năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, có năng lực tạo nghiệp, tiến thân, lập nghiệp trong thị trường “sức lao động” [tr37.2] Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác địn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TÂN LƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TÂN LƯƠNG
Chuyên ngành: Quản Lý Giáo Dục
Mã số: 60 14 55
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới TS Trần Thị Hương, người đã
trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong tổ Giáo Dục
Học, ban chủ nhiệm khoa Giáo Dục Học, phòng Quản lí sau đại học – trường Đại học
Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn tự đáy lòng tới Ban giám hiệu nhà trường, các trường Trung học phổ thông Quận 11, Tp Hồ Chí Minh, tới gia đình và những người
bạn thân thiết đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành khoá học
Thành ph ố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 12 năm 2010
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ VIỆC THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP
D ẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG THPT QUẬN 11, TP.HCM0T 35 2.1 Khái quát v ề tình hình giáo dục tại Quận 11, TP HCM 35
Trang 6của nền giáo dục Việt Nam trong thế kỉ qua là hết sức to lớn, là cơ sở, điều kiện để thực
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Ngày nay, Giáo dục được xem là “quốc sách hàng đầu” và trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp, tham gia một cách quyết định vào việc cung ứng những con người có đủ
phẩm chất và tài năng để xây dựng và phát triển sản xuất
Phương pháp dạy học tích cực đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học ở trường THPT nhằm tạo ra những thế hệ học sinh có năng lực hoạt động độc lập, sáng tạo
chứ không phải là những học sinh thụ động Muốn tạo ra được những học sinh như vậy, phương pháp dạy học ở trường THPT không chỉ đơn thuần là giáo viên truyền đạt và học sinh tiếp thu, học thuộc những tri thức mà thầy cung cấp, chúng đòi hỏi học sinh phải biết đi
từ những tri thức cơ sở mà giáo viên truyền thụ đến những tri thức khác bằng đầu óc của mình Các phương pháp dạy học tích cực chính là những phương pháp dạy học giúp chúng
ta giải quyết nhiệm vụ này
Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong ngành Giáo
dục nước ta từ năm 1960 Cũng ở thời điểm đó, trong các trường Sư phạm đã có khẩu hiệu:
“Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cuộc cải cách Giáo dục lần hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo
những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước Thế nhưng, cho đến nay phương pháp
dạy học ở trường phổ thông phổ biến vẫn là cách dạy thông báo kiến thức định sẵn, cách
học thụ động sách vở vẫn là “thầy đọc – trò chép” hoặc giảng giải xen kẽ, vấn đáp tái hiện,
giải thích minh họa bằng tranh Mặc dù trong nhà trường đã xuất hiện nhiều tiết dạy tốt của giáo viên giỏi, theo hướng tổ chức các hoạt động tìm tòi tri thức mới ở học sinh nhưng vẫn chưa mang tính thường xuyên và ổn định
Trong giai đoạn hiện nay mục tiêu của giáo dục là phải đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, tự chủ, có óc phê phán, có năng lực giải quyết vấn đề mới nảy sinh, có
Trang 7năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, có năng lực tạo nghiệp, tiến thân, lập nghiệp trong
thị trường “sức lao động” [tr37.2]
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (2/1999), Nghị quyết trung ương 7 khóa X (2008), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ GD & ĐT, đặc biệt
gần đây nhất là chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT (27-7-2008) về việc phát động phong trào thi
đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai
đoạn 2008-2013
Điều 28, Luật Giáo dục 2005 nêu rõ yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông là: “Phương phápg giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng t ạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp t ự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn, tác động đến tình
c ảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và
học là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Thực
10B
2 M ục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng thực hiện phương pháp dạy học tích cực và quản lí việc thực
hiện phương pháp dạy học tích cực ở các trường THPT quận 11 TP HCM, trên cơ sở đó đề
xuất một số biện pháp quản lí thực hiện các phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT
11B
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
pháp dạy học tích cực ở trường THPT quận 11 Tp HCM
12B
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý việc thực hiện PPDH tích cực ở các trường THPT quận 11, TP HCM đã được thực hiện và bước đầu đạt được một số kết quả Tuy nhiên, công tác này vẫn còn một số hạn chế và bất cập trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện
Trang 8cũng như công tác kiểm tra, đánh giá Nguyên nhân của thực trạng này có thể do chưa có các biện pháp quản lý đồng bộ và thật sự hiệu quả Vì vậy khi đánh giá đúng thực trạng và
đề xuất biện pháp quản lý thiết thực thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lí việc thực
hiện PPDH tích cực nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy học ở trường THPT
13B
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa những cơ sở lý luận về quản lý việc thực hiện PPDH tích cực ở trường THPT
5.2 Khảo sát thực trạng thực hiện và quản lý việc thực hiện PPDH tích cực ở trường THPT
quận 11, TP.HCM
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý việc thực hiện PPDH tích cực ở trường THPT
14B
6 Gi ới hạn đề tài
Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng thực hiện PPDH tích cực và quản lý việc thực
hiện PPDH tích cực ở các trường THPT công lập Quận 11, TPHCM
15B
7 Phương pháp nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ
chặt chẽ giữa công tác quản lý việc thực hiện PPDH tích cực với quản lý các hoạt động sư
phạm khác ở trường học đồng thời xem công tác quản lý nhà trường là một hệ thống, trong
đó quản lý việc thực hiện PPDH tích cực trong giảng dạy là một hệ thống con với các yếu tố
hợp thành Từ đó giúp tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý việc thực hiện PPDH tích cực
- Quan điểm thực tiễn
Việc đề ra các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc
thực hiện PPDH tích cực dựa trên việc khảo sát thực trạng quản lý việc thực hiện PPDH tích
cực trong giảng dạy ở trường THPT quận 11 Qua khảo sát, tìm ra những mặt mạnh, mặt
yếu, những nguyên nhân, hạn chế từ đó đề ra các biện pháp mang tính khả thi
Trang 9- Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm lịch sử - logic giúp người nghiên cứu xác định phạm vi, không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, đồng thời nghiên cứu đối tượng trong quá trình phát triển của nó
7 2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này nhằm phân tích, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
7 2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Điều tra bằng phiếu hỏi
Đây là phương pháp chủ đạo được sử dụng nhằm khảo sát thực trạng Phiếu hỏi bao
gồm những câu hỏi nhiều lựa chọn ở các mức độ khác nhau về thực hiện PPDH tích cực và
quản lí việc thực hiện PPDH tích cực ở trường THPT Ngoài câu hỏi đóng, chúng tôi còn sử
dụng các câu hỏi mở nhằm khai thác thêm những ý kiến của BGH, giáo viên về việc thực
hiện triển khai các PPDH tích cực trong các tiết học
Phương pháp này nhằm thu thập những thông tin đáng tin cậy từ những chuyên gia,
những nhà nghiên cứu giáo dục và thực hiện nhằm tìm ra những thuận lợi, khó khăn khi triển khai các PPDH tích cực
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này nhằm xử lý thống kê kết quả nghiên cứu bằng phần mềm SPSS
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG THPT
16B
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
30B
Ngay từ thời cổ đại, vấn đề phát huy tính tích cực của người học đã được các nhà giáo dục quan tâm Điển hình là Xocrat với phương pháp vấn đáp Ơcristic
Đến thế kỷ XVII, J.A.Komenxki trong tác phẩm “Lý luận dạy học”, lần đầu tiên trong lịch sử đã nêu tính tự giác, tính tích cực là một trong những nguyên tắc dạy học, J.J Rutxô thì chủ trương phải làm cho trẻ tích cực, phải dành lấy kiến thức bằng con đường khám phá ra nó Đistervec đã nói: “Người giáo viên tồi là người cung cấp cho học sinh chân
lý, còn người giáo viên giỏi là người cung cấp cho học sinh cách đi tìm chân lý” Usinxki cho rằng, tính tích cực độc lập của học sinh trong quá trình dạy học được coi là “cơ sở vững
chắc cho sự học tập hiệu quả”.[39]
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhờ sự thành công của phong trào nhà trường mới tích cực, vấn đề này đã được nhiều nhà giáo dục và tâm lý học nghiên cứu vận dụng L.Dewey đã thành lập “nhà trường tích cực” và phát triển cách học tập nhóm của học sinh
Sau này Kerschensteiner cùng với J.Dewey cố gắng thực hiện những nguyên tắc của nhà trường tích cực vào việc cải cách nhà trường trung học và tiểu học Ngoài phương pháp
dạy học, ông còn muốn thông qua hình thức tự quản của học sinh mà phát triển cá tính của
họ Ông chỉ ra rằng những hoạt động chung chẳng những khơi dậy tinh thần trách nhiệm cá nhân trong lương tâm của mỗi người, mà còn loại bỏ được tất cả những hành động gây ra
bởi những động cơ có tính chất ích kỷ, đồng thời hình thành cho con người có thói quen tốt
là tinh thần xã hội Ngoài ra Kerschensteiner còn lưu ý cách tổ chức học tập nhóm, nếu sử
dụng không đúng, đôi khi hình thành nhóm học tập có thể dẫn tới một hình thức đặc thù
của sự ích kỷ đó là “ích kỷ cộng đồng” Sau một thời gian làm việc chung, nhóm đã trở thành một cá thể và lại vì quyền lợi, vì ganh đua, cá thể đó trở lại ích kỷ
Ở Pháp, vào năm 1920 đã hình thành những nhà trường mới, đặt vấn đề phát triển năng lực trí tuệ của trẻ, khuyến khích các hoạt động do chính học sinh tự quản Xu hướng
Trang 11này đã ảnh hưởng sang Mỹ và nhiều nước Châu Âu Ở Pháp ngay sau đại chiến thứ 2 đã ra đời những lớp học mới tại một số trường trung học thí điểm Điểm xuất phát của mỗi hoạt động đều tùy thuộc và sáng kiến, hứng thú, lợi ích, nhu cầu của học sinh Giáo viên là người giúp đỡ phối hợp cùng các hoạt động của học sinh, hướng vào sự phát triển nhân cách của
học sinh Những thí điểm này chỉ duy trì được 7 năm, tuy đã có những gợi ý rất hay Các thông tư chỉ thị của Bộ giáo dục Pháp trong suốt những năm 70, 80 đều khuyến khích tăng cường vai trò chủ động của học sinh, chỉ đạo áp dụng phương pháp dạy học tích cực từ bậc
sơ học, tiểu học lên trung học
Ở Nga, vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức của các học sinh càng được quan tâm
và nghiên cứu Nhiều tác giả như Aristova, L.Babanxki, I.F.Lecne, I.Ia Makhumtov, M.N.Xcatkin,…đã nghiên cứu con đường phát huy tính tích cực của học sinh với những nội dung, đó là hoàn thiện nội dung dạy học, hoàn thiện các phương pháp dạy học và hoàn thiện
những hình thức tổ chức dạy học Và một số xu hướng mới trong dạy học cũng được đề cập
tới như “dạy chương trình hóa”, “dạy học nêu vấn đề” và “dạy học algorit”
Trong những thập kỷ gần đây, phương pháp dạy học tích cực tiếp tục phát triển với
những hình thức mới Người ta đặt mục đích giáo dục không chỉ là dạy học vấn mà còn là đào tạo năng lực Từ đó, xuất hiện phương pháp giáo dục theo mục tiêu, với chương trình được thiết kế theo khả năng của cá nhân người học, với sự nhấn mạnh vào đào tạo về mặt phương pháp – được coi như mục đích dạy học Học sinh được trang bị một cách hệ thống
khả năng và công cụ trí tuệ cho phép giải quyết thành công những vấn đề, hoàn thành những
mục tiêu đề ra Để đào tạo năng lực thích nghi tự chủ người ta giáo dục ý chí hành động, ý
thức trách nhiệm với công việc [39]
31B
Ở nước ta, phương pháp dạy học tích cực cũng được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu như Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Thái Duy Tuyên,
Phạm Viết Vượng, Đặng Thành Hưng… Trong các công trình của mình (giáo trình, sách và các bài báo đăng trên các tạp chí), các tác giả đều bàn đến các phương pháp dạy học tích cực – phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh trong quá trình dạy học
Nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về PPDH nói chung và PPDH của
từng bộ môn trong nhà trường nói riêng Một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về PPDH
Trang 12tích cực như: “Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy môn Văn ở trường THPT TP.HCM”; “Lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực cụ thể cho các bài học Vật lý lớp 10 ở trường THPT” hay “Sử dụng phương pháp dạy học tích cực lấy
học sinh làm trung tâm bằng các bài học nhận thức trong dạy học địa lý 10 ban khoa học tự nhiên ” Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã làm nổi bật bản chất của phương pháp dạy học tích cực là phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của học sinh, gia tăng sự tương tác đa chiều trong hoạt động dạy học…, khảo sát và đánh giá thực trạng sử
dụng PPDH tích cực ở một số trường học cụ thể Tuy nhiên hiện chưa có một đề tài, công trình nghiên cứu nào về quản lý việc thực hiện các PPDH tích cực trong giảng dạy ở trường THPT quận 11, Tp HCM
17B
1.2 M ột số khái niệm cơ bản
32B
1.2.1 Qu ản lí
Quản lý là một yếu tố cấu thành sự tồn tại của xã hội loài người Ngày nay, quản lý
đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lý từ nhiều góc độ khác nhau Theo góc độ tổ chức thì quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, kiểm tra Dưới góc độ điều khiển học thì quản lý
là điều hành, điều khiển, chỉ huy Dưới góc độ của lý thuyết hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức phối
hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất – xã hội để đạt được mục đích đã định
Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô – 1977 – “quản lý là chức năng của những hệ
thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật) Nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình mục đích
hoạt động” [20]
Theo F.W.Taylor: “Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm và sau đó
thấy được rằng họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [7]
Theo Koontz, O Donnell và Weihrich: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các
mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư
Trang 13cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là
một khoa học” [13]
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình
có mục tiêu Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người
quản lý mong muốn” [27]
Theo Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài
lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ
chức với hiệu quả cao nhất” [19]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch
của chủ thế quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt
mục đích nhất định” [30]
Tuy có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau song các khái niệm quản lý đều mang dấu hiệu chung có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích
c ủa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra
Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động “Ai quản lý?” đó là chủ thể quản lý (chủ thể quản lý chỉ có thể là một cá nhân, hoặc một tổ chức do con người cụ thể lập nên) Còn “quản lý ai?”, “quản lý sự việc gì?” đó là đối tượng quản lý Bản chất của hoạt động
quản lý là việc phát huy được nhân tố con người trong tổ chức Hoạt động quản lý có những yêu cầu khách quan, phổ biến đối với những người làm quản lý, đó là những chức năng chung và cơ bản của hoạt động quản lý
33B
1.2.2 Qu ản lí nhà trường
Nhà trường là một thiết chế riêng biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo các
kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo nói trên đạt được các mục tiêu mà xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động và sự kiến tạo này đạt được một cách tối ưu theo quan niệm
Trang 14trong xã hội Có thể phân biệt nhà trường với các thiết chế khác thông qua các dấu hiệu cơ
bản sau: Tính mục đích, tính tổ chức và tính kế hoạch cao, tính hiệu quả, tính biệt lập tương đối hay tính lý tưởng hoá các giá trị xã hội, tính chuyên biệt cho từng đối tượng hay tính phân biệt đối xử theo sự phát triển tâm lý và thể chất.[23]
Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã đưa ra các khái niệm về quản lý nhà trường như sau:
M.I Kônđacôp cho rằng: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu
quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội – sư phạm chuyên biệt, hệ
thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu các mặt xã
hội – kinh tế, tổ chức sư phạm của quá trình dạy và học, giáo dục thế hệ ðang lớn lên” [25]
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ
trẻ với từng HS” [12]
Theo Hà Sĩ Hồ: “Quản lý nhà trường, QLGD là tổ chức hoạt động dạy học Có tổ
chức hoạt động dạy – học, thực hiện được tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã
hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục” [17]
Như vậy, quản lý nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác định, đó là nhà
trường (đơn vị giáo dục) Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở
những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo
dục Do đó quản lý nhà trường cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy
mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo Như vậy, Quản lý nhà trường là
hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường [28]
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một
trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực
phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp trẻ thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ,
biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội [12]
Trang 15Quản lí hoạt động dạy học được phân thành hai qui trình cơ bản là:
- Quản lí hoạt động dạy học trên lớp
- Quản lí hoạt động dạy học ngoài giờ lên lớp
Trong hoạt động sư phạm, hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm và đặc trưng nhất
ở trường phổ thông Hoạt động dạy học được tiến hành với mục đích tổ chức - điều khiển
nhằm tối ưu hóa hoạt động học tập, giúp người học chiếm lĩnh tri thức khoa học và qua đó hình thành nhân cách
Quản lí hoạt động dạy học là quá trình mà người hiệu trưởng phải hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra – đánh giá hoạt động dạy học của GV như quản lý việc chuẩn bị dạy
học của giáo viên bao gồm kế hoạch dạy học, giáo án, thiết bị, các mối quan hệ giữa GV -
GV, GV - HS, GV - phụ huynh; quản lý việc lên lớp; quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn; quản
lý việc kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra
Hoạt động quản lí này chiếm thời gian và công sức khá lớn của người hiệu trưởng Trong quá trình đó, người hiệu trưởng chủ yếu phải tập trung vào hoạt động dạy của thầy và là trực
tiếp với thầy, gián tiếp với trò; thông qua quản lí hoạt động dạy của thầy mà quản lí hoạt động học của trò
35B
Phương pháp (méthode) là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích
đã định Phương pháp có cấu trúc phức tạp bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện trí tuệ),
chủ thể, quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được)
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động có trình tự, phối hợp, tương tác của
giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng
ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của người học "Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với
Trang 16nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng
theo nghĩa trái với tiêu cực
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích
cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động [14;15]
Qu ản lý phương pháp dạy học tích cực chính là điều khiển quá trình dạy học thực
hiện PPDH tích cực trong giảng dạy sao cho quá trình đó vận hành có khoa học, có tổ chức theo những quy luật khách quan và được sự chỉ đạo, giám sát thường xuyên nhằm thực hiện
mục tiêu dạy học
Để quản lý PPDH tích cực hiệu quả, người hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở pháp lý
và cơ sở thực tiễn để điều hành hoạt động: Cơ sở pháp lý hiện nay đó là Luật giáo dục, Điều
lệ trường Trung học, Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD – ĐT về thực hiện nhiệm vụ năm học ban hành từng năm, các chương trình, kế hoạch dạy học… Cơ sở thực tiễn là tình hình phát triển giáo dục của thế giới, của đất nước, của địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình phát triển của việc thực hiện PPDH tích cực trong nhà trường; thực tiễn phát triển về qui mô, chất lượng, cơ sở vật chất của nhà trường cũng như tình hình đội ngũ cán bộ - giáo viên - nhân viên hiện có …
1.3.1.1 Cơ sở khoa học đổi mới phương pháp dạy học
* Nh ững yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt
là công nghệ thông tin, kiến thức không còn là tài sản riêng của trường học Học sinh có thể
tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nguồn khác nhau Các nguồn thông tin phong phú đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi
mới cách dạy và học
Công nghệ thông tin không chỉ có chức năng cung cấp thông tin mà nó còn là công
cụ hỗ trợ tích cực trong dạy và học, là phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệu quả Công nghệ thông tin giúp cho người học mở rộng hiểu biết với tầm nhìn xa, trông rộng qua
Trang 17hệ thống Internet kết nối thông tin trong nước và toàn thế giới Vấn đề đặt ra với nhà trường
là làm thế nào để học sinh có thể làm chủ, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Đó thực sự là những thách thức lớn đối với ngành giáo dục nói chung, nhà trường, giáo viên nói riêng Giáo viên không chỉ là người mang kiến thức đến cho học sinh mà cần dạy cho học sinh cách tìm
kiếm, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo cho việc tự học suốt đời [4]
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: từ nay đến năm
2020 chúng ta phải phấn đấu đưa đất nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại
Mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp
có cơ sở vật chất – kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi đất nước cần có nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng,
có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hóa nhằm đảm bảo chất lượng công
việc với hiệu quả cao
Đáp ứng yêu cầu trên, người lao động phải năng động, sáng tạo, có kiến thức và kĩ năng mang tính chuyên nghiệp, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm Dám chịu trách nhiệm là
một trong những yếu tố quan trọng của người lao động và là mối quan tâm hàng đầu của các
tổ chức kinh doanh Yêu cầu đối với người lao động không chỉ đơn thuần là kiến thức mà còn là năng lực giải quyết các vấn đề Cách giải quyết vấn đề linh hoạt, sáng tạo trước các tình huống khó khăn phức tạp của cuộc sống và sự dám chịu trách nhiệm không phải là
những phẩm chất sẵn có ở mỗi con người mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục Vì vậy đổi mới giáo dục là đổi mới toàn diện từ mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục Trong đó đổi mới phương pháp
dạy học – giáo dục phải được xem là khâu đột phá Ngành giáo dục phải không ngừng đổi
mới trong đó cần quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội [4]
* Nh ững đặc điểm tâm – sinh lí của người học
Học sinh ngày nay thu lượm thông tin rất nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội với
tốc độ chóng mặt, mỗi học sinh có khả năng tìm kiếm thông tin theo các cách khác nhau
Việc sử dụng công nghệ mới khiến học sinh có khả năng giải quyết vấn đề và xử lí nhiều
Trang 18thông tin cùng một lúc Đây là điểm khác biệt giữa học sinh Việt nam ngày nay với học sinh
Việt Nam cách đây vài thập kỉ Những nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia trong
một phần tư thế kỉ qua chứng minh rằng mỗi học sinh đều có một cách học theo sở thích riêng hay còn gọi là phong cách học Có học sinh thích học qua trải nghiệm, khám phá, làm
thử, có học sinh thích học qua thực hành áp dụng, có học sinh thích học qua quan sát… Nếu như dạy học không quan tâm đến đặc điểm của người học, giáo viên truyền thụ một chiều,
dạy kiến thức mang tính thông báo đồng loạt thì sẽ hạn chế khả năng tiếp thu của người học, người học hoàn toàn thụ động trước những thách thức khó khăn của cuộc sống Vậy làm thế nào để thay đổi từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực? Một trong những yếu tố quan
trọng là cần quan tâm đến đặc điểm của người học hay nói cách khác là phong cách học của người học Quan tâm đến phong cách học của người học là yếu tố thúc đẩy sự phát triển tối
đa năng lực của người học
* Nh ững đặc điểm của hoạt động dạy học hiện đại
Một trong những đặc điểm của thời đại hiện nay là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển như vũ bão dẫn đến sự bùng nổ thông tin Trước tình hình đó, đòi hỏi không ngừng đổi mới, hiện đại hóa nội dung dạy học để phản ánh những thành tựu hiện đại
về các lĩnh vực khoa học Sự thay đổi về khối lượng và tính chất của nội dung dạy học đã mâu thuẫn với thời hạn học tập không thể gia tăng Để giải quyết mâu thuẫn này phải đổi
mới phương pháp theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học, mà bản chất
của hướng này là khơi dậy và phát huy năng lực tìm tòi độc lập, sáng tạo của người học thông qua việc tạo điều kiện cho họ phát hiện và giải quyết vấn đề, nhờ vậy mà họ lĩnh hội khái niệm khoa học và học được cách học
Trong cơ chế thị trường hiện nay, giáo dục được quan niệm như là động lực của sự phát triển ở việc bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực thúc đẩy kinh tế phát triển Do vậy, đổi mới mục tiêu, nội dung lẫn phương pháp là lẽ sống còn của nhà trường trong cơ chế thị trường Nhà trường muốn tồn tại và phát triển phải sáng tạo ra những hệ dạy học mềm dẻo,
đa năng và hiệu nghiệm thích ứng với khách hàng (học sinh) rất khác nhau về nhu cầu, trình
độ, khả năng nhưng giống nhau ở mong muốn đạt chất lượng và hiệu quả trong học tập
Quá trình dạy học được phân hoá - cá thể hoá cao độ, nó cho phép người học có thể
"vào" hay "ra" khỏi hệ không mấy khó khăn và tiến lên theo nhịp độ cá nhân Sự điều khiển
của giáo viên phần lớn được chuyển vào trong giáo trình, sách hướng dẫn học tập và hình
thức tổ chức dạy học Đây là hệ dạy học theo nguyên lí "tự học có hướng dẫn", đòi hỏi
Trang 19người học phải tự lực rất cao và sự điều khiển thông minh, khéo léo của người thầy (không
phải tự học thuần tuý)
Sự thâm nhập giữa các lĩnh vực khoa học cho phép người ta chuyển dịch những tiếp
cận khoa học: tiếp cận hệ thống, tiếp cận mô đun… vào quá trình dạy học, làm xuất hiện
những tổ hợp phương pháp dạy học phức hợp: Algorit dạy học, mô đun dạy học… chúng rất thích hợp với những hệ dạy học mới trong điều kiện cơ chế thị trường hiện đại, và cũng chỉ
có chúng cho phép giáo viên sử dụng phối hợp, hiệu quả những hệ truyền thông đa kênh, kể
cả kĩ thuật vi tính, điều mà các phương pháp dạy học cổ truyền khó có khả năng [4]
Với những đặc điểm của hoạt động dạy học nêu trên, đòi hỏi và cho phép đổi mới
hoạt động dạy học theo ba hướng, đó là:
- Tích cực hoá hoạt động dạy học
- Cá biệt hoá hoạt động dạy học
- Công nghệ hoá hoạt động dạy học
49B
1.3.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT
Luật Giáo dục năm 2005 nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy và
học theo hướng tích cực Trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực thì đổi mới phương pháp học tập của học sinh là mối quan tâm hàng đầu Những định hướng đổi mới PPDH ở các trường THPT bao gồm:
- Phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học
- Bồi dưỡng phương pháp tự học
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, húng thú học tập cho học sinh
Bốn định hướng này có liên quan chặt chẽ, trong đó định hướng đầu tiên là căn bản
nhất
Như vậy, giáo viêc cần quan tâm đến quá trình học tập, đến việc xây dựng kiến thức
của người học Khi lấy người học làm trung tâm, giáo viên cần xác định thế nào là quá trình
học tập hiệu quả nhất Trên cơ sở đó, giáo viên điều chỉnh các hoạt động dạy học sao cho phù hợp với năng lực, sở thích và nhu cầu của người học Điều này đòi hỏi giáo viên có một cách nhìn nhận mới, cách suy nghĩ mới về công việc, về mối quan hệ của giáo viên với học sinh và những vấn đề liên quan
Trang 20Hai yếu tố cốt lõi của định hướng đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích
cực là cảm giác thoải mái và sự tham gia: “Sự tham gia” nói đến cường độ hoạt động, sự tập trung, sự say mê với mọi vật xung quanh để học sinh trở nên hăng hái, yêu thích khám phá
và vượt qua những giới hạn của khả năng mỗi người Sự tham gia cho thấy học sinh tận
dụng và khai thác môi trường học tập và kiến thức như thế nào
Dạy và học tích cực thực sự có hiệu quả khi giáo viên thực hiện tốt 5 yếu tố tăng cường sự tham gia của học sinh:
- Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm/ lớp: Nội dung/nhiệm vụ và các
hoạt động phù hợp với mức độ phát triển của học sinh; gần gũi với thực tế; đa dạng về hình
thức; tạo điều kiện cho học sinh được tự do sáng tạo; môi trường học tập thân thiện
- Sự phù hợp với mực độ phát triển của học sinh : Nhiệm vụ, các hoạt động học tập
cần có sự phân hóa, quan tâm đến sự khác biệt về nhịp độ học tập, trình độ phát triển giữa các đối tượng học sinh khác nhau
- Sự gần gũi với thực tế : Nội dung/nhiệm vụ học tập gắn với các mối quan tâm của
học sinh và với thế giới thực tại xung quanh
- Mức độ và sự đa dạng của hoạt động: Tích hợp các hoạt động học mà chơi (các trò chơi giáo dục), thay đổi xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học tập, đảm bảo đủ thời gian
thực hành
- Phạm vi tự do sáng tạo: Học sinh được tạo điều kiện lựa chọn hoạt động theo sở thích; học sinh được tham gia xây dựng kế hoạch và đánh giá bài học (tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng)
37B
h ọc sinh
50B
1.3.2.1 Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
Thuyết trình nêu vấn đề là phương pháp giáo viên trình bày hệ thống tri thức theo
một trình tự logic hợp lí dưới dạng nêu vấn đề gợi mở, “tính nêu vấn đề” thể hiện ở chỗ
“vấn đề” được nêu ra không nhất thiết phải mang tính thường xuyên, liên tục và không
phải là một giai đoạn, một bước hay một chu kì như dạy học giải quyết vấn đề Việc
“nêu vấn đề” ở đây mang tính định hướng cho tư duy của học sinh và định hướng cho sự trình bày của giáo viên Thuyết trình nêu vấn đề là một kiểu thuyết trình chứ không phải
là sự phối hợp thuyết trình với nêu vấn đề Thuyết trình nêu vấn đề không thay đổi bản
Trang 21chất, cấu trúc của phương pháp thuyết trình, song nó phát triển theo một hướng tích cực hơn – trình bày của nó mang tính “nêu vấn đề” Việc “nêu vấn đề” không làm thay đổi
bản chất của phương pháp mà lại có khả năng kích thích được tư duy của học sinh Như
vậy, thuyết trình nêu vấn đề đã hướng vào chỗ yếu nhất, khắc phục được nhược điểm cơ
bản nhất của phương pháp thuyết trình Nó chính là sự phát triển theo một hướng mới
của phương pháp thuyết trình truyền thống
Để thu hút sự chú ý của người học và tích cực hóa phương pháp thuyết trình ngay khi
mở đầu bài học giáo viên có thể thông báo vấn đề dưới hình thức những câu hỏi có tính chất
định hướng, hoặc có tính chất "xuyên tâm"
Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề có những ưu điểm và hạn chế sau:
- Cho phép trình bày nội dung lí thuyết týõng ðối khó, phức tạp, chức ðựng nhiều thông tin mà học sinh không tự tìm hiểu được
- Cho phép trình bày mô hình mẫu của tư duy logic, của cách trình bày và lí giải một
vấn đề khoa học
- Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý, tư duy bằng khái niệm ở học sinh
- Dễ làm người học thụ động, mệt mỏi vì kích thích đơn điệu
- Ít phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và kĩ năng
- Thông tin ngược không được đảm bảo tốt
Khi sử dụng phương pháp thuyết trình nêu vấn đề cần đảm bảo các yêu cầu: - Bài thuyết trình phải đảm bảo tính hệ thống, tính logic và được giáo viên nắm vững
- Chuẩn bị những ví dụ, liên hệ thực tế cho bài giảng thêm tính thuyết phục
- Giáo viên phải làm chủ ngôn ngữ trong thuyết trình: ngôn ngữ của giáo viên phải chính xác, đủ độ to đến từng học sinh trong lớp, có cường độ, tốc độ, khoảng dừng Ngôn
ngữ phải trong sáng, giản dị, dễ hiểu, gọn gàng, cụ thể nhằm tạo ra và duy trì sự tập trung chú ý, hứng thú ở học sinh
51B
1.3.2.2 Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề
Phương pháp này giúp học sinh làm việc tích cực độc lập và tiếp thu tốt bài giảng:
học sinh không những lĩnh hội được cả nội dung kiến thức mà còn học được cả phương pháp nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ nói Hệ thống câu hỏi của thầy là kim chỉ nam hướng dẫn tư duy của trò Nó kích thích cả tính tích cực tìm tòi, sự tò mò khoa
học và cả sự ham muốn giải đáp Do đó, câu hỏi của giáo viên có tính chất quyết định đối
Trang 22với sự lĩnh hội kiến thức của học sinh Thầy hỏi, trò đáp và nên tạo điều kiện cho trò có thể
hỏi ngược lại thầy, như vậy thông tin sẽ được tiếp nhận hai chiều Khi trả lời câu hỏi của giáo viên, học sinh tự mình tìm ra vấn đề cần giải quyết và chính điều này tạo cho học sinh
niềm sung sướng nhận thức Sau đó giáo viên khéo léo kết luận dựa vào ngôn ngữ, ý kiến và
nhận xét của chính học sinh, bổ sung những kiến thức chính xác và chỉnh sửa lại kết luận cho xúc tích và hợp lý Nhờ thế, học sinh lại càng hứng thú và tự tin vì thấy kết luận mà
thầy vừa nêu rõ ràng có phần đóng góp quan trọng của chính mình Như vậy, phương pháp đàm thoại phát hiện “ơrixtic” là phương pháp thực sự có hiệu quả tích cực làm cho học sinh
hứng thú trong học tập Phương pháp này được đông đảo giáo viên áp dụng trong giảng dạy dưới hình thức đặt ra những câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn, nghịch lý hướng học sinh giải quyết vấn đề Tuy nhiên, phương pháp này cũng rất tốn thời gian, chúng ta có thể sử dụng cho bài giảng thêm sinh động, kích thích học sinh nghe giảng và tiếp thu kiến thức một cách tích cực suốt bài học, nhưng không nên lạm dụng
52B
1.3.2.3 Phương pháp dạy học trực quan
Đây là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy
học để hình thành, củng cố, hệ thống hoá và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo ở học sinh Phương pháp trực quan là nhóm các phương pháp huy động các giác quan của học sinh tham gia vào quá trình nhận thức làm cho việc tiếp thu kiến thức trở nên dễ dàng và việc ghi
nhớ trở nên bền vững hơn Gồm có phương pháp quan sát, phương pháp minh họa, phương pháp biểu diễn thí nghiệm
Ưu điểm của nhóm phương pháp dạy học trực quan là giúp cho học sinh huy động sự
tham gia của nhiều giác quan vào quá trình nhận thức, tạo điều kiện dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát, óc tò mò khoa học Phương tiện trực quan còn giúp cho việc khẳng định những kết luận có tính suy diễn, là phương tiện tạo ra tình huống có vần đề và giải quyết vấn đề nên góp phần phát huy tính tích cực nhận thức
của học sinh Tuy nhiên, nếu lạm dụng sử dụng sẽ dễ khiến học sinh phân tán chú ý, thiếu
tập trung vào những dấu hiệu bản chất, thậm chí còn hạn chế phát triển tư duy trừu tượng
Khi sử dụng phương pháp dạy học trực quan cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Xây dựng lựa chọn phương tiện trực quan phải phù hợp với mục đích, yêu cầu của
tiết học
Trang 23- Các phương tiện trực quan phải có tính chất khoa học, tức là phải phản ánh chính xác được nội dung các quan hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu, giúp người học hiểu đúng
về đối tượng đó
- Phương tiện trực quan phải đảm bảo thẩm mĩ để gây hứng thú, duy trì chú ý trong quá trình học tập Đồng thời phương tiện trực quan phải đạt tiêu chuẩn kĩ thuật, dễ sử dụng, sao cho người học có điều kiện tiếp xúc với phương tiện bằng càng nhiều giác quan càng
tốt
- Sử dụng phương tiện trực quan phải đúng lúc, nếu sử dụng nhiều phương tiện trực quan thì đưa ra lần lượt theo tiến trình bài giảng Sử dụng phương tiện trực quan đúng chỗ,
vị trí để cả lớp đều quan sát được Thời gian sử dụng phương tiện trực quan vừa đủ, nếu sử
dụng quá mức cần thiết dẫn đến quá tải thông tin
- Phương pháp dạy học trực quan nên sử dụng phối hợp với phương pháp thuyết trình
hoặc vấn đáp sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc và vận dụng tri thức một cách có hiệu quả
tập, đảm bảo vừa sức đối với học sinh
Việc học tập của học sinh chỉ có hiệu quả khi chính họ ý thức được nhiệm vụ học tập
của mình Vì vậy để giáo dục ý thức học tập, hình thành phương pháp tư duy tích cực, giúp
Trang 24học sinh tự mình khám phá tri thức, người thầy cần có phương pháp giảng dạy thích hợp Sau đây là một số phương pháp dạy học hiện đại phát huy cao tính tích cực học tập của học sinh
54B
1.3.3.1 Phương pháp đóng vai
Đóng vai là một phương pháp trong đó một số thành viên diễn thử tình huống như ở ngoài đời trước mặt tập thể nhóm học tập Sau đó cả nhóm trao đổi dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc trưởng nhóm để rút ra những điều cần học tập, nghiên cứu Đóng vai giống như một kịch ngắn, nhưng không có tập dượt trước khi trình diễn
Đóng vai có những ưu điểm và hạn chế sau:
- Kích thích sự hứng thú và tham gia tích cực của học sinh do có tính kịch tính
- Làm cho việc học tập gần với cuộc sống đời thường Cho người đóng vai có cơ hội
nhận thức được vai trò của mình trong cuộc đời thực và việc mình đóng vai đó hiệu quả như
thế nào
- Phát triển kĩ năng giao tiếp và diễn đạt bằng ngôn ngữ một cách dễ dàng
- Giúp học sinh kĩ năng hoà nhập cuộc sống (sống hoà hợp với mọi người) qua việc đặt mình vào địa vị người khác để hiểu họ
- Tăng sự đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm
- Tốn thời gian
- Dễ xa rời thực tế khi đóng “kịch” quá mức
Khi sử dụng phương pháp đóng vai cần đảm bảo các yêu cầu:
- Giới thiệu cho các học sinh tình huống mà họ sẽ đóng vai, trao đổi thảo luận để làm
rõ
- Nêu rõ mục đích và các yêu cầu về kĩ thuật cần đạt được
- Phân vai cho các học sinh (tự nguyện hay chỉ định)
- Các “diễn viên” suy nghĩ, chuẩn bị và nhập vai (khoảng 10 – 15 phút) Có thể phát cho mỗi người một tờ giấy để ghi những điều cần thiết
- Các “diễn viên” lên “biểu diễn” trước các quan sát viên
- Trao đổi, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết
- Lặp lại vở kịch với các học sinh khác hoặc các nhóm thay nhau lên biểu diễn
Trang 251.3.3.2 Phương pháp động não
Động não là phương pháp dạy học để tạo ra những tư tưởng mới mẻ về một vấn đề nào đó dựa trên nguyên tắc “khoan hãy phê phán” Hãy tập hợp tất cả các ý kiến về một vấn
đề, sau đó mới đánh giá, chọn ra ý kiến hoặc phương án tốt nhất Phương pháp này cổ vũ
mọi người cùng quan tâm, cùng tham gia và suy nghĩ một cách sáng tạo Cơ sở của phương pháp là giữa các ý tưởng khác nhau đều có mối liên kết với nhau Khi một ý tưởng này được đưa ra thì sẽ có một hay nhiều ý tưởng khác gắn với nó, cùng chiều hay ngược chiều Toàn
bộ những ý tưởng đó sẽ cho ta cái nhìn tổng thể, để từ đó có thể chọn ra ý tưởng hay giải pháp tốt nhất Phương pháp này hay được dùng trước khi lập kế hoạch hay ra một quyết định
Phương pháp động não có những ưu điểm và hạn chế là:
- Động não là cách tốt nhất để giờ học trở nên cuốn hút
- Động não lôi cuốn học sinh tham gia sôi nổi vào quá trình suy nghĩ tích cực và sáng
- Dễ xảy ra tranh cãi
- Nhiều ý tưởng xa rời thực tế, lắm khi chẳng có giá trị gì
Khi sử dụng phương pháp động não cần đảm bảo các yêu cầu:
- Động não áp dụng có hiệu quả nhất với các nhóm từ 10 – 20 người Nếu nhiều hơn hãy chia thành các nhóm nhỏ
- Động não thích hợp với nhóm học sinh đã có kiến thức và kinh nghiệm liên quan đến
vấn đề hay ý tưởng muốn hình thành
- Cần có một nhóm trưởng điều khiển, thư kí, bảng để ghi các ý kiến
56B
Dạy học theo dự án là một kiểu dạy học trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên,
học sinh tiếp thu kiến thức và hình thành kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống (dự án) có thật trong đời sống, theo sát chương trình học và có phạm vi kiến thức
Trang 26liên môn
Tác d ụng của dạy học theo dự án:
- Trong dạy học theo dự án, nhiệm vụ học tới được tất cả người học, vì vậy học sinh nào cũng có cơ hội để hoạt động
- Việc tích hợp với các vấn đề của đời sống và thực hành làm cho học tập ở trường
giống với học tập trong thế giới thật hơn, từ đó kích thích hứng thú học tập của học sinh
- Dạy học theo dự án giúp học sinh tự tin hơn khi ra trường do họ được phát triển
những kỹ năng sống cần thiết của thế kỷ XXI:
+ Khả năng làm việc tốt với người khác
+ Khả năng đưa ra những quyết định chín chắn
+ Khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp
+ Sự chủ động, linh hoạt và sáng tạo
- Dạy học theo dự án tạo điều kiện cho nhiều phong cách học tập khác nhau Nó giúp
học sinh với cùng một nội dung nhưng có thể thực hiện theo những cách khác nhau Bên
cạnh học nội dung, dạy học theo dự án còn kết hợp nhiều thành phần như sự hợp tác, giải quyết vấn đề, trình bày, giao tiếp với người khác
- Học sinh được rèn khả năng tư duy, suy nghĩ sâu hơn khi gặp những vấn đề khác nhau
- Học sinh được rèn khả năng vận dụng những gì đã học, đặc biệt các kiến thức về khoa
học, công nghệ
Khi sử dụng phương pháp dạy học theo dự án cần đảm bảo các yêu cầu:
- Giáo viên nên nói ít mà dành thời gian cùng tìm kiếm với học sinh nhiều hơn
- Giáo viên nên từ bỏ ý tưởng trở thành chuyên gia, mà luôn nhớ rằng mình là người hỗ
trợ cho học sinh
- Hãy để nội dung đào tạo định hướng cho hoạt động
- Người giáo viên cần học làm thế nào để đặt câu hỏi cho học sinh suy nghĩ và thử thách
học sinh nhằm hỗ trợ những kết quả của các em
- Nên lựa chọn những câu hỏi định hướng một cách cẩn thận để học sinh học những nội dung cần thiết trong chương trình
- Hãy nhớ kiểm tra những kỹ năng cần thiết, kiểm tra tư duy của học sinh
- Hãy thử làm - đánh giá và rút kinh nghiệm điều chỉnh cho những lần sau
Học sinh có thể vận dụng phương pháp dạy học theo dự án để tham gia các dự án sau:
- Kết hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường
Trang 27- Tiếp thị sản phẩm cho các cơ sở sản xuất (oxi sạch, thuốc trừ sâu, phân bón…)
57B
Theo Mauuel Bueucousejo Garcia thì “Thảo luận là sự gặp gỡ trực diện giữa giáo viên và học sinh hoặc giữa học sinh với học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên để trao đổi
tự do những ý tưởng về một chủ đề chuyên biệt” [17]
Thảo luận có thể diễn ra dưới nhiều hình thức: nhóm ghép đôi (2 người), nhóm nhỏ (5-6 người), nhóm lớn, hay cả lớp học Cũng có thể phối hợp các hình thức trong một buổi
học Thảo luận nhóm tạo điều kiện phát triển quan hệ xã giao, các khả năng giao tiếp cá nhân, khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề
Yêu c ầu khi thảo luận nhóm:
- Yêu cầu với giáo viên
+ Chuẩn bị chu đáo, đọc kỹ các tài liệu, am hiểu chủ đề sẽ thảo luận
+ Cung cấp cho học sinh các tài liệu, thông tin cần thiết cho thảo luận
+ Không tung ra quá nhiều vấn đề
+ Những chỗ cần giải thích không nên tiết kiệm lời gây lỗ hổng kiến thức cho học sinh
+ Không vội trả lời câu hỏi của học sinh, mà khéo léo chuyển sang cho các thành viên khác của nhóm
+ Biết gợi mở, khen ngợi, động viên khuyến khích mọi người tham gia
+ Nên đi đến các nhóm để theo dõi hoạt động, quan tâm hơn đến các nhóm có khó khăn Phát hiện kịp thời những bế tắc, những lỗ hổng kiến thức, những điều học sinh còn băn khoăn để làm rõ
- Yêu cầu với người tổ chức, điều khiển thảo luận
+ Để mọi người có đủ thời gian chuẩn bị và suy nghĩ
+ Tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát biểu như nhau
+ Luôn hướng mọi người tập trung vào chủ đề
+ Biết sử dụng câu hỏi phù hợp chủ đề, hoàn cảnh và đối tượng
+ Khéo tạo nên mâu thuẫn, bất đồng ý kiến để mọi người tranh luận
+ Phê bình và phản đối một cách nhẹ nhàng, biết khôi hài, đưa ra những lời bình
phẩm thú vị
- Yêu cầu với người tham gia thảo luận
Trang 28+ Chuẩn bị chu đáo cho buổi thảo luận
+ Suy nghĩ độc lập
+ Chăm chú lắng nghe khi người khác nói
+ Vui vẻ và cởi mở
+ Tôn trọng và thừa nhận sự đóng góp của người khác
+ Thấy rõ trách nhiệm của bản thân (lắng nghe và tham gia đóng góp ý kiến)
+ Biết chia sẻ, quan tâm đến những quan điểm và cảm nhận của người khác
+ Khách quan và công bằng trong đánh giá
+ Nói chậm và rõ ràng, bám sát chủ đề
+ Cố gắng nói ngắn gọn, xúc tích, mỗi lần phát biểu không quá 10 phút
+ Nội dung trình bày nên có 3 phần: mở đầu, nội dung chính và kết luận
58B
1.3.3.5 D ạy học giải quyết vấn đề
- V ấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có qui
luật sẵn cũng như những tri thức, kĩ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn cản trở
cần vượt qua Một vấn đề được đặc trưng bởi ba thành phần:
▪ Trạng thái xuất phát không mong muốn
▪ Trạng thái đích: Trang thái mong muốn
▪ Sự cản trở
- Tình hu ống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích muốn đạt
tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách nào, chưa đủ phương
tiện (tri thức, kĩ năng,…) để giải quyết
- D ạy học giải quyết vấn đề là một quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư
duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề ở người học Học sinh được đặt trong một tình
huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp người học lĩnh hội tri thức kĩ năng
và cả phương pháp nhận thức
- Dạy học giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở lí thuyết nhận thức Giải quyết vấn đề có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhận thức của con người Tư duy
chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề (Rubinstein)
C ấu trúc quá trình giải quyết vấn đề
Bước 1 Nhận biết vấn đề
- Phân tích tình huống
Trang 29- Nhận biết, trình bày vấn đề cần giải quyết
Bước 2 Tìm các phương án giải quyết
- So sánh các nhiệm vụ đã giải quyết
- Tìm các cách giải quyết mới
- Hệ thống hoá, sắp xếp các phương án giải quyết
Bước 3 Quyết định phương án giải quyết
- Phân tích các phương án
- Đánh giá các phương án
- Quyết định chọn phương án giải quyết vấn đề
Bước 4 Giải quyết vấn đề
59B
Dạy học theo tình huống dựa trên quan điểm giáo dục là sự chuẩn bị cho người học vào việc giải quyết các tình huống của cuộc sống (Soul B.Robinsohl 1967) Việc học cần được liên hệ với các tình huống hiện thực Dạy học theo tình huống dựa trên cơ sở lí thuyết
kiến tạo: Việc học tập được tổ chức trong một môi trường học tập được cấu trúc hoá Dạy
học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức theo
những chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực của cuộc sống và nghề nghiệp Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện kiến tạo tri thức theo
cá nhân và trong mối quan hệ xã hội của việc học tập
Đặc điểm của dạy học theo tình huống
- Nội dung dạy học xuất phát từ một vấn đề phức hợp (không đơn giản và được cấu trúc tốt)
- Sử dụng việc đặt vấn đề gắn với thực tế cuộc sống, nghề nghiệp
- Tạo ra những khả năng vận dụng đa dạng, phong phú (vận dụng trong nhiều ví dụ khác nhau)
- Tạo cho người học khả năng trình bày những điều đã học và suy nghĩ về điều đó (vận dụng trong nhiều ví dụ khác nhau)
- Tạo điều kiện để người học có thể trao đổi lẫn nhau và trao đổi với giáo viên
Day học theo tình huống là PPDH phát huy tối đa tính tích cực học tập của học sinh
Học sinh là chủ thể tham gia giải quyết các tình huống học tập mô phỏng từ tình huống thực
Trang 30tiễn, do đó tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với thực tiễn, gắn lý thuyết với thực hành,
thực tiễn Giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn, điều phối
19B
1.4 Qu ản lí việc thực hiện phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT
39B
1.4.1 Các ch ức năng quản lý giáo dục
Chức năng quản lý là các dạng hoạt động khác nhau của hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý
“Tổ hợp các chức năng quản lý sẽ tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung lao động
của đội ngũ cán bộ quản lý và là cơ sở cho việc phân công lao động quản lý giữa những người cán bộ quản lý và là nền tảng để hình thành và hoàn thiện cấu trúc tổ chức của sự
quản lý” [30, trang 55]
Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý trường học là hệ thống gồm bốn chức năng cơ bản và chủ yếu sau
* K ế hoạch hóa là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch Là quá trình xác
định các mục tiêu phát triển của nhà trường và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực
hiện mục tiêu đó Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: xác định và hình thành
mục tiêu; xác định và đảm bảo các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra; quyết định xem
những hoạt động nào là cần thiết để đạt được những mục tiêu đó Sản phẩm quan trọng của
chức năng kế hoạch hóa là kế hoạch Có ba loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược (giải quyết
mục tiêu chiến lược); kế hoạch chiến thuật (giải quyết mục tiêu chiến thuật) và kế hoạch tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác nghiệp)
* T ổ chức được tiến hành sau khi xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện kế hoạch đã đề
ra Tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra Đó là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nếu tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối
hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực Nội dung chủ yếu của tổ chức: xây dựng cơ cấu tổ
chức; xác định nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận; quản lí nhân sự bao
gồm tuyển dụng, đào tạo, bố trí, sắp xếp, đề bạt, sa thải, tổ chức các hoạt động
* Ch ỉ đạo là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt
động của bộ máy, điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lý, nhịp nhàng; động
Trang 31viên khuyến khích người lao động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Khi thực hiện chức năng này, người quản lý cần chú ý đến nguyên tắc tuân thủ hệ thống mệnh lệnh
* Ki ểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt
tới các mục tiêu của tổ chức Theo lý thuyết thông tin, kiểm tra là quá trình thiết lập mối liên
hệ ngược trong quản lý Hoạt động kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm
thực hiện bốn chức năng; kiểm soát phát hiện, động viên phê phán, đánh giá và thu thập thông tin Nhờ có kiểm tra mà người quản lý đánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng Điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức
Trong chu trình quản lý, cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối từ chu kỳ này sang chu kỳ sau theo hướng phát triển Trong đó yếu tố thông tin luôn giữ vai trò xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý Có
thể biểu diễn mối liên hệ này qua sơ đồ sau:
Hình 1.1 Sơ đồ quan hệ giữa các chức năng quản lý
40B
60B
Xây dựng kế hoạch là việc đưa toàn bộ hoạt động việc thực hiện PPDH tích cực vào
kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, các biện pháp thực hiện và đảm bảo các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra Kế hoạch thực hiện PPDH tích cực có thể tách riêng hoặc
nằm trong kế hoạch tổng thể của nhà trường, được xây đựng theo từng năm học, mang tính pháp quy, tức là được Hội đồng sư phạm nhà trường thông qua và quản lí cấp trên trực tiếp phê duyệt Hiệu trưởng cần dựa trên những định hướng lớn về đổi mới PPDH của Đảng,
K ế hoạch
T ổ chức
Ki ểm tra
Ch ỉ đạo Thông tin
Trang 32các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cấp quản lí giáo dục và căn cứ vào điều kiện thực
tế của nhà trường về tổ chức bộ máy, về nguồn lực và các điều kiện khác, để xây dựng kế
hoạch thực hiện PPDH tích cực trong giảng dạy
- Kế hoạch phải mang tính cụ thể, tức là xác định được mục tiêu cần đạt, dự kiến được nguồn lực để thực hiện (nhân lực, tài lực, vật lực), phân bố thời gian hợp lí và quyết định những biện pháp có tính khả thi để thực hiện
- Kế hoạch thực hiện PPDH tích cực cần phải có mục tiêu phù hợp với nội dung chương trình, khả năng tiếp thu của học sinh và trình độ của giáo viên
- Tùy tình hình thực tế của các trường mà mỗi nhà trường đều phải xây dựng kế
hoạch thực hiện PPDH tích cực theo kế hoạch năm học ở từng môn học sao cho phù hợp với trình độ của học sinh, mục đích của nhà trường
- Kế hoạch thực hiện các PPDH tích cực phải được hiệu trưởng tiến hành lên kế
hoạch ngay từ đầu năm học khi xây dựng kế hoạch hoạt động chung của trường Để lập kế
hoạch thực hiện PPDH tích cực hiệu trưởng phải căn cứ vào:
+ Khả năng nhận thức, tiếp thu của học sinh + Trình độ năng lực của giáo viên
+ Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường
- Tùy theo đặc thù của từng môn học, Ban giám hiệu yêu cầu tổ, nhóm chuyên môn
lập kế hoạch thực hiện PPDH tích cực theo năm học, học kỳ, tháng, tuần
- Ban giám hiệu, tổ chuyên môn yêu cầu giáo viên lập kế hoạch thực hiện các PPDH tích cực ở từng nội dung bài học phù hợp với từng đối tượng học sinh và duyệt kế hoạch
thực hiện các PPDH tích cực của tổ chuyên môn và giáo viên
61B
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động dạy học phổ thông trong giai đoạn hiện nay là tiếp tục thực hiện việc đổi mới, thực hiện các PPDH tích cực vào trong
giảng dạy nhằm tạo ra một thế hệ học sinh năng động, sáng tạo Để làm được điều đó việc tổ
chức, chỉ đạo thực hiện PPDH tích cực gồm các nội dung:
- Phân công công việc cụ thể cho từng cá nhân và các bộ phận trong việc tổ chức,
kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các PPDH tích cực
- Huy động các nguồn lực và tài lực trong nhà trường trong đó chú trọng việc chỉ đạo
thực hiện đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật - trang thiết bị phục vụ cho việc thực hiện PPDH
Trang 33tích cực Việc thực hiện PPDH tích cực phải đi đôi với việc tăng cường chuẩn hóa cơ sở vật
chất, trang thiết bị - kỹ thuật giảng dạy ở nhà trường đủ chuẩn và đồng bộ
- Cử người đi tập huấn về PPDH tích cực trong các đợt tập huấn của Sở, Bộ sau đó
về triển khai lại cho giáo viên toàn trường
- Mời các chuyên gia về PPDH tích cực về trường tập huấn cho giáo viên và cán bộ
quản lý về PPDH tích cực ở trường THPT
- Tổ chức cho các tổ chuyên môn thực hiện thao giảng, dự giờ, hội thảo chuyên đề,
hội thi giáo viên giỏi về việc sử dụng PPDH tích cực trong giảng dạy, viết sáng kiến kinh nghiệm… Hướng dẫn, tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Đây vừa là yêu cầu nhiệm vụ vừa là nhu cầu học hỏi thực tiễn để nâng cao năng lực sư
phạm cho giáo viên
- Phát động phong trào thi đua thực hiện PPDH theo hướng tích cực trong trường
- Tổ trưởng chuyên môn, Ban giám hiệu dự giờ các tiết học có sử dụng các PPDH tích cực qua đó có thể theo dõi, giám sát được việc thực hiện PPDH tích cực trong giảng
dạy của giáo viên
62B
63B
d ạy
- Ban giám hiệu kiểm tra việc triển khai kế hoạch thực hiện PPDH tích cực ở từng tổ
bộ môn và giáo viên đồng thời kiểm tra mức độ phù hợp của kế hoạch thực hiện PPDH theo hướng tích cực
- Kiểm tra mức độ phối hợp giữa các cá nhân và bộ phận trong việc thực hiện PPDH theo hướng tích cực nhằm kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh những cá nhân, bộ phận chưa hoàn thành nhiệm vụ của mình
- Để giáo viên thực hiện PPDH tích cực trong giảng dạy được tốt và hiệu quả thì cơ
sở vật chất, trang thiết bị nhà trường đóng vai trò rất quan trọng Vì vậy Ban giám hiệu nhà trường phải kiểm tra cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đáp ứng nhu cầu về việc thực hiện các PPDH theo hướng tích cực
Trang 34- Để thực hiện tốt việc thực hiện PPDH tích cực thì các biện pháp kiểm tra, đánh giá
cần phải nghiêm túc, chính xác thông qua việc đánh giá các giờ dạy của giáo viên và kết quả
học tập của học sinh Có các hình thức khen thưởng những giáo viên thực hiện tốt hoặc phê bình, chấn chỉnh kịp thời những giáo viên không thực hiện đúng như kế hoạch của tổ chuyên môn đề ra
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ VIỆC THỰC HIỆN
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG THPT QUẬN
11, TP.HCM
20B
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục tại Quận 11, TP HCM
Năm học 2008 – 2009, Quận đã thực hiện tốt kế hoạch tuyển sinh và chuẩn bị tốt cơ
sở vật chất trường lớp, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cho năm học mới 2009-2010 ở tất
cả các cấp học UBND thành phố đã có Quyết định công nhận quận 11 hoàn thành chuẩn
phổ cập giáo dục bậc trung học (trước thời hạn 2 năm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
quận lần IX) Công tác dạy nghề trong năm 2009 đã tập trung nhiều ở các môn tin học, sửa
chữa xe gắn máy Ngành mầm non đảm bảo chất lượng, chăm sóc trẻ an toàn Các trường trung học cơ sở thực hiện có hiệu quả phương pháp dạy học cá thể, tự chủ về thời lượng,
dạy sát đối tượng học sinh, tổ chức soạn giáo án tập thể và kiểm tra chung Công tác y tế
học đường cũng được quan tâm thực hiện tốt, được thành phố đánh giá loại xuất sắc Hầu
hết CBQL và GV các trường đều sử dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, dạy
học, tạo được tâm lý thầy thích dạy, trò thích học, từ đó, tỷ lệ học sinh nghỉ - bỏ học giảm so
với năm học trước và là năm đầu tiên ngành giáo dục quận kéo giảm được tỷ lệ nghỉ - bỏ
học bậc trung học cơ sở dưới 1%; tính chung, số học sinh nghỉ - bỏ học là 6 em, tỷ lệ 0,03%, trong đó có hộ khẩu tại quận là 1 em, tỷ lệ 0,01% (giảm 0,04% so với năm học trước)
Công tác phổ cập giáo dục bậc trung học được giữ vững, năm 2009, tất cả 16 phường đều đạt chuẩn phổ cập bậc trung học; năm 2010, bên cạnh việc huy động học sinh
ra lớp và kéo giảm tỷ lệ học sinh nghỉ - bỏ học, các đối tượng từ 18 - 21 tuổi có bằng tốt nghiệp trung học và tương đương là 7.691 người, đạt tỷ lệ 83,7% so với năm trước tăng 1,7% Kết quả thi đua cuối năm học, về khen thưởng cấp quận có 47 tập thể và 1.854 cá nhân đạt danh hiệu lao động tiên tiến, 6 tập thể được tặng giấy khen từng mặt và 305 chiến
sĩ thi đua cấp cơ sở; về khen thưởng cấp thành phố, trường Mầm Non quận được nhận cờ thi đua năm 2009 - 2010 và 22 tập thể lao động xuất sắc, 48 chiến sĩ thi đua cấp thành phố; về khen thưởng cấp cao có 3 cá nhân đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc, 2 đơn vị và 3 cá nhân được tặng bằng khen của Bộ Giáo dục – Đào tạo, 3 đơn vị được tặng cờ của Thủ tướng
và Bộ Giáo dục – Đào tạo, 2 đơn vị và 1 cá nhân được tặng Huân chương Lao động hạng III
Trang 36Nhìn chung năm học 2009-2010, ngành giáo dục - đào tạo quận tiếp tục thực hiện
chủ đề “Sống có trách nhiệm”, gắn với các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng
tạo”, “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, đẩy mạnh phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, phối hợp tốt 3 môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội, chất lượng giáo dục được nâng cao từ hệ mầm non,
tiểu học đến bậc trung học cơ sở và trong lĩnh vực giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông; môi trường giáo dục có nhiều cải thiện, chất lượng giáo dục giữa các trường đã được thu hẹp và có nhiều bước chuyển biến
Hiện quận 11 có 3 trường THPT gồm trường THPT Nguyễn HIền, Nam Kỳ Khởi Nghĩa và trường Trần Quang Khải Trong đó có trường Nguyễn Hiền đạt chuẩn quốc gia và đạt Huy chương Lao động hạng III Nhìn chung về tình hình cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý và cho hoạt động dạy học của các trường THPT trong quận 11 đảm bảo đầy đủ, đáp ứng được mục tiêu giáo dục cũng đáp ứng được nhu cầu giảng dạy nghiên cứu
của giáo viên và nhu cầu học tập của học sinh theo chương trình đổi mới hiện nay Đội ngũ giáo viên đa phần đạt chuẩn và trên chuẩn đảm bảo cho việc lĩnh hội những thay đổi, tiến bộ
của khoa học kỹ thuật một cách nhanh chóng Tỉ lệ tốt nghiệp đạt tỉ lệ cao và trên tỉ lệ trung bình của thành phố
- Mẫu nghiên cứu bao gồm 189 đối tượng, trong đó có 150 giáo viên và 39 cán bộ quản
lý (CBQL) là Ban giám hiệu và tổ trưởng chuyên môn ở 3 trường THPT công lập Quận 11
- Ở mỗi trường THPT, chọn ngẫn nhiên 50 giáo viên và 13 cán bộ quản lý để khảo sát
B ảng 2.1 Cơ cấu trình độ và thâm niên công tác của CBQL và giáo viên ở các trường THPT tại quận 11
Đối tượng
Trang 37gần đây
Số lượng GV có thâm niên dạy học từ 10 năm trở xuống chiếm tỉ lệ 32.7% Phần lớn
những giáo viên này ít kinh nghiệm, nhưng rất nhiệt tình, tận tụy với công việc, thương yêu
và quan tâm đến học sinh
Số lượng CBQL (51.3%), GV(38.7%) có thâm niên từ 11 - 20 năm Đây là lực lượng
có tay nghề cao, có nhiều kinh nghiệm trong dạy học, cũng là đội ngũ lòng cốt ở các trường THPT, họ được tập huấn rất nhiều về việc đổi mới các PPDH theo hướng tích cực
Tuổi đời thâm niên trên 21 năm với 38.5% CBQL, 28.7% GV Đây là lực lượng
giảng dạy có nhiều kinh nghiệm trong dạy học Nhưng cũng có số ít lớn tuổi ngại tham gia
hội giảng, ngại học tập để nâng cao năng lực chuyên môn, nên chưa theo kịp sự đổi mới giáo dục hiện nay
Chúng tôi thực hiện cách tính điểm trung bình với các quy ước sau:
- Với cách cho điểm: “rất thường xuyên” = 1, “thỉnh thoảng” = 2 và “không thực
hiện” = 3 Điểm trung bình (Mean) đạt từ 0 – 1.49 là rất thường xuyên; 1.5-2.49, thỉnh thoảng; 2.5 – 3 là không thực hiện
Trang 38- Với cách cho điểm “rất hiệu quả” = 1, “ít hiệu quả” = 2 và “không hiệu quả” = 3
Điểm trung bình (Mean) đạt từ 0 – 1.49 là rất hiệu quả; 1.5-2.49, hiệu quả; 2.5 – 3 là không
hiệu quả
- Với cách cho điểm “rất cần thiết” = 1, “cần thiết” = 2 và “chưa cần thiết”= 3 Điểm
trung bình (Mean) đạt từ 0 – 1.49 là rất cần thiết; 1.5-2.49, cần thiết; 2.5 – 3 là chưa cần thiết
- Với cách cho điểm “rất khả thi” = 1, “khả thi” = 2 và “chưa khả thi” = 3 Điểm
trung bình (Mean) đạt từ 0 – 1.49 là rất khả thi; 1.5-2.49, khả thi; 2.5 – 3 là chưa khả thi
B ảng 2.2 Tầm quan trọng của các phương pháp dạy học tích cực
Đối
Trung bình
trọng, nhưng biểu hiện nhận thức của giáo viên không đồng nhất nhau
- Phần lớn ý kiến cho rằng việc thực hiện PPDH tích cực trong nhà trường rất quan
trọng, điều đó có nghĩa là CBQL và giáo viên nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của
việc thực hiện PPDH tích cực, họ cho rằng việc thực hiện PPDH tích cực trong giảng dạy
nhằm đạt mục tiêu giáo dục và chất lượng do nhà trường đặt ra
- Phần lớn ý kiến cho rằng việc thực hiện PPDH tích cực trong giảng dạy quan trọng
và để giáo viên thực hiện tốt các PPDH tích cực trong giảng dạy còn phụ thuộc rất nhiều
Trang 39vào các yếu tố như trình độ học sinh, năng lực và trình độ của giáo viên, điều kiện cơ sở vật
chất, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo …
- Chỉ có 2.7% giáo viên chưa thật sự nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc
thực hiện PPDH tích cực trong giảng dạy, họ chỉ chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức cho học sinh chứ không quan trọng cách thức truyền thụ đó như thế nào Như vậy vẫn còn giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện các PPDH tích cực trong
giảng dạy
65B
B ảng 2.3 Mục đích của việc thực hiện PPDH tích cực
1 Lấy hoạt động học của học sinh làm trung
5 Giúp người học có tinh thần trách nhiệm,
tác phong làm việc khoa học, kỷ luật
Trang 406 Tiết kiệm thời gian, công sức của giáo viên
Dựa trên kết quả khảo sát ở bảng 2.3 cho thấy, nhận thức của CBQL và giáo viên về
mục đích của việc thực hiện PPDH tích cực trong giảng dạy là đồng nhất với nhau, cụ thể như sau:
- 94.9% CBQL, 90% giáo viên cho rằng mục đích của việc thực hiện PPDH tích cực trong giảng dạy là rèn cho người học các kỹ năng tự học, hợp tác, tìm kiếm và sử lý thông tin Kế đến là mục đích phát huy cao độ tính tích cực, độc lập và sáng tạo của người học với
tỉ lệ 92,3% ở CBQL, 86% ở giáo viên
- Qua khảo sát ta cũng thấy các mục đích như nhắm đến hoạt động học, lấy hoạt động
học là hoạt động trung tâm; Giúp người học xây dựng tính kế hoạch hóa, tính tích cực, kiên
nhẫn; Giúp người học có tinh thần trách nhiệm, tác phong làm việc khoa học, kỷ luật; Nâng cao hiệu quả giờ học cũng được CBQL và giáo viên đánh giá rất cao hầu hết đều trên 74%
- Tuy nhiên, chỉ có 7,7% CBQL và 19,3% giáo viên cho rằng việc thực hiện các PPDH tích cực trong giảng dạy là tiết kiệm thời gian, công sức của giáo viên Với 25,6% CBQL, 36% giáo viên cho rằng việc thực hiện các PPDH tích cực giúp học sinh đạt kết quả cao trong các kỳ thi Điều này có thể thấy vẫn còn một số CBQL, giáo viên cho rằng việc
thực hiện PPDH tích cực trong giảng dạy cũng còn gặp một số khó khăn như phải tốn nhiều
thời gian hơn để thiết kế bài giảng nhưng kết quả học tập của học sinh lại không cao Điều này có thể do một bộ phận học sinh còn quen học theo lối đọc chép, chỉ học những kiến