Để góp phần đánh giá thực trạng và tìm ra một số biện pháp của công tác này, đề tài “Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ
Trang 1Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ
Đỗ Thị Kim Hai
Trang 2MỞ ĐẦU
Phát triển Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt đóng vai trò quan trọng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã xác định một trong những định hướng chính để phát triển tốt sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong thời kỳ tới là tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”
Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010, mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, hiện đại hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương tâm tay nghề của nhà giáo thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên đề ra yêu cầu, về trình độ: Đến năm học 2005-2006, có 90% giáo viên tiểu học đạt trình độ chuẩn, trong có 50% giáo viên có trình độ cao
đẳng sư phạm; 100% giáo viên trung học cơ sở đạt trình độ cao đẳng sư
phạm trở lên, trong đó có 30% giáo viên chủ chốt của các môn học có trình
độ đại học; 100% giáo viên trung học phổ thông có trình độ đại học, trong đó
có khoảng 5% có trình độ thạc sĩ” Đó là định hướng chiến lược cho các địa
Trang 3phương xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục nói chung và kế hoạch nâng cao trình độ giáo viên nói riêng
Để góp phần đắc lực thực hiện những mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010, ngành Giáo dục - đào tạo Thành phố Cần Thơ cũng đã xây dựng đề án “Phát triển giáo dục - đào tạo giai đoạn 2001-
2005 và định hướng 2010”, và “Kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo giai đoạn 2006 - 2010”, đánh giá thực trạng giáo dục - đào tạo trong thời gian qua như về qui mô, về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, về cơ sở vật chất… cũng như đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo, và đề ra một số giải pháp phát triển giáo dục - đào tạo ở Thành phố Cần Thơ trong thời gian tới
Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ, trực thuộc Sở Giáo dục-Đào tạo Thành phố Cần Thơ, là nơi trực tiếp đào tạo ra những nhà giáo, nhà sư phạm cho thành phố Cần Thơ Từ năm 1976 đến nay trường đào tạo một lực lượng lớn những con người làm công tác “trồng người” này Đặc biệt, trường đã liên kết với một số trường đại học trong nước để đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên trung học cơ sở có trình độ đại học cho Thành phố Cần Thơ
Việc tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên ở các cấp học, bậc học là trách nhiệm của ngành giáo dục nói chung, của trường sư phạm nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu về trình độ giáo viên theo Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2010 và của ngành giáo dục Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay Để góp phần đánh giá thực trạng và tìm ra một số
biện pháp của công tác này, đề tài “Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ
cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ” được thực
hiện
Trang 42 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Khảo sát thực trạng quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ Từ đó, đề xuất một số biện pháp để cải tiến hoạt động này
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ quản lý ngành, giáo viên trung học cơ sở tại thành phố Cần Thơ
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ
Khi xác định đúng những khó khăn và thuận lợi của việc quản lý đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở hiện nay tại Thành phố Cần Thơ thì sẽ giúp định hướng được kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở
bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ
lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ
sở tại Thành phố Cần Thơ
Trang 56 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp nghiên cứu các văn kiện, văn bản, tài liệu… về những nội dung có liên quan đến đề tài
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Bút vấn)
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Ngoài ra, quá trình soạn thang được thực hiện theo các bước cụ thể sau:
+ Bước 1: Soạn câu hỏi mở về những nội dung có liên quan
- Câu 1: Anh/chị nghĩ gì về việc học tập để đạt trình độ cử nhân
của anh/chị?
- Câu 2: Những thuận lợi và khó khăn gì trong việc học thêm
này?
- Câu 3: Muốn làm được điều này (học tập để đạt trình độ cử
nhân) có hiệu quả nhà trường cần phải làm gì ? + Bước 2: Tổng hợp các ý kiến sắp xếp theo thứ tự, lôgic về mục đích,
thuận lợi và khó khăn, biện pháp quản lý
+ Bước 3: Xây dựng thành phiếu đánh giá và phiếu trưng cầu ý kiến về
các nội dung trên (Xem phụ lục 1,2)
Trang 6Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN
LÝ VIỆC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG TRÌNH ĐỘ CỬ NHÂN CHO GIÁO
VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cùng với sự phát triển giáo dục - đào tạo, đội ngũ nhà giáo ngày càng được quan tâm và khẳng định vai trò trong xã hội và ngày càng đòi hỏi cao về trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước
Vấn đề quản lý xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm qua các lần đại hội, các chỉ thị của trung ương Đảng, và được xây dựng thành Chiến lược phát triển giáo dục đến năm
2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo , hay đề án Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Cụ thể như:
- Đại hội đại biểu lần thứ IX xác định rõ nhiệm vụ của Giáo dục - đào tạo trong thời kỳ tới là “tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi
Trang 7mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản
lý giáo dục, thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”
- Quyết định số 206/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2000 và giai đoạn 2001 - 2005”
- Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 11/01/2005 về việc phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”
- Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban chấp hành trung ương Đảng về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”
- Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 đã nêu: để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản
và toàn diện về giáo dục Vì vậy, mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục
2001 - 2010 với mục tiêu là “… Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập trung học
cơ sở Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp học, bậc học và trình độ đào tạo, phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng qui mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy - học; đổi mới quản lý giáo dục tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục”… [5, tr.102]
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 cũng đề ra giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng qui mô
Trang 8vừa nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục… Phấn đấu đến 2005 tất cả giáo viên trung học cơ sở có trình độ Cao đẳng Sư phạm trở lên, trong đó có những giáo viên trưởng, phó các bộ môn có trình độ đại học” [5, tr.107]
Trong đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, với mục tiêu cụ thể đến năm 2010 là: “xây dựng được đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng
bộ về cơ cấu và loại hình, có phẩm chất đạo đức tốt, có lòng yêu nghề và năng lực sư phạm, đáp ứng yêu cầu dạy học theo chương trình mới và phương pháp mới ở các cấp, bậc học Cụ thể về trình độ: đến năm học 2005 - 2006,… 100% giáo viên trung học cơ sở đạt trình độ cao đẳng sư phạm trở lên, trong
đó có 30% giáo viên chủ chốt các môn học có trình độ đại học…” [5, tr.140]
Và chương trình giáo dục phổ thông trong giai đoạn từ nay đến năm
2010 sẽ đổi mới theo định hướng: “… Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên đáp ứng được chương trình giáo dục phổ thông là nhiệm vụ trọng tâm trong mười năm tới Định hướng đào tạo và bồi dưỡng giáo viên là đảm bảo đủ về số lượng, dần đồng bộ về cơ cấu và loại hình, hầu hết giáo viên đạt trình độ chuẩn và phù hợp với yêu cầu đổi mới về nội dung, đặc biệt là về phương pháp trong giai đoạn trước mắt cũng như đón đầu những đổi mới tiếp theo của giáo dục phổ thông” [5, tr.139]
Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhất là đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở nhằm nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
là vấn đề đang được quan tâm hiện nay Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tính cần thiết phải đổi mới trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
Đề cập đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, theo Ông Đinh Quang Báo, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên là hai giai đoạn kế tiếp nhau để có đội ngũ giáo viên luôn đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng của sự phát triển giáo dục Giai đoạn đào tạo tạo ra tiềm lực ban đầu, còn bồi dưỡng vừa
để duy trì, không bị mai một đi những gì nhận được trong giai đoạn học tập ở
Trang 9trường sư phạm; vừa bổ sung những gì còn thiếu mà quá trình đào tạo không thể trang bị đầy đủ được Có thể nói đào tạo là tạo ra thế năng của năng lực giáo viên, bồi dưỡng vừa để ngăn chặn sự hao mòn cái được đào tạo, và quan trọng hơn là để khuếch đại cái được đào tạo để đủ đáp ứng phát triển năng lực giáo viên, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục các cấp học Tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Có 5 giải pháp về tổ chức đào tạo giáo viên là: Giáo viên tất cả các cấp học đều phải được đào tạo
có trình độ đại học sư phạm; có chính sách ưu tiên, hấp dẫn hơn đối với nghề giáo viên để thu hút người giỏi vào các trường sư phạm; các trường sư phạm phải được đặc biệt quan tâm đầu tư đúng hướng nhiều mặt; trường sư phạm khi tiến hành đào tạo và nghiên cúu khoa học phải tắm mình trong thực tiễn phổ thông và phương pháp đào tạo ở trường sư phạm phải đổi mới căn bản Tác giả cũng đưa ra 5 giải pháp về tổ chức bồi dưỡng giáo viên: Tổ chức tự bồi dưỡng là chủ yếu; việc bồi dưỡng giáo viên phải được tổ chức ngay tại trường mà họ công tác, do đội ngũ cốt cán có trình độ cao hơn làm nòng cốt; cần có sự nghiên cứu, biên soạn tài liệu, đặc biệt là tạo ra cơ chế kích thích các trường sư phạm làm việc này; xây dựng trường điểm về công tác bồi dưỡng giáo viên để nhân điển hình và cán bộ quản lý giáo dục các cấp, các cơ
sở trường học phải được lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng để họ vừa là tấm gương
cá nhân về tự bồi dưỡng, vừa là người có tâm huyết, có kinh nghiệm tổ chức hoạt động bồi dưỡng trong đơn vị mình quản lý, đặc biệt là nhấn mạnh vai trò Hiệu trưởng các nhà trường [1]
Trong tạp chí Nghiên cứu giáo dục số tháng 02/1999, với bài: “Vấn đề đổi mới phương pháp đào tạo giáo viên” tác giả Cao Đức Tiến cho rằng muốn
có một sự chuyển biến căn bản trong đội ngũ giáo viên thì phải đổi mới hệ thống sư phạm Thực chất của việc đổi mới phương pháp đào tạo giáo viên là
sự cải tiến phương pháp “dạy cách học” và “dạy cách dạy” cho các giáo viên
Trang 10tương lai của mình Còn người học cũng phải đổi mới phương pháp “học cách học” và “học cách dạy” để làm chủ lấy sứ mệnh nghề nghiệp của mình [35, tr.16]
Ngoài ra, còn có không ít những công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo nâng chuẩn trình độ giáo viên, dự báo về giáo viên,… nhất là giáo viên Trung học cơ sở, như tác giả Ngô Thị Hạnh nghiên cứu về
“Dự báo nhu cầu giáo viên trung học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh tới 2010”, tác giả Mỵ Giang Sơn nghiên cứu về: “Thực trạng và biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên trung học cơ sở ở trường Cao đẳng sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Huỳnh Hữu Nhị nghiên cứu về:
“Thực trạng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở tỉnh Sóc trăng hiện nay và định hướng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này đến nay 2010” Tác giả Hồ Cảnh Hạnh nghiên cứu “ Một số giải pháp của Hiệu trưởng trường Cao đẳng
sư phạm nhằm đào tạo trình độ trên chuẩn giáo viên tiểu học tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”… Và còn nhiều đề tài khác nghiên cứu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, nhất là giáo viên trung học cơ sở nhưng đến nay vẫn chưa
có nhiều nghiên cứu sâu về quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở, đặc biệt là trên địa bàn Thành phố Cần Thơ Vì vậy, đề tài “Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ” chúng tôi chọn với mong muốn đi sâu tìm hiểu, đánh giá phân tích thực trạng cũng như đề xuất một số biện pháp cho công tác này, nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục nói chung cũng như nâng cao trình độ giáo viên, nhất là giáo viên trung học cơ sở tại thành phố Cần Thơ hiện nay
Trang 111.2 Cơ sở thực tiễn của công tác quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại thành phố Cần Thơ
1.2.1 Vài nét về Thành phố Cần Thơ:
Thành phố Cần Thơ được thành lập ngày 01/01/2004 trên cơ sở tách từ tỉnh Cần Thơ theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội khoá XI và Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 01/01/2004 của Chính phủ, là thành phố trực thuộc Trung ương của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Thành phố Cần Thơ có vị trí trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long về giao thông thủy bộ, hàng không và đang hoàn chỉnh chức năng trung tâm kinh
tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của vùng Về đường bộ, Cần Thơ nằm trên trục quốc lộ 1A chạy suốt chiều dài đất nước từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau Về đường thủy, Cần Thơ là đầu mối giao thông quan trọng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có cảng Cần Thơ Về hàng không, Thành phố Cần Thơ là đầu mối giao thông lớn với sân bay Trà Nóc đang được khôi phục lại để đưa vào hoạt động
- Diện tích tự nhiên của thành phố Cần Thơ khoảng 138.959,99 ha Trong đó: đất nông nghiệp chiếm khoảng 116.999,2 ha, đất lâm nghiệp khoảng 26,71 ha đất chuyên dùng 9.402 ha , đất ở 4.667 ha, đất chưa sử dụng
và sông 7.870 ha
- Dân số khoảng:1.127.765 người Chia theo khu vực thành thị: 562.079 người, nông thôn: 565.686 người Chia theo giới tính: nam 553.586 người, nữ 574.179 người Lao động trong độ tuổi: 699.835 người
- Về mặt hành chính: Toàn thành phố có 08 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 04 quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn; 04 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh và có 67 phường, xã, thị trấn
Thành phố Cần Thơ sau khi chia tách tỉnh được trung ương xác định là
“Thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông”, là địa bàn “trung
Trang 12tâm”, “động lực” của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nghị quyết 21 NQ/TW ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị xác định: “Xây dựng thành phố Cần Thơ là thành phố loại I trực thuộc trung ương, đóng vai trò trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của vùng…”
Thu nhập dân cư tăng đáng kể, năm 2005 đạt 11,6 triệu đồng/người/năm Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh và ổn định Giá trị sản xuất tăng bình quân 18,2% năm Các ngành thương mại, dịch vụ phát triển mạnh theo hướng đa dạng hoá loại hình, chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả và hướng tới những ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Sản xuất nông nghiệp đi vào thế ổn định, đang chuyển dần sang hình thái nông nghiệp
đô thị, chất lượng cao, gắn sản xuất nông nghiệp với phát triển mạnh các ngành dịch vụ và bảo vệ môi trường sinh thái
Thu chi ngân sách trên địa bàn hàng năm đều vượt chỉ tiêu, năm sau cao hơn năm trước Tổng thu ngân sách trên địa bàn 2.202,5 tỉ đồng Chi ngân sách 1.239,2 tỉ đồng bằng 60% tổng thu ngân sách Các thành phần kinh tế tiếp tực phát triển Xây dựng kết cầu hạ tầng và phát triển đô thị có nhiều tiến
bộ
Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội:
Trang 13Sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục đầu tư, phát triển cả quy mô lẫn chất lượng Nhu cầu học tập của người dân ngày càng được nâng cao Giáo dục phổ thông có một bước tiến đáng kể ở các cấp học, bậc học; công tác phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở đạt kết quả khả quan Mối liên kết đào tạo nguồn nhân lực giữ thành phố Cần Thơ trường Đại học Cần Thơ, Đại học Y dược Cần Thơ, các viện, trường thuộc các ngành Trung ương ngày càng tốt hơn Trung tâm Đại học tại chức, trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, hệ thống dạy nghề, hoạt động có hiệu quả Chủ trương xã hội hoá giáo dục tiếp tục phát triển đúng hướng Hoạt động khoa học và công nghệ tiến bộ Một số đề tài nghiên cứu trong thực tiễn đời sống mang lại hiệu quả thiết thực Trung tâm công nghệ phần mềm thành phố hoạt động bước đầu có hiệu quả Nguồn lực khoa học, công nghệ đang từng bước hình thành Quản lý Nhà nước về khoa học, công nghệ từng bước được cải tiến
Các hoạt động văn hoá văn nghệ, phát thanh truyền hình, báo chí, xuất bản tiếp tục phát triển với chất lượng ngày càng tốt hơn Mức hưởng thụ văn hoá, đời sống văn hoá ở cơ sở được nâng lên, góp phần tích cực vào việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân đặc biệt được chú trọng, nhất là đối tượng chính sách và người nghèo Cơ sở vật chất, trang thiết bị của hệ thống y tế được đầu tư, từng bước tiếp cận với kỹ thuật hiện đại Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc, giáo dục trẻ em tiếp tục đạt được những kết quả, tạo được sự chuyển biến trong nhận thức và hành vi của cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội Hoạt đông thể dục thể thao có bước chuyển biến tốt, phong trào
xã hội hoá thể dục thể thao được đẩy mạnh Cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển thể dục thể thao của thành phố được đầu tư nâng cấp và mở rộng Các chính sách xã hội được quan tâm như xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương,
Trang 14xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nghề… mang lại hiệu quả cao, góp phần giảm tỉ lệ hộ nghèo trong thành phố xuống còn 1% so với chỉ tiêu 5%
là xây dựng hệ thống giao thông thông suốt và từng bước hiện đại hoá cả đường bộ, đường thủy nội địa, đường biển và hàng không đóng vai trò đầu mối giao thông nội vùng và liên vận quốc tế là cửa ngõ của vùng hạ lưu sông
Mê Kông, đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, phấn đấu đạt các mục tiêu đề ra ở các lĩnh lực kinh tế, văn hoá; Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [2]
Trang 151.2.2 Tình hình giáo dục - đào tạo Thành phố Cần Thơ
Nghị quyết Hội nghị lần 4 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII nhấn mạnh “Vấn đề quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến hành việc xã hội hoá các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục trong nhân dân, coi sự nghiệp giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn xã hội” [28, tr.1]
Quyết định số 206/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến 2000 và giai đoạn 2001 - 2005; Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Cần Thơ, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
chỉ đạo về công tác giáo dục - đào tạo, thì ở địa phương công tác này cũng được quan tâm như Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố Cần Thơ (trước đây là tỉnh Cần Thơ) chọn năm 2001 là năm phát huy nguồn lực trí tuệ, tập trung cho giáo dục - đào tạo, Chỉ thị 10/CT-UB của Uỷ ban nhân dân
Trang 16Thành phố Cần Thơ là cơ sở pháp lý cho giáo dục - đào tạo tiếp tục củng cố, phát triển về qui mô, chất lượng, hiệu quả
Cùng góp sức vào sự nghiệp giáo dục ở địa phương là sự đóng góp nhiệt tình của đội ngũ những người làm công tác giáo dục, họ là những con người tận tâm, tận tụy với nghề, tất cả vì học sinh thân yêu Bên cạnh đó là sự
hổ trợ nhiệt tình của người dân địa phương, phụ huynh học sinh đã nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của công tác này, nhiều người đã cống hiến đất đai của mình để mở đường, xây trường, và dù có không ít những gia đình rất khó khăn, vất vả nhưng họ vẫn tạo điều kiện cho con em được đến trường, để được học hành Kết quả năm 2004 Thành phố Cần Thơ được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở cấp quốc gia
Ngoài ra, còn có các chính sách của Nhà nước như phụ cấp ưu đãi đối với giáo viên; chế độ học bổng đối với học sinh sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp; chế độ miễn học phí đối với sinh viên sư phạm,… đã có tác động tốt đến đời sống, tư tưởng, tình cảm là động lực cho đội ngũ giáo viên, học sinh, sinh viên thi đua dạy tốt - học tốt, là điều kiện tạo tiền đề cho giáo dục - đào tạo Cần Thơ vươn lên tầm cao mới
* Khó khăn:
Mặc dù Cần Thơ là thành phố trực thuộc trung ương nhưng mặt bằng dân trí của một bộ phận nhân dân còn thấp Chất lượng giáo dục - đào tạo chưa đồng đều giữa các vùng, hiệu quả giáo dục ở các cấp còn thấp
Địa bàn nông thôn, mạng lưới trường lớp tuy có được tăng cường nhưng còn phân tán, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn lạc hậu, nhiều hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo, nhiều trường học xây dựng lâu đời nay đã xuống cấp Những trường ở nông thôn chưa được trang bị đủ cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học như thư viện chưa đạt chuẩn, thiếu phòng bộ môn, …
Trang 17Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý được bồi dưỡng nhưng chưa
chuyển kịp với cơ chế mới, chưa tiếp cận được với công nghệ sản xuất, công
nghệ dạy học tiên tiến Đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ về số lượng, chất
lượng và giữa các bộ môn, còn một bộ giáo viên chưa được chuẩn hoá Cán
bộ, giáo viên có trình độ trên đại còn ít
• Tình hình mạng lưới, quy mô giáo dục:
* Quy mô trường, lớp, học sinh:
Ngành giáo dục - đào tạo Thành phố Cần Thơ hiện có:
- 90 trường mầm non, mẫu giáo; 1.106 nhóm trẻ và mẫu giáo Tỉ lệ trẻ
vào nhà trẻ đạt 11,66% Tỉ lệ trẻ vào mẫu giáo đạt 69,20%
- 170 trường tiểu học; 89.645 học sinh, tỉ lệ trẻ vào lớp 1 đạt 99,96%
- 54 trường trung học cơ sở; 67.349 học sinh
- 23 trường trung học phổ thông; 26.383 học sinh
- 10 trung tâm giáo dục thường xuyên; 02 trung tâm kỹ thuật tổng hợp -
hướng nghiệp; 01 trường dạy trẻ khuyết tật; 01 trường dân tộc nội trú; 01
trường trung học chuyên nghiệp dân lập; 02 trường cao đẳng; 62 trung tâm
học tập cộng đồng; 41 cơ sở dạy ngoại ngữ, tin học
Bảng 1.1: Quy mô trường, lớp, học sinh
Trang 18(Nguồn: từ báo báo tổng kết năm học 2004-2005 của sở GD-ĐT cần
Thơ)
* Đầu tư phát triển cơ sở vật chất, sách và trang thiết bị trường học:
Thực hiện Quyết định số 159/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Đề án thực hiện Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học Tính đến thời điểm 31/7/2005, ngành đã triển khai xây dựng 283 phòng, trong đó
167 phòng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, 116 phòng đang xây dựng
Năm học 2004 - 2005 có 01 trường mầm non, 03 trường tiểu học, 01 trường THPT được đề nghị công nhận đạt chuẩn quốc gia (đã có 17 trường đạt chuẩn)
- Sách và trang thiết bị trường học cũng được đầu tư, cung ứng đủ sách cho các trường, bảo đảm nhu cầu các lớp thay sách theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Xây dựng thư viện, phòng thiết bị đạt chuẩn tiếp tục phát triển Trang thiết bị tiếp tục được đầu tư, kinh phí thực hiện trang thiết bị: 17.521 triệu đồng, đạt 8,61% tổng kinh phí sự nghiệp; thay sách lớp 3, lớp 8: 8.928 triệu đồng, trong đó kinh phí trung ương: 2.174 triệu đồng
* Chất lượng giáo dục - đào tạo:
Chất lượng giáo dục mầm non ngày càng chuyển biến rõ rệt thông qua triển khai thực hiện các chương trình, chuyên đề, phương pháp đổi mới về chăm sóc giáo dục trẻ Chất lượng giáo dục phổ thông tiếp tục được củng cố
và phát triển với mức độ nhất định Giáo dục không chính qui hoạt động tương đối ổn định, thu hút và đáp ứng đáng kể nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục chuyên nghiệp tiếp tục mở rộng quy mô, ngành nghề để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho ngành và xã hội
+ Nhà trẻ, mẫu giáo:
Trang 19Ngành tập trung thực hiện Nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng
và vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua các tổ chức hội thi, thực hiện chuyên
đề Nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với văn học và chữ viết Kết quả: Số
trẻ được tổ chức ăn tại các nhóm, lớp đạt tỉ lệ 42,87%, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm nhiều, 70% trường có mô hình phòng chống suy dinh dưỡng Trẻ mẫu giáo 5 tuổi học chương trình thực nghiệm đạt yêu cầu 90,5%, trẻ học chương trình cải cách và 26 tuần đạt yêu cầu 94,3% Công tác hoà nhập trẻ khuyết tật được thực hiện tốt theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Kết quả 71 trẻ khuyết tật được giáo dục hoà nhập Giáo dục an toàn giao thông được thực hiện tốt ở trường, lớp mẫu giáo với hình thức lồng ghép nội dung vào các bài thơ, mô hình, trò chơi,… Ưng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non thông qua chương trình KidSmart bước đầu thực hiện có hiệu quả
+ Bậc tiểu học:
Toàn thành phố có 170 trường tiểu học; 89.645 học sinh, tỉ lệ trẻ vào lớp 1 đạt 99,96%, dạy đủ 9 môn Số trường có học sinh học môn tự chọn tăng đáng kể: có 80 trường tổ chức dạy tiếng Anh cho 23.264 học sinh; 04 trường
tổ chức dạy môn tiếng Pháp cho 1.086 học sinh; 05 trường tổ chức dạy môn Tin học cho 1.521 học sinh, có 05 học sinh đạt giải Tin học trẻ không chuyên năm 2005 Việc tổ chức dạy 2 buổi/ngày tiếp tục được nhân rộng, có 103/170 trường tổ chức dạy 2 buổi, với tổng số 908 lớp, 28.961 học sinh, tăng 3.372 học sinh, đạt tỉ lệ 32.34% Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học: 1,52% giảm 0,08%
so với năm học truớc, tỉ lệ học sinh được công nhận đã hoàn thành chương
trình tiểu học: 100% Có 302 học sinh giỏi, 72 học sinh đạt giải thi Vẽ tranh
và Tin học trẻ không chuyên Chương trình giáo dục Khơme cũng được thực hiện tốt, có 1.727 học sinh Khơme ra lớp, có 670 học sinh học song ngữ…
+ Bậc trung học: Được củng cố và nâng cao, công tác giáo dục chính trị
tư tưởng, truyền thống, đạo đức được thực hiện tốt tại các trường Triển khai
Trang 20thực hiện tốt chương trình giáo dục lao động, thể chất, y tế học đường, giáo dục pháp luật, môi trường, dân số, phòng chống ma túy, các tệ nạn xã hội,… Tiếp tục củng cố kết quả thực hiện chương trình sách giáo khoa ở lớp 6, lớp 7; triển khai sâu rộng việc thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 8 đạt yêu cầu và có hiệu quả
Phong trào thi đua dạy tốt - học tốt tiếp tục được duy trì và phát triển với nhiều hình thức nhất là phong trào học sinh giỏi Kết quả:
sinh trung học phổ thông
toán trên máy tính bỏ túi
* Công tác xoá mù chữ, bổ túc văn hoá:
công nhận biết chữ; 538 học viên các lớp sau xoá mù chữ; 332/799 học viên tốt nghiệp bổ túc tiểu học; 376.814/383.779 người trong độ tuổi 15 - 35 biết chữ, đạt tỉ lệ 98,19%
trung học phổ thông: 70,85%
- Giáo dục chuyên nghiệp: Thành phố Cần Thơ có 02 trường Cao đẳng
sư phạm và Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật, 01 trường Trung học Y tế, 01 trường Trung học văn hoá nghệ thuật, 01 trường Công nhân kỹ thuật, 01 trường Trung học dân lập Bách nghệ (thành lập tháng 2/2004) Giáo dục chuyên nghiệp tiếp tục nâng qui mô đào tạo, qui mô tuyển sinh tăng hàng năm; mở rộng ngành nghề, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, bồi dưỡng phục vụ trước
Trang 21mắt và lâu dài yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của thành phố và các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
* Đội ngũ nhà giáo: Toàn ngành có: 12.045 biên chế, trong đó:
* Công tác quản lý giáo dục :
năng nhiệm vụ của từng cấp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục; đề cao trách nhiệm thủ trưởng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, coi trọng sự phối hợp của đoàn thể; phát huy dân chủ; tăng cường cải cách hình chính, thực hiện tốt ba khâu: Tiếp dân, một cửa, đơn giản thủ tục hành chính
tăng cường thực hiện các qui định của Luật giáo dục, điều lệ nhà trường và các qui chế tổ chức hoạt động
* Công tác xã hội hoá giáo dục:
Ngành giáo dục - đào tạo Thành phố Cần Thơ triển khai quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 05/2005NQ-CP của Chính phủ về “Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao” và đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 - 2010” ban hành kèm theo quyết định số 20/2005/BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Công tác xã hội hoá đã thực hiện tốt, ngành đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, tạo
Trang 22sự thống nhất đồng thuận cao của các lực lượng xã hội đối với sự nghiệp giáo dục, làm cho xã hội ngày càng hiểu rõ hơn những khó khăn mà ngành gặp phải, cũng như thấy được quyết tâm của ngành, cùng chia sẻ trong củng cố và phát triển sự nhiệp giáo dục - đào tạo Các cấp quản lý giáo dục phát huy mối quan hệ phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội… để tranh thủ
sự ủng hộ của xã hội, làm cho giáo dục và nhà trường thật sự gắn bó với từng gia đình, cộng đồng xã hội Thông qua đó có nhiều gia đình, phụ huynh học sinh ở các địa bàn trường học có nhiều hình thức hổ trợ cả vật chất lẫn tinh thần đóng góp cho phong trào dạy tốt - học tốt, các hội thi, hội thao,… Các cơ quan quản lý giáo dục và trường học tích cực tham mưu với địa phương tăng cường hoạt động của hội đồng giáo dục nhằm tiếp tục huy động nguồn lực góp phần phát triển giáo dục và đào tạo
1.2.3 Vài nét về trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ:
Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ được thành lập từ năm
1976 theo quyết định số 1784/QĐ ngày 08/9/1976 của Bộ Giáo dục (nay là
Bộ Giáo dục và Đào tạo, với tên gọi là trường Cao đẳng sư phạm Cần Thơ cơ
sở I), trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo thành phố Cần Thơ (Nay là trường Cao đẳng Cần Thơ, trực thuộc Uỷ ban nhân dân Thành phố Cần Thơ) Qua 30 năm hình thành và phát triển, tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên; trường đã không ngừng phấn đấu vươn lên và đạt nhiều thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục - đào tạo Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ giữ vai trò chủ yếu trong việc bổ sung đội ngũ giáo viên Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở cho ngành giáo dục - đào tạo Cần Thơ Ngoài ra, trường còn liên kết với một số trường Đại học đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá và nâng chuẩn trình độ giáo viên ngành giáo dục - đào tạo Thành phố Cần Thơ và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ:
Trang 23Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ là một cơ sở giáo dục của thành phố nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo và sự quản lý hành chính của Uỷ ban nhân dân Thành phố Cần Thơ Điều lệ trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ thực hiện theo quyết định số: 56/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 10/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Điều lệ trường Cao đẳng
Chức năng, nhiệm vụ của trường:
- Với nhiệm vụ đào tạo và liên kết đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, tiểu học và trung học cơ sở có trình độ trung học sư phạm, cao đẳng sư phạm
- Liên kết với một số trường Đại học trong nước để đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá đội ngũ giáo có trình cao đẳng sư phạm lên trình độ đại học
- Thực hiện một số đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ cải cách giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo, cải tiến phương pháp giảng dạy, gắn công tác đào tạo - bồi dưỡng - nghiên cứu khoa học với công tác giáo dục chính trị
tư tưởng cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh sinh viên
+ Việc thực hiện các chức năng đào tạo, bồi dưỡng của trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ: Có hai hình thức chính: đào tạo chính qui
và không chính qui (chuẩn hoá)
+ Qui mô, ngành nghề đào tạo:
- Qui mô đào tạo hệ chính qui: đào tạo giáo viên mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở
Năm học: 2003-2004: 932
Năm học 2004-2005: 743
Năm học 2005-2006: 701
Trang 24- Qui mô đào tạo hệ không chính qui: bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học, giáo viên học trung học cơ sở
Năm học: 2003-2004: 721
Năm học 2004-2005: 750
Năm học 2005-2006: 1.401
+ Cơ cấu bộ máy tổ chức và biên chế:
- Bộ máy tổ chức: Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ gồm
có Ban giám hiệu, tổ Tài vụ, có 03 phòng chức năng và 04 khoa chuyyên môn, bao gồm:
Phòng Tổ chức - Hành chính - Tổng hợp
Phòng Đào tạo bồi dưỡng - Nghiên cứu khoa học
Phòng Chính trị - Công tác học sinh sinh viên
Khoa Xã hội
Khoa Tự nhiên
Khoa Giáo dục thể chất - Nhạc - Hoạ
Khoa Tiểu học Mầm non
- Biên chế: Năm học 2005 - 2006, nhà trường có tổng số : 172 cán bộ, giáo viên, nhân viên (kể cả cán bộ, giáo viên, nhân viên hợp đồng), trong đó: nữ: 94 Chia ra:
Cán bộ hành chính nghiệp vụ và phục vụ đào tạo: 74
Cán bộ giảng dạy: 98
Công tác xây dựng đội ngũ nhà trường: Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ đã có rất nhiều cố gắng để xây dựng đội ngũ nhà trường
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi
để cán bộ, giáo viên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, hiện nay 100% cán bộ giảng dạy đều tốt nghiệp đại học, hầu hết giáo viên biết ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, đạt tỉ lệ 98%
Trang 25Chia theo trình độ: Tiến sĩ: 03, Thạc sĩ: 20; Đại học: 106; Cao đẳng:
Trang 26- Diện tích mặt bằng khoảng gần 7.000m2 (7 ha) , trong đó diện tích xây dựng 1,43 ha; sân chơi, bãi tập: 1.900ha Diện tích còn lại để xây dựng cơ sở vật chất, nâng cấp phục vụ cho công tác dạy học trong giai đoạn tới
- Hệ thống giảng đường, hội trường có 04 kiên cố và bán kiên cố, với tổng diện tích 1.254m2
- Hệ thống phòng học lý thuyết và chuyên môn
- Hệ thống các phòng chức năng phục vụ giảng dạy và học tập:
Phòng bộ môn Anh văn (Trung tâm nguồn) : 01 phòng
Phòng bộ môn Tiểu học Mầm non : 02 phòng
Phòng bộ môn ứng dụng Công nghệ thông tin: 04 phòng
Khu thí nghiệm thực hành Lý - Hoá - Sinh : 08 phòng
- Thư viện phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu của cán
bộ, giáo viên và học sinh sinh viên, có trên 200.000 đầu sách với nhiều chủng loại: sách giáo khoa, sách tham khảo, sách nghiên cứu, tạp chí…
- Nhà làm việc cán bộ công chức có tổng diện tích: 919m2
- Ký túc xá học sinh sinh viên tổng diện tích 5.294 m2 , với 106 phòng
- Thiết bị dạy học: Tổng trị giá 24.723.000.000 đồng Trong đó dự án ADB của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đầu tư 100.000 USD trang bị các thiết bị thí nghiệm thực hành hiện đại góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
+ Nhà trường còn có 01 Đảng bộ với 41 đảng viên; 01 Công đoàn cơ
sở trực thuộc công đoàn ngành, với 07 công đoàn bộ phận; Đoàn Thanh niên
Trang 27cộng sản gồm 01 chi đoàn cán bộ, giáo viên, nhân viên và 48 chi đoàn lớp; ngoài ra còn có 01 chi hội cựu chiến binh, Hội học sinh sinh viên, chi hội Tâm lý học - Giáo dục học
Với sự phấn đấu không ngừng vươn lên của tập thể, cùng với sự nổ lực của bản thân từng cá nhân trong nhà trường đã đạt được nhiều thành tích đáng
kể, nhà trường và cá nhân được tặng nhiều giấy khen, chiến sĩ thi đua, giáo viên dạy giỏi, bằng khen của Uỷ ban nhân dân Thành phố Cần Thơ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo Các tổ chức đoàn thể trong trường cũng đạt nhiều thành tích cao trong hoạt động phong trào thể dục thể thao, văn nghệ,… Và nhà
trường còn vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen: Cán bộ, giáo
viên và nhân viên trường Cao đẳng sư phạm Cần Thơ đã có nhiều thành tích trong công tác giáo dục và đào tạo từ năm 1995 đến năm 1998, góp phần vào việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
và hợp tác trong lao động tức là phải có sự quản lý
đoạn phát triển của nó, Các-Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác
Trang 28với sự vận động của các khí quan độc lập với nó (…) Một độc tấu vĩ cầm thì
tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [18, tr.12]
từ sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến phong phú về các quan niệm quản lý
- Theo từ điển giáo dục học, quản lý là một hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [32, tr.14]
- Theo F.W Taylor, “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẽ nhất” [11]
- Theo Paramônôp thì “Quản lý là một nghề nghiệp đòi hỏi một sự đào tạo khoa học, đòi hỏi những kiến thức đặc biệt chứ không chỉ cần uyên bác thành thạo về kinh tế kỹ thuật và tổ chức” [18, tr.13]
- Theo H.Koontz cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong
đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất ít nhất” [37, tr.19-20]
- Tác giả Phan Thế Sủng quan niệm: “Quản lý vốn là một khoa học và cũng là một nghệ thuật để điều khiển một hệ thống xã hội từ vi mô đến vĩ mô hết sức năng động, phức tạp, vừa khép kín vừa có độ mở tương đối để đối nhân xử thế trong tổng hoà các mối quan hệ về tổ chức và mối quan hệ liên nhân cách giữa người quản lý với người dưới quyền, với cấp trên và với cộng đồng xã hội” [18, tr.13]
Trang 29- Còn theo Nguyễn Ngọc Quang cho rằng, “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của người lao động nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [32, tr.14]
cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển” [32, tr.15]
- Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý đưa ra định nghĩa:
“Quản lý là một quá trình kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nổ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” [18, tr.13]
Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đảm bảo cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý
và “hoạt động quản lý vừa mang tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi” Quản lý còn có chức năng duy trì và phát triển, để đảm bảo được hai chức năng trên thì hoạt động quản lý phải bao gồm: Việc lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giá
Như vậy, có nhiều quan niệm, nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý,
và trong phạm vi đề tài này chúng tôi chọn định nghĩa sau đây: “Quản lý là một quá trình kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nổ lực của các
Trang 30thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” làm cơ sở để nghiên cứu
• Đào tạo:
- Đào tạo: là quá trình dạy dỗ, rèn luyện để người được đào tạo trở nên
có hiểu biết, có nghề nghiệp Hay đào tạo thường được hiểu như một khái niệm để chỉ những giá trị về kỹ năng nghề nghiệp, về khoa học, kỹ thuật, công nghệ… Vì vậy, khái niệm đào tạo không nằm ngoài khái niệm giáo dục Đào tạo phải có được giá trị nhân cách, vì mục tiêu đào tạo là toàn diện, phải
có phẩm chất đạo đức, có tài năng Đào tạo được thực hiện tại các cơ sở đào tạo như trường Đại học Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, các học viện và các cơ sở đào tạo nghề khác Khi nghiên cứu “Thực trạng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở tỉnh Sóc Trăng hiện nay và định hướng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này đến năm 2010”, khi đưa ra khái niệm đào tạo giáo viên, tác giả Huỳnh Hữu Nhị cho rằng “đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức kỹ năng, kỹ xảo,… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”
- Đào tạo chuẩn: là đào tạo con người đạt tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ
năng, chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức, thể hiện ở đào tạo trình độ chuẩn theo qui định [14, tr.8]
- Đào tạo trên chuẩn:
chuẩn” có loại giáo viên có trình độ “trên chuẩn” [14, tr.10]
Có thể định nghĩa: Đào tạo trên chuẩn là loại hình đào tạo để đạt trình
độ cao hơn mức chuẩn qui định
Trang 31• Bồi dưỡng:
+ Bồi dưỡng:
thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng đã chọn [32, tr 11]
nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực
cụ thể [32, tr 11]
trung học cơ sở tỉnh Sóc Trăng hiện nay và định hướng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này đến năm 2010”, khi đưa ra khái niệm bồi dưỡng giáo viên, tác giả cho rằng: “Bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ thể giáo dục đến đối tượng được giáo dục, làm cho đối tượng được bồi dưỡng tăng thêm năng lực, phẩm chất và phát triển theo chiều hướng tốt hơn Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản từ trước Bồi dưỡng là một hoạt động có chủ đích nhằm cập nhật kiến thức mới tiến bộ, hoặc nâng cao trình độ cho giáo viên để tăng thêm năng lực, phẩm chất theo yêu cầu của ngành học”
+ Bồi dưỡng chuẩn hoá: là biện pháp, cách thức bồi dưỡng nâng cao
kiến thức và kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ để đạt trình độ, kỹ năng cao hơn
+ Bồi dưỡng thường xuyên: là một hình thức đào tạo tiếp tục để giáo
viên đã được đào tạo cập nhật kiến thức, mở rộng, nâng cao trình độ hiểu biết, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển giáo dục theo phương châm “học tập suốt đời” [20, tr.12]
• Quản lý đào tạo, bồi dưỡng:
Trang 32Quản lý với hai chức năng duy trì và ổn định Và quản lý đào tạo, bồi dưỡng cũng để duy trì, ổn định quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lựơng, sản phẩm đào tạo đạt được các chuẩn mực đã xác định trước và bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ để đạt đến mục đích đề ra Quản lý đào tạo, bồi dưỡng bao gồm việc lập kế hoạch, đề ra mục tiêu, chương trình, nội dung, phương thức, cách thức, cũng như theo dõi, rà soát kiểm tra, đánh giá chất lượng, để đạt hiệu quả tối ưu
Theo tác giả Lê Văn Việt nghiên cứu “Thực trạng công tác quản lý đào tạo tại khoa ngoại ngữ trường Cao đẳng sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và một số giải pháp” cho rằng, quản lý đào tạo với hai chức năng cơ bản:
chất lượng sản phẩm đào tạo đạt được các chuẩn mực đã xác định trước
- Chức năng thứ hai là đổi mới, phát triển quá trình đào tạo, đón đầu xu hướng phát triển kinh tế - xã hội
Và theo tác giả để thực hiện những chức năng trên, thì cơ sở quản lý đào tạo cần:
- Phân tích thông tin, nắm được xu thế phát triển xác lập chính xác mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo
- Xác lập các chuẩn mực, qui trình theo mục tiêu, tạo điều kiện và duy trì các cơ chế thực hiện các chuẩn mực đề ra
pháp, bước đi rõ ràng
- Hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với sứ mệnh, phù hợp với nhiệm vụ chính trị và thực hiện một qui trình đào tạo tương ứng với khả năng nguồn lực của mình
- Thanh tra, kiểm tra các hoạt động giáo dục - đào tạo
Trang 33Tác giả cũng cho rằng quản lý đào tạo là một quá trình có mục đích, có
kế hoạch, vì vậy nó cần được tổ chức và quản lý để đảm bảo cho quá trình đào tạo vận hành đúng mục tiêu đào tạo đã định Quản lý đào tạo nghĩa là thông qua các chức năng quản lý mà tác động vào thành tố của quá trình đào tạo, cụ thể là quản lý mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, người dạy, người học, cơ sở vật chất,… sao cho hoạt động đào tạo luôn đúng đắn về mục tiêu và hiệu quả đào tạo Tác giả còn nhấn mạnh, trong một trường sư phạm, mục đích đào tạo là con người sẽ đứng trên bục giảng sau này, là những người sẽ tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai của đất nước, nên việc quản lý đào tạo có vai trò rất quan trọng vì việc đào tạo con người là một quá trình “sản xuất” không được có phế phẩm Quản lý đào tạo phải khoa học và với trình độ nghệ thuật cao
1.3.2 Một số vấn đề về giáo dục phổ thông:
• Vị trí của giáo dục phổ thông:
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề giáo dục và đào tạo, xem giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Vì thế, muốn đạt được điều này, thì trước hết phải cần đầu tư cho giáo dục, xác định đúng vai trò, vị trí cũng như tầm quan trọng của
sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục phổ thông, vì ở bậc này số lượng học sinh nhiều nhất cả nước và đây cũng là lực lượng chủ yếu, đóng vai trò nồng cốt phát triển đất nước Có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước
ta về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông:
ra nhiệm vụ: “Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả
Trang 34nước bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới”
về Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
về việc Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội và Chỉ thị 30/1998/CT-TTg về việc điều chỉnh chủ trương phân ban ở phổ thông trung học và đào tạo hai giai đoạn ở Đại học
… … …
trọng trong việc hình thành một nền dân trí, là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu cho nền kinh tế - xã hội của đất nước
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa , xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào lớp một là sáu tuổi;
- Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi;
- Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai Học sinh vào lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi
Trang 35• Vị trí của giáo dục trung học cơ sở:
Bậc trung học cơ sở là bước trung gian giữa bậc tiểu học và trung học phổ thông, nó thực hiện hai nhiệm vụ, nhằm chuẩn bị cho một bộ phận học sinh tiếp tục học lên trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp và một bộ phận khác ra đời tham gia vào việc phát triển kinh tế xã hội
Mục tiêu của giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình độ
cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Vì vậy, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, Toán, Lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những kiến thức cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp
Hiện nay, trung học cơ sở là cấp đã và đang được phổ cập, việc phổ cập trung học cơ sở là rất cần thiết góp phần vào việc nâng cao dân trí ở nước ta đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
• Vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên trong sự nghiệp giáo dục -
đào tạo nói chung và ở trung học cơ sở nói riêng:
Ngay từ những ngày đầu của nền giáo dục mới, Đảng và Nhà nước ta coi trọng đội ngũ nhà giáo và cán bộ làm công tác giáo dục, xem đội ngũ giáo viên và các nhà quản lý giáo dục, là những chiến sĩ cách mạng đầu tiên trên mặt trận tư tưởng và văn hoá, có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước những lý tưởng đạo đức cách mạng chân chính, hệ thống các giá trị, các tinh hoa, văn hoá của dân tộc và của nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức cao quí, năng lực sáng tạo phù hợp với sự tiến bộ xã hội Giáo viên với vai trò của nhà giáo dục được xem là
Trang 36nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục, ngày càng được quan tâm và khẳng định vai trò trong xã hội, được xã hội tôn vinh Và những người làm công tác “trồng người” này đã góp vào sự phát triển giáo dục nói riêng và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
+ Giáo viên trung học cơ sở:
Vai trò của người giáo viên trung học cơ sở: Giáo viên trung học cơ sở
là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường ở cấp trung học
cơ sở
Nhiệm vụ của giáo viên trung học cơ sở: thực hiện theo điều 29, Điều
lệ trường trung học, cụ thể:
+ Đối với giáo viên bộ môn:
- Giảng dạy và giáo dục theo đúng chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm; kiểm tra đánh giá theo qui định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy dủ; lên lớp đúng giờ; không tùy tiện bỏ giờ, bỏ buổi dạy; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;
- Tham gia công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở địa phương;
- Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục;
- Thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật và điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của hiệu trưởng; chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và của các cấp quản lý giáo dục;
- Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp
đỡ các bạn đồng nghiệp;
Trang 37- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật
+ Đối với giáo viên chủ nhiệm ngoài các qui định trên còn có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp
tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của lớp;
- Cộng tác chặt chẽ với phụ huynh học sinh; chủ động phối hợp với giáo viên bộ môn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh;
- Nhận xét, đánh giá xếp loại học sinh cuối học kỳ và cuối năm học; đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh; đề xuất danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải thi lại, phải rèn luyện thêm hạnh kiểm trong hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh;
- Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất (nếu có tình hình đặc biệt) về tình hình của lớp với hiệu trưởng
Ngoài vai trò, nhiệm vụ thì người giáo viên trung học cơ sở cũng cần phải có những tiêu chuẩn:
- Phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực sư phạm;
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ (Trình
độ chuẩn được đào tạo của giáo viên trung học cơ sở: Tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm);
- Có đủ sức khỏe theo yêu cầu;
- Có lý lịch bản thân rõ ràng
Trang 38+ Đào tạo giáo viên trung học cơ sở:
Đào tạo được định nghĩa như là quá trình dạy dỗ, rèn luyện để người được đào tạo trở nên có hiểu biết, có nghề nghiệp Đào tạo giáo viên nghĩa là đạo tạo cũng để cho người học có hiểu biết, có một nghề nghiệp đó là nghề dạy học theo chuẩn qui định ở từng cấp học, bậc học Ngoài việc đào tạo để
có trình độ, có nghề nghiệp, thì việc đào tạo giáo viên còn phải chú ý đến việc rèn luyện để người học có được phẩm chất đạo đức, tác phong sư phạm, hình thành nhân cách nghĩa là đào tạo cách thức “làm người” để người học trở thành con người đầy đủ những phẩm chất đạo đức, năng lực sư phạm, để làm công tác “trồng người” Đối với đào tạo giáo viên trung học cơ sở , ngoài việc đào tạo đạt được những yêu cầu trên thì người học phải đạt trình độ chuẩn cao đẳng sư phạm theo qui định Khi nghiên cứu “Thực trạng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở tỉnh Sóc Trăng hiện nay và định hướng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này đến năm 2010”, khi đưa ra khái niệm đào tạo giáo viên, tác giả Huỳnh Hữu Nhị cho rằng “Đào tạo sư phạm là công tác nghiệp
vụ của trường sư phạm nhằm đào tạo về nghề dạy học cho giáo sinh, sinh viên Nội dung đào tạo sư phạm thường gồm: Lý luận khoa học chung về giáo dục, giảng dạy và nghệ thuật sư phạm, lý luận giảng dạy chuyên ngành và bộ môn, nhân cách người giáo viên và những kỹ năng, kỹ xảo sư phạm chung và chuyên biệt, tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm,…”
+ Bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở:
Trước đây, do hoàn cảnh đất nước, trong thời kì đất nước có chiến tranh, toàn dân tập trung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, sự nghiệp giáo dục được xem như là phúc lợi xã hội, sự nghiệp giáo dục giữ ổn định là thành tựu cực kỳ to lớn của Đảng, của nhân dân ta Trong giai đoạn 1975-1985, tình hình thiếu giáo viên ở các cấp trầm trọng, vì vậy, ngành chỉ mở các khoá đào tạo cấp tốc giáo viên như 9 + 6 tháng; 12+6 tháng
Trang 3912+1 năm,… từ những giáo viên bình dân học vụ - chiến sĩ diệt dốt với phương châm người biết một chữ chỉ cho người biết nữa chữ, vì vậy chất lượng giáo viên còn kém
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thì đòi hỏi cần phải có nguồn lực chất lượng cao, có trình độ hiểu biết, con người phải thay đổi tư duy kịp thời nhất là cách nhìn, tầm nhìn
và yêu cầu rất cao về sự thích nghi Muốn thế thì phải ưu tiên đầu tư cho giáo dục, nhằm đào tạo những con người có năng lực thực sự đóng góp vào sự tiến
bộ của xã hội Cùng với sự phát triển giáo dục, đội ngũ giáo viên ngày càng được quan tâm và khẳng định vai trò trong xã hội, là lực lượng đóng vai trò nòng cốt trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, vì vậy “giáo viên phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức” Để làm được điều này thì ngoài việc đầu tư của nhà nước cho giáo viên, ngoài những chương trình đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức thì người giáo viên phải không ngừng học tập, phải tự bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết của mình, không chỉ để làm hành trang cá nhân,
mà còn để bắt kịp với xu hướng phát triển của thời đại
Vấn đề giáo viên rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, Đại hội IX của Đảng đã chỉ ra: Phát triển đội ngũ giáo viên coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm, cải thiện chế độ đãi ngộ, bảo đảm về cơ bản đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia và tỉ lệ giáo viên so với học sinh theo yêu cầu của từng cấp học, có cơ chế chính sách bảo đảm đủ giáo viên cho các miền núi, miền hải đảo, và phải chuẩn hoá giáo viên về mọi mặt, không chỉ ở trình độ đào tạo
mà cần phải tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo giáo viên theo hướng hiện đại hoá; giáo viên tự rèn luyện khả năng thích nghi,
tự cập nhật kiến thức và năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, và đặc biệt chú ý đến nhân cách người giáo viên Coi trọng bồi dưỡng cho giáo viên năng lực
Trang 40cải tiến phương pháp giảng dạy, có phương pháp tổng hợp để thích ứng, có phương pháp làm việc phù hợp với hình thức ở địa phương, giáo dục lòng yêu người, yêu nghề cho người giáo viên thật xuất sắc
Bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên là loại bồi dưỡng dành cho các đối tượng giáo viên đang đứng lớp, nếu chưa qua đào tạo hay đào tạo ngắn hạn chưa đủ chuẩn thì bồi dưỡng để đạt chuẩn theo qui định Còn nếu giáo viên đã qua đào tạo đạt chuẩn thì bồi dưỡng chuẩn nhằm nâng để cao kiến thức, phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
• Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng trên chuẩn
cho giáo viên trung học cơ sở:
* Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng:
Mục tiêu xây dựng đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hoá Nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và tay nghề của nhà giáo Xây dựng đội ngũ giáo viên đảm bảo chất lượng, đủ số lượng và đồng
bộ về cơ cấu
+ Xây dựng hệ thống trường phổ thông thực sự mang tính chất: phổ thông, kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp; ngay từ đầu cấp phổ thông đã phải chú ý cân đối giữa các tính chất này Phải từ bỏ lối dạy và học từ chương, chạy theo bằng cấp; kiên trì theo đuổi mục tiêu giáo dục - đào tạo con người hoạt động hiệu quả và sống hạnh phúc trong thời đại văn minh công nghiệp, đảm bảo chất lượng và lấy mục tiêu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm hiệu quả của sự phát triển giáo dục và đào tạo
+ Lấy việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên thuộc tất cả các bộ môn trên chuẩn ở trường trung học cơ sở nhằm thực hiện giáo dục phát triển toàn diện, vững chắc Trước mắt phấn đấu có đội ngũ giáo viên dạy Nhạc, Mỹ thuật, Thể dục, Công nghệ… làm cơ sở cho việc chuẩn hoá vượt chuẩn, tạo nên chất lượng giáo dục mới