Trong "Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" ban hành theo Quyết định số 201/2001/QĐ -TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ cũng có nêu rõ yêu cầu đổi mới và hiện đại hóa phư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
TỔ CHỨC SINH VIÊN HỌC TẬP THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN PHÂN TÍCH CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Mã số: CS 2007 19 11
Cơ quan chủ trì: KHOA VẬT LÝ - TRƯỜNG ĐHSP TP HỒ CHÍ MINH
Chủ nhiệm đề tài: TS PHẠM THẾ DÂN
TP HỒ CHÍ MINH - 2008
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
TỔ CHỨC SINH VIÊN HỌC TẬP THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN PHÂN TÍCH CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Mã số: CS 2007 19 11
Cơ quan chủ trì: KHOA VẬT LÝ - TRƯỜNG ĐHSP TP HỒ CHÍ MINH
Chủ nhiệm đề tài: TS PHẠM THẾ DÂN
TP HỒ CHÍ MINH - 2008
Trang 3NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
Người thực hiện đề tài: TS Phạm Thế Dân
Đơn vị phối hợp:
1- Tổ Phương pháp dạy học môn Vật lý: thảo luận và góp ý kiến
2- Khoa Vật lý: Tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và cho phép tiến hành
Trang 4MỤC LỤC
NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP 4
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 4
MỤC LỤC 5
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
PHẦN A: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 7
1- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 7
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 9
3 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 9
PHẦN B: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
1- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 10
1.1- Khái niệm về tổ chức sinh viên học tập theo nhóm 10
1.2- Đặc trưng và bản chất của hình thức tổ chức học tập theo nhóm 10
1.3 - Quá trình hình thành và phát triển hình thức học tập theo nhóm 12
1.4 - Mục đích và tác dụng của học tập theo nhóm 13
1.5 - Cơ sở lý thuyết của việc tổ chức học tập theo nhóm 15
1.5.1- Cơ sở triết học 15
1.5.2- Cơ sở xã hội học 16
1.5.3- Cơ sở tâm lý - giáo dục học 16
1.6 - Các hình thức tổ chức sinh viên học tập theo nhóm [17] 17
1.6.1- Làm việc theo cặp hai sinh viên (Pai work) 17
1.6.2- Làm việc theo nhóm 6 -7 sinh viên (Group work) 18
1.6.3- Nhóm tổ chức theo kiểu ghép nhóm (Jipsaw) 18
1.6.4- Nhóm tổ chức theo kiểu kim tự tháp (Pyramid) 19
1.6.5- Nhóm tổ chức theo kiểu hoạt động trà trộn (Mingling Activites) 19
Trang 51.7 Quy trình tổ chức sinh viên học tập theo nhóm 19
1.7.1- Xác định các mục tiêu dạy học 19
1.7.2- Thành lập nhóm 19
1.7.3- Giải thích mục tiêu và nhiệm vụ bài học 21
1.7.4- Theo dõi và điều chỉnh tiến trình học tập theo nhóm 22
1.7.5- Tổ chức thảo luận và đánh giá kết quả làm việc theo nhóm 23
2- LỰA CHỌN HÌNH THỨC TỔ CHỨC HỌC TẬP THEO NHÓM VÀ NHIỆM VỤ GIAO CHO SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN PHÂN TÍCH CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ THPT 24
2.1- Mục tiêu và ý nghĩa của môn học Phân tích chương trình Vật lý THPT 24
2.2- Các hoạt động cần thực hiện khi phân tích chương trình 25
2.3- Sự cần thiết và điều kiện thuận lợi của việc tổ chức sinh viên học tập theo nhóm trong dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT 26
2.4- Hình thức tổ chức và nhiệm vụ giao cho sinh viên học tập theo nhóm trong dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT 26
3- THỰC NGHIỆM TỔ CHỨC SINH VIÊN HỌC TẬP THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN PHÂN TÍCH CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ THPT 27
3.1- Mục đích thực nghiệm sư phạm 27
3.2- Đối tượng thực nghiệm sư phạm 27
3.3- Nội dung thực nghiệm sư phạm 28
3.4- Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 28
3.5- Sơ lược về cấu trúc nội dung của các bài học được dạy thực nghiệm [11] 28
3.6 Nhận xét về kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập theo nhóm của sinh viên 38
3.7- Đánh giá kết quả bài thi cuối học kỳ của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 40
3.8- Điều tra ý kiến của sinh viên về học tập theo nhóm sau thực nghiệm 44
4- KẾT LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 45
Trang 65- TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 6- PHỤ LỤC 50 Phụ lục 1: Danh sách sinh viên và kết quả bài thi cuối học kỳ của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
Pục lục 2: Một số hình ảnh về thực nghiệm sƣ phạm
Phụ lục 3: Một số tƣ liệu minh họa kết quả học tập theo nhóm của sinh viên
Phụ lục 4: Các văn bản về đăng ký và xét duyệt đề tài nghiên cứu
Trang 76
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Công trình nghiên cứu này chỉ ra sự cần thiết và những thuận lợi của việc tổ chức SV
học tập theo nhóm trong dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT Thực nghiệm sư
phạm tổ chức SV học tập theo nhóm cho thấy: Sự phối hợp các hình thức tổ chức nhóm 2 SV
và nhóm 6-7 SV trong giờ học để nghiên cứu nội dung bài học trong sách giáo khoa là có tính khả thi SV vừa nắm vững kiến thức và kỹ năng trong môn học, vừa được rèn luyện các kỹ năng tổ chức và làm việc theo nhóm Tuy nhiên, việc tổ chức SV học tập theo nhóm đòi hỏi
phải dành nhiều thời gian hơn cho công việc và phương tiện phục vụ cho dạy và học cũng phải được trang bị phù hợp Thực tế hiện nay, hệ thống bàn ghế trong các phòng học không phù hợp cho việc tổ chức học tập theo nhóm.Thư viện còn thiếu tài liệu tham khảo và phòng học có trang bị máy tính nối mạng và đèn chiếu cũng chưa đủ nên cũng chưa thuận tiện cho
việc tổ chức SV học tập theo nhóm
ABSTRACT
This study shows the necessity and the advantages of organizing cooperative learning for students in teaching and learning The Analysis of High School Physics Curriculum The research methodology with pedagogical experiment for cooperative learning revealed that the combination of pair work and small group work of 6 to 7 students in learning The Analysis of High School Physics Curriculum is feasible Cooperative learning helps students reach their learning goals (both knowledge and learning skills) and at the same time students have chances to practice skills of working in small groups However, cooperative learning organization requires more time and suitable teaching facilities The study pinpointed unsuitable present teaching and learning conditions such as classroom seat arrangements, lack
of computers with Internet connection and projectors in classrooms, and poor resource materials in library
Trang 87
PHẦN A: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Loài người đã bước vào thế kỷ XXI- thế kỷ của nền kinh tế mà trong đó tri thức là nguồn lực quyết định sự phát triển và tăng trưởng kinh tế Nước ta, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và tận dụng cơ hội
"đi tắt đón đầu" để đi thẳng vào những ngành sử dụng công nghệ cao của nền kinh tế tri thức Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ và xu thế hội nhập, cạnh tranh gay gắt của thế giới ngày nay, hai nhiệm vụ đó đặt ra những đòi hỏi mới và những thách thức
to lớn đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo mà trước hết và đặc biệt là đối với giáo dục đại học
Việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở nước ta trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải đổi mới tổ chức quá trình đào tạo và phương pháp dạy học ở đại học.Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta đã được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lý giáo dục rất quan tâm và được thể hiện ở nhiều văn bản quan trọng Nghị quyết TW2 (khóa VIII) đã chỉ rõ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm
điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS, nhất là SV đại học "[27] Tiếp đó, ngày 20/4/1999 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị 15 về đẩy mạnh hoạt động đổi
mới phương pháp giảng dạy và học tập trong các trường sư phạm[3] Trong "Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" ban hành theo Quyết định số 201/2001/QĐ -TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ cũng có nêu rõ yêu cầu đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục là: "Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá
Trang 98
nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của HS, SV trong quá trình học tập "[4]
Theo phương hướng mà Nghị quyết TW2 (khóa VIII) và "Chiến lược phát triển giáo dục 2001 -2010" đã vạch ra, cùng hòa nhịp vào xu thế đổi mới phương pháp dạy học đại học đang diễn ra sôi nổi khắp nơi trên thế giới, việc đổi mới phương pháp dạy học đại học ở nước
ta cần được xúc tiến mạnh mẽ hơn nữa trên cơ sở những quan niệm đầy đủ và thống nhất về đổi mới phương pháp dạy học
Tổ chức SV học tập theo nhóm là hình thức tổ chức dạy học áp dụng phương pháp hoạt động nhóm do đó phát huy cao tính tích cực, tự lực, sáng tạo của SV, đồng thời phát huy được sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các SV trong học tập Hình thức tổ chức học tập này không chỉ giúp cho SV nắm vững kiến thức, kỹ năng môn học mà còn bồi dưỡng cho họ năng lực tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, phương pháp thu nhận kiến thức cần thiết cho công việc và đặc biệt là kỹ năng làm việc theo nhóm- một kỹ năng rất quan trọng đối với con người sống trong thế kỷ XXI [13], [20], [29], [31]
Môn Phân tích chương trình Vật lý THPT có nhiều thuận lợi để tổ chức SV học tập theo nhóm Mặt khác, hiện nay môn Vật lý ở trường THPT được dạy theo hai ban là ban Khoa học tự nhiên và ban Cơ bản nhưng ở trường đại học chỉ có thể tổ chức dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý theo một ban vì thời gian không cho phép dạy cả hai chương trình Hơn nữa, người GV tương lai cũng phải biết tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm nên họ cũng cần phải được rèn luyện các kỹ năng này trong thời gian học tập ở trường đại học Vì vậy, việc tổ chức SV học tập theo nhóm trong dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT là việc làm rất cần thiết trước những đổi mới của nhà trường THPT và những yêu cầu đổi mới đối với người GV
Tổ chức SV học tập theo nhóm là hình thức tổ chức dạy học được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền giáo dục đại học phát triển [9], [10], [13], [19], nhưng ở nước ta, hình thức
tổ chức dạy học này còn ít được phổ biến và vận dụng Gần đây, phương pháp này mới được nói tới trong các tài liệu về phương pháp dạy học ở đại
Trang 102 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm kiếm hình thức tổ chức SV học tập theo nhóm trong giờ học trên lớp và các nhiệm vụ giao cho SV phù hợp với môn học Phân tích chương trình Vật lý THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn này
3 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm sư phạm tiên tiến về tổ chức học tập theo nhóm qua sách, báo và các phương tiện thông tin khác
- Nghiên cứu mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT cho SV khoa Vật lý ở trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
- Lựa chọn hình thức tổ chức SV học tập theo nhóm trong giờ học trên lớp và nhiệm
vụ giao cho SV phù họp với môn Phân tích chương trình Vật lý THPT sau đó tiến hành thực nghiệm sư phạm đối với một lớp khoảng 40 SV năm thứ ba trong năm học 2006-2007 của khoa Vật lý, trường Đại học Sư phạm TP Hồ chí Minh
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lý luận của việc tổ chức học tập theo nhóm
- Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT
- Hình thức tổ chức SV học tập theo nhóm và nhiệm vụ giao cho SV trong dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT và tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của hình thức tổ chức và nhiệm vụ đã lựa chọn
Trang 1110
PHẦN B: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 - Khái niệm về tổ chức sinh viên học tập theo nhóm
Tổ chức SV học tập theo nhóm là hình thức tổ chức dạy học có sự kết hợp tính tập thể
và tính cá nhân, trong đó SV của một lớp được chia thành các nhóm nhỏ trong một khoảng
thời gian nhất định và tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp
tác làm việc, rồi sau đó, kết quả làm việc của nhóm được trình bày và đánh giá trước toàn lóp
Việc tổ chức học tập theo nhóm còn có thể được gọi bằng những tên gọi khác như dạy học hợp tác hay dạy học theo nhóm Tổ chức học tập theo nhóm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể mà là một hình thức có tính xã hội của dạy học Tùy theo nhiệm vụ cần giải quyết khác nhau của nhóm mà có những phương pháp làm việc khác nhau được sử dụng Khi không cần phân biệt giữa hình thức và phương pháp dạy học cụ thể thì tổ chức học tập theo nhóm cũng có thể được gọi là phương pháp dạy học theo nhóm [1], [18], [26]
1.2 - Đặc trưng và bản chất của hình thức tổ chức học tập theo nhóm
Đặc trưng của hình thức tổ chức học tập theo nhóm là sự tác động trực tiếp giữa những người học với nhau và sự phối hợp hoạt động của họ Khi học tập theo nhóm, từng thành viên của nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tập của mình mà còn có trách
nhiệm quan tâm đến việc học của các bạn trong nhóm
Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học xét đến cùng là cách thức đặc thù để tổ chức tốt mối quan hệ giữa ba thành tố của quá trình dạy học là người dạy, người học và tri thức Trong mỗi phương pháp hay hình thức dạy học cụ thể có thể nhấn mạnh thành tố này hay thành tố khác, song tổng thể cả ba thành tố và mối quan hệ tương tác giữa chúng mới quy định đầy đủ phạm vi dạy học Vì vậy, cơ sở phương pháp luận để xây dựng mô hình và hình thức dạy học là tam giác sư phạm với ba cực: người dạy, người học và tri thức
Tổ chức dạy học theo nhóm là hình thức tổ chức dạy học lấy cực người học làm trung tâm tiếp cận từ việc dạy cho tới việc học nhằm làm cho cả ba cực và mối quan
Trang 1211
hệ giữa chúng cùng gây tác động chung đến hiệu quả thực tế của người học Ở đây, sự tác động giữa ba thành tố của quá trình dạy học được diễn ra trong môi trường xã hội cơ sở là nhóm người học
Người học là chủ thể của hoạt động học Người học phải tự tìm ra tri thức bằng chính hoạt động của mình và qua sự hợp tác với bạn và với người dạy
Nhóm là môi trường xã hội cơ sở, nơi diễn ra quá trình giao lưu "mặt đối mặt" giữa những người học trong cùng một nhóm, giữa người dạy và người học làm cho các tri thức đã
cá nhân hóa được xã hội hóa
Người dạy là người hướng dẫn, tổ chức, điều khiển hoạt động tự học của người học, giúp người học tự tìm ra tri thức thông qua các quá trình cá nhân hóa và xã hội hóa
Tri thức là những hiểu biết, kinh nghiệm đã có của loài người cần truyền đạt lại cho người học nhưng phải do chính người học tự tìm ra trong sự hợp tác với bạn và với người dạy
Các thành tố nói trên của quá trình tổ chức dạy học theo nhóm tác động với nhau trong sự thống nhất toàn vẹn để tạo ra một chất lượng mới của quá trình dạy học
Như vậy, bản chất của hình thức tổ chức dạy học theo nhóm là quá trình thực hiện những biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức, điều khiển mối tương tác giữa
Trang 1312
các thành tố: người dạy, nhóm người học và tri thức làm cho chúng vận động và phát triển theo một trật tự nhất định
1.3 - Quá trình hình thành và phát triển hình thức học tập theo nhóm
Hình thức học tập theo nhóm bắt đầu được áp dụng ở Đức và ở Pháp vào cuối thế kỷ XVIII Ở Anh, vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, hình thức này được sử dụng dưới hình thức dạy học có hướng dẫn và được gọi là hình thức dạy học tương trợ, do linh mục Bel và giáo viên D Lancaster đề ra và sau đó được nhà giáo dục học Girar phát triển với sắc thái
khác
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, với việc xây dựng kiểu "nhà trường hoạt động", vấn đề học tập cộng đồng đã được nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học phương Tây chú ý nghiên cứu Trong số đó có J Dewey đã chú ý phát triển hình thức học tập theo nhóm Lý thuyết học tập theo nhón của ông được xây dựng trên quan điểm: môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của trẻ, do đó việc tạo cho trẻ môi trường càng gần với đời sống càng tốt Một trong các môi trường cần tạo ra cho trẻ là môi trường làm việc chung Khi làm việc chung, trẻ sẽ có thói quen trao đổi kinh nghiệm và có cơ hội để phát triển về lý luận Sau này, nhà giáo dục học Kershensteiner đã cố gắng sử dụng hình thức hoạt động chung vào cuộc cải cách nhà trường Trung học và Tiểu học Theo ông, hoạt động chung làm khơi dậy tinh thần trách nhiệm cá nhân trong lương tâm của mỗi người, loại bỏ những hành động do động cơ ích kỷ Nhưng ông cũng chỉ ra rằng, nếu sử dụng không đúng thì họat động chung đôi khi có thể dẫn tới một đặc thù của "tính ích kỷ cộng đồng" Sau một thời gian làm việc chung, nhóm trở thành một cá thể, và vì quyền lợi của nhóm, vì ganh đua mà cá thể đó trở nên ích kỷ
Do chịu ảnh hưởng một phần của tư tưởng cho giáo dục là một phương thức để xã hội hóa của nhà xã hội học giáo dục người Đức - F Durkheim và tư tưởng phải tổ chức nhà trường thành môi trường mà trẻ có thể sống để giáo dục trẻ của nhà giáo dục J Dewey, nhà giáo dục người Pháp Roger Cousinet cho rằng, sự làm việc chung theo từng nhóm sẽ là giải
pháp thỏa đáng về mặt sư phạm Ông đã nghiên
Trang 14Song song với sự phát triển ở nhà trường phổ thông, hình thức học tập theo nhóm của
SV trong các trường đại học ở các nước phương Tây cũng phát triển rất nhanh từ giữa thế kỷ
XX [9], [13], [19]
Ở Nga, sau Cách mạng tháng Mười, hình thức dạy học theo nhóm được tổ chức dưới dạng hình thức đội, nhưng thực nghiệm sư phạm được tiến hành không đúng đã dẫn tới hạ thấp vai trò của người GV và xem nhẹ việc học tập cá nhân của từng HS nên đã bị phê bình
và loại bỏ khỏi nhà trường Xô Viết lúc bấy giờ [1]
Ở Việt Nam, hình thức học tập theo nhóm cũng đã có từ lâu Ông cha ta có câu: "Học thầy không tày học bạn" để nói lên vai trò của việc học tập, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng học Tuy nhiên, việc tổng kết kinh nghiệm và nghiên cứu lý luận về học tập theo nhóm đã không được quan tâm đúng mức Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, hình thức học tập theo nhóm cũng đã được quan tâm trong nhà trường của chúng ta, nhưng các hình thức học tập theo nhóm chủ yếu là ở nhà, sau giờ học trên lớp và công việc thường là có nội dung luyện tập, thực hành
Hiện nay, trước yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục nhằm đào tạo những con người chủ động, sáng tạo, thích nghi với môi trường luôn biến động, đặc biệt là đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, hình thức học tập theo nhóm đang được đặt ra một cách cấp thiết
Trang 1514
sáng tạo, tư duy phê phán và những năng lực xã hội, đặc biệt là khả năng cộng tác làm việc, thái độ đoàn kết trong tập thể của người học
Việc tổ chức học tập theo nhóm được thực hiện tốt sẽ có những tác dụng sau:
- Phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của người học: Khi học tập theo nhóm, mỗi người tự lực thực hiện phần nhiệm vụ được giao trong điều kiện có sự giúp đỡ, hỗ trợ của các bạn học cùng nhóm nên tính tích cực, tự lực và sáng tạo của người học được phát huy
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người học trong học tập: Khi làm việc theo nhóm, để công việc chung của cả nhóm được hoàn thành, mỗi thành viên trong nhóm phải có trách nhiệm hoàn thành phần việc được giao đồng thời lại phải có trách nhiệm xem xét, thảo luận và góp ý cho phần việc của các bạn trong nhóm, do đó tinh thần trách nhiệm của người học trong học tập được nâng cao
- Nâng cao tính tự tin của người học: Khi làm việc theo nhóm, người học trình bày quan điểm và kết quả làm việc của mình trước nhóm nên họ sẽ tự tin hơn so với khi phải trình bày lần đầu trước giảng viên
- Phát triển năng lực giao tiếp của người học: Khi học tập theo nhóm, một mặt, mỗi thành viên phải trình bày, bảo vệ phương án giải quyết vấn đề và kết quả đạt được của mình, biết lắng nghe, phê phán hay chấp nhận ý kiến đóng góp của các bạn khác, mặt khác, họ lại phải biết góp ý, đánh giá, phê phán phương pháp giải quyết vấn đề và kết quả đạt được của các bạn khác do đó mà năng lực giao tiếp, phê phán được phát triển
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc của người học: Khi làm việc theo nhóm, các thành viên của nhóm phải phối hợp công việc với nhau để hoàn thành công việc chung của cả nhóm do đó năng lực cộng tác làm việc sẽ được nâng cao
- Tạo khả năng dạy học phân hóa: Việc tổ chức học tập theo nhóm tạo điều kiện phát huy khả năng cá nhân của người học thông qua nhiệm vụ được giao khác nhau cho từng cá nhân hay cho từng nhóm khác nhau do đó có tác dụng phân hóa trong dạy học
Trang 1615
- Tăng cường tính dân chủ trong dạy học: Việc những người học được phát biểu, thảo luận, bảo vệ quan điểm của mình trước nhóm bạn học và trước người dạy góp phần nâng cao tính dân chủ của quá trình dạy học
- Tăng cường mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng môn học và các kỹ năng học tập, nghiên cứu nói chung như kỹ năng thu nhận kiến thức cần thiết, kỹ năng giải quyết vấn đề: Khi học tập theo nhóm, người học được tự lúc giải quyết vấn đề , trình bày và bảo vệ quan điểm, kết quả làm việc của mình, đồng thời lại nhận được sự góp ý, bổ sung, giúp đỡ của các bạn cùng nhóm và được góp ý, phê phán quan điểm và kết quả làm việc của họ do đó mà nâng cao được chất lượng nắm vững kiến thức, kỹ năng cần hình thành trong môn học và các
kỹ năng học tập, nghiên cứu nói chung
- Tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm, đặc biệt là trong việc giải quyết những nhiệm vụ học tập đòi hỏi tính sáng tạo cao
- Tạo nhiều cơ hội cho GV có thông tin phản hồi về người học để từ đó rút kinh nghiệm và tổ chức hoạt động dạy học được tốt hơn [1], [8], [9], [19], [22]
1.5 - Cơ sở lý thuyết của việc tổ chức học tập theo nhóm
1.5.1- Cơ sở triết học
Học là quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài trong bản thân mỗi người học Điều đó tạo ra nội lực và ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của bản thân người học Theo quy luật phát triển chung, ngoại lực dù có mạnh đến đâu thì cũng vẫn chỉ là sự thúc đẩy hỗ trợ, nội lực mới là yếu tố quyết định Vì vậy, trong dạy học, người học phải là chủ thể tích cực, tự giác của hoạt động học tập, tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng chính hoạt động của mình Nói cách khác, người học phải tự học và phải biết cách
tự học Tuy nhiên, việc tự học khó có thể có kết quả nếu thiếu sự hướng dẫn, tổ chức của người dạy và sự hợp tác với các bạn cùng học Do đó, trong dạy học cần biết kết hợp giữa cá
nhân hóa và xã hội hóa việc học
Trang 1716
1.5.2- Cơ sở xã hội học
Nhóm nhỏ là nơi giao lưu giữa các tác động từ xã hội đến các cá nhân và các tác động phản hồi từ các cá nhân trở lại xã hội Một phần lớn các tác động của xã hội đã khúc xạ qua nhóm nhỏ rồi tỏa tác dụng điều chỉnh đến cá nhân, đồng thời qua đó các quá trình tâm lý cá nhân được hình thành Trong nhóm nhỏ, nhu cầu thực tiễn được phản ánh đã góp phần làm thay đổi các chuẩn mực xã hội Như vậy, nhóm nhỏ là nơi diễn ra quá trình xã hội hóa từng
cá nhân Nhóm nhỏ có vai trò như sau:
- Nhóm nhỏ là môi trường nuôi dưỡng cá nhân, là sợi dây liên lạc chặt chẽ giữa cá nhân và xã hội, là nơi thi hành những nhiệm vụ mà xã hội đòi hỏi ở mỗi cá nhân, nơi khuyến khích cá nhân làm việc
- Nhóm nhỏ là nơi chú trọng đến tính toàn diện của con người, nêu rõ ưu, khuyết điểm của họ Nhóm lớn và xã hội đưa ra những luật lệ chung, tổng quát, còn nhóm nhỏ cụ thể hóa các yêu cầu ấy sao cho phù hợp với cá nhân, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ định hướng hành vi hàng ngày mà vẫn giữ được tinh thần cơ bản của luật lệ chung
- Nhóm nhỏ duy trì tinh thần đoàn kết nhờ vào sự xâm nhập lẫn nhau giữa kết cấu chính thức và kết cấu không chính thức
Vì tính chất xã hội như đã nói trên mà nhóm nhỏ đã được sử dụng từ lâu trong dạy học và được coi là môi trường giúp cho người học lĩnh hội tri thức, phát triển trí tuệ, hình thành nhân cách, hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng [26]
1.5.3- Cơ sở tâm lý - giáo dục học
Những câu thành ngữ như: "Học thầy không tày học bạn"; "Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại thành hòn núi cao" được truyền tụng từ lâu ở nước ta đã cho thấy việc học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng học, cùng làm chung một công việc là rất quan trọng trong dạy học và đã được quan tâm từ xa xưa trong nền giáo dục nước nhà Các lớp học của các thầy đồ xưa là minh chứng cụ thể cho điều đó Tuy nhiên, việc tổng kết kinh nghiệm và nghiên cửu về lý luận của việc học theo nhóm ở nước ta chưa được quan tâm đúng
mức
Trên thế giới, những học thuyết về tâm lý- giáo dục là cơ sở của tổ chức dạy học theo nhóm là [7], [26]:
Trang 1817
- Thuyết học tập mang tính xã hội: Tư tưởng chính của thuyết này là khi các cá nhân làm việc cùng nhau hướng tới mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy họ hoạt động tích cực hơn để giúp nhóm và qua đó giúp chính mình đạt đến thành công
- Thuyết "giải quyết mâu thuẫn" của Piagiê: Theo Piagiê, để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ cho HS, GV thường sắp đặt từng đôi HS thành một nhóm, trong đó mỗi em có quan điểm đối lập với em kia về câu trả lời cho một số bài tập GV yêu cầu từng cặp hai HS hoạt động cùng nhau cho đến khi nhất trí hoặc có câu trả lời chung thì đi đến kết luận về bài học
- Thuyết "hợp tác tập thể" của Vưgôtxky: Theo Vưgôtxky, mọi chức năng tâm lý cao cấp đều có nguồn gốc xã hội và xuất hiện trước hết ở cấp độ liên cá nhân, trước khi được chuyển vào trong và tồn tại ở cấp độ cá nhân Vưgôtxky đã đưa ra khái niệm "vùng phát triền gần" được hiểu là vùng nằm giữa trình độ hiện tại (đã đạt được) của trẻ với mức độ mà trẻ có thể đạt được nhờ sự trợ giúp, cộng tác của người lớn hay bạn bè
- Thuyết khoa học nhận thức mới "dạy lẫn nhau" của Palinsca và Brown: Tư tưởng chủ yếu mà các nhà sư phạm này đưa ra là sự thay phiên nhau trong vai trò người dạy và người học của những người cùng học khi nghiên cứu tài liệu học tập Lúc đầu, GV làm mẫu, đưa ra cách thức nêu vấn đề, đặt câu hỏi, cách tóm tắt, cách phân tích làm sáng tỏ vấn đề ,
HS học cách làm của GV và áp dụng vào trong nhóm của mình Các thành viên khác của nhóm tham gia vào quá trình thảo luận bằng cách nêu ra các câu hỏi, trả lời chúng, bình luận, tìm kiếm những từ ngữ chính xác, thích hợp, khái quát và rút ra những kết luận
1.6 - Các hình thức tổ chức sinh viên học tập theo nhóm [17]
1.6.1- Làm việc theo cặp hai sinh viên (Pai work)
Đây là hình thức SV trao đổi với bạn ngồi kế bên để giải quyết tình huống do GV nêu
ra Trong quá trình giải quyết tình huống, SV sẽ thu nhận kiến thức một cách tích cực Ở hình thức học tập này, SV chia sẻ, thảo luận những thông tin mình có với bạn cùng nhóm để thu được kiến thức đầy đủ
Trang 1918
1.6.2- Làm việc theo nhóm 6 -7 sinh viên (Group work)
Đối với hình thức làm việc theo nhóm này, GV chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm
gồm 6 -7 SV Các nhóm SV phải thực hiện các nhiệm vụ mà GV đặt ra cho nhóm Có hai loại hình tổ chức hoạt động cho các nhóm SV là hoạt động trao đổi và hoạt động so sánh
Trong hoạt động trao đổi, các nhóm giải quyết các nhiệm vụ khác nhau, sau đó trao đổi cách giải quyết của nhóm mình với các nhóm khác
Trong hoạt động so sánh, tất cả các nhóm cùng giải quyết một nhiệm vụ, sau đó so sánh cách giải quyết của các nhóm khác nhau
Hoạt động trao đổi thường được sử dụng cho những bài học có nhiều vấn đề cần giải quyết trong một thời gian ngắn
Hoạt động so sánh thường được sử dụng cho những bài học có dung lượng không lớn
1.6.3- Nhóm tổ chức theo kiểu ghép nhóm (Jipsaw)
Ở hình thức tổ chức học nhóm này có sự luân chuyển SV trong các nhóm Trước tiên,
GV chia lớp thành nhiều nhóm, giả dụ 5 nhóm, mỗi nhóm 6 SV Nhóm 1 gồm 6 SV mang số 1: 111111, nhóm 2 gồm 6 SV mang số 2: 222222 Các nhóm 3, 4,5 cũng tương tự như vậy
Mỗi nhóm có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề khác nhau của một bài học, mỗi thành viên trong nhóm đều phải ghi chép cách giải quyết vấn đề và kết quả thu được Sau đó, GV tách các thành viên trong các nhóm để thành lập 5 nhóm mới, mỗi nhóm gồm 6 thành viên 123456 của các nhóm cũ, các thành viên này trở thành "đại sứ" cho nhóm cũ của mình trong nhóm mới Họ phải thông báo nhiệm vụ, cách giải quyết vấn đề và kết quả đạt được của nhóm cũ
trong nhóm mới
Ưu điểm của ghép nhóm là việc báo cáo công việc của các nhóm sẽ do tất cả các
thành viên của nhóm đảm nhận chứ không phải chỉ do một SV khá, giỏi đảm nhận Mỗi SGV
sẽ mang một mảng thông tin để lắp ghép thành một thông tin hoàn chỉnh và sẽ không có SV
nào đứng ngoài hoạt động của lớp học Cách học này góp phần làm tăng sự tự tin cho các thành viên trong nhóm Nếu trong nhóm cũ, ưu thế thuộc về các thành viên khá, giỏi thì trong nhóm mới, mỗi thành viên đều có vai trò thực sự
Trang 2019
1.6.4- Nhóm tổ chức theo kiểu kim tự tháp (Pyramid)
Đây là cách tổng hợp ý kiến của tập thể lớp học về một vấn đề của bài học Đầu tiên,
GV nêu một vấn đề cho các SV làm việc độc lập Sau đó ghép hai SV thành một cặp để các
SV chia sẻ ý kiến của mình Kế đến, các cặp sẽ hợp lại thành nhóm 4 người và tiếp tục trao
đổi ý kiến Sau đó, các nhóm 4 sẽ hợp lại thành nhóm 8, rồi nhóm 16, Cuối cùng, cả lớp sẽ
có một bản tổng kết các ý kiến hoặc một giải pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề Như
vậy, bất kỳ ý kiến của cá nhân nào cũng đều phải dựa trên ý kiến của số đông
Hình thức học tập này thể hiện tính dân chủ trong dạy học và dựa trên nguyên tắc
tương hỗ Cách học này giúp SV nhận ra rằng ý kiến tập thể tốt hơn ý kiến cá nhân, mỗi SV
sẽ học được nhiều điều hay từ các bạn
1.6.5- Nhóm tổ chức theo kiểu hoạt động trà trộn (Mingling Activites)
Trong hình thức này, tất cả các SV phải đứng dậy và di chuyển trong lớp để thu thập thông tin từ các thành viên khác của lớp Sự di chuyển khỏi chỗ ngồi cố định làm cho các sv năng động hơn Đối với các SV yếu thì đây là cơ hội cho họ hỏi nhiều người khác nhau đối với cùng một câu hỏi mà không cảm thấy ngại ngùng, xấu hổ SV sẽ thấy ràng có thể có
nhiều câu trả lời đúng, nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau cho cùng một vấn đề Có thể
coi hoạt động trà trộn là kiểu "trưng cầu ý kiến" và "khảo sát ý kiến" trong tập thể
1.7 Quy trình tổ chức sinh viên học tập theo nhóm
Để tổ SV học tập theo nhóm, quá trình dạy học được xây dựng theo các bước sau đây [13], [26]:
1.7.1- Xác định các mục tiêu dạy học
Có hai loại mục tiêu cần xác định rõ trước khi dạy một bài học là mục tiêu về tri thức,
kỹ năng và mục tiêu về kỹ năng làm việc theo nhóm Việc xác định rõ mục tiêu dạy học cho
phép xác định đúng nội dung và phương pháp dạy học phù hợp
1.7.2- Thành lập nhóm
Sau khi xác định các mục tiêu của bài học, GV cần quyết định hình thức tổ chức
nhóm Khi lựa chọn quy mô của nhóm, GV cần xem xét các yếu tố sau đây:
Trang 2120
- Nếu số lượng thành viên trong nhóm lớn thì đòi hỏi phạm vi, năng lực và hành động
trí tuệ để lĩnh hội kiến thức cũng tăng Số lượng SV của nhóm càng nhiều thì cơ hội có SV
nhiều năng lực tham gia vào thực hiện nhiệm vụ càng tăng
- Nếu nhóm có nhiều thành viên có năng lực tham gia, nhưng các kỹ năng làm việc
theo nhóm yếu thì khó có điều kiện để nhiều SV tham gia hoạt động được Hơn nữa, có rất
nhiều kỹ năng làm việc theo nhóm cần được hình thành trong quá trình làm việc sẽ không có thời gian để luyện tập
- Nội dung của bài học cũng như các tư liệu, phương tiện học tập có ảnh hưởng quyết định đến việc xác định quy mô của nhóm
- Thời gian càng ít thì quy mô của nhóm càng nhỏ Nhóm nhỏ sẽ có hiệu quả hơn vì thời gian tổ chức nhóm được rút ngắn, mọi thành viên của nhóm sẽ có trách nhiệm hơn và khoảng cách giữa các thành viên càng nhỏ lại
- Trong giai đoạn đầu của việc hình thành kỹ năng làm việc theo nhóm nên bắt đầu từ
nhóm nhỏ hoặc đôi một Khi SV đã có kinh nghiệm, kỹ năng nhất định thì quy mô của nhóm
sẽ tăng dần lên Nếu nhóm có số lượng lớn thì nhiều SV sẽ thụ động, hoặc chỉ tương tác với
một hay hai thành viên bên cạnh Trong quá trình họat động nhóm, GV cần tạo điều kiện để
các SV tham gia vào các hoạt động với vai trò quyết định và chịu trách nhiệm với các quyết
định đó, để cùng hưởng vui, buồn với các kết quả của mình, và vì vậy cần có thời gian để thích ứng với các hoạt động nhóm
- Nhóm gồm các thành viên càng đa dạng về tính cách và năng lực thì hiệu quả hoạt động của nhóm càng cao Với nhóm như vậy thì mỗi vấn đề cần giải quyết sẽ chứa đựng sự cân nhắc, tính toán toàn diện hơn
- Một SV được xếp lần lượt ở các nhóm khác nhau để được làm việc theo nhóm với
tất cả các bạn trong lớp là điều hết sức có ý nghĩa Điều này sẽ tạo ra ở các SV cảm nhận tích cực và lành mạnh về sự hợp tác và mang lại cho họ nhiều cơ hội để thực hành các kỹ năng
cần thiết khi hoạt động trong các nhóm mới
- Các thành viên của các nhóm phải được ngồi gần nhau sao cho các em có thể dễ dàng chia sẻ tài liệu học tập, duy trì được sự liên hệ với nhau bằng ánh mắt và sự
Trang 2221
trao đổi nhỏ, đủ nghe trong nhóm mà không ảnh hưởng đến hoạt động của nhóm khác Tốt nhất là cho các thành viên của nhóm ngồi thành vòng kín Điều này sẽ làm cho các SV tích cực hơn, chủ động hơn, trách nhiệm hơn trong hoạt động Với cách sắp xếp như vậy, SV cũng có cơ hội để khuyến khích, động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình làm việc theo nhóm
- Các thành viên trong nhóm cần có nhiệm vụ, vai trò rõ ràng Sau mỗi hoạt động của nhóm, các thành viên trong nhóm cần thay đổi vị trí cho nhau, tránh tình trạng chỉ đóng một vai trò trong thời gian quá lâu Nhiệm vụ của các thành viên trong một nhóm có thể bao gồm:
* Điều khiển nhóm: Hướng dẫn các thành viên tham gia vào hoạt động, giải thích rõ
nhiệm vụ của nhóm, tóm tắt, kiểm tra lại xem mọi thành viên đã hiểu vấn đề chưa, giải quyết các "mâu thuẫn" trong quá trình hoạt động của nhóm SV giữ vai trò này cần có năng lực hơn, đặc biệt là năng lực quản lý, giám sát và hướng dẫn bạn
* Thư ký: Ghi chép mọi ý kiến, biên tập, tóm tắt các ý kiến
* Báo cáo: Thay mặt nhóm báo cáo kết quả
* Khuyến khích: Động viên mọi thành viên tham gia, nhắc nhở những thành viên
"lười nhác", "lắm lời" trong nhóm để đảm bảo mọi thành viên trong nhóm đều phải tham gia
và được đóng góp vào công việc của nhóm
* Theo dõi và phân bố thời gian: Đánh giá sự tham gia của mọi thành viên trong
nhóm và thông báo thời gian hoạt động cho nhóm để tránh bị "cháy giờ"
1.7.3- Giải thích mục tiêu và nhiệm vụ bài học
Khi tổ chức học tập theo nhóm, GV phải giải thích để các nhóm hiểu rõ mục tiêu và nhiệm vụ học tập được giao Khi đó GV cần chú ý một số điểm sau đây:
- Giải thích mục tiêu và nhiệm vụ học tập phải dựa trên những kiến thức đã được học
và những thông tin mà người học đã biết Việc giải thích kết quả sẽ đạt được sau bài học sẽ làm tăng hứng thú học tập cho người, làm cho họ chú ý hơn vào những khái niệm và thông tin có liên quan trong suốt tiến trình của bài học
Trang 2322
- Làm rõ nội hàm các khái niệm có liên quan, giải thích tiến trình cần tuân thủ, đưa ra các ví dụ giúp người học hiểu kiến thức, kỹ năng cần phải học và thực hành để hoàn thành nhiệm vụ được giao Để thúc đẩy tính tích cực lĩnh hội nội dung bài học, GV cần chỉ ra những yếu tố trọng tâm của bài học khiến nó khác với các bài học trước đó
- Giao nhiệm vụ sao cho người học hiểu rõ việc phải làm Khi đó, ngôn từ của GV phải rõ ràng, mạch lạc để đảm bảo cho người học hiểu rõ, tránh nhầm lẫn sau này Khi học tập theo nhóm, những thành viên của nhóm không hiểu nhiệm vụ của mình có thể hỏi lại bạn cùng nhóm Đây là điều kiện tốt để người học nắm nhiệm vụ tốt hơn và tiết kiệm thời gian học tập Đó cũng chính là ưu điểm của cách học theo nhóm
- Cần có những câu hỏi phụ để kiểm tra xem người học đã hiểu nhiệm vụ được giao chưa Những câu hỏi như thế đảm bảo cho sự trao đổi hai chiều, đảm bảo việc giao nhiệm vụ
sẽ được thực hiện có hiệu quả và chuẩn bị tâm lý để người học sẵn sàng bắt tay vào thực hiện
và hoàn thành được nhiệm vụ
1.7.4- Theo dõi và điều chỉnh tiến trình học tập theo nhóm
Để hoạt động nhóm có hiệu quả, trong quá trình tổ chức học tập theo nhóm, GV cần
quan tâm chú ý tới một số việc sau:
- Tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực giữa các thành viên trong nhóm vì thiếu yếu tố này thì việc hợp tác nhóm sẽ không thành công Để tập trung sự nỗ lực hợp tác của thành viên của nhóm, cần xuất phát từ việc hình thành mục tiêu chung của cả nhóm và tổ chức hoạt động của mỗi thành viên xoay quanh mục tiêu đó Để đảm bảo cả nhóm hoạt động có hiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu chung, cần dựa vào những năng lực khác nhau của mỗi thành viên để giao nhiệm vụ cho mỗi thành viên của nhóm sao cho họ phải nỗ lực và biết phối hợp với nhau mới có thể hoàn thành nhiệm vụ Một số thủ thuật cụ thể để xây dựng sự phụ thuộc tích cực là:
* Đánh giá bằng điểm số cho họat động của nhóm bằng cách cộng điểm của từng thành viên trong nhóm rồi chia trung bình
Trang 24* Nhóm các kỹ năng hình thành nhóm như: tham gia nhanh vào nhóm và không gây
ồn ào; tham gia hoạt động của nhóm trong cả quá trình; chú ý vào công việc và lờ đi những việc làm mình mất chú ý; giao tiếp đủ không gây ảnh hưởng đến nhóm khác; thực hiện các công việc của nhóm theo đúng trình tự đã đề ra
* Nhóm các kỹ năng giao tiếp như: truyền đạt và tiếp nhận thông tin
* Nhóm kỹ năng xây dựng và duy trì bầu không khí tin tưởng lẫn nhau: bày tỏ sự ủng
hộ, giúp đỡ hay yêu cầu sự giúp đỡ từ thành viên khác của nhóm; trân trọng thành quả của nhóm; tiếp sức cho nhóm
* Nhóm các kỹ năng cần thiết cho việc tổ chức và xúc tiến các cuộc tranh luận như: kiềm chế bực tức; thể hiện ý kiến bất đồng mà không làm xúc phạm người khác; phản đối một cách nhẹ nhàng (không chỉ trích)
- Giải quyết các mối bất đồng xuất hiện giữa các thành viên trong các nhóm khi tranh luận
1.7.5- Tổ chức thảo luận và đánh giá kết quả làm việc theo nhóm
Tổ chức thảo luận và đánh giá kết quả làm việc theo nhóm là công việc nhất thiết phải
làm khi tổ chức học tập theo nhóm
Trang 25CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ THPT
2.1- Mục tiêu và ý nghĩa của môn học Phân tích chương trình Vật lý THPT
Phân tích chương trình Vật lý THPT là một môn học quan trọng đối với việc hình thành kỹ năng nghề nghiệp cho người giáo viên Vật lý Nhiệm vụ chính của môn học là nghiên cứu mục tiêu, cấu trúc của chương trình Vật lý THPT, nội dung kiến thức, mức độ kiến thức, kỹ năng và cách thể hiện nội dung kiến thức đó trong sách giáo khoa Vật lý, tức là nắm được ý đồ của tác giả sách giáo khoa và xây dựng phương án tổ chức dạy học một số kiến thức cụ thể trong chương trình; đồng thời, thông qua quá trình học tập bộ môn mà hình thành cho SV kỹ năng phân tích chương trình Vật lý, một kỹ năng cơ bản, cốt lõi, có ý nghĩa
"mở đường" cho các kỹ năng dạy học khác
Cơ sở nghiên cứu của môn học trước hết là khoa học Vật lý, bao gồm các kiến thức về Vật lý đại cương, Vật lý lý thuyết và Vật lý kỹ thuật; những kiến thức về Lý luận dạy học bộ môn, Triết học, Tâm lý học và Giáo dục học
Việc phân tích chương trình giúp cho người GV thấy được sự thể hiện của mục tiêu dạy học trong từng nội dung theo tiến trình dạy học
Sau khi xác định mục tiêu dạy học, mặc dù nội dung là cụ thể hóa của mục tiêu, nhưng nếu không phân tích chương trình, người GV không thể nhận biết được mục tiêu riêng của từng nội dung kiến thức và không thấy được mối quan hệ của một đơn vị kiến thức với các đơn vị kiến thức khác của một tiết dạy, một cụm bài, một
Trang 2625
chương, một phần hay toàn bộ chương trình Khi phân tích nội dung chương trình, GV còn phát hiện được yêu cầu đồng thời về kiến thức, về kỹ năng, về tư duy trên mỗi đơn vị kiến thức trong mỗi giờ học
Như vậy, nhờ có phân tích chương trình mà GV xác định được nội dung phù hợp cho mỗi tiết dạy, sắp xếp các nội dung tạo nên cấu trúc logic hợp lý nhất của bài dạy, xác định các mức độ cần đạt được về kiến thức, kỹ năng và tư duy ở học sinh trong mỗi giờ dạy và trong
cả quá trình dạy học Trên cơ sở đó mà GV sẽ có căn cứ để lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp
2.2- Các hoạt động cần thực hiện khi phân tích chương trình
Việc phân tích chương trình bao gồm các hoạt động được sắp xếp như sau:
- Xác định rõ các nội dung cụ thể của chương trình
- Phát hiện cách phân bố các nội dung
- Chỉ ra được mối quan hệ giữa các nội dung trong chương trình
- Xác định được vị trí, ý nghĩa và mối quan hệ của từng nội dung trong toàn bộ chương trình
- Từ mục tiêu chung của chương trình phát hiện được sự thể hiện mục tiêu riêng qua các nội dung của các bài học cụ thể
- Tìm kiếm tư liệu bổ sung hoặc thay thế cho những điều được trình bày trong sách giáo khoa cho phù hợp với khả năng nhận thức của HS
- Dự kiến những chỗ có thể khó hiểu đối với HS và đưa ra cách xử lý tương ứng Từ các hoạt động trên, GV sẽ lựa chọn được một nội dung dạy học thích hợp cho một bài học cụ thể; lựa chọn và sử dụng hợp lý các phương pháp dạy học trong một giờ học; xác định được nội dung và phương pháp đánh giá kết quả học tập của HS
Như vậy, qua phân tích nội dung của một bài học cụ thể, GV sẽ xác định được đầy đủ
và chuẩn xác các nhiệm vụ, yêu cầu của giờ dạy Hơn thế nữa, GV sẽ khai thác được kết quả của các tiết dạy học trước đó và chuẩn bị cho các giờ dạy tiếp theo trong mối quan hệ có tính
hệ thống chặt chẽ
Trang 27theo nhóm trong dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT là rất cần thiết
Việc tổ chức SV học tập theo nhóm trong dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT có nhiều thuận lợi vì khi học môn này, SV đã từng được học môn Vật lý ở trường phổ thông, còn ở trường đại học thì đã được học các học phần về Vật lý đại cương và một số học phần về Vật lý lý thuyết có liên quan nhiều đến chương trình Vật lý ở trường THPT, các học phần về Tâm lý - Giáo dục, Lý luận dạy học bộ môn Vật lý và đặc biệt là đã qua đợt thực tập
sư phạm kỳ 1 ở trường THPT Do đó SV có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã có để tham gia các hoạt động của nhóm về phân tích nội dung bài học trong sách giáo khoa, tìm tư liệu bổ sung, thay thế, dự đoán những chỗ khó đối với HS và xây dựng phương án dạy học cho phù hợp
2.4- Hình thức tổ chức và nhiệm vụ giao cho sinh viên học tập theo nhóm trong dạy học môn Phân tích chương trình Vật lý THPT
Sự kết hợp xen kẽ hình thức cặp 2 sv và nhóm 6-7 SV trong các tiết học trên lớp là
phù hợp nhất với thời gian cho phép Ở đây, lớp học được chia thành một số
Trang 2827
nhóm, mỗi nhóm từ 6 đến 7 SV, trong mỗi nhóm lại chia thành 2 hay 3 cặp SV Công việc
giao cho nhóm lớn lúc ban đầu (nhóm 6 đến 7 SV) được phân chia cho từng nhóm nhỏ 2 hoặc
3 sv Sau khi hoàn thành phần công việc được giao, các nhóm nhỏ này trình bày kết quả thực
hiện công việc của mình trước nhóm lớn Kết quả thảo luận của nhóm lớn sẽ được trình bày trước cả lớp
Để thực hiện việc phân tích chương trình và lựa chọn phương pháp dạy học trong
phạm vi giờ học trên lớp thì nhiệm vụ hợp lý để giao cho SV là nghiên cứu nội dung của bài
học trong sách giáo khoa và thực hiện những công việc sau:
- Xây dựng cấu trúc logic của nội dung bài học
- Xác định những kiến thức, kỹ năng cần có ở HS để học tốt bài học này
- Xác dinh những chỗ có thể khó hiểu đối với HS và đưa ra cách sử lý tương ứng
- Tìm kiếm tư liệu bổ sung hoặc thay thế cho phần trình bày trong sách giáo khoa
- Đề xuất phương án dạy bài học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS
3- THỰC NGHIỆM TỔ CHỨC SINH VIÊN HỌC TẬP THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN PHÂN TÍCH CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ THPT
Việc tìm hiểu đối tượng thực nghiệm sư phạm cho thấy các SV của lớp thực nghiệm
thỉnh thoảng cũng được tổ chức học theo nhóm trong các môn Tâm lý học và Giáo dục học Tuy nhiên, để việc tổ chức học theo nhóm được tốt, GV phải giới
Trang 2928
thiệu cho SV của lớp thực nghiệm biết về cơ sở lý luận của việc học tập theo nhóm và hướng dẫn họ thực hiện các nhiệm vụ học tập theo nhóm
3.3- Nội dung thực nghiệm sư phạm
Tổ chức SV học tập theo nhóm khi dạy phân tích nội dung của 18 bài học trong SGK Vật lý 10 nâng cao theo các hình thức tổ chức học tập theo nhóm và các nhiệm vụ giao cho
SV đã được xác định ở trên Các SV của lớp thực nghiệm được chia thành 6 nhóm, mỗi nhóm
có 6 SV (chỉ một nhóm có 7 SV) Khi học bài học đầu tiên, các nhóm được phân chia một cách bất kỳ Sau mỗi bài học, các nhóm được phân chia lại sao cho mỗi sv của nhóm cũ trở thành thành viên của nhóm mới Khi làm việc theo nhóm, mỗi nhóm 6 SV lại được chia thành
3 cặp, mỗi cặp 2 SV (chỉ một nhóm 7 SV được chia thành 2 cặp 2 SV và một cặp 3 SV) Các cặp SV này phải làm phần việc theo sự phân công của nhóm (nhóm 6 SV) rồi trình bày kết quả để cả nhóm thảo luận và rút ra kết luận chung cho cả nhóm Kết quả công việc của cả nhóm được trình bày trước cả lớp để các nhóm khác thảo luận và rút ra kết luận chung của cả
lớp
3.4- Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
Đánh giá khả năng thực hiện các nhiệm vụ được giao của các nhóm SV trong các giờ học thực nghiệm và so sánh kết quả làm bài thi cuối học kỳ của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là lớp Lý 3A (cũng có 37 SV), khoa Vật lý, trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Việc phân chia các sv vào lớp 3A hay 3B được thực hiện theo cách phân chia ngẫu nhiên từ trước đến nay ở khoa Vật lý là chia đôi số SV của mỗi khóa theo thứ tự từ trên
xuống của bảng gọi tên xếp theo thứ tự ABC
3.5- Sơ lược về cấu trúc nội dung của các bài học được dạy thực nghiệm [11]
* Bài 1: Định luật I Niu-tơn
Bài học gồm 4 mục:
- Mục "1 Quan niệm của A-ri-xtốt": Giới thiệu quan niệm của A-ri-xtốt: muốn cho
một vật duy trì được vận tốc không đổi thì phải có vật khác tác dụng lên nó
Trang 3029
- Mục "2 Thí nghiệm lịch sử của Ga-li-lê": Giới thiệu thí nghiệm hòn bi lăn trên
máng nghiêng do Ga-li-lê tiến hành và rút ra kết luận: nếu có thể loại trừ được các tác dụng
cơ học lên một vật thì vật sẽ chuyển động thẳng đều với vận tốc vốn có của nó
- Mục "3 Định luật I Niu-tơn": Giới thiệu định luật I của Niu-tơn và đưa ra khái
niệm vật cô lập
- Mục "4 Ý nghĩa của định luật I tơn": Giới thiệu ý nghĩa của định luật I
Niu-tơn là nêu ra tính chất quan trọng của mọi vật là: mọi vật đều có quán tính, tức là mọi vật đều
có xu hướng bảo toàn vận tốc và hai biểu hiện của quán tính trong hai trường hợp là "tính ì" (trong trường hợp vật có xu hướng giữ nguyên trạng thái đứng yên) và "đà" ( trong trường hợp vật có xu hướng giữ nguyên trạng thái chuyển động)
* Bài 2: Định luật II Niu-tơn
Bài học gồm 5 mục:
- Mục "1 Định luật II Niu-tơn": Giới thiệu ví dụ đẩy hoặc kéo cho một chiếc xe
chuyển động để chỉ ra rằng, vectơ gia tốc mà vật thu được có cùng hướng với vectơ lực tác dụng vào vật, đồng thời độ lớn của gia tốc phụ thuộc vào độ lớn của lực tác dụng và khối lượng của vật thu gia tốc, sau đó là giới thiệu định luật II Niu-tơn và nguyên lý độc lập của tác dụng
Mục "2 Các yếu tố của vectơ lực": Chỉ ra đầy đủ các yếu tố của vectơ lực sau khi
biết định luật II Niu-tơn là: điểm đặt, phương, chiều, độ lớn và đơn vị đo của lực
Mục "3 Khối lượng và quán tính": Chỉ ra ý nghĩa của khối lượng nhờ định luật II
Niu-tơn là: khối lượng đặc trưng cho mức quán tính của vật
Mục "4 Điều kiện cân bằng của một chất điểm": Chỉ ra điều kiện cân bằng của một
chất điểm nhờ định luật II Niu-tơn và đưa ra khái niệm về trạng thái cân bằng của vật
Trang 3130
- Mục "5 Mối quan hệ giữa trọng lượng và khối lượng của một vật": Đưa ra khái
niệm trọng lượng và chỉ ra mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa trọng lượng và khối lượng của vật nhờ định luật II Niu-tơn
* Bài 3: Định luật III Niu-tơn
Bài học gồm 4 mục:
Mục "1 Nhận xét": Nêu ra hai ví dụ và phân tích để rút ra nhận xét: nếu vật A tác
dụng lên vật B thì vật B cũng tác dụng lên vật A Đó là sự tác dụng tương hỗ (hay tương tác) giữa các vật Nội dung cụ thể của hai ví dụ là:
Ví dụ 1: Hai học sinh, An và Bình đi giày trượt pa-tanh đang đứng trên mặt đường phẳng, cứng An đẩy vào lưng Bình dẫn đến kết quả là Bình tiến về trước còn An bị lùi về phía sau
Ví dụ 2: Thanh nam châm và thanh sắt hút nhau
Mục "2 Định luật III Niu-tơn": Nêu ra hai thí nghiệm móc hai lực kế vào nhau
trong hai trường hợp cả hai cùng đứng yên và cả cùng chuyển động để rút ra nhận xét các lực tương tác giữa hai vật luôn nằm trên cùng một đường thẳng (cùng giá), ngược chiều nhau, có cùng độ lớn và được gọi là hai lực trực đối, rồi phát biểu định luật III Niu-tơn qua khái niệm hai lực trực đối
Mục "3 Lực và phản lực": Nêu ra tên gọi lực và phản lực của các lực tương tác giữa
hai vật và cho biết hai lực này là hai lực trực đối, nhưng không cân bằng và chúng có cùng bản chất
Mục "4 Bài tập vận dụng": Nêu ra ba bài tập và lời giải của mỗi bài Yêu cầu cụ thể
của các bài tập là:
+ Bài tập 1: Giải thích trường hợp quả bóng bay đến đập vào tường và bị bật trở lại + Bài tập 2: Giải thích trường hợp hai học sinh cùng kéo hai đầu dây thì dây không đứt, nhưng khi buộc một đầu dây vào một gốc cây rồi cả hai học sinh này cùng kéo một đầu dây thì dây lại bị đứt
+ Bài tập 3: Xét các lực tác dụng vào vật và vào bàn khi đặt một vật trên mặt bàn và chỉ ra các cặp lực trực đối cân bằng và trực đối không cân bằng
Trang 3231
* Bài 4: Lực hấp dẫn
Bài học gồm 3 mục:
- Mục "1 Định luật vạn vật hấp dẫn": Giới thiệu nội dung của định luật vạn vật hấp
dẫn và phương pháp xác định hằng số hấp dẫn bằng cân dây xoắn của Ca-ven-đi-sơ
- Mục "2 Biểu thức của gia tốc rơi tự do": Đưa ra biểu thức của gia tốc rơi tự do từ
biểu thức của lực hấp dẫn và biểu thức của trọng lực
- Mục "3 Trường hấp dẫn, trường trọng lực": Giới thiệu về sự tồn tại của trường
hấp dẫn xung quanh các vật thể và trường hợp riêng là trường hấp dẫn của Trái Đất được gọi
là trường trọng lực và gia tốc rơi tự do được gọi là gia tốc trọng trường
* Bài 5: Lực đàn hồi Bài học gồm 3 mục:
Mục "1 Khái niệm về lực đàn hồi": Đưa ra khái niệm về lực đàn hồi qua sự phân
tích hai ví dụ làm cho vật biến dạng là kéo dãn một lò xo và đặt một quả cân lên thanh cao su nằm ngang, sau đó là đưa ra trường hợp lực tác dụng vượt quá giới hạn đàn của vật chịu tác dụng của lực
Mục "2 Một vài trường hợp thường gặp": Giới thiệu lực đàn của lò xo và lực căng
của dây treo, định luật Húc về quan hệ giữa độ lớn của lực đàn hồi và độ biến dạng của lò xo
Mục "3 Lực kế": Giới thiệu việc ứng dụng định luật Húc để chế tạo các lực kế và
cách ghi số chỉ của vạch chia độ trên các lực kế
* Bài 6: Lực ma sát
Bài học gồm 4 mục:
Mục "1 Lực ma sát nghỉ": Giới thiệu sự xuất hiện của lực ma sát nghỉ, cách xác
định phương, chiều, độ lớn của lực ma sát nghỉ và giá trị của hệ số ma sát nghỉ
Mục "2 Lực ma sát trượt": Giới thiệu sự xuất hiện của lực ma sát trượt, cách xác
định phương, chiều, độ lớn của lực ma sát trượt và giá trị của hệ số ma sát trượt
Trang 3332
- Mục "3 Lực ma sát lăn": Giới thiệu về sự xuất hiện của lực ma sát lăn, quan hệ về
độ lớn của lực ma sát lăn với áp lực N và quan hệ giữa hệ số ma sát lăn và hệ số ma sát trượt
Mục "4 Vai trò của ma sát trong đời sống": Giới thiệu về vai trò của các loại ma sát
Mục "2 Cân bằng của một vật rắn dưới tác dụng của ba lực không song song":
Giới thiệu điều kiện cân bằng của một vật rắn chịu tác dụng của ba lực không song song và một thí nghiệm minh họa là sự cân bằng của vật hình nhẫn được treo bằng hai sợi dây
Mục "3 Ví dụ": Đưa ra ví dụ xét sự cân bằng của vật hình hộp trên mặt phẳng
nghiêng có ma sát
* Bài 8: Quy tắc hợp lực song song Điều kiện cân bằng của một vật rắn dưới tác dụng của ba lực không song song
Bài học gồm 4 mục:
Mục "1 Thí nghiệm tìm hợp lực của hai lực song song": Giới thiệu thí nghiệm tìm
độ lớn và điểm đặt của hợp lực của hai lực song song cùng chiều
Mục "2 Quy tắc hợp hai lực song song cùng chiều": Giới thiệu quy tắc tìm hợp lực
của hai lực song song cùng chiều và chỉ dẫn cách tìm hợp lực của nhiều lực song song cùng chiều; lí giải về trọng tâm của vật rắn trên cơ sở của quy tắc hợp lực song song cùng chiều; giới thiệu cách phân tích một lực thành hai lực song song nhờ quy tắc tìm hợp lực của hai lực song song cùng chiều và đưa ra một bài tập vận dụng
Mục "3 Điều kiện cân bằng của vật rắn dưới tác dụng của ba lực song song": Chỉ
ra cách lập luận để rút ra kết luận về điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của ba lực song song, nội dung của điều kiện này và ví dụ về sự cân bằng
Trang 3433
của thanh sắt dưới tác dụng của ba lực không song song trong bài tập vận dụng ở mục trên
- Mục "4 Quy tắc hợp hai lực song song không trái chiều": Giới thiệu cách suy
luận từ điều kiện cân bằng của vật rắn dưới tác dụng của ba lực song song để rút ra quy tắc tìm hợp lực của hai lực song song trái chiều
Mục "5 Ngẫu lực": Giới thiệu về khái niệm ngẫu lực, tác dụng làm quay vật, cách
tính mômen và đơn vị đo của ngẫu lực
* Bài 9: Mô men lực Điều kiện cân bằng của một vật rắn có trục quay cố định Bài học gồm 4 mục:
Mục "1 Nhận xét về tác dụng của một lực lên một vật rắn có trục quay cố định":
đưa ra ví dụ về vật rắn có trục quay cố định là cánh cửa và từ cách đẩy cho cánh cửa quay mà đưa ra nhận xét về tác dụng làm quay của một lực lên vật có trục quay cố định từ trạng thái đứng yên phụ thuộc vào độ lớn của lực và khoảng cách từ trục quay tới giá của lực
Mục "2 Mômen của lực đối với một trục quay": giới thiệu thí nghiệm để rút ra biểu
thức tính và đơn vị đo của đại lượng đặc trưng cho tác dụng làm quay vật quanh một trục là mômen của lực
Mục "3 Điều kiện cân bằng của một vật rắn có trục quay cố định": giới thiệu điều
kiện cân bằng của một vật rắn có trục quay cố định hay quy tắc momen
Mục "4 Ứng dụng": Giới thiệu một ứng dụng của quy tắc mômen trong thực tế là
chế tạo cân đòn và việc ứng dụng quy tắc momen cả trong trường hợp vật không có trục quay
cố định qua ví dụ dùng chiếc cuốc chim để bẩy một tảng đá
* Bài 10: Định luật bảo toàn động lượng
Bài học gồm 3 mục:
- Mục "1 Hệ kín": chỉ ra rằng, việc giải bài toán cơ học sẽ đơn giản hơn nếu hệ vật
được khảo sát là hệ kín, đưa ra khái niệm hệ kín và chỉ ra trường hợp hệ được coi là kín
Trang 3534
- Mục "2 Các định luật bảo toàn": chỉ ra một phương pháp khác để giải các bài toán
cơ học là phương pháp dùng các định luật bảo toàn, khái niệm về sự bảo toàn của các đại lượng vật lý và giới thiệu một số định luật bảo toàn đã được thiết lập đối với hệ kín
- Mục "3 Định luật bảo toàn động lượng": Giới thiệu việc vận dụng các định luật II
và III Niu-tơn để đưa ra đại lượng vật lý mới là động lượng của một vật và định luật bảo toàn động lượng
* Bài 11: Chuyển động bằng phản lực Bài tập về định luật bảo toàn động lượng Bài học gồm 3 mục:
- Mục "1 Nguyên tắc chuyển động bằng phản lực": Giới thiệu nguyên tắc chuyển
động bằng phản lực và chỉ ra một ví dụ về chuyển động bằng phản lực là hiện tượng giật lùi của súng khi bắn
- Mục "2 Động cơ phản lực Tên lửa": Giới thiệu về động cơ phản lực và tên lửa là
hai trường hợp ứng dụng của định luật bảo toàn động lượng
- Mục "3 Bài tập về định luật bảo toàn động lượng": Giới thiệu ba bài tập đòi hỏi
phải ứng dụng định luật bảo toàn động lượng để giải Yêu cầu cụ thể của các bài tập là:
+ Bài tập 1: Xét trường hợp nhà du hành vũ trụ đang đi bộ ngoài không gian thì gặp
sự cố nên cần phải ném một bình ôxi để quay trở về tàu vũ trụ
+ Bài tập 2: Xét bài toán hai vật chuyển động ngược chiều va chạm vào nhau + Bài tập 3: Xét trường hợp viên đạn đang bay nổ thành hai mảnh
* Bài 12: Công và công suất
Bài học gồm 4 mục:
- Mục "1 Công": Giới thiệu định nghĩa, biểu thức tính của công; công phát động,
công cản, trường hợp có lực tác vào vật chuyển động nhưng không có công; đơn vị của công
và công của lực biển đối
- Mục "2 Công suất": Giới thiệu định nghĩa, biểu thức tính của công suất qua khái
niệm công, đơn vị của công suất; biểu thức khác để tính công suất qua tích vô
Trang 3635
hướng của các vectơ lực và độ dời trong khoảng thời gian tương ứng hay tích vô hướng của các vectơ lực và vận tốc để từ đó giới thiệu ứng dụng trong việc chế tạo hộp số trong các động cơ ôtô, xe máy
- Mục "3 Hiệu suất": Giới thiệu về định nghĩa và biểu thức tính của hiệu suất
- Mục "4 Bài tập vận dụng": Xét bài toán tính công, xác định công dương, công âm
và hiệu suất trong trường hợp vật chuyển động trên mặt phẳng nằm ngang dưới tác dụng của một lực hợp với chuyển dời một góc khác không
* Bài 13: Động năng Định lí động năng
Bài học gồm 3 mục:
- Mục "1 Động năng": Đưa ra ví dụ dùng một quả nặng treo ở đầu một cần cẩu để
phá một bức tường để dẫn tới khái niệm động năng là năng lượng do vật chuyển động mà có
và biểu thức tính động theo vận tốc và khối lượng của vật; nhận xét về tính chất của động năng và giới thiệu một ví dụ về tính động năng của một viên đạn nhỏ và động năng của một vận động viên để rút ra nhận xét về sự ảnh hưởng mạnh của vận tốc đối với giá trị của động năng
- Mục "2 Định lý động năng": Giới thiệu cách xây dựng biểu thức của định lý động
năng từ trường hợp vật chịu tác dụng của một lực không đổi và chuyển động theo phương của lực, phát biểu định lý động năng và xét các trường hợp công dương, công âm ứng với lực phát động và lực cản; giới thiệu việc áp dụng định lý động năng cho cả trường hợp lực thay đổi và vật chuyển động theo đường bất kỳ
- Mục "3 Bài tập vận dụng": Giới thiệu việc vận dụng định lý động năng để giải một
bài toán về chuyển động của máy bay trên đường để cất cánh và chỉ ra rằng, nếu áp dụng định luật II Niu-tơn và các công thức về chuyển động thẳng biến đổi đều để giải bài toán này thì cũng thu cùng được kết quả, nhưng phải có điều kiện là lực không đổi
* Bài 14: Thế năng Thế năng trọng trường
Bài học gồm 4 mục:
- Mục "1 Khái niệm thế năng": Xét ví dụ về hoạt động của búa máy và ví dụ về
người bắn cung để đưa ra khái niệm ban đầu về thế năng là dạng năng lượng phụ
Trang 3736
thuộc vị trí tương đối của vật so với mặt đất hoặc phụ thuộc độ biến dạng của vật so với trạng thái chưa biến dạng
- Mục "2 Công của trọng lực": Xét trường hợp vật di chuyển từ điểm B có độ cao
ZB đến điểm C có độ cao ZC so với mặt đất để rút ra công thức tính công của trọng lực và lời
nhận xét rằng, công của trọng lực không phụ thuộc hình dạng đường đi của vật mà chỉ phụ thuộc các vị trí đầu và cuối; đưa ra khái niệm lực thế hay lực bảo toàn
- Mục "3 Thế năng trọng trường": Giới thiệu biểu thức tính thế năng của vật trong
trọng trường; mối quan hệ giữa công của trọng lực với độ giảm thế năng của vật và chỉ ra rằng, mối quan hệ này cho thấy: công là số đo sự biến đổi năng lượng; đơn vị tính thế năng;
sự phụ thuộc của giá trị thế năng vào việc chọn gốc tọa độ hay mức không của thế năng; giải thích nguyên nhân vật có thế năng là do có lực hút của Trái Đất, coi thế năng của vật cũng là thế năng của hệ vật - Trái Đất và khái quát kết quả đối trường hấp dẫn bất kỳ
Mục "4 Lực thế và thế năng": Chỉ ra các trường hợp của lực thế và từ trường hợp
vật có thế năng do chịu tác dụng của trong lực mà khái quát rằng khái niệm thế năng luôn gắn với lực thế, rồi đưa ra định nghĩa thế năng là năng lượng của một hệ có được do tương tác giữa các phần của hệ thông qua lực thế
* Bài 15: Thế năng đàn hồi
Bài học gồm 2 mục:
Mục "1 Công của lực đàn hồi": Đưa ra khái niệm thế năng đàn hồi và xét chuyển
động của con lắc lò xo để thiết lập công thức tính công của lực đàn hồi bằng phương pháp đồ thị và rút ra nhận xét: công này chỉ phụ thuộc các độ biến dạng đầu và cuối của lò xo, tức là lực đàn hồi cũng là lực thế
Mục "2 Thế năng đàn hồi": Giới thiệu biểu thức và đơn vị của thế năng đàn hồi; chỉ
ra mối quan hệ giữa công của lực đàn hồi và độ giảm thế năng đàn hồi; cho biết việc tính thế năng đàn hồi cũng phụ thuộc vào việc chọn mức không của thế năng đàn hồi, tức là giá trị của thế năng đàn hồi cũng được xác định sai khác nhau một hằng số
Trang 3837
* Bài 16: Định luật bảo toàn cơ năng
Bài học gồm 3 mục:
- Mục "1 Thiết lập định luật": Xét chuyển động của vật rơi tự do để rút ra định luật
bảo toàn cơ năng đối với vật chuyển động chỉ dưới tác dụng của trọng lực và xét chuyển động của con lắc lò xo để rút ra định luật bảo toàn cơ năng đối với vật chịu tác dụng của lực đàn hồi, rồi từ đó rút ra định bảo toàn cơ năng đối với vật chuyển động chỉ chịu tác dụng của những lực thế
- Mục "2 Biến thiên cơ năng" Công của lực không phải lực thế: Xét chuyển động
của vật chịu tác dụng của cả lực thế lẫn lực không phải lực thế để rút ra kết luận: khi vật chuyển động dưới tác dụng của cả lực thế lẫn lực không phải lực thế thì cơ năng của vật không bảo toàn và công của lực không phải lực thế bằng độ biến thiên cơ năng của vật
- Mục "3 Bài tập vận dụng": Giới thiệu hai bài toán đòi hỏi phải vận dụng định luật
bảo toàn cơ năng và mối quan hệ giữa công của lực không phải lực thế với độ biến thiên cơ năng của vật để giải Yêu cầu cụ thể của các bài tập là:
+ Bài tập 1: Xét chuyển động của con lắc đơn đã được giới thiệu ở phần mở bài + Bài tập 2: Xét chuyển động của xe lăn trên một đoạn đường cong khi bỏ qua ma sát
và khi có ma sát
* Bài 17: Va chạm đàn hồi và không đàn hồi
Bài học gồm 4 mục:
- Mục "1 Phân loại va chạm": Giới thiệu sự phân loại các va chạm thành va chạm
đàn hồi và va chạm mền và cho biết trong tất cả các loại va chạm thì động lượng của hệ luôn được bảo toàn, trong va chạm đàn hồi thì động năng của hệ được bảo toàn, trong va chạm mền thì động năng của hệ không được bảo toàn
Mục "2 Va chạm đàn hồi trực diện": Giới thiệu trường hợp va chạm đàn hồi trực
diện là sự va chạm giữa hai quả cầu rắn, nhẵn chuyển động theo phương nằm ngang; vận dụng sự bảo toàn động lượng và bảo toàn động năng của hệ để rút ra các
Trang 39- Mục "4 Bài tập vận dụng": Xét bài toán va chạm đàn hồi trực diện của hai hòn bi
có khối lƣợng hơn kém nhau ba lần và rút ra quan hệ về vận tốc của hai hòn bi sau va chạm trên cơ sở vận dụng kiến thức về va chạm đàn hồi trực diện
* Bài 18: Các định luật Kê-ple Chuyển động của các vệ tinh
Bài học gồm 4 mục:
- Mục "1 Mở đầu": Giới thiệu khái quát về thiên văn học, thuyết địa tâm của
Pto-lê-mê và thuyết nhật tâm của Cô-péc-níc
- Mục "2 Các định luật Kê-ple": Giới thiệu ba định luật Kê-ple về chuyển động của
các hành tinh trong hệ Mặt Trời và cách chứng minh định luật thứ ba của Kê-ple trên cơ sở của định luật vạn vật hấp dẫn của Niu-tơn
- Mục "3 Bài tập vận dụng": Giới thiệu hai bài tập đòi hỏi phải vận dụng các định
luật Kê-ple để tính toán về chuyển động của các hành tinh trong hệ Mặt Trời và tính khối lƣợng của Mặt Trời theo dữ kiện đã cho về chuyển động của hành tinh Yêu cầu cụ thể của các bài tập là:
+ Bài tập 1: Tính thời gian một năm trên Hỏa tinh khi biết tỉ lệ khoảng cách từ Hỏa tinh đến Mặt Trời và khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời
+ Bài tập 2: Tính khối lƣợng của Mặt Trời khi biết khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời và thời gian quay một vòng của Trái Đất quanh Mặt Trời
3.6 Nhận xét về kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập theo nhóm của sinh viên
Quá trình thực nghiệm sƣ phạm cho thấy:
- SV hứng thú với hình thức tổ chức học tập theo nhóm
Trang 4039
- Các nhóm SV làm việc nghiêm túc, tranh luận sôi nổi để hiểu đúng những điều được trình bày trong sách giáo khoa và hoàn thành các nhiệm vụ được giao Các SV còn chỉ ra những điều trình bày trong sách không phù hợp với thực tế và tìm ra những ví dụ bổ sung hoặc thay thế cho các ví dụ đã có trong sách giáo khoa Một số ví dụ minh họa cho những điều này là:
+ Chỉ ra tính không thực tế của việc so sánh khối lượng của ô tô chở gạo với ô tô chở cát và hình ảnh quả bong bay đứng yên khi trời có gió trong bài "Định luật II Niu-tơn"
+ Đưa ra ví dụ thay thế cho ví dụ về hai học sinh đi giày trượt patin ở bài "Định luật III Niu-tơn" cho phù hợp với học sinh ở vùng không biết đến loại phương tiện này
+ Chỉ ra sự không phù hợp của hình vẽ minh họa "Táo rơi, nhưng Mặt Trăng không rơi!" ở bài "Lực hấp dẫn" và đề xuất đưa hình này sang bài có nói về lực hướng tâm thì hợp
lý hơn, còn ở bài "Lực hấp dẫn" thì chỉ cần có hình vẽ về quả táo rơi với câu hỏi "Vì sao quả táo rơi" là đủ
+ Đưa ra cách chứng minh lực căng ở hai đầu dây luôn có cùng độ lớn khi dây có khối lượng không đáng kể ở bài "Lực đàn hồi"
+ Giải thích nguyên nhân của hiện tượng trọng tâm của một số vật lại không nằm trên vật, chỉ ra ví dụ minh họa cho việc có thể phân tích một lực thành vô số cặp lực song song và
đề xuất phương án thí nghiệm tìm hợp lực của hai lực song song ngược chiều ở bài "Quy tắc hợp lực song song Điều kiện cân bằng của một vật rắn dưới tác dụng của ba lực song song"
+ Đề nghị đưa ra thêm các ví dụ về các hệ được coi là kín thường gặp trong thực tế như: sự va chạm giữa hai vật chuyển động, bắn súng, hệ Trái Đất và Mặt Trăng trong bài
"Định luật bảo toàn động lượng"
+ Giới thiệu thí nghiệm về chuyển động bằng phản lực của Niu-tơn và xét chuyển động của con mực, con sứa trong bài "Chuyển động bằng phản lực Bài tập về định luật bảo toàn động lượng"