Trong số này có một số loại hình dịch vụ trùng với lĩnh vực hoạt động của các NHTM Việt Nam như thanh toán quốc tế, đầu tư dự án, tài trợ thương mại,.... Đối với các ngân hàng thương mại
Trang 1CHIẾN LƯỢC KINH DOANH HIỆN NAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRƯỚC SỨC ÉP HỘI NHẬP
1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Về mặt số lượng, hệ thống NHTM (ngân hàng thương mại) Việt Nam hiện nay bao gồm 4 NHTM nhà nước, 1 ngân hàng chính sách, 1 ngân hàng phát triển, 37 NHTM cổ phần, chiếm 63,9% tổng số NHTM hoạt động tại Việt Nam Những ngân hàng thương mại trong nước hiện đang nắm giữ khoảng gần 90% thị phần (cả tiền gửi và cho vay), trong đó riêng các ngân hàng thương mại nhà nước chiếm 70% Phần các ngân hàng nước ngoài (hiện có 4 ngân hàng liên doanh, 28 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 43 văn phòng đại diện) chỉ chiếm khoảng dưới 10% thị phần
Hệ thống NHTM Việt Nam có mạng lưới chi nhánh rộng khắp tại các tỉnh thành trong cả nước, đây là điều kiện thuận lợi để các ngân hàng tăng cường khả năng huy động vốn và mở rộng tín dụng tại các khu vực tiềm năng Chẳng hạn như, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có tới 1611 chi nhánh trên toàn quốc và có trên 450 ngân hàng đại lý Ngân hàng Ngoại thương có 25 chi nhánh cấp I và 23 chi nhánh cấp II, có quan hệ đại lý với trên
1200 ngân hàng tại 85 nước; ngân hàng công thương có 106 chi nhánh cấp I, II, 160 phòng giao dịch, 358 quỹ tiết kiệm, có quan hệ đại lý với 430 ngân hàng Ngân hàng đầu tư và phát triển có trên 102 chi nhánh và quan hệ với 565 ngân hàng
Chỉ riêng các ngân hàng thương mại nhà nước đã có 309 chi nhánh cấp 1; các ngân hàng thương mại cổ phần cũng hiện diện ở hầu hết các trung tâm lớn của cả nước, với bình quân mỗi ngân hàng có 20-30 chi nhánh
Về mặt thị phần, các NHTM Việt Nam chiếm thị phần lớn nhất cả về huy động vốn và cho vay Khách hàng chủ yếu của các NHTM Việt nam là các doanh nghiệp lớn, các tổng công ty
2 Các cam kết mở cửa của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng trong giai đoạn hiện nay
a Trong khuôn khổ hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
Được ký kết vào ngày 10/12/2001, hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã được thực thi gần 7 năm Theo lộ trình thì đến năm 2009, việc hạn chế quyền của một chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng sẽ được bãi bỏ Như vậy thì khả năng cạnh tranh của ngân hàng Việt Nam trong lĩnh vực huy động vốn sẽ tăng lên và đây là một thách thức không nhỏ đối với các ngân hàng Việt Nam
Bên cạnh đó, các nhà cung ứng dịch vụ tài chính Mỹ sẽ được phép cung ứng 12 phân ngành dịch vụ ngân hàng theo lộ trình 7 mốc Lộ trình này sẽ xác định rõ mức độ tham gia các loại hình dịch vụ ngân hàng và hình thức pháp lý mà các nhà cung ứng dịch vụ Mỹ được phép
Trang 2hoạt động tại VN Điều này, cũng đồng nghĩa với yêu cầu cắt giảm bảo hộ về kinh doanh dịch
vụ ngân hàng đối với các NHTM trong nước
Như vậy, theo lộ trình này VN phải loại bỏ dần hạn chế đối với các ngân hàng Mỹ, cho phép họ được tham gia với mức độ tăng dần vào mọi hoạt động ngân hàng tại VN Trong số này có một số loại hình dịch vụ trùng với lĩnh vực hoạt động của các NHTM Việt Nam như thanh toán quốc tế, đầu tư dự án, tài trợ thương mại, Điều đó đồng nghĩa với việc thị phần của các NHTM Việt Nam có khả năng bị thu hẹp bởi các đối thủ nước ngoài Ngoài ra, hàng loạt nghiệp vụ mới nhưng chưa được thực hiện tại VN như môi giới tiền tệ, kinh doanh các sản phẩm phát sinh cũng sẽ xuất hiện tại Việt Nam
b Trong khuôn khổ tổ chức thương mại thế giới WTO
Năm 2007 là năm đánh một dấu mốc quan trọng trong tiến trình mở cửa để hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam Đó là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO Từ nay, Việt Nam sẽ bắt đầu thực hiện các cam kết với tổ chức này theo một lộ trình nhất định Cụ thể như sau
Đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài: văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, ngân hàng thương mại liên doanh trong đó phần góp vốn của bên nước ngoài không vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài và kể từ ngày 1 tháng 4 năm
2007 được phép thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài
Trong vòng 5 năm sau khi gia nhập, Việt Nam có thể giới hạn quyền của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong việc nhận tiền gửi bằng tiền đồng Việt Nam từ người tiêu dùng Việt Nam Trong đó, những chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa có quan hệ tín dụng với khách hàng là người Việt Nam thì mức độ huy động vốn so với vốn pháp định được thực hiện theo lộ trình sau: từ ngày 1/1/2007 được huy động gấp khoảng trên 6 lần so với vốn pháp định đã góp đủ, từ năm 2008 gấp 8 lần, từ năm 2009 gấp 9 lần, từ năm 2010 gấp 10 lần Từ năm 2011 được hưởng chế độ đối xử quốc gia
Cho đến nay, mới có ngân hàng HSBC nộp đơn xin thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài Nhưng trong thời gian tới, chắc chắn sẽ có nhiều ngân hàng nước ngoài khác
sẽ tận dụng lợi thế có được từ cam kết với WTO của Việt Nam
Như vậy, các hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài trong việc tham gia vào các hoạt động ngân hàng ở Việt Nam sẽ dần được loại bỏ, đặc biệt là những ràng buộc về việc nhận tiền gửi VNĐ, phát hành thẻ tín dụng và lập ra các máy rút tiền tự động Việc các ngân hàng nước ngoài sở hữu công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh
và buộc các NHTM Việt Nam phải đầu tư đổi mới công nghệ, thay đổi phương thức quản lý
để có thể nâng cao được hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của mình
3 Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Trang 3Có thể nói, các NHTM Việt Nam phải đối mặt với thách thức cạnh tranh không nhỏ, nếu không nói là lớn từ phía các ngân hàng nước ngoài khi họ cũng phát triển các dịch vụ tương
tự, với phạm vi và quy mô tương tự mà lại là các lĩnh vực mà họ có ưu thế như thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, đầu tư dự án,
Trong tình hình đó, NHTM trong nước lại gặp rất nhiều khó khăn Mà một khó khăn đáng
kể nhất đối với các ngân hàng Việt Nam chính là tương quan về năng lực tài chính với các ngân hàng nước ngoài So với các ngân hàng nước ngoài thì năng lực tài chính của các NH Việt Nam còn rất hạn chế Tổng vốn điều lệ của 4 ngân hàng thương mại nhà nước hiện mới đạt xấp xỉ 25.000 tỷ đồng Trong khi đó, tuy chỉ chiếm khoảng 10% thị phần tín dụng tại Việt Nam, nhưng nhóm ngân hàng nước ngoài có tiềm lực khá mạnh với khoảng 30% vốn chủ sở hữu trong hệ thống NHTM đang hoạt động tại Việt Nam
Trong khối NHTM trong nước có Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là
ngân hàng với số vốn lớn nhất là 9.631 tỷ đồng (tương đương với 600 triệu USD) và nhỏ nhất là Vietcombank với số vốn điều lệ là 4.700 tỷ (xấp xỉ 300 triệu USD), chỉ bằng một
ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực Tổng dư nợ tín dụng mới đạt xấp xỉ 55% GDP, thấp
hơn nhiều so với mức trên 80% của các nước trong khu vực (Xem: www.vnep.org.vn (cổng thông tin điện tử của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, ngày 16/10/2006)
Bình quân vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước chỉ là 200-250 triệu USD, bằng vốn của một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực Chỉ có một số ít ngân hàng thương mại có vốn trên 1.000 tỷ đồng Ngoài ra, phần lớn các ngân hàng thương mại còn có mức nợ xấu cao; khả năng thanh toán bình quân của các tổ chức tín dụng mới xấp xỉ 60% (Xem: www.vnep.org.vn (cổng thông tin điện tử của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, ngày 16/10/2006))
Bảng 1 Tình hình vốn tự có trên tổng số tài sản
có rủi ro của các ngân hàng thương mại quốc doanh
Ngân hàng NN&PTNT 3,09% 4,75% 4,30% 5,43% 3,9%
Ngân hàng Ngoại thương 1,39% 3,08% 3,50% 3,64% 11,1%
Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
1,74% 3,38% 3,50% 4,76% 7,31%
Ngân hàng Công thương 1,47% 3,00% 3,50% 3,64% 6,14%
Bình quân bốn ngân hàng 1,92% 3,57% 3,80% 4,20% 7,11%
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Trang 4Bảng trên cho ta thấy tỷ lệ vốn tự có trên tổng số tài sản có rủi ro của các NHTM nhà nước
đã ngày càng được cải thiện và mức bình quân đã gần đạt được chuẩn quốc tế là 8% Tuy nhiên, nếu xét riêng từng ngân hàng thì mới chỉ có ngân hàng Ngoại thương đạt được chuẩn mực quốc tế, 3 ngân hàng còn lại còn cần phải cố gắng hơn nữa mới đạt được chuẩn mực này Trước tình hình này, Chính phủ đã tiến hành bốn đợt tăng vốn cho các ngân hàng thương mại quốc doanh bằng trái phiếu đặc biệt và nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng thương mại nhà nước lên khoảng 7% Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới, tốc độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ liên tục duy trì ở mức cao (khoảng trên 20%/năm) Do đó, nếu chỉ dựa vào nguồn ngân sách nhà nước sẽ không đủ khả năng cấp vốn cho các ngân hàng thương mại quốc doanh Thực tế này đòi hỏi cần đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa nhằm tăng vốn điều lệ và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cho các ngân hàng thương mại quốc doanh Xét về lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh ngân hàng, lợi nhuận của khối ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn còn đạt thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Tỷ lệ lợi tức trên tổng tài sản có (ROA) của toàn hệ thống là 0,65% (nếu tính riêng của các ngân hàng thương mại quốc doanh là 0,45%), thấp hơn theo thông lệ quốc tế là 1% Trong khối ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng Công thương là đạt được tỷ lệ này; còn lại các ngân hàng khác đều có tỷ lệ thấp hơn Điều này cho thấy chất lượng tài sản của các ngân hàng ở mức thấp (nợ xấu lớn) nên khả năng sinh lời và hiệu quả sử dụng tài sản có thấp
Có thể thấy được điều này qua bảng dưới đây
Bảng 2 Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại quốc doanh năm 2005
Tỷ lệ lợi tức trên vốn (ROE)
Tỷ lệ lợi tức trên tổng tài sản có (ROA)
Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
Ngân hàng đồng bằng sông
Cửu Long
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngoài ra, các ngân hàng nước ngoài có ưu thế hơn các NHTM Việt Nam về công nghệ, loại hình dịch vụ, chiến lược khách hàng, hiệu quả hoạt động và chất lượng tài sản
Một thực tế cũng được ghi nhận là các dịch vụ ngân hàng trong nước còn rất đơn điệu, chất lượng chưa cao, còn nặng về các dịch vụ ngân hàng truyền thống mà chưa có định hướng theo nhu cầu của khách hàng Huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi (chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động), và cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu (chiếm trên 80% tổng thu nhập của các ngân hàng)
Trang 5Thật vậy, cho đến nay, các NHTM trong nước mới thực hiện khoảng 300 nghiệp vụ kinh doanh khác nhau, trong đó thu từ dịch vụ chỉ chiếm 6-10%, còn lại là thu từ hoạt động tín dụng Tín dụng có thể nói là hoạt động chủ yếu tạo thu nhập cho các NHTM Việt Nam, còn các nghiệp vụ mới như thanh toán dịch vụ qua ngân hàng, môi giới kinh doanh, tư vấn dự án chưa phát triển Cho vay theo chỉ định chính sách vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng của các NHTM nhà nước Việc mở rộng tín dụng cho khu vực ngoài quốc doanh đã có dấu hiệu tích cực, nhưng còn nhiều vướng mắc
Và một khi các ngân hàng nước ngoài đã hiểu rõ thị trường Việt Nam và môi trường pháp
lý để bảo đảm cho họ xử lý rủi ro để thu hồi nợ trong trường hợp cần thiết thì khả năng cạnh tranh với các NHTM Việt Nam trong lĩnh vực tín dụng sẽ tăng lên
Ngoài ra, nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh là dịch vụ ngân hàng với trên 30% thu nhập và trên 6000 nghiệp vụ kinh doanh khác nhau như thanh toán quốc tế, đầu tư dự án, tài trợ thương mại, quản lý tiền mặt, tư vấn đầu tư, dịch vụ thẻ,…
Không những thế, so với các ngân hàng nước ngoài thì hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội
bộ của các NHTM Việt Nam còn yếu, thiếu tính độc lập, hệ thống thông tin quản lý và báo cáo tài chính, kế toán chưa đạt chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Kết qủa một cuộc điều tra của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc được thực hiện vào cuối năm 2005 cho biết: có 45% khách hàng (là doanh nghiệp và cá nhân) sẽ chuyển sang vay vốn của ngân hàng nước ngoài thay vì của ngân hàng trong nước; 50% chọn dịch vụ ngân hàng nước ngoài thay thế, và 50% còn lại chọn ngân hàng nước ngoài để gửi tiền, đặc biệt là ngoại tệ
4 Chiến lược kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam để đối phó với thách thức của hội nhập
Đứng trước thách thức của hội nhập cộng thêm những khó khăn nội tại của mình, các NHTM Việt Nam nhận thấy cần phải triển khai một số chiến lược kinh doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh như sau
c Mở rộng mạng lưới hoạt động
Để đón đầu sự đổ bộ của các ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2007, các ngân hàng trong nước liên tục mở rộng chi nhánh hoạt động của mình Đây được coi như là một chiến lược kinh doanh được nhiều ngân hàng trong nước lựa chọn áp dụng để đối phó với sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài trong thời gian tới Lấy một ví dụ điển hình là ngân hàng Sài gòn thương tín, gọi tắt là Sacombank Tính đến nay, Sacombank, một trong những ngân hàng có thị phần khá lớn, đã có gần 165 chi nhánh và phòng giao dịch rải đều khắp cả nước Nhưng không dừng lại ở đó, tham vọng của Sacombank là trong năm nay mở thêm 14 chi nhánh và gần 40 phòng giao dịch, nâng tổng số điểm hoạt động trong cả nước lên trên 230 điểm và đến năm 2010, con số này sẽ là 300 điểm
Trang 6Nhưng trước đó, vào thời điểm năm 2008, Sacombank sẽ mở văn phòng đại diện tại Trung Quốc, Campuchia Lúc này, người tiêu dùng, kể cả những khách hàng ở vùng sâu, vùng xa, như Cà Mau, Đắc Lắc, Quảng Bình đều có thể dễ dàng tiếp cận được các sản phẩm tín dụng của Sacombank, chứ không chỉ là khách hàng ở những thành phố lớn như trước
Sacombank cũng cho biết, trong năm qua, Ngân hàng đã bỏ rất nhiều vốn để đầu tư mở rộng mạng lưới hoạt động Ngoài ra, để nhanh chóng thu hút khách hàng, trong chiến lược mở rộng chi nhánh, Sacombank còn phân khúc thị trường theo từng nhóm khách hàng khác nhau Ngân hàng thậm chí còn mở riêng 2 chi nhánh với tên gọi 8/3 tại TP.HCM và Hà Nội, dành riêng cho phái đẹp
Bên cạnh đó, trong khi trước đây, ở các tỉnh, thành phố trên cả nước, chỉ có sự thống lĩnh của các ngân hàng quốc doanh, nhưng đến thời điểm này, đã có rất nhiều ngân hàng thương mại cổ phần xuất hiện Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế (VIB Bank) cho biết, trong năm nay, sẽ nâng tổng số điểm giao dịch lên gần gấp đôi so với năm 2006 (hiện VIB Bank
có gần 60 chi nhánh và phòng giao dịch trong cả nước)
d Tăng vốn điều lệ để nâng cao sức cạnh tranh
Cuối năm 2006 và đầu năm 2007 chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc của thị trường chứng khoán Việt Nam với việc hàng loạt các cổ phiếu ngân hàng xuất hiện trên thị trường chứng khoán tập trung lẫn phi tập trung Đây chính là kết quả của việc hàng loạt các NHTM Việt Nam tăng vốn điều lệ để nâng cao sức cạnh tranh
Theo Nghị quyết đại hội cổ đông bất thường trong năm 2006, NHTMCP Đông Á (gọi tắt là EAB) sẽ tăng vốn điều lệ từ 880 tỷ đồng lên 2000 tỷ đồng trong năm 2007 và chia thành 2 giai đoạn Giai đoạn 1 phát hành thêm 520 tỷ đồng mệnh giá cổ phiếu cho các cổ đông trong nước để tăng vốn điều lệ từ 880 tỷ đồng lên 1.400 tỷ đồng (đã được chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam); giai đoạn 2, phát hành thêm 600 tỷ đồng mệnh giá cổ phiếu để
tăng vốn điều lệ từ 1.400 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng (Xem: Theo Thời báo Ngân hàng, ngày
19/04/2007) Trong quý I/2007, các hoạt động kinh doanh của EAB tiếp tục khởi sắc, tốc độ
tăng trưởng các dịch vụ bình quân tăng 30% so với cùng kỳ; riêng lợi nhuận đạt 100 tỷ đồng Một ví dụ khác là việc tăng vốn điều lệ của NHTMCP ngoài quốc doanh Ngày 3/4/2007, Ban lãnh đạo VPBank đã xác nhận với khách hàng và cổ đông về việc ngân hàng này sẽ tăng vốn điều lệ từ 750 tỷ đồng hiện nay lên 1.500 tỷ đồng trong lần tăng vốn đợt 1 năm 2007 Kế hoạch tăng vốn đợt này của VPBank sẽ được hoàn tất trong tháng 5/2007 Ngân hàng này cũng có kế hoạch tăng vốn điều lệ đợt 2 năm 2007 và bán tiếp 10% cho đối tác chiến lược OCBC Quý I/2007, hoạt động kinh doanh của VPBank tiếp tục ổn định và phát triển Tháng 3 vừa qua, VPBank là một trong hai ngân hàng đứng trong top 50 doanh nghiệp có môi trường làm việc và quản trị nhân sự tốt nhất Việt Nam do 2 tập đoàn của Mỹ là Navigos Group và AC Nielsen khảo sát Về hoạt động năm 2006, VPBank đã được Ngân hàng Nhà nước xếp loại A
và là ngân hàng tốt nhất trong tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần ở phía Bắc
e Xúc tiến quá trình cổ phần hoá các NHTM nhà nước
Trang 7Theo chỉ đạo của thủ tướng Chính phủ, từ năm 2007, Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàng Công thương sẽ phải tiến hành cổ phần hoá và đến năm 2008 sẽ đến lượt Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, Thủ tướng yêu cầu hoàn chỉnh trình Chính phủ đề án cổ phần hóa ngay trong năm 2006 để hoàn tất việc cổ phần hóa trong năm 2007
Đứng trước yêu cầu này, các NHTM nhà nước đã rất nỗ lực triển khai phương án định giá tài sản để tiến hành cổ phần hoá trong thời gian đã định Ví dụ như Vietcombank đã chọn được nhà tư vấn cổ phần hoá là ngân hàng Credit Suisse của Thuỵ Sỹ, và theo lời ông Tổng giám đốc, cổ phiếu của ngân hàng này sẽ được niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ chí minh vào tháng 7 năm 2007 sau khi được đấu giá công khai, và đặc biệt là
dự kiến được niêm yết tại thị trường chứng khoán Singapore vào năm 2008
f Tăng cường hợp tác với các đối tác khác.
Trước nguy cơ các ngân hàng nước ngoài sẽ ngày càng xuất hiện nhiều ở Việt Nam, thâm nhập vào nhiều lĩnh vực hiện đang được các NHTM Việt Nam nắm giữ, các NHTM Việt Nam
đã thực hiện chiến lược liên kết không chỉ với các ngân hàng khác mà còn với các đối tác chiến lược như các doanh nghiệp, tập đoàn trong nước để tận dụng mạng lưới và khách hàng
từ đối tác Thông qua việc hợp tác này, các ngân hàng sẽ có cơ hội thu hút thêm khách hàng thanh toán, cũng như cơ hội đầu tư vốn và hỗ trợ tín dụng vào nhiều dự án của doanh nghiệp Nhằm tranh thủ cơ hội phát triển mạng lưới hoạt động, một số ngân hàng đã đi đường tắt bằng hình thức trên, với mong muốn đem lại sự thuận tiện nhất cho khách hàng trong việc giao dịch với ngân hàng
Ông Võ Văn Châu, Tổng giám đốc Ngân hàng Phương Đông, đơn vị đã bán 5% cổ phần cho Công ty Savico và 5% cổ phần cho Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn cho biết, mục đích của việc bán cổ phần cho doanh nghiệp là muốn khách hàng, cũng như người tiêu dùng biết đến những sản phẩm của Phương Đông ngày một nhiều hơn thông qua hệ thống của đối tác Theo ông Châu thì nhờ thế ngân hàng sẽ dễ dàng đem đến các sản phẩm tốt nhất cho khách hàng, nhất là trong bối cảnh thị trường tài chính đã rộng cửa cho nhà đầu tư nước ngoài, sự cạnh tranh thu hút khách ngày càng gay gắt hơn
Thậm chí, các NHTM trong nước còn bắt tay với chính đối thủ nước ngoài của mình để tận dụng công nghệ, trình độ quản lý của họ Lấy việc hợp tác của ngân hàng Hồng Công-Thượng Hải (gọi tắt là HSBC) với ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (gọi tắt là Techcombank) làm ví
dụ Ngân hàng HSBC sở hữu đến 20% cổ phần của Techcombank Qua đó, ngân hàng Techcombank cũng có thêm vốn và kinh nghiệm du nhập từ nước ngoài để phát triển và khẳng định mình hơn nữa
g Phát triển các loại hình dịch vụ và mở rộng đối tượng khách hàng
Một hướng đi khác của các NHTM Việt Nam chính là mở rộng các đối tượng khách
Trang 8hàng Nếu như trước đây, khách hàng chủ yếu của các ngân hàng trong nước là các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước thì nay, khi các NHTMCP xuất hiện ngày càng nhiều, quá trình cổ phần hoá các DNNN cho ra đời hàng loạt các công ty cổ phần thì các NHTM trong nước ngày càng hướng sự quan tâm của mình đến những đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tỷ trọng cho vay đối với khu vực ngoài quốc doanh ngày càng tăng, trong khi tỷ trọng tín dụng dành cho khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm xuống Đến tháng 6 năm 2006, khu vực quốc doanh chiếm 41% tổng dư nợ, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 12% tổng dư nợ Việc tăng lượng vốn tín dụng cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa giúp các ngân hàng đa dạng hoá rủi ro vừa đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của khu vực này
Phần lớn các NHTM Việt Nam hiện nay đã trở thành các ngân hàng đa năng với nhiều chủng loại sản phẩm và dịch vụ ngân hàng đa dạng hơn, đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng bán
lẻ và thanh toán Nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mới ra đời như mua bán ngoại tệ có kỳ hạn, hoán đổi tiền tệ và lãi suất, hợp đồng quyền lựa chọn
Bên cạnh việc đa dạng hoá các hoạt động dịch vụ, phát triển các dịch vụ ngân hàng điện
tử hiện đang là chương trình mục tiêu của toàn ngành ngân hàng Đến nay nhiều tổ chức tín dụng đã phát triển và thực hiện các dịch vụ ngân hàng điện tử như: ATM; internet-banking; home-banking; mobile-banking Khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử được cung cấp các tiện ích như: nắm bắt thông tin thị trường tiền tệ (tỷ giá, lãi suất, giá vàng, thông tin thị trường chứng khoán), thực hiện thanh toán phí dịch vụ (điện thoại, điện nước, tiền hàng hoá, tiền taxi…) Đặc biệt mới đây, các ngân hàng đã bắt tay nhau để hình thành nên mạng thanh toán điện tử, còn gọi là Paynet, để giúp các khách hàng thanh toán tiền hàng, các hoá đơn một cách nhanh chóng và tiện lợi Đây còn được coi là một giải pháp quan trọng góp phần giảm tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông ở nước ta
Bảng 3 Tín dụng của ngân hàng cho các loại hình kinh tế
Đơn vị: tỷ đồng Loại hình kinh tế 2003 2004 2005 6/2006
- Doanh nghiệp quốc doanh 150.000 179.351 238.266 244.865
- Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh
167.416 217.419 255.628 285.973
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài
50.484 63.105 59.780 66.797
Tỷ trọng
- Doanh nghiệp quốc doanh 40.7% 39.0% 43.0% 41%
Trang 9- Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Xu hướng sử dụng thẻ trong dân cư ngày càng tăng, bởi yếu tố tâm lý sử dụng thẻ đã bước đầu hình thành gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại Mặt khác tính tiện ích của thẻ cũng bước đầu thu hút sự chú ý của người dân, của khách hàng Năm 2002 có 42.034 thẻ phát hành ra lưu thông, đến tháng 12/2005 đã tăng lên 2,7 triệu thẻ Số lượng ngân hàng phát hành thẻ tăng từ 5 ngân hàng (4 ngân hàng thương mại nhà nước và 1 ngân hàng thương mại
cổ phần) tới 13 ngân hàng cuối năm 2004 và 20 ngân hàng năm 2005
Phát triển dịch vụ thẻ ở thành phố Hồ Chí Minh
Thống kê riêng thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có thị trường dịch vụ thẻ phát triển nhất cho thấy hệ thống mạng lưới máy ATM
(máy rút tiền tự động) và máy POS (máy đọc thẻ) ngày càng mở rộng:
năm 2005, chỉ tính riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, số lượng máy
ATM được lắp đặt là 125 máy; số máy POS (máy đọc thẻ) được phát
triển là 2.456 máy Năm 2006, tổng số máy ATM trên địa bàn thành
phố đã đến lên 393 máy và cổng POS là 4.752 máy Như vậy tính
chung cả máy ATM và máy POS thì hệ thống điểm thanh toán thẻ ATM
và chấp nhận thanh toán thẻ trên địa bàn tính đến năm 2006 đạt 5.145
điểm Số lượng thẻ phát hành tăng trưởng cao: hiện nay số lượng thẻ
ATM của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố phát hành đạt
297.136 thẻ, tăng so với năm 2004 Doanh số hoạt động của thẻ đạt
14.504 tỷ; tăng 1,3 lần so với năm 2004 Đồng thời, các tiện ích của
thẻ ngày càng đa dạng, tiện lợi cho khách hàng sử dụng: sử dụng thẻ
để rút tiền mặt; chuyển tiền; thanh toán phí bảo hiểm; tiền điện, điện
thoại, tiền nước; tiền hàng hoá dịch vụ và tiền taxi.
Tuy nhiên, lượng thanh toán bằng thẻ ngân hàng còn quá nhỏ, chỉ chiếm 0,87% lượng thanh toán năm 2005 Thanh to¸n bằng uỷ nhiệm chi và uỷ nhiệm thu là phổ biến, chiếm đến 97% tổng giá trị giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt Mặc dù chiếm tỷ trọng cao, nhưng cả hai phương thức này đều bộc lộ nhiều nhược điểm, trong đã chủ yếu liên quan đến chi phi giao dịch lớn, tốn nhiều thời gian Giá trị thanh toán bằng séc chỉ chiếm trên 1% tổng giá trị thanh toán, số lượng séc thanh toán qua ngân hàng chưa nhiều, chủ yếu là séc của các tổ chức, doanh nghiệp dùng trong nội bộ doanh nghiệp để thanh toán dịch vụ, hàng hoá hay chuyển tiền giữa các doanh nghiệp
h Nâng cao chất lượng dịch vụ
Trang 10Các NHTM Việt Nam cũng ý thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch
vụ ngân hàng Trong lĩnh vực dịch vụ thì yếu tố con người là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng dịch vụ, được biểu hiện ở thái độ phục vụ, trình độ nghiệp vụ, trình độ quản lý, Nhưng như đã phân tích ở trên, trình độ nghiệp vụ cũng như trình độ quản lý của các ngân hàng trong nước còn yếu kém so với các ngân hàng nước ngoài Đây chính là một trong những trở ngại lớn của các ngân hàng này trong quá trình cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài Chính vì thế mà các ngân hàng trong nước nhìn chung đã chú trọng hơn đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ của mình Hàng năm, ngân hàng TMCP Á Châu (gọi tắt là ACB) phải
bỏ ra khoảng 3 tỷ đồng dành cho đào tạo
Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng dịch vụ, các ngân hàng trong nước cũng đã từng bước cải cách bộ máy quản lý điều hành theo tư duy kinh doanh mới, đồng thời chuẩn hoá các quy trình nghiệp vụ chủ yếu của mình, xây dựng các quy chế quản lý và hoạt động cho phù hợp với thông lệ quốc tế như quản lý rủi ro, quản lý tài sản, quản lý vốn, kiểm tra, kiểm toán nội bộ
Không những thế, các NHTM trong nước cũng đã nhanh chóng phát triển công nghệ ngân hàng tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình Theo thống kê, hơn 80% các nghiệp vụ ngân hàng đã được xử lý bằng hệ thống máy tính, kết nối trực tuyến; đồng thời các quy trình nghiệp vụ đã được chuẩn hoá phù hợp với điều kiện cụ thể của từng ngân hàng Các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) cũng đã triển khai xây dựng và phát triển công nghệ trong hoạt động kinh doanh với các mức độ ứng dụng và quy mô phát triển khác nhau Về cơ bản hầu hết các NHTMCP đã trang bị hệ thống máy tính và nối mạng cục bộ; nối mạng với Ngân hàng Nhà nước và ứng dụng các chương trình phần mềm khác nhau theo điều kiện mỗi tổ chức tín dụng Trong đó các NHTMCP Eximbank, NHTMCP Á Châu, NHTMCP Sài gòn Thương tín, NHTMCP Đông Á đã phát triển và ứng dụng công nghệ với mức độ và trình độ cao cho phép kết nối toàn hệ thống và mang lại hiệu quả cao
Nguồn:
ương).
"Việt Nam tích cực chuẩn bị gia nhập WTO trong một số lĩnh vực dịch vụ", Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
"Tầm nhìn và những bước đi cần thiết đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn mới", Vụ Chiến lược phát triển, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
"Dịch vụ tài chính ngân hàng Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập", Tạp chí Thông tin
và Dự báo kinh tế - xã hội
Vietnam Investment Review, 20/04/2007
Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia