luận
- Qua miêu tả, phân tích cách sử dụng từ hư trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, luận án góp phần xác định rõ hơn vai trò, tác dụng của hư từ trong việc hình thành hàm ý
- Nêu lên một số cơ chế sử dụng hư từ để hình thành hàm ý mà Nguyễn Công Hoan
đã thể hiện trong các tác phẩm của mình Qua đó góp phần nhận định về phong cách ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Công Hoan
- Có thể hình thành một số phương pháp, nói đúng hơn là thao tác phân tích "hư từ" dưới góc độ ngữ nghĩa cú pháp, ngữ nghĩa - ngữ dụng
Trang 20CHƯƠNG I: THẾ NÀO LÀ HÀM NGÔN, CÁC LOẠI HÀM NGÔN
I- Thế nào là hàm ngôn?
1 Khái niệm: Nếu như tiền giả định đã được các nhà nghiên cứu quan tâm giải quyết
thì hàm ngôn lại chưa được chú ý bao nhiêu Vài chục năm gần đây, một số nhà nghiên cứu
đã bắt đầu chú ý đến lĩnh vực này Tiêu biểu như O.Ducrot, H.P.Grice
- O Ducrot cho rằng: hàm ngôn là nói mà coi như không nói: "nói một cái gì đó, mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói Có nghĩa là có thể vừa có được hiệu lực của nói năng, vừa có được sự vô can của im lặng"(1) Như vậy theo Ducrot, nghĩa của hàm ngôn không được hiện rõ từ bề mặt của phát ngôn (bao hàm, hàm súc, hàm ẩn ), nó tương đương với yếu tố im (tức là in = "vào trong") của tiếng Anh
Ducrot quan niệm coi tiền giả định là hàm ngôn và là một hình thức hàm ngôn quan trọng nằm ngay trực tiếp trong bản thân " nghĩa từ ngữ" của lời Vì vậy, ông đã xếp tiền giả trong nghĩa phát ngôn của hàm ngôn Quan điểm này của ông được thể hiện ở lược đồ lưỡng phân
Hiển ngôn Nghĩa phát ngôn
Tiền giả định (presup pose') Hàm ngôn (im plicite)
B (nói): Có chai bia đây Có hàm ngôn(2)
A (Khen): Cậu thông minh thật
Trang 21- Paul Grice đã phân biệt giữa hiển ngôn và hàm ngôn Nói một cách hiển ngôn là
"nói điều gì đó" (to get some one to think Some thing) Như vậy theo Grice, hàm ngôn là khi nói một điều này nhưng thực ra là muốn nói đến một điều khác Quá trình đó tuân theo
"Nguyên tắc cộng tác hội thoại" và một loạt "phương châm": lượng, chất, quan hệ và cách thức
- Catherine Kerbrat - Orecchioni - Bà đã thiên về định nghĩa của Drucrot: "Hiển ngôn
là cái người ta nói ra" và hàm ngôn là "Cái người ta muốn nói mà không nói ra"
- C.J.Fill more đồng nhất tiền giả định và hàm ngôn
Ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học mà tiêu biểu là Hoàng Phê, Nguyên Đức Dân,
Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ đã phát triển các lý thuyết của Ducrot, Grice và đã có nhiều đóng góp trên địa hạt này Các tác giả đã vạch ra mối quan hệ, cơ chế hình thành hàm ý trên
cứ liệu Tiếng Việt
- Hoàng Phê cho rằng: "Ngôn ngữ cũng là bất lực, nếu hiểu ngôn ngữ chỉ là hiển ngôn Nhưng cái kỳ diệu của ngôn ngữ là cho phép người ta không chỉ nói bằng hiển ngôn,
mà còn có thể nói bằng hàm ngôn, tức là bằng cách để cho người nghe tự nói với mình"(1)
Con đường để hình thành hàm ngôn là quá trình suy ý của hoạt động tư duy con người Quá trình đó có thể khái lược như sau:
Từ tiền giả định và hiển ngôn suy ý để hiểu hàm ngôn
- Nguyễn Đức Dân cũng tán thành quan niệm về hàm ngôn của Hoàng Phê và cho rằng: hàm ngôn là "Khi chúng ta nói điều này nhưng muốn người nghe hiểu ra một điều khác hoặc hiểu thêm một điều khác"(2) Tác giả cho rằng thuật ngữ hàm ngôn cốt để đối lập với thuật ngữ hiển ngôn và để hiểu hàm ngôn cần phải hiểu tiền giả định, hiển ngôn và những khái niệm có liên quan (hàm ý, suy ý, ngụ ý, hiểu ngầm, ám chỉ ) Trong mối quan hệ giữa hàm ngôn và tiền giả định, Nguyễn Đức Dân quan niệm tiền giả định nằm trong hàm ngôn: hàm ngôn: TGĐ và hàm ngôn: hàm ý ngôn ngữ
- Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó, từ ý nghĩa tường minh cùng với tiền giả định của nó"(3)
Về mối quan hệ giữa tiền giả định với hàm ngôn, Đỗ Hữu Châu lại quan niệm cả hai cùng đều nằm trong một phạm trù đó là phạm trù hàm ẩn
Tóm lại: Mặc dù chưa hoàn toàn thống nhất về khái niệm thế nào là hàm ngôn nhưng
giữa các tác giả đều nhất trí rằng: giữa tiền giả định, hiển ngôn và
Trang 22hàm ngôn có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau để tạo nên ngữ nghĩa của lời." Tiền giả định là cơ sở cho hiển ngôn và cùng hiển ngôn là cơ sở cho hàm ngôn" (Hoàng Phê)
và vì lẽ đó giữa chúng có một sự thống nhất Như vậy hàm ngôn là cái không được trực tiếp nói ra mà nó được suy ý từ tiền giả định và hiển ngôn
2 Thuật ngữ hàm ngôn cốt để đối lập với thuật ngữ hiển ngôn
Sự phân biệt giữa hàm ngôn với hiển ngôn khá rõ ràng, ít có sự tranh cãi Nghĩa hiển ngôn (nghĩa tường minh) và nghĩa hàm ngôn khác nhau ở cách thức thể hiện và cách thức lĩnh hội
Cách thức thể hiện của nghĩa hiển ngôn là trực tiếp mẫu câu và từ ngữ, vì thế khi xác định nghĩa hiển ngôn chúng ta phải dựa vào nghĩa của mẫu câu và nghĩa của từ ngữ trong phát ngôn
Ví dụ 3: Thôi, nhưng mà chốc nữa chúng mày phải gội đầu bằng xà phòng nhé!
(NCH)
Nghĩa hiển ngôn ở đây là câu cảm thán có chứa động từ "Thôi" và cụm từ đối lập
"nhưng mà" của Thầy giáo nhằm ra lệnh cho học sinh Đó là cơ sở để suy ra sự tha thứ, sự nhượng bộ đối với một quyết định không tha thứ, không nhượng bộ trước đó
Cách thức thể hiện của nghĩa hàm ngôn là gián tiếp không lộ ra nguyên văn trên mẫu câu và từ ngữ và vì thế cách thức lĩnh hội của người tiếp nhận phải suy ra từ mẫu câu và từ ngữ
Ví dụ 5: Đọc đoạn văn nói về người con trong ngày đưa tang mẹ: " Mấy hôm nay, vì thương mẹ quá thành ra ốm yếu, họ hàng sợ người ấy lăn ra, cho nên phải cử người đi kèm, vừa che ô, vừa ôm chặt lấy ngang lưng cho đỡ khịu
Trang 23Người ta sợ hiếu chủ thương mẹ quá mà đập đầu vào quan tài lỡ chết thì hoài, vì lúc trong bụng bối rối hay sinh liều, nên phải bện cho cái nồi rơm để chít quanh đầu Thì có đập mạnh đến đâu cũng không đến nỗi sợ vỡ sọ" (Nguyễn Công Hoan)
Ý nghĩa tường minh (hiển ngôn): Ca ngợi người con thương mẹ, nhưng đặt trong hoàn cảnh giao tiếp "người con đã hắt hủi và đuổi mẹ ra khỏi nhà trong đêm tối" thì câu 5 có ý nghĩa hàm ngôn là: mỉa mai sự giả dối của kẻ bất hiếu
Ví dụ 6: Anh ta đã cai thuốc lá rồi
Hiển ngôn: Thông tin về một sự kiện "Anh ta đã cai thuốc lá"
Câu 6 có thể có nhiều ý nghĩa hàm ngôn khác nhau Vì rằng có nhiều tình huống dẫn tới câu nói ấy:
<1> Anh ta thường bị ho, ăn ít, ngủ ít, người gầy gò, ốm yếu, bác sĩ chỉ rõ nguyên nhân là do hút nhiều thuốc lá và khuyên nên bỏ thuốc để giữ gìn sức khỏe Tình huống này, câu 6 có thể có hàm ngôn: " Anh ta khỏe ra" vì anh ta đã cai thuốc lá rồi
<2> Anh ta nghiện thuốc, mỗi ngày hút 2-3 gói Nhiều lần chưa đến kỳ lương nhưng anh ta đã phải vay mượn tiền để mua thuốc Vợ anh thường xuyên phàn nàn sự tốn kém về khoản thuốc lá Trong tình huống này, câu 6 có thể có hàm ngôn: "Hiện nay anh ta không túng tiền nữa"
<3> Sau nhiều lần bị các cô gái chê về tội hút thuốc lá [Anh ta cạch đến già] Anh ta
đã cai thuốc rồi → có hàm ngôn "Anh ta có hy vọng lấy được vợ"
Như vậy những dấu hiệu hình thức định hướng cho ta rút ra hàm ngôn là cái "lẽ thường”, các chủ đề, hướng lập luận, các hành vi ở lời
* Tóm lại: Sự phân biệt giữa hiển ngôn và hàm ngôn là sự phân biệt giữa cái nói ra trực tiếp (hiển ngôn) với cái nói ra gián tiếp (hàm ngôn) Hàm ngôn được suy ra từ hiển ngôn Không có hiển ngôn thì không có hàm ngôn và khi một lời có hàm ngôn thì ý hàm ngôn là quan trọng, là ý chính, còn hiển ngôn chỉ là phương tiện Tuy nhiên cần lưu ý trong một số trường hợp tiền giả định có thể trở thành hàm ngôn
3 Hàm ngôn có sự khác biệt với tiền giả định
Hàm ngôn và tiền giả định có điểm tương đồng là chúng không được nói ra một cách tường minh và chỉ có thể nắm bắt được nhờ quá trình suy ý Chính điểm này cho nên nhiều người đã đồng nhất tiền giả định với hàm ngôn, tiền giả định chính là hàm ngôn Để dễ phân biệt, từ đây chúng ta dùng thuật ngữ Tiền giả định và thuật ngữ hàm ngôn với nghĩa là hàm ý Chúng ta có thể phân biệt giữa hàm ý và tiền giả định ở một số điểm sau đây:
Trang 24- Tiền giả định là những điều đã biết rồi, bất tất phải bàn, không có chức năng và giá trị thông báo Hàm ngôn là cái nói ra gián tiếp và phải vận dụng nhiều yếu tố (kiến thức, kinh nghiệm, tâm lý, trình độ, tư duy ) mới rút ra được những điều người ta cần nói Hàm ngôn
có thể gây nên sự bàn cãi vì nó mang thông tin mới, có chức năng và giá trị thông báo Đây chính là sự phân biệt giữa hai cấp độ: cái không nói ra với cái nói ra gián tiếp
Ví dụ 7: Từ nay, Ông lại có phép đi giày vào quan như thường (NCH)
Tiền giả định: trước đó Ông đã bị cấm đi cả giày vào hầu quan
Câu 7 có thể có những hàm ngôn sau:
<1> Tâm trạng hả hê của ông Nghị khi được quan cho phép đi giày vào huyện đường
<2> Mỉa mai chua chát những ông Nghị hữu danh vô thực, là người mang danh đại biểu của dân nhưng lại nhu nhược, đớn hèn
- Hàm ngôn có tính năng động hội thoại cao hơn tiền giả định cho nên có tác dụng thúc đẩy cuộc thoại tiến lên đạt mục đích Còn tiền giả định có tính năng động hội thoại thấp, thậm chí cản trở cuộc hội thoại tiến lên
Ví dụ 8 (1): Anh ta đã cai thuốc rồi → giả định đây là một tham thoại của A, cuộc thoại được tiếp tục:
B: Thế à ? Bây giờ hẳn anh ta không phải đi vay từng đồng như trước nữa nhỉ
A: Cũng chẳng khá lên được, bỏ được thuốc thì lại nghiện Cà fê Ba đấm bằng một đạp
Như thế cuộc thoại tiến lên dựa vào hàm ngôn "anh ta có thể tiết kiệm được tiền" Tiền giả định thì ngược lại
A: Anh ta đã cai thuốc lá
B: Anh ta có hút thuốc lá bao giờ đâu mà cai
A: Có chứ, gần đây anh ta hút nhiều lắm
B: Thế mà tôi không biết
Cuộc thoại diễn biến trên tiền giả định "Anh ta có hút thuốc lá" và câu chuyện anh ta cai thuốc lá đã dừng lại, hoặc phải chuyển sang hướng khác, chẳng hạn "Anh ta cai có vất vả lắm không?"
- Hàm ngôn, hàm ý đặc biệt là hàm ý hội thoại phụ thuộc tình huống giao tiếp nên một câu có thể có nhiều tình huống khác nhau Ngược lại tiền giả định không thay đổi Chẳng hạn như câu 8, ngoài các hàm ngôn [Anh ta khỏe ra] hoặc
Trang 25[Hiện nay, anh ta không túng tiền nữa], luôn luôn có thể tạo ra các tình huống khác nhau để tạo ra những hàm ngôn khác
Ví dụ 8: Anh ta đã cai thuốc lá rồi
Tiền giả định A: [trước đây] anh ta đã nghiện (hút) thuốc lá
Bây giờ chúng ta hãy tạo một câu dạng "nguyên nhân - kết quả": "Vì A nên B"
8(a) Vì anh ta hút thuốc nhiều nên anh ta bi các cô gái chê
A B 8(b) Vì anh ta hút thuốc nhiều nên phòng anh ấy luôn luôn nồng nặc hơi thuốc,
A còn trong nhà chỗ nào cũng thấy mẫu thuốc lá
B Thế thì câu 8, nếu đặt sau câu 8(a) sẽ có một hàm ngôn khác với hàm ngôn cũng của câu (8) nếu đặt nó sau câu 8(b) và cả hai đều khác với hàm ngôn
(1) : Anh ta đã khỏe ra
(2) : Anh ta không túng tiền nữa
Tiếp tục ta có: 8(a) + Nhưng anh ta đã cai thuốc rồi
(8) Trong ngữ cảnh này, câu(8) có hàm ngôn là "Anh ta có hy vọng lấy được vợ”
8(b) + Nhưng anh ta đã cai thuốc rồi
(8) Trong ngữ cảnh này câu (8) lại có hàm ngôn là "Bây giờ phòng của anh ấy rất sạch và thoáng"
Ở ví dụ 8(a) và 8(b), vì tiền giả định A của câu (8) là tiền đề của loại câu "Vì A nên B" mà câu 8 có hàm ngôn là B
Ở 8(c) thì do cấu trúc "Thấy X nên (8) [Anh ta đã cai thuốc rồi] mà hình thành hàm ngôn "Anh ta sợ (bệnh) ung thư phổi"
+ Cần lưu ý điều sau: Qua các ví dụ (8a), (8b) ta thấy: tiền giả định có thể là nguyên nhân tạo ra hàm ngôn, ví dụ:
TGĐ (9) "Con anh chị hết bệnh chưa?” Anh (ta) đã có con
Chị
Trang 26Nếu câu (9) này đặt trong tình huống một người muốn giấu "lý lịch" của mình đi thì tiền giả định "đã có con" lại tạo ra hàm ngôn Chẳng hạn:
- Với một thanh niên đang tán các cô gái ở một nơi xa lạ:
(Với các cô gái): Anh ta đã có con rồi đấy các cô liệu mà
Hàm ngôn
(Với chàng thanh niên nọ): Nhắc nhở sự đứng đắn
- Với một cô gái muốn (nhận lời) dự thi hoa hậu ở nơi xa mà mình mới chuyển về công tác
(Với ban tổ chức): Cô ta đã có con rồi đấy đừng mời dự thi nữa Hàm ngôn
(Với cô gái): Nhắc nhở sự trung thực, chân thành
Như vậy, cần phân biệt hàm ý hội thoại và hàm ý ngôn ngữ Hàm ý hội thoại phụ thuộc vào tình huống giao tiếp, còn hàm ý ngôn ngữ là do cơ cấu (kết cấu) ngôn ngữ đưa lại
Hàm ngôn không giữ nguyên khi phát ngôn từ khẳng định sang phủ định Hàm ngôn
có thể đúng và cũng có thể sai, khi ý nghĩa tường minh chuyển từ sai sang đúng hoặc ngước lại Tiền giả định thì ngược lại không thay đổi và giữ nguyên giá trị
- Tiếp tục ví dụ (8) " Anh ta đã cai thuốc" → hàm ngôn "Anh ta khỏe ra" Hàm ngôn
"Anh ta khỏe ra" có thể sai khi nói " Anh ta không cai thuốc lá nhưng anh ta vẫn khỏe ra"
Tiền giả định [Anh ta đã nghiện (hút) thuốc lá] không thay đổi ;
- Hàm ngôn cũng không giữ nguyên khi hành vi ngôn ngữ thay đổi đối với ý nghĩa tường minh còn tiền giả định vẫn giữ nguyên:
(8) "Anh ta đã cai thuốc lá" - Hàm ngôn 1 Anh ta khỏe ra
2 Anh ta không túng tiền nữa
3 Anh ta có hy vọng lấy được vợ
10 "Anh ta có cai thuốc lá không ?" → hàm ngôn thay đổi so với (8) 10(a) "Hãy cai thuốc lá đi !" → hàm ngôn thay đổi so với (8) và 10
Tiền giả định ở các câu 8,10,10a không thay đổi "Anh ta nghiện thuốc lá"
- Hàm ngôn có thể khử một cách dể dàng nhờ kết tử đối nghịch còn tiền giả định thì không
11 Tuy Anh ta đã cai thuốc lá nhưng anh ta không khỏe ra
12 Mặc dù anh ta đã cai thuốc lá nhưng anh vẫn túng tiền
13 Tuy anh ta đã cai thuốc lá nhưng các cô gái vẫn từ chối anh ta
Các câu 11,12,13 vẫn được chấp nhận nhờ các kết tử và kết tố "Tuy nhưng", "mặc dù nhưng" để khử các hàm ngôn của câu 8:
Trang 271 Anh ta khỏe ra
2 Anh ta không lúng túng về tiền nữa
3 Các cô gái không từ chối anh ấy
Hiển ngôn và tiền giả định chỉ nảy sinh hàm ngôn khi đặt trong những ngữ cảnh cụ thể
14 Anh ta lại đến
Tiền giả định: Trước đó, anh ta đã (nhiều lần) đến
Hiển ngôn: bây giờ anh ta lại đến
1 là cô gái đang bị anh ta "tấn công" a.Không bằng lòng với việc anh ta đến
ngôn
2.là cô gái đang chờ anh ta đến[anh ta lại đến (rồi)]→ (c) vui mừng khi
anh ta đến 3.Bà mẹ (hoặc bạn gái) đang trao đổi với cô ta, hoặc đang trao đổi với nhau về
sự kiện cô ta có người yêu thường xuyên đến chơi và rất nhiệt tình với cô ta [con người này thật đáng khen Hiếm thấy người kiên trì, bền bỉ như vậy !]
Vậy câu 11 lúc này có hàm ngôn là: khen ngợi anh ta
Từ ví dụ trên đây, chúng ta có thể nói rằng: "Hiển ngôn và Tiền giả định là cơ sở căn bản cho ta suy luận (biện luận hoặc liên tưởng) ra hàm ngôn
Khi nói hàm ngôn được suy ra từ ý nghĩa tường minh và tiền giả định, chúng ta không loại trừ trường hợp hàm ngôn được suy ra từ hàm ngôn do ý nghĩa tường minh của tiền giả định mà có
15 Đoạn đối thoại giữa cụ Cử bố với cậu học trò Hoàng Quý (Sóng Vũ Môn -NCH)
A (cụ Cử): Anh có quen thằng Tư nhà tôi không? → không có hàm ngôn
B (Hoàng Quý): Lạy cụ lớn, không
A Sao lại không? Nó vẫn tập văn với anh một trường, thường nó vẫn nói chuyện với tôi rằng anh kỳ nào cũng được bình kia mà? → không có hàm ngôn
B Lạy cụ lớn, cậu chúng con cao xa, con là hàn sĩ, vậy chúng con không dám làm quen → không có hàm ngôn
A Anh không quen nhưng cũng biết nó đấy chứ ?
B Bẩm ban nãy con mới biết, vì cậu lính bảo con → Không có hàm ngôn
A Sao? nó nói chuyện gì, mà nó bảo anh những gì ?
Phát ngôn của A là một loạt những câu hỏi chất vấn → bộc lộ thái độ lo lắng có phần hốt hoảng của người nói trước câu trả của B (cậu học trò) Từ đó có thể có hàm ngôn: Cụ Cử đang có một việc làm thiếu trong sáng và rất lo sợ sự việc bị bại lộ.(1)
Trang 28B Bẩm cậu ta nói, nghe đâu vì chuyện văn bài thế nào ở trường thầy Cử con, mà cậu
Tư con với con sinh sự cãi nhau, nên cụ lớn đòi vào Nay con mới biết Tư Công tử là lệnh lang cụ lớn
Ở đây B đã thực hiện một hành vi nói dối Hàm ngôn: B đã lỡ lời vì vậy phải nói dối
để tránh hậu quả khôn lường (2)
Trong trường hợp này hàm ngôn (2) được suy ra từ hàm ngôn (1)
Hàm ngôn chẳng những phụ thuộc sâu sắc vào hoàn cảnh giao tiếp mà còn dựa vào các lẽ thường, còn tiền giả định thì không
(16) Ví dụ có một phát ngôn: "Thưa bà, xe ngày tết vẫn thế, vả lại bây giờ còn ai kéo nữa mà bà giả rẻ thế"
Phát ngôn này đi sau tiền ngôn: "Sao anh lấy đắt thế? hai hào!" (NCH)
Hàm ngôn: Giá như vậy là vừa, vì hoàn cảnh lúc này là ngày tết, gần giờ giao thừa Giá cả ngày tết thường là cao, đó chính là lẽ thường của phát ngôn (16)
Tiền giả định (16) luôn luôn là "Giá cả như vậy là không đắt, là phù hợp" Đó là cơ sở
cơ sở cho hiển ngôn và cùng với hiển ngôn là cơ sở cho hàm ngôn"(1)
Theo quan niệm của Hoàng Phê có thể sơ đồ hoa cấu trúc ngữ nghĩa của lời như sau:
Tiền giả định: Không có giá trị thông báo Cấu trúc nghĩa Xét về giá Hiển ngôn Cái đã biết: Không có giá tri thông báo của lời trị thông báo Cái mới: Có giá trị thông báo
Hàm ý Hàm ngôn: Có giá trị thông báo
(Trọng tâm) Ngụ ý :
có thông báo
Trang 29II- Các loại hàm ngôn
Có nhiều nhà nghiên cứu đã phân loại hàm ngôn và cơ bản thống nhất chia hàm ngôn thành hai loại: Tiền giả định và hàm ý
1.2 Định nghĩa Tiền giả định
Có hai loại tiền giả định, tiền giả định ngữ nghĩa và tiền giả định ngữ dụng
a.Tiền giả định ngữ nghĩa
a1.Định nghĩa ngữ nghĩa
Quan hệ về giá trị chân lý giữa một câu A và tiền giả định B của nó nhƣ sau
Dù A có giá trị đúng hay sai thì tiền giả định B của nó vẫn luôn có giá trị đúng
A → B
đ đ
s đ
Theo lối phát biểu của Frege, Nguyễn Đức Dân đã định nghĩa: " Câu A có TGĐ là B,
nếu giá trị đúng của B là điều kiện cần cho A có giá trị chân lý, đúng hoặc sai" (1)
Trang 30
a2 Định nghĩa logich
B có giá trị đúng, dù A có giá trị đúng hay sai Nhưng khi B có giá trị sai thì A nhận giá trị trung hòa (zêrô hay rỗng) kí hiệu (#) lúc này người ta nói A vô nghĩa (theo logich đa trị)
A → B
đ đ
s đ
# s
Ví dụ: The king of France is bald
( Ông Vua nước Pháp hói trán)
Câu trên được Russell phát biểu năm 1905, lúc này nước Pháp không còn Vua Theo Logich đa trị, câu này vô nghĩa, còn lôgich hai trị thì câu này sai và câu phủ định của nó mơ
b1 Tính chuẩn xác của một câu
Một câu nói ngoài giá trị chân lý đúng hay sai còn là tính chuẩn xác Đó là tiêu chuẩn
để phân biệt câu với câu nói: "Sự miêu tả ngữ nghĩa một câu sẽ cho ta nghĩa của nó, còn sự miêu tả ngữ nghĩa của câu nói sẽ cho ta ý nghĩa của câu đó Nghĩa của một câu được xác định qua hệ thống ngôn ngữ nhưng ý nghĩa của một câu còn được xác định thông qua các chỉ dẫn ngữ dụng của câu đó"(1)
So sánh hai đoạn văn sau đây:
(18) "Chửi, Kêu, Đấm, Đá, Thụi, Bịch, cẳng chân, cẳng tay” (NCH)
(19) "Vẫn chửi Vẫn kêu Vẫn đấm Vẫn đá Vẫn thụi Vẫn bịch Vẫn cẳng chân Vẫn cẳng tay " (NCH)
Giá trị chân lý của các câu (18),(19) hoàn toàn giống nhau vì chúng đều miêu tả một loạt hành động, nhưng giữa chúng có sự khác nhau về ý nghĩa sử dụng Yếu tố để tạo nên sự khác nhau giữa chúng là do các câu 19 có sử dụng từ "Vẫn"
Trang 31- yếu tố chỉ dẫn ngữ dụng Từ "vẫn" được dùng để xác định những hành động này là sự tiếp tục của những hành động liên tiếp trước đó Các câu 19 chỉ chuẩn xác khi thỏa mãn điều kiện trước đó có hàng loạt hành động tương tự Nếu không có điều kiện đó thì các câu 19 không chuẩn xác Như vậy, mỗi câu nói ngoài giá trị chân lý đúng hoặc sai còn có giá trị chuẩn xác ( hợp hoặc không hợp)
b2 Tiền giả định ngữ dụng
A có một tiền giả định là B khi A là một phát ngôn được chấp nhận thì người nói giả định rằng B và tin rằng người nghe cũng nghĩ là B
Quan sát cuộc đối thoại của A và B sau đây
(20) A (hỏi): Anh tiếp tục hút thuốc à ?
(21) B đáp (một trong các câu sau)
(a) Vâng
(b) Trước kia thì có,nhưng bây giờ tiền đâu mà hút.Thuốc này mua cho Bố tôi
(c) Đây là lần đầu tiên tôi hút
(d) Chưa bao giờ tôi hút cả Thuốc này mua cho Bố tôi
Câu 20 có TGĐ: "Trước kia anh ta đã hút (nghiện) thuốc lá"
Câu 21a, b người đáp xác nhận TGĐ của câu 20 là đúng, nghĩa là câu hỏi 20 nêu ra là chuẩn xác (hợp)
Câu 21c, d người đáp cho rằng TGĐ nêu ra ở câu 20 là sai, nghĩa là câu hỏi 20 nêu ra không chuẩn xác (không thích hợp)
Như vậy, theo quan điểm của B (người đáp) thì:
21a: Câu hỏi 20 là đúng và chuẩn (hợp)
21b: Câu hỏi 20 là sai và chuẩn (hợp)
21c: Câu 20 là đúng và không chuẩn (không hợp)
21d: câu hỏi 20 là sai và không chuẩn (không hợp)
b3.Tiền giả định ngữ dụng được coi là đúng ở thời điểm phát ngôn
Nghĩa là giá trị chân lý chỉ được xác định trong một thời điểm nhất định
Đọc truyện ngắn " Hé! Hé ! Hé!" của Nguyễn Công Hoan về việc mua bán thóc giữa
bà Chánh Tiền với bà cụ lớn Tuần
22 Lạy cụ lớn, cũng còn độ hơn nghìn bạc, chứ chả mấy ạ
23 Thật đấy, cho tôi đong một nghìn nhé
(Nhưng mà này, chị Chánh ạ, tôi nhận đong của bà chị một nghìn đồng bạc thóc, nhưng tôi hãy cứ gửi bà chị ở nhà đây.)
Ba tháng sau thóc lúa giá cao lên vùn vụt bỗng bà Chánh Tiền nhận được bức thư có đoạn:
Trang 3224 nhưng tôi chỉ lấy tròn nghìn rưởi mà thôi vậy chỗ một nghìn, tôi xin nộp lại bà chị, còn năm trăm lãi thì đưa cho tôi
Nghe xong thư, bà Chánh Tiền nhăn nhó, rồi thở dài mãi Lý do bà Chánh Tiền nhăn nhó vì bị mất trắng năm trăm đồng do mưu mẹo xảo quyệt - lợi dụng thời điểm phát ngôn để
ăn không tiền người khác của bà cụ lớn Tuần
Ví dụ trên đây đã chỉ rõ ràng TGĐ ngữ dụng chỉ đúng ở thời điểm phát ngôn Nếu thời điểm phát ngôn thay đổi thì TGĐ ngữ dụng cũng có thể thay đổi
b 4.Tiền giả định ngữ dụng còn được xác đinh qua ngữ cảnh (O.Ducrot -1972, Ch Baylon, P.Farbre, C.J.Fillmore và một số tác giả khác đã nghiên cứu vấn đề này) Thông qua ngữ cảnh hoặc từ các tình huống giao tiếp cụ thể có thể nhận nhiều tiền giả định khác nhau, như TGĐ tồn tại, TGĐ giao tiếp, TGĐ từ vựng và TGĐ thông báo qui chiếu (phân tích ví dụ:
"Ông Vua nước Pháp hói trán" để chứng minh) G.V Kolohanskif 1980 đã mở rộng hơn khái niệm TGĐ Như vậy, theo quan niệm của các nhà nghiên cứu trên đây, khái niệm TGĐ quá rộng, khá tùy tiện, hầu như mọi hàm ý đều trở thành TGĐ ngữ dụng Điều này đòi hỏi khi xác định TGĐ ngữ dụng phải luôn luôn gắn liền với các tình huống giao tiếp cụ thể
1.4 Phân loại tiền giả định
Do có quan niệm không giống nhau và có những cách định nghĩa khác nhau dẫn đến cách phân loại TGĐ khác nhau (xem cách phân loại của R Zuber 1972, R Martin 1976, Hoàng Phê 1975, Pocheptsop 1977 ) Tuy nhiên giữa các tác giả đó cũng có nhiều điểm gặp nhau Chúng tôi cho rằng cách phân loại sau đây là hợp lý
a Tiền giả định tồn tại và tiền giả định không tồn tại
(25) Kepler đã chết trong cảnh nghèo khổ
TGĐ của câu 25: Tồn tại một người tên là Kepler
(26) " Tôi muốn mợ vui vẻ mà đi" (NCH)
Câu 26 có hai tiền giả định: Tiền giả định tồn tại: Có hai người (Tôi và mợ) - đại từ xứng hô và tiền giả định không tồn tại: Người chồng mong muốn người vợ phải vui vẻ ra đi
Lưu ý những động từ hay tạo nên TGĐ không tồn tại: đề nghị, mong muốn, hứa, hẹn,
ao ước
b Tiền giả định từ vựng Ý nghĩa và chức năng của từ qui định điều kiện sử dụng
chúng nói cách khác TGĐ được xác định thông qua từ Ví dụ: (2) " Cụ Chánh Bá mất đôi giày" Từ "mất" đã cho biết câu 27 có TGĐ "Cụ Chánh Bá có đôi giày"
Trang 33Lưu ý: Những động từ hay gây ra TGĐ từ vựng: đồng ý, ngại, hy vọng, mất Căn cứ vào ý nghĩa của từ, chúng ta có hai kiểu TGĐ từ vựng.(1)
- TGĐ đại cương: nói về những điều thuộc về các nét nghĩa đại cương trong vốn từ Tiếng Việt như: Sinh vật, vô sinh, người, đực, cái, trẻ, già
- TGĐ đặc thù: Đòi hỏi sự bình luận về các từ được nhắc tới Sự phân biệt hai kiểu từ vựng như trên cho phép ta phân biệt được sự thiếu từ một cách hệ thống với sự thiếu từ ngẫu nhiên của một ngôn ngữ khi so sánh với ngôn ngữ khác
Căn cứ vào chức năng từ loại, có thể chia thành tiền giả định thực từ và tiền giả định
hư từ.(2)
c.Tiền giả định phi từ vựng là do tổ chức của phát ngôn diễn đạt, không gắn với ý
nghĩa hoặc chức năng của từ Thay đổi tổ chức cú pháp của phát ngôn thì TGĐ của phát ngôn
sẽ thay đổi
(28) " Anh cu coi nhẹ nghĩa vợ chồng, tình cha con"(NCH)
TGĐ của câu 28 là "anh cu đã có vợ, có con” Nếu thay đổi phát ngôn 28 thành
"Nghĩa vợ chồng, tình cha con sâu nặng", thì TGĐ của câu 28 không còn nữa
d Tiền giả định trong quan hệ với tiêu điểm
Khái niệm tiêu điểm được hiểu: "Trong một câu khi điểm nhấn rơi vào từ nào thì trọng tâm thông báo sẽ rơi vào từ đó Điểm nhấn mạnh này trở thành tiêu điểm của câu đã cho Một khi tiêu điểm mang trọng tâm thông báo của câu thì phần còn lại của nó không trở thành thông báo chủ yếu nữa và vì thế nó trở thành TGĐ của câu ấy"(3)
29a "Ai đã mua quyển sách này ở Huế"
29b "Ba đã mua quyển sách này ở Huế" → lượng thông tin mới là "Ba"
30a "Ba đã mua cái gì ở Huế"
30b "Có ai đó đã mua quyển sách này ở Huế" là TGĐ của (29b)
3la."Ba đã mua quyển sách này ở đâu?"
31b Ba đã mua một cái gì đó ở Huế" → lượng tin mới và trở thành tiêu điểm của (29b) lại là "quyển sách" Như vậy (31b) là TGĐ của câu (2%)
32a." Ba đã mua quyển sách này ở đâu đó"
32b." Ba đã mua một cái gì đó ở Huế" → lượng tin mới và trở thành tiêu điểm của (29b) lại là "quyển sách" (32b) là TGĐ của câu (29b).(4)
Trang 342 Hàm ý
Khái niệm hàm ý được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Việc phân loại hàm ý còn có những điểm chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu nhưng nhìn chung cách phân loại của Grice đã được nhiều người chấp nhận Grice đã chia hàm ý thành hai loại: hàm
ý ngôn ngữ (hàm ý qui ước) và hàm ý hội thoại
2.1/ Hàm ý ngôn ngữ ( hàm ý qui ước )
Hàm ý ngôn ngữ là những ý nghĩa hàm ẩn được diễn đạt bởi các tín hiệu thuộc các cấu trúc hình thức của ngôn ngữ Người nghe để nắm bắt được chúng phải suy ý từ ý nghĩa của các phương tiện ngôn ngữ Có nhiều phương tiện ngôn ngữ tạo ra hàm ý, nghĩa là cứ dùng phương tiện ngôn ngữ nhất định sẽ tạo ra một hàm ý nhất định
Chẳng hạn, trong cấu trúc "A nhưng B" thì từ A có khuynh hướng rút ra kết luận K Tuy nhiên sẽ không có kết luận ấy vì B cũng đúng mà từ B làm ta có khuynh hướng rút ra kết luận ngược lại L "Không K" Cả hai câu này người nói có hàm ý chấp nhận khuynh hướng toàn cục sẽ được rút ra theo khuynh hướng kết luận của B
33 Ngôi nhà này xa quá nhưng có vườn → chấp nhận ngôi nhà
34 Ngôi nhà này có vườn nhưng xa quá → không chấp nhận ngôi nhà
Về các phép so sánh tương đương giữa 2 yếu tố A và B, có 2 phép so sánh mang hàm ý:
I- A không kém gì B → có hàm ý đánh giá cao A
II- A không hơn gì B → có hàm ý nhằm đánh giá thấp A
Như vậy để tạo ra các hàm ý ngôn ngữ sẽ có những cơ chế ngôn ngữ nhất định Cơ chế đó là: lúc đầu dùng lối nói xác định gắn liền với một cảnh huống nhất định dần dần nó độc lập với cảnh huống giao tiếp và trở thành một cơ chế ngôn ngữ để biểu thị một hàm ý ngôn ngữ
2.2 Hàm hội thoại
Hàm ý hội thoại không gợi ra do các yếu tố qui ước mà được xây dựng trên nguyên tắc cộng tác hội thoại Theo Grice, ý nghĩa hàm ý hội thoại xuất hiện để đảm bảo tính cộng tác hội thoại ở độ sâu mặc dù các chỉ dẫn bể mặt có vẻ đi ngược lại với phương châm này
Grice chia hàm ý hội thoại thành 2 kiểu: hàm ý khái quát (hàm ý chuẩn) và hàm ý đặc thù
Trang 35a Hàm ý hội thoại khái quát
Cuộc hội thoại được xây dựng trên cơ sở nguyên lý cộng tác hội thoại Nguyên lý chung này được thể hiện ở 4 phương châm:
- Phương châm về lượng: Đóng góp những thông tin cần, không thừa và cũng không thiếu Ví dụ:
35 Anh ta có hai người con
Hàm ý: Anh ta có và chỉ có hai người con
Về phương châm lượng, nói như (35) là đủ
- Phương châm về chất: Đóng góp những gì xác thực, không nói điều sai hoặc chứng
cứ không đầy đủ
36 "Kìa, tôi tưởng mợ sắm sửa xong rồi Dậy đi, mau !
"Tôi nhức đầu quá, mà cơm cúng ở nhà cũng chưa sắm sửa được gì cả." (NCH)
Câu trả lời của vợ về yêu cầu của chồng có vi phạm về lượng nhưng đảm bảo phương châm về chất nên đã nêu được thông tin cần thiết là từ chối không đi
- Phương châm về quan hệ: Nói những điều có liên quan, không nói lạc đề
37 Đưa tôi quyển sách
Hàm ý: Đưa tôi quyển sách ngay bây giờ (lúc nói)
nói như (37) là đủ vì người nghe họ hiểu "phải đưa ngay" chứ không phải đưa lúc khác
- Phương châm tình thái (nói về cách thức thông báo): nói rõ ràng, rành mạch
38 Đóng cửa lại !
Hàm ý: yêu cầu đóng cửa ngay nên người nghe đã hành động đi đến cửa vặn khóa đóng cửa lại
Đặc điểm của hàm ý hội thoại khái quát là:
+ Khi tạo ra các ý nghĩa hàm ý này, người nói vẫn tôn trọng phương châm và các nguyên tắc cộng tác hội thoại
+ Chúng không bị chi phối bởi hoàn cảnh giao tiếp Người nói dựa vào khả năng mở rộng ý nghĩa của người nghe mà đưa chúng vào phát ngôn của mình
b Hàm ý hội thoại đặc thù Đây là loại hàm ý, theo Grice, do người nói cố tình "xúc phạm" đến một hoặc một số phương châm cộng tác hội thoại, buộc người nghe phải vận dụng thao tác suy ý một cách căng thẳng để đạt được một ý nghĩa nào đó Với những ý nghĩa được suy ra này, người nói mới được xem là vẫn tôn trọng phương châm cộng tác Những hàm ẩn hội thoại đặc thù là cơ sở của một số "biện pháp tu từ"
39 Cuộc đối thoại giữa khách với bà cụ và người vú:
Trang 36- Thưa cụ, tôi hỏi thế này khí không phải, cụ có phải là cụ sinh ra ông chủ tôi không ạ?
- Không phải, con vú già đây!
Người khách vội vàng hỏi ngay người vú:
- Kia có phải là bà chủ không?
- Không phải, đấy là mẹ đấy ! "(Nguyễn Công Hoan)
Trong cuộc đối thoại trên bà cụ đã vi phạm nguyên tắc về lượng nhưng tôn trọng nguyên tắc về chất 44 Người mẹ bị con đối xử chẳng khác gì một vú già "
*** Tóm lại: Mặc dù còn những điểm chưa thống nhất nhưng những kết quả nghiên cứu đã đạt được của các nhà ngôn ngữ học đã có nhiều đóng góp quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn đặc biệt là hoạt động giao tiếp
Trang 37CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP DÙNG TIỀN GIẢ ĐỊNH ĐỂ XÂY
DỰNG HÀM Ý CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
Trong hoạt động giao tiếp người nói (viết) và người nghe (đọc) muốn hiểu được nhau cần dựa trên tiền đề cơ bản tương đối giống nhau về nhận thức, về cách suy nghĩ và suy luận Không có nền chung ấy thì sẽ xảy ra tình trạng "Ông nói gà, bà nói vịt" Theo Hoàng Phê, tiền đề đó là "những hiểu biết đã có sẵn ở mỗi người được "huy động", được thực tại hóa trong trường hợp cụ thể này để hiểu nghĩa của câu Những điều mà phải đúng như vậy thì câu hoặc lời nói mới thật sự có ý nghĩa được gọi là tiền giả định"(1) Như vậy trong giao tiếp, để hiểu được ngữ nghĩa của lời phải trên cơ sở tiền giả định, không có tiền giả định thì không thể suy ý để hiểu nghĩa của phát ngôn Trong chương I (phần II l), chúng tôi đã giới thiệu những khái niệm cơ bản của tiền giả định Ở chương II chúng tôi chỉ nêu lên những tính chất cơ bản của tiền giả định để làm cơ sở cho việc xác định phương pháp dùng tiền giả định để xây dựng hàm ý của Nguyễn Công Hoan
l Một số đặc điểm cơ bản của tiền giả định
1.1 Như đã trình bày ở Đ 1.2,11, Chương I, vấn đề là cần có sự phân biệt tiền giả định
ngữ nghĩa với tiền giả định ngữ dụng Tiền giả định ngữ nghĩa độc lập với hoàn cảnh giao tiếp, còn tiền giả định ngữ dụng lệ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, vì nó gắn chặt với các hành
vi ngôn ngữ Ví dụ:
40 Anh ta đi lấy thuốc cho vợ
Tiền giả định ngữ nghĩa: "Anh ta đã có vợ" Đây là vấn đề bất tất phải bàn, vấn đề cần phải xem xét, bàn bạc kỹ lượng là tiền giả định ngữ dụng vì tiền giả định ngữ dụng phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp Từng hoàn cảnh cụ thể có thể có những tiền giả định ngữ dụng khác nhau, chẳng hạn:
(1) Có một người nào đó hỏi: "Anh ta đi lấy thuốc cho vợ (à) ?"
Trả lời: Vợ con gì Anh ta đi lấy thuốc cho bạn Câu này đã phủ định và điều chỉnh lại TGĐ sai của người hỏi: "Anh ta chưa có vợ"
(2) Nhưng nếu trong tình huống: Có một cô gái trẻ đẹp đến hỏi thăm chàng trai thì câu
"Anh ta đi lấy thuốc cho vợ" sẽ có hai trường hợp xảy ra
(a) Mọi người đều biết cô gái là người yêu của anh ta: Câu 40 có hàm ý trêu chọc cho vui Trong trường hợp này TGĐ câu 40 là "Anh ta chưa có vợ"
(1) Hoàng Phê [57], tr 5
Trang 38(b) Cô gái rất mê anh ta: Câu 40 lúc này có hàm ý: nhắc nhở cô ta hãy cẩn thận kẻo bị mắc lừa vì biết anh ta đã có vợ rồi Trong trường hợp này 37 có thể có TGĐ "anh ta đã có vợ"
1.2 Tiền giả định phải có quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ cấu thành phát ngôn, phải
có những dấu hiệu ngôn ngữ đánh dấu nó
41 "Rồi anh lại phải ra trò" (NCH)
TGĐ1: "Trước đó anh ta đã phải ra trò" được xác định bởi yếu tố ngôn ngữ từ "lại" TGĐ2: "Hành động ra trò của anh nhiều lần liên tiếp nhau và còn phải tiếp tục" được xác định bởi yếu tố từ "rồi"
TGĐ3: "Đó là hành động gây cười của anh ta", được xác định bởi yếu tố ngôn ngữ "ra trò "
TGĐ4: "Đây là một hành động miễn cưỡng, bắt buộc mà bản thân anh ta không thích (muốn)" được xác định bởi từ "phải"
1.3 Tiền giả định có lượng tin thấp vì đó là những hiểu biết mà người nói, người nghe
đều đã biết, là điều bất tất phải bàn và dựa vào đó mà tạo nên ý nghĩa tường minh và hàm ẩn
42 "Chúng mày có ngửi thấy gì không ?" (NCH)
Tiền giả định Có tồn tại một mùi gì đó" là điều bất tất phải bàn Điều cần phải bàn ở đây là tại sao ông giáo lại hỏi với một thái độ nghiêm khắc và có phần bực bội như vậy
Vì có lượng tin thấp nên TGĐ có tính năng động hội thoại thấp, thậm chí cản trở cuộc hội thoại tiến lên (x.mục 3 Chương I)
1.4 Tính bất biến của tiền giả định:
Tiền giả định không thay đổi đối với phép biến đổi cú pháp khẳng định, phủ định, nghi vấn, mệnh lệnh
Do vậy "Tính bất biến của tiền giả định đối với phép phủ định và nghi vấn cho phép
ta một mặt kiểm tra được xem biểu thức B có TGĐ của biểu thức A hay
Trang 39không, mặt khác nhận biết được nhiều hiện tượng ngữ nghĩa và cú pháp rất đặc sắc".(1)
Xét các câu 44
(44) a Ba cũng học toán
b Ba cũng học toán phải không ?
c Không phải Ba cũng học toán
d Ba cũng không học toán
e Cũng không phải Ba học toán
các câu 44 a,b,c đều có TGĐ là một trong hai câu sau
(45) a Ngoài toán ra Ba còn học môn khác
46 " Rồi nó giả vờ làm người điên hoặc người say" (NCH)
TGĐ: Nó không phải là người điên hoặc người say
47 Nó không giả vờ làm người điên hoặc người say
TGĐ: Nó là một người điên hoặc người say thật sự
2 Phương pháp dùng tiền giả định để xây dựng hàm ý của Nguyễn Công Hoan
Trong các sáng tác của mình, Nguyễn công Hoan đã sử dụng TGĐ một cách đa dạng, phong phú để xây dựng hàm ý Trong phần này, chúng tôi chủ yếu đề cập đến phương pháp dùng tiền giả định của một số từ hư để xây dựng hàm ý của nhà văn
Tiền giả định của các từ hư là những tiền giả định do các từ hư trong các phát ngôn tạo nên
Theo quan niệm truyền thống, từ hư là loại từ không có giá trị từ vựng mà chỉ có giá trị quan hệ, làm chức năng liên kết câu, là phụ từ cho các từ loại danh từ - thuật từ
(1)
Nguyễn Đức Dân [19],tr l87
Trang 40Thực tế không hoàn toàn như thế Chúng ta thử hình dung xem, nếu không có từ hư thì khả năng diễn đạt của ngôn ngữ sẽ bị hạn chế và nghèo nàn đến mức nào, chưa nói đến tình trạng ngôn ngữ sẽ không thực hiện được chức năng giao tiếp của con người Rõ ràng từ
hư đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu được trong việc thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Những nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học về ngữ nghĩa của các từ hư
đã mở ra một hướng nghiên cứu mới, mà kết quả của nó gần như trái ngược với quan niệm truyền thống: Ngoài ý nghĩa ngữ pháp từ hư còn mang ý nghĩa logich và ngữ nghĩa Thực tiễn giao tiếp hàng ngày cũng như trong các sáng tác văn học, tần số xuất hiện của các từ hư rất lớn Qua khảo sát tập truyện ngắn "Ngựa người và người ngựa" của nhà văn Nguyễn công Hoan, do nhà xuất bản văn học Hà Nội - 1988, ấn hành, chúng tôi nhận thấy Nguyễn Công Hoan đã dùng phương pháp tiền giả định của từ hư để xây dựng các hàm ý Ba mươi sáu truyện ngắn mà chúng tôi khảo sát có 4486 câu sử dụng các từ hư, trong đó có nhiều câu sử dụng 4-5 từ hư Điều đó đã chứng tỏ vai trò của từ hư trong thực tế giao tiếp Trong phần này, chúng tôi không đề cập hết các từ hư Nguyễn Công Hoan đã sử dụng mà chỉ tập trung chủ yếu vào các từ: Có, những, thôi, kia, mà
2.1 Từ "Có”
Ở đây, chúng tôi không xét từ "Có" là một động từ chuyên dùng với ý nghĩa tồn tại
mà chỉ xét từ "có" với tư cách là một động từ đã bị hư hóa với chức năng mang định hướng nghĩa [+ít] có tính khái quát đại diện cho các nét nghĩa rẻ, thấp, nhẹ Theo GS Nguyễn Đức Dân, "từ Có thể hiện sự đánh giá ít về đối tượng được đề cập tới so với mức thông thường hoặc trong một quan hệ đối chiếu nào đó"(1)
Qua khảo sát ba mươi sáu truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, chúng tôi tập hợp được 421 câu có sử dụng từ "có" với các phương thức dùng khác nhau
2.11 Từ "Có" mang nét nghĩa đánh giá ít về đối tượng được đề cập so với thông thường
Khảo sát các câu sau:
48 Lạy cụ, nhà con thực có mình cháu
TGĐ câu 48: Người nói câu này chỉ có một người con
Hàm ý: Sự hiếm hoi về con cái nên muốn được gửi gắm, học hành một nơi tử tế đáng tin cậy