1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững

69 1,4K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở Long Sơn (TP.Vũng Tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Tác giả Nguyễn Thị Lan Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Võ Sĩ Tuấn
Trường học Trường đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Sinh thái học
Thể loại Luận văn thạc sĩ sinh học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến các loại cá được nuôi, nguồn giống, nguồn thức ăn và các biện pháp quản lí vùng nuôi ở một số nơi trên thế giới như Nga, Nhật Bản, Ý.[4] Đề tài: “Chuyể

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Lan Anh

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN RỪNG NGẬP MẶN Ở LONG SƠN (TP.VŨNG TÀU) VÀ GIẢI PHÁP PHÁT

TRIỂN BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Lan Anh

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN RỪNG NGẬP MẶN Ở LONG SƠN (TP.VŨNG TÀU) VÀ GIẢI PHÁP PHÁT

TRIỂN BỀN VỮNG

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60 42 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS VÕ SĨ TUẤN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu thu thập, kết quả nêu trong luận văn là trung thực

và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người viết cam đoan Nguyễn Thị Lan Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được thực hiện theo chương trình đào tạo Thạc sĩ Chính quy tại trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Để hoàn thành nghiên cứu này, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy –

TS Võ Sĩ Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu và nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn Ban Giám hiệu và Phòng đào tạo sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này

Chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và cán bộ Ủy ban nhân dân xã Long Sơn, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở thủy sản, Ban quản lí rừng phòng hộ, Hạt kiểm lâm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện và thu thập số liệu liên quan đến đề tài

Cảm ơn quí thầy, cô giảng dạy ngành Sinh thái học – Khoa Sinh học – trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập

Xin cảm ơn các bạn và tập thể lớp Cao học Sinh thái học khóa 2007 – 2010, đã giúp

đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ, sự quan tâm sự giúp đỡ của bạn bè và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2011

Nguyễn Thị Lan Anh

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái đặc biệt ở vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới

và đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế xói lở, cố định bãi bồi, chống sóng gió, cung cấp các chất dinh dưỡng và là nơi sinh sản, ương giống cho các loài thủy sinh vật, lọc trong nước thải, giữ cân bằng sinh thái ở vùng ven biển Ðây cũng là môi trường thích hợp cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản, đánh bắt tôm, cá, các đặc sản thủy sản có giá trị khác Rừng ngập mặn còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã như: chim, thú, bò sát, lưỡng cư Các sản phẩm có giá trị của thực vật như gỗ, ta nin, than, giấy, đường, rượu, dược liệu cũng được khai thác từ rừng ngập mặn Như vậy rừng ngập mặn cung cấp rất nhiều nguồn lợi cho con người cả về thực vật lẫn động vật đặc biệt là nguồn lợi về thủy sản

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, là một trong 7 tỉnh, thành phố của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, được xác định là vùng động lực và trên thực tế là vùng lãnh thổ phát triển năng động nhất cả nước Trong những năm gần đây ở Bà Rịa – Vũng Tàu do sự phát triển của các khu công nghiệp, khai thác trái phép rừng ngập mặn, lấn chiếm đất để nuôi trồng thủy sản góp phần làm thu hẹp diện tích rừng ngập mặn đồng thời ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản trong vùng Đặc biệt là việc nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh, diện tích nuôi ngày càng mở rộng, người nuôi dùng nhiều biện pháp để nâng cao năng suất dẫn đến lượng hóa chất đưa vào môi trường ngày càng nhiều, vấn đề môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm đang trở thành mối lo ngại cho xã hội

2T

Long Sơn là một xã đảo duy nhất trực thuộc thành phố Vũng Tàu có p2Thía Đông giáp sông Dinh, phía Bắc giáp xã Tân Hải - huyện Tân Thành và thị xã Bà Rịa (thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), phía Tây và phía Nam giáp biển (vịnh Gành Rái) Long Sơn có gần 100 ha rừng ngập mặn tự nhiên và hơn 400 ha rừng trồng ngập mặn (chủ yếu là cây đước) Rừng ngập mặn của Long Sơn đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ ven biển, là môi trường để phát triển thủy sản bền vững Toàn xã có diện tích đất nuôi trồng thủy sản kể cả đất mặt nước là 2955 ha trong đó đất nuôi trồng thủy sản là 1191,78 ha, đất mặt nuớc nuôi trồng thủy sản là 1763,42 ha Sáu tháng đầu năm 2009, trên toàn xã sản lượng khai thác thủy sản đạt 650 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 690 tấn, giá trị sản lượng đạt khoảng 10,2 tỷ đồng (theo Báo cáo về tình hình hoạt động, khai thác, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã Long Sơn năm 2009) Nhân dân trong xã có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản cụ thể là nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ đặc biệt là con hàu

Trang 8

Hiện nay nhân dân đã đăng kí hồ sơ nuôi hào là 284 hộ, 12 doanh nghiệp và khoảng 17 hộ dân tham gia nuôi cá lồng bè

Trong giai đoạn hiện nay đối với xã Long Sơn nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ven

bờ là những ngành kinh tế chủ yếu để giải quyết công ăn việc làm, ổn định cuộc sống hàng ngày của người dân Có thể nói đời sống của nhân dân Long Sơn gắn liền với tài nguyên thủy sản liên quan đến rừng ngập mặn

Tuy nhiên, tình trạng khai phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản và xây dựng cơ

sở hạ tầng đã và đang thu hẹp diện tích của hệ sinh thái này ở xã Long Sơn Nguồn lợi thủy sản ở vùng biển ven bờ và trên các sông rạch cũng đang giảm sút Ngoài ra, nước thải từ chế biến hải sản và việc khai thác cát thiếu qui hoạch cũng có thể gây ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản và hoạt động nuôi trồng Mặt khác, Nhà nước chủ trương quy hoạch một số diện tích đất đai trên địa bàn xã để xây dựng khu công nghiệp góp phần làm thu hẹp diện tích nuôi trồng thủy sản

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Tác động của việc khai thác và

nuôi trồng thuỷ sản đến rừng ngập mặn ở Long Sơn (TP.Vũng Tàu) và giải pháp phát triển bền vững”

Trang 9

C HƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Rừng ngập mặn ngoài chức năng phòng hộ bảo vệ các bờ biển, bờ sông, điều hòa khí hậu còn có vai trò quan trọng trong việc duy trì nguồn lợi thủy sản cho đới ven bờ Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy sản, tác động qua lại giữa chúng và giải pháp phát triển bền vững hệ sinh thái nhạy cảm này

* Trên thế giới

Có thể điểm qua một số công trình sau đây:

Đề tài: “Mô hình nuôi trồng cá vùng cửa sông” của Hickling C.F (1970) cho thấy

vùng cửa sông phù hợp với việc phát triển mô hình nuôi trồng các loại cá, tôm nước lợ, mặn Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến các loại cá được nuôi, nguồn giống, nguồn thức ăn

và các biện pháp quản lí vùng nuôi ở một số nơi trên thế giới như Nga, Nhật Bản, Ý.[4]

Đề tài: “Chuyển đổi rừng ngập mặn sang ao nuôi trồng thủy sản” của Kapetsky

(1986) cho thấy việc chuyển đổi rừng ngập mặn không qui hoạch sang ao nuôi trồng thủy sản là một trong những nguyên nhân làm mất mát diện tích rừng ngập mặn và làm suy giảm

đa dạng sinh học Trong suốt ba thập kỷ qua, 196.000 ha rừng ngập mặn của Philippines và 42.000 ha rừng ngập mặn của Ecuador đã được chuyển đổi thành ao nước lợ nuôi cá và nuôi tôm tương ứng Tuy nhiên việc nuôi trồng thủy sản ở các ao nước lợ trong vùng ngập mặn đều thất bại về kinh tế và sinh thái Các ao nuôi tôm đều hoạt động dưới tiềm năng sản xuất mặc dù đã tăng cường sử dụng các chất kháng sinh, hóa chất nhưng số ao nuôi tôm tồn tại khá khiêm tốn Rừng ngập mặn còn chịu sự phá hủy của tự nhiên như bão, sóng thần Thiệt hại nghiêm trọng do bão gây ra ở Tây Nam Bangladesh năm 1988 đã phá hủy 8.500.000 cây ngập mặn tương đương với 66,3 triệu mP

3

Pgỗ thương mại Hơn nữa, quy mô thay đổi lớn về môi trường sau biến thể vi khí hậu; bất thường dao động mức nước biển, muối tích tụ trong đất hoặc lũ lụt cũng đã góp phần cho sự phá hủy rừng ngập mặn.[6]

Đề tài: “Một số vấn đề về môi trường trong qui hoạch nuôi trồng thủy sản” của

Saenger P (1993) đã nghiên cứu những tác động trực tiếp và gián tiếp của việc nuôi trồng thủy sản đến môi trường sống Tác động trực tiếp của việc nuôi trồng thủy sản đó là làm mất mát diện tích rừng ngập mặn, thảm cỏ biển từ đó làm mất môi trường sống của một số loài dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học Các hoạt động liên quan đến nuôi trồng thủy sản

Trang 10

như: nạo vét, cải tạo làm thay đổi chế độ thủy văn, ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái biển Tác động gián tiếp của nuôi trồng thủy sản như chiếu sáng ban đêm, tiếng ồn và độ rung Tiếng

ồn, độ rung động từ máy bơm hay thiết bị sục khí có thể gây thay đổi hành vi của một số loài động vật không xương, cá, chim Ánh sáng chiếu ban đêm có thể làm thay đổi sự chuyển động của một số loài cá, mực, rùa Tuy nhiên, tác động quan trọng nhất của nuôi trồng thủy sản là làm suy giảm chất lượng nước vùng ven bờ do quá trình axit hóa đất mặt, làm giàu chất dinh dưỡng từ phân bón và thức ăn, chất thải hữu cơ tăng lên Việc giới thiệu các biện pháp quản lý để giảm thiểu suy giảm nước biển ven bờ tác động môi trường bất lợi của nuôi trồng thủy sản phát triển đã trở thành vấn đề cấp bách.[10]

Đề tài: “Đa dạng sinh học các loài cá vùng cửa sông thuộc Nam Châu Phi” của

Whitfield, A.K (1994) đã xác định ở Nam Phi trong số 142 loài cá được nghiên cứu có tới 71% loài là những đại diện hoặc hoàn toàn hay một phần đời sống phụ thuộc vào vùng cửa sông, trong đó gồm cá cửa sông (28%) và cá biển rộng muối (43%), số còn lại là những loài

cá biển hẹp muối, xuất hiện trong vùng cửa sông với số lượng ít như khách vãng lai (21%), một số loài cá nước ngọt rộng muối (55) và những loài di cư qua vùng cửa sông (3%).[13]

Đề tài: “Xử lí nước thải đầm tôm ở vùng đất ngập nước rừng ngập mặn tự nhiên” của

Primavera và cộng sự (1998) đã nghiên cứu hiện trạng rừng ngập mặn ở Philippines và đánh giá khả năng xử lí chất thải của rừng ngập mặn tự nhiên Việc trồng các cây ngập mặn có tác dụng lọc nước thải từ đầm tôm và phục hồi được các đầm tôm bị bỏ hoang.[9]

Đề tài: “Các tác động của môi trường nuôi trồng thuỷ sản và những ảnh hưởng của ô

nhiễm môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển ở Đông Nam Á” của Chua Thia Eng và cộng

sự (2003) đã chỉ ra rằng nuôi trồng thủy sản ven biển là một nghề truyền thống ở Đông Nam

Á Sự phát triển của nghề này trong ba thập kỷ qua đã tạo ra các tác động tiêu cực về môi

trường ví dụ như chuyển đổi rừng ngập mặn trên diện rộng thành các ao nuôi, làm thay đổi chế độ thủy văn ở các vùng nước do sự phát triển của cơ cấu nuôi trồng thuỷ sản, xả nước thải hữu cơ vào nước biển Đồng thời, việc xả chất thải do các hoạt động nông nghiệp và công nghiệp vào nước biển vùng ven bờ dẫn đến sự suy thoái ngày càng cao của chất lượng nước biển từ đó ảnh hưởng đến sản xuất nuôi trồng thuỷ sản và lợi nhuận Hơn nữa, tần số tăng của thủy triều đỏ trong khu vực đã đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng cho nuôi trồng thủy sản ven biển, đặc biệt là trồng nhuyễn thể Việc giới thiệu các biện pháp quản lý để giảm thiểu suy giảm chất lượng nước biển ven bờ và các hậu quả môi trường do phát triển nuôi trồng thủy sản đã trở thành một vấn đề cấp bách cho khu vực.[2]

Trang 11

Đề tài: “Cơ sở của việc bảo vệ và đồng quản lí rừng ngập mặn” của Schmit, K

(2010) đã đưa ra khái niệm, quy trình và nguyên tắc đồng quản lí Đồng quản lí dựa trên nền tảng thương lượng, lấy quyết định chung, mức độ chia sẻ quyền hạn và phân phối công bằng lợi ích giữa tất cả các bên liên quan Quy trình đồng quản lý theo một quy trěnh bốn bước, trong đó bốn nguyên tắc phải được áp dụng Bốn bước gồm: Tham khảo ý kiến và tổ chức, thương lượng và thỏa thuận, thực hiện, giám sát và đánh giá và bốn nguyên tắc gồm: quản

lý tổng hợp vùng ven biển, sự tham gia, phân khu, giám sát Đồng quản lý rừng ngập mặn sẽ đem lại lợi ích như sau: Bảo vệ hiệu quả các khu rừng ngập mặn, cải thiện sinh kế qua việc đảm bảo sử dụng bền vững tài nguyên, người sử dụng tài nguyên được tham gia quyết định việc quản lý tài nguyên, giảm khối lượng công việc cho chính quyền chia sẻ lợi ích như một phần của cách tiếp cận, quản lý tổng hợp vùng ven biển.[11]

* Tại Việt Nam

Công trình nghiên cứu về: “Mối quan hệ của hệ sinh thái rừng ngập mặn và nguồn

lợi hải sản” của Phan Nguyên Hồng (2003) và cộng sự đã cho thấy rừng ngập mặn là nơi

nuôi dưỡng các loài hải sản và hỗ trợ nghề cá Rừng ngập mặn bảo vệ hiệu quả và xử lí các chất thải của các đầm tôm, cua Các nguồn tôm giống bố mẹ đều có quan hệ mật thiết đến rừng ngập mặn Chính nhờ mùn bã phong phú của rừng ngập mặn mà năng suất của các đầm tôm, cua cao hơn Và việc trồng rừng ngập mặn ở một số tỉnh đã đem lại thu nhập cho người dân thông qua nguồn lợi hải sản.[12]

Đề tài: “Đánh giá tác động của việc phục hồi rừng ngập mặn đối với nguồn lợi thủy

sản ở một số xã ven biển thuộc tỉnh Thái Bình và Nam Định” của Phan Thị Thúy, Lê Xuân

Tuấn (1998) đã xác định việc phục hồi rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng tạo ra nguồn lợi thủy sản to lớn từ đó đem lại lợi ích kinh tế cho người dân.[35]

Đề tài: “Sự gia tăng nguồn lợi hải sản sau khi có rừng ngập mặn trồng tại huyện

Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” của Lê Xuân Tuấn, Đỗ Thành Trung (1998) đã cho thấy sự

phát triển của rừng ngập mặn có tác dụng bảo vệ đê biển, cải thiện môi trường đồng thời làm gia tăng nguồn hải sản đến cư trú và sinh sống góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân trong vùng.[36]

Đề tài: “Ảnh hưởng của rừng ngập mặn đối với hệ thống nuôi tôm rừng ở đồng bằng

sông Cửu Long” của tác giả Bùi Thị Nga và cộng sự đã chỉ ra mối quan hệ và ảnh hưởng

qua lại giữa lá đước với hệ thống nuôi tôm – rừng Lá đước có vai trò trực tiếp và gián tiếp

là nguồn thức ăn cho hầu hết các loài thủy sinh kể cả tôm Tuy nhiên, quá trình phân hủy lá

Trang 12

đước làm tiêu thụ nhiều oxi, làm cho hàm lượng oxi trong thủy vực thường rất thấp gây ức chế sinh lí cho tôm dẫn đến năng suất nuôi thấp trong mô hình nuôi quảng canh Do đó việc trao đổi nước tại nơi tích tụ nhiều lá đước hoặc tạo điều kiện để cung cấp oxi cho hệ thống nuôi là điều rất cần thiết.[19]

Đề tài: “Vấn đề nuôi thủy sản trong rừng ngập mặn” của Viên Ngọc Nam, Nguyễn

Sơn Thụy (1998) đã tổng kết các hình thức nuôi thủy sản trong rừng ngập mặn hiện nay gồm có: nuôi trên nền đáy (nuôi sò huyết, nuôi nghêu); nuôi lồng hoặc nuôi bè (nuôi cua, tôm, cá); nuôi thủy sản ở ao, đầm, đập (nuôi cá, tôm) Đồng thời đưa ra phương thức sử dụng hợp lí rừng ngập mặn cho việc nuôi thủy sản kết hợp với mô hình lâm – ngư trong rừng ngập mặn đảm bảo được vốn rừng và năng suất thủy sản bền vững.[17]

Đề tài: “Nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng ngập mặn huyện Cần Giờ, thành phố Hồ

các mô hình nuôi trồng thủy sản trong rừng ngập mặn ở huyện Cần Giờ, TP.Hồ Chí Minh

và đề xuất một số biện pháp quản lí bền vững.[29]

Đề tài: “Hiện trạng nuôi trồng thủy sản trong khu vực có rừng ngập mặn ở Hải

Phòng và biện pháp cải thiện” của Lê Xân, Đỗ Văn Khương (1998) cho thấy nuôi trồng

thủy sản ở Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc những năm 90 phát triển chậm và mô hình quảng canh là chủ yếu và đề xuất mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản hòa hợp với rừng ngập mặn.[42]

Đề tài: “Công tác khôi phục tài nguyên rừng và khai thác nuôi trồng thủy sản với mô

Liêm (1996) đã đưa ra mô hình sản xuất lâm - ngư kết hợp vừa trồng rừng vừa nuôi trồng thủy sản Theo mô hình này thì diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm 1/4 diện tích rừng mà vẫn đảm bảo sự ổn định và bền vững của môi trường, của hệ sinh thái rừng ngập mặn và ổn định đời sống kinh tế của người dân Khi thực hiện mô hình này, Cà Mau đã phục hồi được

4000 ha rừng ngập mặn.[15]

Các công trình liên quan đến giải pháp phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn gồm có:

Đề tài: “Sử dụng bền vững và có hiệu quả kinh tế các tài nguyên trong hệ sinh thái

rừng ngập mặn ở xã Liên Vị, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh” của Phạm Văn Minh

(1995) đã đưa ra một số biện pháp khai thác, quản lí và bảo vệ rừng ngập mặn có hiệu quả như sau: quá trình khai thác phải đi đôi với việc củng cố, phát triển và nuôi dưỡng rừng

Trang 13

ngập mặn; phải nghiên cứu những cây dược liệu quí là cây ngập mặn để có phương thức chế biến và khai thác có kế hoạch; phải có qui chế quản lí toàn bộ diện tích rừng ngập mặn và thông báo cho nhân dân trong vùng nhận thực và hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của rừng ngập mặn.[16]

Còn trong công trình nghiên cứu: “Qui hoạch môi trường thành phố Hải Phòng và

định hướng bảo tồn phát triển tài nguyên sinh vật vùng ngập nước ven biển” của tác giả Lê

Trình và cộng sự (1996) cho rằng việc bảo tồn rừng ngập mặn ngoài việc khai thác hợp lí nguồn tài nguyên, trồng rừng bổ sung thì cần phải xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn Đồng thời giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội như: đưa việc giáo dục bảo vệ rừng ngập mặn vào nhà trường, cung cấp chất đốt để thay thế cho việc dùng củi từ cây ngập mặn, áp dụng các kĩ thuật công nghệ tiên tiến vào nuôi trồng thủy sản để tăng năng suất thay

cho việc phá rừng làm đầm mới, giảm thiểu việc khai thác hải sản trong khu vực rừng ngập mặn để bảo vệ đàn giống cho dải ven bờ.[27]

Đề tài: “Cộng đồng ven biển và vấn đề quản lí nguồn tài nguyên ven biển” của tác

giả Trần Minh Hiền và cộng sự (1996) đã đề xuất các giải pháp phát triển bền vững từ phía cộng đồng ven biển như: Hỗ trợ tài chính cho các hộ dân đánh bắt xa bờ để nâng cao sản lượng trong bối cảnh nguồn lợi ven bờ bị cạn kiệt, nâng cao nhận thức của người dân nhằm chấm dứt phương thức đánh bắt hủy diệt, kiểm soát các vấn đề ô nhiễm do rác thải sinh hoạt

và công nghiệp, xây dựng đê biển, đầu tư xóa đói giảm nghèo.[7]

Đề tài: “Mô hình phục hồi, quản lí hệ sinh thái theo hướng đồng quản lí” của Lý Hòa

Khương (2010) đã đưa ra giải pháp phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn bằng mô hình đồng quản lí Mô hình này dựa trên việc thiết lập lợi ích cho nhiều bên liên quan dẫn đến cải thiện rừng ngập mặn thông qua qui hoạch tổng hợp việc sử dụng nguồn tài nguyên

và thử nghiệm phương pháp tiếp cận đồng quản lí có sự tham gia của nhiều nhóm đối tượng chủ yếu là cộng đồng dân tộc người Khmer, phụ thuộc vào tài nguyên vùng ven biển.[14]

Đề tài: “Kinh nghiệm quản lí Vườn Quốc gia Xuân Thủy – Khu ramsar quốc tế” của

Nguyễn Viết Cách (2010) cho thấy thực trạng quản lí và bảo tồn Vườn Quốc gia Xuân Thủy đồng thời đưa ra những giải pháp và bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả quản lí

và phát triển bền vững như sau: tăng cường năng lực cho Vườn Quốc gia Xuân Thủy (về vật chất kĩ thuật, trang thiết bị, con người, pháp lí); tăng cường nâng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ chế quản lí thích hợp, tổ chức thực thi

dự án đầu tư vùng đệm, phát triển mô hình du lịch sinh thái.[2]

Trang 14

Qua quá trình thu thập tài liệu, điểm qua tất cả các công trình đã được nghiên cứu cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm rừng ngập mặn và những tác động đến tài nguyên thủy sản liên quan đến rừng ngập mặn ở xã Long Sơn – thành phố Vũng Tàu cũng như giải pháp phát triển bền vững Do đó đây là vấn đề hoàn toàn mới cần được nghiên cứu và phát triển

Trang 15

CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài của chúng tôi được thực hiện nhằm các mục tiêu sau đây:

• Nắm được các đặc điểm chủ yếu (diện tích, phân bố và thành phần cây ngập mặn thường gặp của rừng ngập mặn ở xã Long Sơn, tp Vũng Tàu

• Tìm hiểu tài nguyên thủy sản liên quan rừng ngập mặn, hiện trạng khai thác và nuôi trồng thủy sản

• Đánh giá các tác động đến tài nguyên liên quan rừng ngập mặn ở xã Long Sơn, tp Vũng Tàu

• Đề xuất giải pháp quản lí và phát triển bền vững tài nguyên thủy sản liên quan rừng ngập mặn ở xã Long Sơn, tp Vũng Tàu

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy sản liên quan ở

xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là xã Long Sơn của tp Vũng Tàu

Phạm vi áp dụng: kết quả của đề tài làm cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền xã xây dựng và thực thi các giải pháp quản lí và sử dụng bền vững tài nguyên thủy sản liên quan đến rừng ngập mặn xã Long Sơn, tp Vũng Tàu

2.3 Nội dung nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:

1 Phân bố và diện tích rừng ngập mặn

2 Thành phần cây ngập mặn chủ yếu

3 Tài nguyên thủy sản liên quan rừng ngập mặn và hiện trạng khai thác thủy sản

Trang 16

4 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản

5 Tác động và tình trạng suy thoái tài nguyên rừng ngập mặn

6 Giải pháp đề xuất liên quan đến quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên thủy sản liên quan rừng ngập mặn

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung nghiên cứu đã đặt ra, luận văn sẽ áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Kế thừa tất cả các tài liệu (sách, luận văn, báo cáo nghiên cứu khoa học, bản đồ…)

có liên quan đến tài nguyên thủy sản của rừng ngập mặn Việt Nam nói chung và ở xã Long Sơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng Đồng thời, liên hệ với các sở (Tài nguyên – Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…), ban quản lí rừng phòng hộ, thư viện tổng hợp của tỉnh để thu thập các thông tin liên quan đến đề tài về các vấn đề như: đặc điểm rừng ngập mặn xã Long Sơn và tài nguyên thủy sản của nó, hiện trạng khai thác và nuôi trồng thủy sản, các tác động tới tài nguyên rừng ngập mặn…

2.4.2 Phương pháp điều tra cộng đồng

Điều tra, phỏng vấn trực tiếp người dân sinh sống ở vùng ngập mặn bằng cách sử dụng mẫu phiếu đã lập sẵn những thông tin cần thu thập phục vụ cho nghiên cứu đề tài Ngoài ra, chúng tôi còn phỏng vấn cán bộ quản lí rừng, cán bộ thủy sản và cán bộ xã tại địa phương để có thông tin tổng quát và xác thực hơn

Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu về tài nguyên thủy sản liên quan rừng ngập mặn và hiện trạng khai thác (đối tượng đánh bắt, công cụ đánh bắt, sản lượng khai thác, số lượng tàu thuyền khai thác, vùng khai thác, thu nhập bình quân của mỗi hộ…), hiện trạng nuôi trồng thủy sản (kiểu nuôi, vùng nuôi, sản lượng nuôi hàng năm, các tác động tới nuôi trồng

và từ nuôi trồng…)

Công tác phỏng vấn thực hiện song song với công tác điều tra khảo sát ngoài thực địa, chụp hình, xem xét tình hình làm ăn sinh sống, lao động sản xuất và các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên rừng ngập mặn của các hộ dân Trong quá trình đi phỏng vấn có kết

Trang 17

hợp tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người dân đối với những chính sách liên quan đến đời sống kinh tế xã hội, môi trường sống, khai thác sử dụng rừng,…

Tổng số phiếu phỏng vấn là 150 phiếu Mỗi phiếu tương ứng với một nghề khai thác Mỗi nghề khai thác chúng tôi tiến hành phỏng vấn khoảng 15 hộ Vì điều kiện đi lại khó khăn, các hộ tham gia khai thác và nuôi trồng khá nhiều nên chỉ chọn ngẫu nhiên 150 hộ dân trong tổng số 2460 hộ đang sống trong xã Thời gian phỏng vấn từ tháng 2/ 2011 – tháng 3/2011

2.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa

Tiến hành khảo sát ngoài thực địa kết hợp với việc phân tích trên bản đồ để tìm hiểu

sự phân bố rừng ngập rừng ngập mặn có trong xã

Kiểm tra tình trạng sử dụng rừng ngập mặn (nếu có)

Xác định các loài cây ngập mặn chủ yếu có trong vùng phân bố bằng cách sử dụng một số tài liệu định loại sau: Cây cỏ Việt Nam, quyển I, II, III (Phạm Hoàng Hộ, 1999), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 1997), Phân loại học thực vật (Hoàng Thị Sản, 1999), Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập I, II (Võ Văn Chi, Trần Hợp)

Đối với các mẫu không xác định được tên loài thì tiến hành thu mẫu và nhờ các chuyên gia về cây ngập mặn định loại

2.4.4 Phương pháp vẽ bản đồ và tính diện tích rừng ngập mặn

Phương pháp này do chuyên gia GIS Tống Phước Hoàng Sơn của Viện Hải dương học hỗ trợ, sử dụng ảnh vệ tinh để vẽ bản đồ phân bố Tính diện tích bằng phần mềm

MapInfo 7.5

Trang 18

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lí

2T Long Sơn là một xã đảo duy nhất trực thuộc thành phố Vũng Tàu được bao bọc

bởi bốn bề sông nước có p2Thía đông giáp sông Dinh, phía Nam giáp xã Tân Hải - huyện Tân Thành, phía tây bắc giáp biển, phía bắc giáp với TP Vũng Tàu và cách trung tâm thành phố chừng 10 km theo đường chim bay.[25]

3.1.2 Khí hậu, địa hình

Long Sơn nằm trong vùng khí hậu đồng bằng Nam Bộ có hai mùa rõ rệt: mùa khô

và mùa mưa Mùa khô có nền nhiệt độ cao và hầu như quanh năm không thay đổi kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 27P

o

P

C Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa phân bố đều trong các tháng, lượng mưa trung bình là 1356,5 mm

Địa hình Long sơn đa dạng và xen kẽ lẫn nhau, bao gồm: Núi, đồng bằng và vùng đầm lầy Khu vực núi gồm có núi Nứa, nằm gần chính giữa đảo, có độ cao là 182m Khu vực đồng bằng bao quanh các ngọn núi trên có độ cao trung bình là 5 – 7 m Khu đầm lầy bao quanh đảo và giáp với biển, sông Chà và, sông Rạng có độ cao từ 0,2 – 1m.[37]

3.1.3 Thủy văn, biển

Long Sơn là hòn đảo che chắn các cửa sông đổ vào vịnh Gành Rái bao gồm hai

hệ thống sông chính là sông Rạng và sông Chà Và Sông Rạng là một nhánh của sông Dinh, tách ra từ sông Dinh tại Phước Cơ thành phố Vũng Tàu, sông có chiều dài khoảng 3 km Sông Chà Và nằm phía Đông của đảo được tách ra từ sông Rạng, phần hạ lưu của sông Dinh, sông chịu ảnh hưởng của thủy triều Sông Dinh dài khoảng 35 km nằm gọn trong tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu, lưu vực sông rộng khoảng 300 kmP

2

Plà nguồn cung cấp nước sinh hoạt

và tưới tiêu của tỉnh

Trang 19

Vùng biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói chung và của Long sơn nói riêng có chế

độ hải văn bán nhật triều Trong một ngày có hai lần triều lên và hai lần triều xuống Đỉnh triều, thân triều và biên độ 2 lần triều lên, triều xuống không bằng nhau.[37]

Như vậy, khí hậu đảo Long Sơn nói riêng và của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói chung mang đặc thù của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm quanh năm, ít xảy ra thiên tai và thời tiết bất thường nên rất thuận lợi cho sự phát triển của hệ sinh thái rừng ngập mặn

3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Dân cư sống tại đảo Long Sơn có tổng số là 2460 hộ bao gồm 12899 người Mật

độ dân số trung bình là 239 người/kmP

2

P

Dân cư chủ yếu sống bằng sản xuất nông nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy sản Tổng số lao động trên đảo chiếm 68% tổng dân số Cơ cấu lao động bao gồm: nông, ngư nghiệp (76,4%); dịch vụ hành chính sự nghiệp (11,4 %); công nghiệp, xây dựng (12,2%).[40]

Trang 20

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

+ Vùng ven biển Đông bắc Việt Nam (tỉnh Quảng Ninh)

+ Vùng ven biển Đồng bằng Bắc bộ

+ Vùng ven biển Bắc Trung bộ

+ Vùng ven biển Nam Trung bộ

+ Vùng ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu – thành phố Hồ Chí Minh (miền Đông Nam bộ) [20]

Như vậy, rừng ngập mặn xã Long Sơn thuộc khu vực vùng ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu – thành phố Hồ Chí Minh Vùng này được hình thành từ các sản phẩm bồi tụ của

hệ thống sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, bãi bồi tương đối rộng, phù sa giàu đất sét, khí hậu quanh năm ấm áp, không có mùa đông, không có bão, khá thuận lợi cho cây ngập mặn sinh trưởng

Long Sơn có 97,9 ha rừng ngập mặn tự nhiên và 412,2 ha rừng trồng ngập mặn (theo báo cáo hiện trạng rừng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2009) phân bố rải rác bao quanh xã, trong đó tập trung nhiều nhất ở thôn 2, thôn 9, thôn Rạch Giá, thôn Bến Điệp Đặc điểm phân bố, diện tích và hiện trạng sử dụng rừng ngập mặn theo từng khu vực được trình bày cụ thể ở bảng 4.1 và hình 4.1

Trang 21

Khu vực có

rừng ngập mặn

Diện tích (ha)

Đặc điểm phân

bố (dày hay thưa thớt)

Kiểu rừng (Rừng tự nhiên hay rừng trồng)

Cây ngập mặn chủ yếu sử dụng rừng Hiện trạng

Cầu Long Sơn,

Bảng 4.1: Đặc điểm của các khu vực rừng ngập mặn chủ yếu ở Long Sơn

(Số liệu do Tống Phước Hoàng Sơn tính toán)

Trang 22

Dựa theo bảng 4.1: Đặc điểm của các khu vực rừng ngập mặn chủ yếu ở Long Sơn (Số liệu do Tống Phước Hoàng Sơn tính toán) ta có diện tích rừng ngập mặn tự nhiên và rừng trồng ngập mặn được tính toán bằng phần mềm MapInfo 7.5 lần lượt là: 101,7 ha và 415,8 ha Như vậy, so với kết quả diện tích rừng theo báo cáo hiện trạng rừng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2009 là không chênh lệch nhiều

4.1.2 Thành phần và đặc điểm cây ngập mặn chủ yếu

4.1.2.1 Thành phần cây ngập mặn chủ yếu

Theo nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng (1993) thì trong các hệ sinh thái ở rừng ngập mặn Việt Nam có tới 77 loài cây ngập mặn khác nhau thuộc 2 nhóm đó là:

+ nhóm cây ngập mặn “thực thụ”: Nhóm này có 36 loài cây ngập mặn thuộc 20 chi của 14

họ (năm 1999 có bổ sung thêm một loài)

+ nhóm cây “gia nhập”: Nhóm này có 42 loài thuộc 36 chi của 28 họ

Hình 4.1: Bản đồ phân bố rừng ngập mặn trong xã Long Sơn

Nguồn: Tống Phước Hoàng Sơn

Trang 23

Trong 78 loài cây ngập mặn khác nhau thì các cây ngập mặn thực thụ, thân gỗ

nằm trong họ Rhizophoraceae bao gồm 4 chi: chi Đước (Rhizophora), chi Vẹt (Buguiera), chi Dà (Ceriops) và chi Trang (Kandelia) có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam

Các kết quả nghiên cứu cho thấy ở miền Bắc Việt Nam có 17 loài cây ngập mặn thực thụ trong tổng số 37 loài cây ngập mặn thực thụ ở Việt Nam chiếm 46% tổng số loài Còn ở miền Nam Việt Nam có 33 loài cây ngập mặn thực thụ trong tổng số 37 loài cây ngập mặn thực thụ ở Việt Nam chiếm 80% tổng số loài

Vùng ven biển Đông Bắc có số loài cây ngập mặn thực thụ là 16 loài trong tổng

số 37 loài cây ngập mặn thực thụ ở Việt Nam chiếm 43% trong đó phổ biến là Đâng hay

Đước vòi (Rhizophoza stylosa), Vẹt dù bông đỏ (Bruguiera gymnorrhiza) và Trang (Kandelia obovata) Ngo ài ra còn có mắm biển (Avicennia marina), Sú (Aegiceras

corniculatum)

Vùng ven biển Đồng bằng Bắc bộ có 14 loài cây ngập mặn thực thụ trong tổng số

37 loài, chiếm 37,8 % tổng số loài trong đó phổ biến là Bần chua hay Bần sẻ (Sonneratia

caseolaris) và Trang (Kandelia obovata) Ngoài ra còn có Sú (Aegiceras corniculatum)

Vùng ven biển Nam Trung Bộ có 23 loài cây ngập mặn trong tổng số 37 loài, chiếm 62 % tổng số loài Tuy nhiều hơn 3 vùng trên nhưng chúng phân bố phân tán thành các diện tích nhỏ hẹp, nằm ở ven các con sông hoặc khe rạch bên trong bờ biển

Vùng ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu do có khí hậu thích hợp, không có mùa đông, bãi bồi tương đối rộng nên số lượng loài cây ngập mặn thực thụ tăng lên đáng kể có 32 loài trong tổng số 37 loài chiếm 86,4 % tổng số loài trong đó phổ biến là: Đước hay Đước đôi

(Rhizophora apiculuta), Bần chua (Sonneratia caseolaris), Mắm trắng hay Mắm lưỡi đòng

(Avicennia alba ) và Mắm đen (Avicennia officinalis).[20]

Rừng ngập mặn ở Long Sơn nối liền với rừng ngập mặn ở Long Thành, Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai) và rừng ngập mặn ở Cần Giờ (huyện Duyên Hải, thành phố Hồ Chí Minh) tạo thành một quần thể rừng ngập mặn rộng hàng trăm kmP

Cách trung tâm thành phố Vũng Tàu khoảng 180 km về phía đông là hệ thống rừng ngập mặn của Vườn Quốc gia Côn Đảo thuộc huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng

Trang 24

Tàu Rừng ngập mặn Côn Đảo có diện tích không nhiều khoảng 30 ha nhưng là rừng nguyên sinh chưa bị tác động bởi con người bao gồm 23 loài cây ngập mặn thực sự (thuộc

11 họ) và 18 loài cây gia nhập rừng ngập mặn (thuộc 16 họ), trong đó các cây ngập mặn chiếm ưu thế là: Đước đôi, Sú đỏ, Dà vôi, Vẹt dù, Đâng, Đưng.[13]

Về cơ bản đặc điểm thành phần loài của rừng ngập mặn xã Long Sơn gần với rừng ngập mặn Cần Giờ hơn so với rừng ngập mặn Côn Đảo Tuy nhiên theo kết quả điều tra thì diện tích rừng ngập mặn của Long Sơn nhỏ hơn và số loài ít hơn so với rừng ngập mặn Cần Giờ Chúng tôi đã xác định rừng ngập mặn xã Long Sơn có 10 loài cây ngập mặn thực thụ thuộc 8 chi, 5 họ (Bảng 4.2)

2 Phoenix paludosa Roxb

3 Nypa fruticans Wurmb

Rihizophoraceae

6 Ceriops decandra (Griff.)

7 Ceriops tagal (Pers) C.B.Rob.Ding hou

8 Rhizophora apiculuta Bl

Họ Đước

Dà quánh, Dà đen

Dà vôi, Dà đỏ Đước đôi

Sonneraticeae

9 Sonneratia alba Bl.J.E.Smith

10 Sonneratia caseolaris (L.) Engler

Họ Bần

Bần trắng Bần chua

Ở đây có các quần xã và quần thể cây ngập mặn chủ yếu sau:

+ Tại các bãi mới bồi, ngập nước sâu, khi triều cường ở ven sông Chà Và, sông Thị

Vải có các quần thể cây ngập mặn tiên phong là Bần trắng (Sonneratia alba)

Bảng 4.2: Thành phần loài cây ngập mặn chủ yếu trong

rừng ngập mặn xã Long Sơn

Trang 25

+ Trên các bãi bồi được ngập triều và đất tương đối ổn định thì có quần thể Đước

(Rhizophora apiculuta) Quần thể này chiếm ưu thế trong hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Long Sơn Qua kết quả điều tra, hầu như các khu vực ngập mặn trong xã đều có Đước

+ Quần xã Đước (R apculata), Dà vôi (Ceriops tagal) và Mắm trắng (Avicennia

alba) phân bố trên các bãi bồi có độ ngập nước sâu trung bình khi triều cường (khu vực cầu Long Sơn, thôn 9) (Hình 4.2, 4.3)

+ Quần xã Đước (R apculata), Mắm đen (Avicennia officinalis), Dà quánh (Ceriops

2, thôn 4)

+ Quần xã Chà là (Phoenix paludosa), Sam biển (Sesuvium portulacastrum) phân bố

trên các bãi bồi chỉ ngập nước khi có nước triều cao và cao bất thường trong năm (phân bố rải rác trong các thôn như thôn 6, thôn 8, thôn 10)

Ở khu vực nước lợ cửa sông của vùng này thường gặp các quần thể chủ yếu sau:

+ Quần thể Bần chua (Sonneratia caseolaris) là quần thể cây ngập mặn tiên phong cố

định bãi bồi vùng cửa sông, nước lợ, ngập sâu (khu vực cầu Long Sơn, rừng Sác)

+ Quần thể Dừa nước (Nypa fruticans) phân bố trên các bãi bồi vùng nước lợ cửa

sông được ngập nước khi triều cao trung bình (phân bố rải rác trong các thôn như thôn 1, thôn 6, thôn 8)

4.1.2.2 Đặc điểm của các loài cây ngập mặn chủ yếu

* Đước đôi (Rhizophora apiculuta Bl.)

Hình 4.2, 4.3: Một góc rừng ngập mặn nhìn từ khu vực cầu Long Sơn

và thôn 9

Trang 26

Cây gỗ có thể cao 25 – 30 m, rễ chống chân nôm rất phát triển Lá đơn, mọc đối, hình bầu dục, đầu nhọn, mặt trên xanh sẫm và láng bóng, lá kèm đỏ Cụm hoa xim có 2 hoa trên cuống ngắn và mập; đài hợp xẻ 4 thùy hình tam giác dày, sẽ ở lại cùng với quả; cánh tràng

4, mỏng, hơi trắng, không lông Quả màu nâu với trụ mầm dài 20 – 30 cm, xanh sẫm Mùa hoa tháng 4 - 5 hay quanh năm, quả tháng 11 Thích hợp nơi đất bùn mềm đến hơi ngập triều định kì hàng ngày.[4] Đây là loài cây phân bố rất phổ biến ở đồng bằng Nam Bộ ví dụ như rừng ngập mặn ở Bạc Liêu, Cà Mau có Đước đôi là loài ưu thế; phân bố rải rác ở Nam Trung bộ, không phân bố tự nhiên ở Bắc Trung bộ, đồng bằng Bắc bộ và vùng Đông Bắc Việt Nam

* Mắm trắng hay Mắm lưỡi đòng (Avicennia alba Bl.)

Cây gỗ thường cao khoảng 10 – 15 m, cành non xám, nhẵn nhưng khi già thì trở nên đen, rễ thở nhiều, thon dần phía đầu, dựng đứng từ dưới bùn lên, cao đến 30 cm Lá đơn, mọc đối hình mũi mác, đầu nhọn, gốc hình nêm, mặt dưới phủ lông màu trắng bạc Hoa đơm thành gié; hoa nhỏ (đường kính 5mmm), màu vàng Quả nang hơi cong, dài khoảng 4

cm, màu xanh hơi xám, đầu thon nhọn, tự khai thành 2 mảnh, hạt nảy mầm trên cây trước khi quả rụng Mùa hoa tháng 6 – 7, quả chín tháng 8 – 9.[4] Đây là loài cây quan trọng

cùng với Bần trắng (Sonneratia alba) được xem là những loài tiên phong ở nơi đất mới bồi

của vùng ngập mặn Phân bố rất phổ biến ở miền Nam Việt Nam ( huyện Cần Giờ - TP.Hồ Chí Minh, xã Thạnh Phú – Bến Tre, huyện Long Thành – Đồng Nai…)

* Mắm đen (Avicennia officinalis L.)

Cây gỗ cao khoảng 10 – 15 m Vỏ mỏng màu xám nâu, hệ thống rễ tương tự Mắm trắng Lá hình trứng ngược hay bầu dục, đầu tròn, gốc hình nêm, mép hơi uốn xuống, mặt dưới nhiều lông màu hung Hoa tự đầu, gồm nhiều hoa nhỏ màu vàng hay da cam Quả nang dài 2 – 3 cm có dạng hình tim, bất xứng, có mũi ngắn, vỏ quả màu vàng nhạt đến nâu nhạt,

1 hạt, nảy mầm trước khi quả rụng Quả chín vào tháng 7 – 8 Cây thường mọc nơi bùn chặt, ngập triều trung bình, nằm sâu trong đất liền hơn so với Mắm trắng.[4] Phân bố phổ biến ở vùng ven biển Đồng bằng Nam bộ đặc biệt là bán đảo Cà Mau

* Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engler.)

Cây gỗ cao khoảng 10 – 15 m, nhánh non đỏ, cành thường rũ xuống, rễ thở nhiều, mọc dựng đứng từ dưới bùn lên Lá đơn, mọc đối, dày, giòn; phiến lá trưởng thành thon hay bầu dục, đầu nhọn, cuống màu đỏ nhạt Hoa đơn độc hay dạng xim 2 ngả gồm vài hoa, đầu cành; cánh hoa mảnh, đỏ; nhị dực nhiều, chỉ nhị hình sợi, trắng ở phần đầu và đỏ hồng ở

Trang 27

đáy Quả mọng, màu xanh; gốc có 6 – 8 thùy đài xòa rộng; hạt nhiều Mùa hoa tháng 3 – 4; quả tháng 5 – 9 [4] Đây là loài Bần phân bố khá phổ biến và rộng khắp ở 3 miền: miền Nam (huyện Cần Giờ - TP.Hồ Chí Minh, xã Thạnh Phú – Bến Tre, Kiên Giang, Cà Mau…), miền Trung, Bắc Việt Nam, nơi bãi bồi của cửa sông giàu bùn sét và độ mặn thấp

* Bần trắng hay Bần đắng (Sonneratia alba Bl.J.E.Smith)

Cây gỗ cao đến 15 m; rễ thở mọc thẳng đứng, thon nhọn Lá đơn, mọc đối, phiến lá hình trứng ngược, đầu tròn hay hơi lõm, cứng, dày và giòn, dễ gãy Hoa nở về ban đêm, cánh hoa trắng hơi đỏ ở đầu, hẹp như chỉ nhị; nhị đực nhiều, màu trắng, đài hình chén Quả mọng mang thùy đài thường vểnh ngược lên, nhiều hạt, không ăn được vì có vị đắng Mùa hoa vào tháng 2 – 3; quả chín tháng 5 – 9 Là loài cây tiên phong ở những bãi bồi vùng cửa sông, ven biển, có khả năng chịu mặn nhất trong các loài Bần, thường mọc với Mắm trắng [4] Phân bố tự nhiên ở vùng ven biển Nam bộ và Nam trung bộ (huyện Cần Giờ - TP.Hồ Chí Minh, xã Thạnh Phú – Bến Tre, Kiên Giang, Sóc Trăng )

* Rau sam biển (Sesuvium portulacastrum L.)

Cây thảo mộc, nằm, phân nhành nhiều, hơi đo đỏ, có rễ ở mắt Lá thẳng, đáy thon, dài 1 – 2 cm, mập, cuống là ngắn và có màng ở đáy Hoa nhỏ mọc đơn độc ở nách là có màu hồng nhạt Quả hạch có nắp xoan hay thuôn; hạt nhiều Cây ra hoa quanh năm Cây ưa sáng, thường mọc hoang ở các vùng cát và ruộng ven biển, đất bùn chặt ven bờ sông rạch ít ngập triều, hay có thể thấy từng thảm lớn ở những ruộng muối bỏ hoang [4] Phân bố phổ biến ở

cả miền Bắc, Trung và Nam Bộ (huyện Cần Giờ - TP.Hồ Chí Minh, xã Thạnh Phú – Bến Tre, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau )

* Chà là (Phoenix paludosa Roxb.)

Mọc thành bụi dày, thân cột cao 1 – 6 m Lá hơi mốc trắng, dài 1 – 2 m, có gai nhọn Hoa tự đầu là buồng có 1 mo mang nhánh cái dài hơn nhánh dực Quả mọng màu nâu đỏ, dài khoảng 1 cm, chín vào tháng 6 – 8 Lá cây ưa sáng mọc thuần loại hay hỗn giao với Ráng (Acrostichum aureum) trên đất bùn cứng [4] Phân bố rải rác ở hầu hết các vùng đất ngập mặn trên cả nước, nơi chịu ảnh hưởng của triều cao, nhưng tập trung nhiều ở miền Nam (huyện Long Thành – Đồng Nai, huyện Cần Giờ - TP.Hồ Chí Minh, xã Thạnh Phú – Bến Tre, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau )

* Dà vôi (Ceriops tagal (Pers) C.B.Rob.Ding hou)

Trang 28

Cây gỗ cao 5 – 10 m, bạnh gốc thấp, cành có nhiều vết sẹo do lá rụng để lại Lá hình bầu dục, đầu tròn hơi lõm, gốc hình nêm, hai bên mép lá cũng hơi uốn xuống Cụm hoa ở nách lá cũng gồm những xim phân đôi nhưng trục phát hoa hơi dài và mảnh hơn ở Dà quánh; cánh hoa trắng rồi nâu, đầu có 3 phụ bộ hình chùy Quả với thùy đài tồn tại thường xòe rộng hay vểnh lên Trụ mầm dài 15 – 25 cm luôn mọc thòng xuống, hơi có cạnh Mùa kết trái tháng 7 – 9 Cây thường mọc trên đất bùn chặt, mọc thuần loại hoặc xen với Cóc vàng trên đất rừng thứ sinh chỉ ngập khi triều cao [4] Phân bố tự nhiên ở vủng ven biển đồng bằng Nam bộ ví dụ như Cà Mau, huyện Cần Giờ - TP.Hồ Chí Minh, xã Thạnh Phú – Bến Tre, Kiên Giang, rải rác ở Nam Trung Bộ và không thấy phân bố tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam

* Dà quánh (Ceriops decandra (Griff.))

Cây gỗ cao 5 – 10 m, cây trưởng thành có bạnh gốc do rễ khí sinh ở cây con phát triển thành Lá hình bầu dục rộng có dạng hình trứng ngược, đầu tròn hay hơi lõm, hai bên mép lá hơi uốn xuống Hoa gồm những xim phân đôi, trục phát hoa rất ngắn và dày trông như hoa tự đầu, mọc ở nách lá; cánh hoa trắng, 2 – 3 mm, đầu chia tua Quả với thùy đài tồn tại ôm quả Trụ mầm dài 10 – 15 cm, có cạnh rõ, thường có xu hướng mọc ngược lên (hiếm khi thòng xuống) Mùa hoa tháng 3 – 5, mùa trái tháng 6 – 8 Cây thường mọc nơi đất bùn chặt, rải rác ven bờ sông rạch chỉ ngập khi triều cao trung bình xen lẫn với các loài Đước, Giá, Chà là [4] Phân bố giống với Dà vôi

* Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb.)

Thân ngầm trong bùn Lá kép lông chim rất to, đứng từ trong bùn, cao

5 – 9 m, có bẹ phình to; lá chét thon dài đến 70 cm Phát hoa đồng chu, có thể cao đến 2 m, màu cam Buồng quả hình cầu to (đường kính 40 cm), mang khoảng 40 – 60 quả hạch, 3 góc có mùa nâu sẫm, nhiều xơ, phôi nhũ lúc non mềm (ăn được), sau cứng Mùa quả chín tháng 2 – 4 Cây thường mọc thành từng rải rộng dọc triền sông nước lợ, trên đất bùn hội tụ [4] Phân bố tự nhiên ở vủng ven biển đồng bằng Nam bộ, rải rác ở Nam Trung Bộ và không thấy phân bố tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam

Trang 29

4.2 Hiện trạng khai thác và nuôi trồng tài nguyên thủy sản liên quan đến rừng ngập mặn

4.2.1 Tài nguyên thủy sản liên quan đến rừng ngập mặn và hiện trạng khai thác thủy sản

4.2.1.1 Đối tượng đánh bắt

Qua thống kê từ những hộ dân được phỏng vấn, thấy rằng người dân ở xã Long Sơn chủ yếu khai thác một số đối tượng thủy sản liến quan đến rừng ngập mặn sau đây: tôm (tôm sú, tôm thẻ, tôm đất…), cua, cá (cá bống, cá nâu, cá căng, cá đục, cá chẽm, cá bơn, cá trai, cá rìa đầm, cá hồng, cá mú, cá lượng, cá cơm…)

4.2.1.2 Sản lượng và thời gian khai thác

a Dụng cụ khai thác và thời gian khai thác

STT Các loại công cụ

khai thác

Số lượng (chiếc) Tỉ lệ (%)

từ các máy ôtô vận tải hạng nặng Ngoài ra, một số hộ còn dùng bung (rập) (hình 4.4) để đánh bắt hoặc dùng các loại câu, bẫy Tuy nhiên, việc sử dụng các dụng cụ này không phổ biến lắm Những năm trước đây các hộ hành nghề te khá nhiều nhưng hiện nay do nhà nước cấm nghề te nên số lượng cũng te giảm dần Mùa vụ khai thác thủy sản là quanh năm và phụ thuộc vào cường độ triều trong tháng Những tháng khai thác được nhiều nhất là từ tháng 9 đến tháng 11

Bảng 4.3: Các loại dụng cụ và tỉ lệ các hộ được điều tra sử

dụng trong đánh bắt thủy sản của xã

Trang 30

b Sản lượng khai thác

Sản lượng khai thác cá, tôm trong rừng ngập mặn những năm gần đây giảm sút nhanh chóng (Bảng 4.4 và Hình 4.6) Theo bảng 4.4 thì sản lượng khai thác thủy sản rừng ngập mặn có xu thế giảm dần từ năm 2007 – 2010 Đặc biệt giảm mạnh nhất từ năm 2007 đến năm 2008 Các năm còn lại sản lượng giảm ít hơn Theo ông Huỳnh Hoàng Sơn ở thôn

2 cho biết trước năm 2008 sản lượng khai thác đối với tôm thẻ là 4 – 5 kg/ngày thì bây giờ chỉ được 1 – 2 kg/ngày, đối với sản lượng cá các loại thì trước đây thu được 7 – 8/ngày còn hiện nay khoảng 3 – 4 kg/ngày

Năm Sản lượng đạt được Giá trị sản lượng

Bảng 4.4: Báo cáo tình hình sản lượng khai thác thủy sản ở

rừng ngập mặn xã Long Sơn trong giai đoạn 2007 – 2010[38]

Hình 4.4: Bung (rập) – 1 loại dụng

cụ đánh bắt thủy sản của hộ dân

Hình 4.5: Người dân thôn 2 đang

kéo lưới

Trang 31

Năm

4.2.1.3 Nguồn lợi thu được từ khai thác

Nhờ khối lượng mùn bã từ các cây ngập mặn được phân hủy tại chỗ, rừng ngập mặn thu nhận các chất dinh dưỡng từ nội địa do sông chuyển ra và từ biển khơi chuyển vào do thủy triều nên tính đa dạng trong hệ sinh thái rừng ngập mặn rất cao trong đó có nhiều nguồn hải sản quan trọng Theo Ronnback (1999), mỗi năm 1 ha rừng ngập mặn có thể tạo

ra 13 – 756 kg tôm thuộc họ Tôm he có giá trị 91 – 5.292 đô la Mỹ (USD), 13 – 64 kg cua

bể với số tiền tương ứng là 39 – 352 USD, 257 – 900 kg cá qui ra tiền là 475 – 713 USD,

500 – 979 kg ốc, sò có giá trị tương ứng là 140 – 274 USD Theo Talbot và Wilkenson (2001) với 40.000 ha rừng ngập mặn được quản lí tốt ở Malaisia đã hỗ trợ cho ngành thủy sản 100 triệu USD, mỗi hecta thu được 2.500 USD/năm [12]

Khai thác và nuôi trồng thủy sản là ngành kinh tế chính đối với người dân xã Long Sơn Chính nhờ nguồn lợi thủy sản trong rừng ngập mặn mà nhiều hộ dân thoát nghèo, đưa kinh tế địa phương phát triển Các loại thủy sản này được bày bán tại địa phương hoặc chở

đi nơi khác để tiêu thụ hoặc phơi khô để bán với giá rẻ hơn (Hình 4.7, 4.8) Sản lượng cá cơm trong vùng khá lớn nên ngoài việc làm thức ăn cho người dân còn được dùng để chế biến nước mắm Nhiều cơ sở kinh doanh đánh bắt thủy hải sản mọc lên trong vùng Theo kết quả điều tra từ các hộ dân thì các loại cá được khai thác nhiều nhất và giá bán tại các chợ

Hình 4.6: Biểu đồ sản lượng khai thác thủy sản ở rừng ngập

mặn xã Long Sơn trong giai đoạn 2007 – 2010

Trang 32

đầu mối được trình bày ở bảng 4.5 Bình quân thu nhập một hộ dân từ khai thác thủy sản liên quan đến rừng ngập mặn là 1.500.000 – 3.000.000 đồng/tháng

Loại thủy sản được

4.2.2 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản

Long Sơn có tiềm năng nuôi trồng thủy sản khá lớn Toàn xã có diện tích đất nuôi trồng thủy sản kể cả đất mặt nước là 2955 ha Hiện nay trên địa bàn xã có khoảng 1.365 hộ nuôi trồng thủy sản trong đó nuôi hàu là 714 hộ với diện tích là 7,73 ha; nuôi sò huyết là

103 hộ với diện tích là 32,5 ha; làm đầm là 548 hộ với diện tích là 1394 ha [38] Trong đó

Hình 4.7, 4.8: Cá nâu, cá chẽm, cá mú và cá đối được bày bán tại địa phương

Bảng 4.5: Giá bán của một số đối tượng thủy sản được khai thác chủ yếu tại các chợ đầu mối

Trang 33

làm đầm nuôi tôm (nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng) chiếm diện tích chủ yếu trong nuôi trồng thủy sản của xã chiếm tỉ lệ 97%

4.2.2.1 Kiểu và vùng nuôi trong xã

Đối tượng nuôi: hàu, cá (cá chẽm, cá bóp, cá mú), tôm, sò huyết Vùng nuôi tập trung chủ yếu ở khu vực hạ lưu sông Chà Và thuộc xã Long Sơn: nuôi tôm sú, tôm thẻ bằng hình thức quảng canh cải tiến và bán thâm canh (một số hộ dân vẫn nuôi bằng hình thức quảng canh); nuôi hàu chủ yếu là nuôi giàn cọc; nuôi cá bóp, cá chẽm, cá mú là nuôi lồng bè

a Các mô hình nuôi tôm

- Nuôi quảng canh: Đối tượng chủ yếu là tôm sú Nuôi tôm sú trong các đập, thu hoạch

thông qua hệ thống cống, dựa vào các kì thủy triều, năng suất thấp Nguồn tôm giống chủ yếu lấy từ tự nhiên

Tuy nhiên do nguồn lợi tôm ngày càng giảm nên diện tích nuôi theo hình thức này ngày càng thu hẹp để chuyển dần sang nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh

- Nuôi quảng canh cải tiến: Đối tượng chủ yếu là tôm sú Diện tích tối đa không quá 1ha

để tiện chăm sóc, năng suất cao, đầu tư ít tốn kém, phù hợp cho từng hộ cá thể Tận dụng tôm giống và thức ăn tự nhiên nhưng có thả thêm giống, mật độ thả từ 2 – 5 con/mP

2

P

Trong điều kiện giống tôm tự nhiên ngày càng ít đi thì mô hình nuôi tôm quảng cảnh cải tiến có bổ sung thêm giống ở mật độ thấp, hoàn toàn sử dụng thức ăn tự nhiên, không đòi hỏi vốn đầu tư nhiều nhưng năng suất ổn định mang lại hiệu quả kinh tế cho hộ dân, hạn chế rủi ro về dịch bệnh, không dùng hóa chất trong xử lí môi trường được coi là mô hình sinh thái và mô hình này đáp ứng được một phần mục tiêu duy trì rừng ngập mặn trong xã

- Nuôi bán thâm canh: Đối tượng chủ yếu: tôm sú, tôm thẻ chân trắng Dùng giống tự nhiên hoặc giống nhân tạo Thả giống mật độ 15 – 25 con/mP

2

P

, sử dụng thức ăn công nghiệp

b Mô hình nuôi hàu trên sông

Nghề nuôi hàu của xã đã hình thành từ nhiều năm qua, hình thức nuôi chủ yếu là nuôi giàn, nuôi bè (Hình 4.9) và nuôi lồng Trong đó hình thức nuôi giàn có nhiều ưu thế do phù hợp với điều kiện của ngư dân do vốn đầu tư ít, kĩ thuật nuôi đơn giản mang lại hiệu quả kinh tế cao Nuôi bè dễ quản lý, dễ chăm sóc, cho hiệu quả kinh tế cao nhưng chi phí đầu tư cao hơn nuôi giàn Nuôi lồng tốc độ tăng trưởng của hàu nhanh, cho năng suất cao nhưng chi phí đầu tư cao nhất so với các hình thức khác Được thả nuôi ở vùng bãi triều, cửa sông ven biển nơi có nguồn thức ăn phong phú, có dòng chảy nhẹ, ít sóng gió, ít thuyền

Trang 34

bè qua lại Giống hàu được lấy từ tự nhiên dựa vào đặc tính sống bám của hàu Tiêu chuẩn của vật bám lấy giống là phải sạch, không mùi vị, không độc, có độ cứng và độ ráp nhất định để hàu dễ bám Vật bám có thể là vỏ hàu (kích cỡ 5 x 10 cm), tấm phibro ximăng (20 x

30 cm hoặc 20 x 40cm) (Hình 4.10), vỏ lốp xe (15 x 25 cm), gạch ống, ngói Trong toàn xã các hộ dân chủ yếu dùng tấm phibro ximăng làm vật bám Mỗi năm có 2 vụ lấy giống Vụ chính từ tháng 4 – 5 (tháng 3 – 4 âm lịch), vụ phụ từ tháng 9 – 10 (tháng 8 – 9 âm lịch) Thời gian thu hoạch hàu từ 12 – 15 tháng Diện tích nuôi hàu của các hộ dao động khá lớn, bình quân diện tích nuôi của mỗi hộ là từ 1000 – 5000 mP

bị thất thu Trong xã có thôn 9 (khu vực Gò Găng) cũng có 3 trại sản xuất cá giống nhưng chất lượng không cao nên con giống chủ yếu là giống nhập có nguồn gốc từ xã Phước Tỉnh (thuộc huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), Cà Mau, Đài Loan Tính trung bình mỗi

Hình 4.9: Bè nuôi hàu của hộ dân

ở Long Sơn Hình 4.10 : Tấm phibro ximăng dùng làm vật bám cho hàu

Ngày đăng: 19/02/2014, 08:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1: Bản đồ phân bố rừng ngập mặn trong xã Long Sơn - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.1 Bản đồ phân bố rừng ngập mặn trong xã Long Sơn (Trang 22)
Hình 4.2, 4.3: Một góc rừng ngập mặn nhìn từ khu vực cầu Long Sơn - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.2 4.3: Một góc rừng ngập mặn nhìn từ khu vực cầu Long Sơn (Trang 25)
Bảng 4.4: Báo cáo tình hình sản lượng khai thác thủy sản ở - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Bảng 4.4 Báo cáo tình hình sản lượng khai thác thủy sản ở (Trang 30)
Hình 4.6:  Biểu đồ sản lượng khai thác thủy sản ở rừng ngập - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.6 Biểu đồ sản lượng khai thác thủy sản ở rừng ngập (Trang 31)
Hình 4.7, 4.8: Cá nâu, cá chẽm, cá mú và cá đối được bày bán tại địa phương - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.7 4.8: Cá nâu, cá chẽm, cá mú và cá đối được bày bán tại địa phương (Trang 32)
Hình 4.9: Bè nuôi hàu của hộ dân - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.9 Bè nuôi hàu của hộ dân (Trang 34)
Hình 4.11 : Nuôi cá bóp kiểu lồng bè của ông  Nguyễn Văn Lộc thôn 8, xã Long Sơn - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.11 Nuôi cá bóp kiểu lồng bè của ông Nguyễn Văn Lộc thôn 8, xã Long Sơn (Trang 35)
Hình 4.12:  Biểu đồ sản lượng nuôi trồng thủy sản ở rừng - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.12 Biểu đồ sản lượng nuôi trồng thủy sản ở rừng (Trang 36)
Bảng 4.7: Sản lượng nuôi trồng của một số đối tượng - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Bảng 4.7 Sản lượng nuôi trồng của một số đối tượng (Trang 37)
Hình 4.13, 4.14: Hàng loạt cây mắm chết khô trong đầm do ô nhiễm nước - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.13 4.14: Hàng loạt cây mắm chết khô trong đầm do ô nhiễm nước (Trang 39)
Bảng 4.11: Chất lượng nước tại các sông trên địa bàn xã Long Sơn[22] - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Bảng 4.11 Chất lượng nước tại các sông trên địa bàn xã Long Sơn[22] (Trang 43)
Bảng 4.13: Chất lượng nước biển tại khu vực nuôi trồng thủy sản[39] - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Bảng 4.13 Chất lượng nước biển tại khu vực nuôi trồng thủy sản[39] (Trang 44)
Hình 4.17: Khai thác cát ở cầu Long Sơn - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.17 Khai thác cát ở cầu Long Sơn (Trang 45)
Hình 4.18 : Sơ đồ tổ chức hệ thống quản lí rừng ngập mặn ở xã Long Sơn - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
Hình 4.18 Sơ đồ tổ chức hệ thống quản lí rừng ngập mặn ở xã Long Sơn (Trang 46)
HÌNH ẢNH CỦA CÁC CÂY NGẬP MẶN CHỦ YẾU - tác động của việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đến rừng ngập mặn ở long sơn (tp.vũng tàu) và giải pháp phát triển bền vững
HÌNH ẢNH CỦA CÁC CÂY NGẬP MẶN CHỦ YẾU (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w