điều, tổ hợp công nghiệp, công trình liên doanh…là những đối tượng được bảo hiểm có giá trị lớn với số tiền bảo hiểm tăng không ngừng, sự tập trung giá trị của tài sản ngày càng tăng và
Trang 1CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁI BẢO HIỂM
VÀ NĂNG LỰC NHẬN TÁI BẢO HIỂM
I NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TÁI BẢO HIỂM
1 Sự cần thiết và bản chất của tái bảo hiểm
1.1 Sự cần thiết của tái bảo hiểm
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ngoài việc đáp ứng nhu cầu an toàn cho con người thì lợi nhuận luôn là mục tiêu của hoạt động bảo hiểm thương mại Để đạt được mục tiêu đó thì một trong những nguyên tắc quan trọng mà khi tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn phải tuân thủ, đó là nguyên tắc phân tán rủi ro Bởi sau khi nhận các rủi ro được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm lúc này sẽ là người phải đối mặt với những tổn thất có thể rất lớn nếu rủi ro xảy ra Mặc dù quĩ bảo hiểm là một quĩ tài chính lớn, được lập ra bởi sự đóng góp của nhiểu người theo nguyên tắc số đông và như vậy với tư cách là người huy động và quản lý quĩ, các công ty bảo hiểm có khả năng thực hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào công ty bảo hiểm cũng luôn đảm bảo được khả năng này Rủi ro luôn tiềm ẩn trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và kinh doanh bảo hiểm không phải là trường hợp ngoại lệ Điều này xuất phát từ chính đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Thứ nhất, bảo hiểm có chu kỳ kinh doanh đảo ngược, phí bảo hiểm thu
trước trong khi việc chi trả bồi thường lại phát sinh sau Hơn nữa xác suất rủi ro lại khó có thể dự báo một cách chính xác tuyệt đối khi tính phí bảo hiểm Nên với trường hợp xác suất rủi ro thực tế lớn hơn xác suất rủi ro dự báo hay có những tổn thất xảy ra liên tục trong một thời gian dài và thậm chí có thể là những tổn thất mang tính thảm hoạ thì chính các nhà bảo hiểm sẽ phải gánh chịu những rủi ro
Thứ hai, kinh doanh bảo hiểm không chỉ đơn thuần là hoạt động kinh
doanh nhằm đem lại lợi nhuận cho các nhà bảo hiểm mà còn là san sẻ rủi ro
Trang 2giữa những người tham gia bảo hiểm với nhau Tuy nhiên có những đối tượng tham gia bảo hiểm hoạt động ở địa bàn xa dẫn đến công ty bảo hiểm không có khả năng kiểm soát và quản lý rủi ro dễ xảy ra tình trạng trục lợi bảo hiểm hoặc khi sự kiện bảo hiểm xảy ra để lại tổn thất lớn.
Thứ ba, kinh doanh bảo hiểm còn phải đáp ứng các yêu cầu pháp luật về
vốn và biên khả năng thanh toán…nhằm đảm bảo khả năng chi trả bồi thường cho người tham gia bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm Những yêu cầu đó một mặt bảo vệ lợi ích cho người tham gia bảo hiểm, mặt khác đã hạn chế hoạt động kinh doanh của bảo hiểm Bởi không phải công ty bảo hiểm nào cũng có đủ khả năng tài chính để chấp nhận tất cả các đơn yêu cầu bảo hiểm đặc biệt là đối với những đối tượng tham gia bảo hiểm có giá trị lớn Mà việc từ chối bảo hiểm lại được coi là điều tối kị trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm vì khi đó việc mất khách hàng (những người có yêu cầu hiện tại và trong tương lai) là điều không thể tránh khỏi
Chính vì vậy, để bảo vệ cho chính mình trước nguy cơ phá sản, mất các khách hàng lớn và bất ổn trong hoạt động kinh doanh, các công ty bảo hiểm sẽ phải phân tán rủi hay chuyển giao rủi ro cho các nhà bảo hiểm khác thông qua hai hình thức: đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm
a Đồng bảo hiểm: là phương thức bảo hiểm mà nhiều công ty bảo hiểm cùng lúc nhận đảm bảo cho một rủi ro lớn
Ưu điểm khi tiến hành đồng bảo hiểm là rủi ro được phân tán nhanh, đơn giản, dễ hiểu và dễ tính toán
Công ty
ĐBH A
Công ty ĐBH B
Công ty ĐBH C
Công ty ĐBH D
Người được bảo hiểm
Trang 3Tuy nhiên đồng bảo hiểm lại có những nhược điểm như ký kết hợp đồng gặp nhiều khó khăn và thời gian kéo dài sẽ mất hết thời cơ trong kinh doanh Mặt khác, khi tổn thất xảy ra việc giải quyết bồi thường sẽ rất khó tập trung được một lúc nên người tham gia bảo hiểm sẽ không có điều kiện tập trung vốn
để khôi phục sản xuất kinh doanh và có thể dẫn đến việc nghi ngờ khả năng tài chính của các nhà bảo hiểm
b Tái bảo hiểm: là phương thức trong đó, một nhà bảo hiểm nhận bảo hiểm cho một rủi ro lớn, sau đó nhượng bớt một phần rủi ro cho một hoặc nhiều nhà bảo hiểm khác
Tác dụng của tái bảo hiểm được thể hiện ở một số mặt sau:
Rủi ro được phân tán nhanh, tránh phá sản cho các công ty bảo hiểm gốc đặc biệt trong những trường hợp rủi ro mang tính thảm hoạ hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra dồn dập Từ đó giúp ổn định hoạt động kinh doanh của công ty
Tăng năng lực cho các công ty bảo hiểm gốc để chấp nhận các dịch vụ, giữ được khách hàng, từ đó nâng cao uy tín cho công ty bảo hiểm gốc
Công ty bảo hiểm gốc còn được hưởng một tỷ lệ hoa hồng nhất định từ các nhà nhận tái bảo hiểm (chỉ áp dụng trong tái bảo hiểm theo tỷ lệ)
Ký kết hợp đồng được dễ dàng hơn, thời gian ngắn hơn
Góp phần tăng thu ngân sách, ngoại tệ cho Nhà nước thông qua thuế do các công ty bảo hiểm đóng góp Đồng thời góp phần đảm bảo đời sống cán bộ, công nhân viên của công ty bảo hiểm gốc Do có tái bảo hiểm, các công ty bảo hiểm gốc sẽ tránh khỏi phá sản trong trường hợp rủi ro xảy ra quá lớn qua đó có tác dụng ổn định việc làm cũng như thu nhập của người lao động trong công ty
và cho cả công ty Từ đó gián tiếp bảo vệ quyền lợi cho người tham gia
Mặt khác tái bảo hiểm cũng góp phần tăng cường quan hệ kinh tế giữa các nước Nhà tái bảo hiểm có thể là công ty trong nước hoặc nước ngoài Khi đó hoạt động tái bảo hiểm sẽ diễn ra giữa nhiều tổ chức tái bảo hiểm của nhiều quốc gia Như vậy, một tổn hại có tính thảm hoạ ở một nước, qua tái bảo hiểm
Trang 4sẽ được bù đắp từ những khoản tiền bồi thường mang tính quốc tế Rủi ro được phân tán trên phạm vi rộng, việc gánh chịu tổn thất trở nên dễ dàng hơn.
1.2 Bản chất và chức năng của tái bảo hiểm.
Như đã phân tích ở trên, tái bảo hiểm là nghiệp vụ thông qua đó một công
ty bảo hiểm (công ty bảo hiểm gốc hay công ty nhượng tái bảo hiểm) chuyển cho một hoặc nhiều công ty bảo hiểm khác (công ty nhận tái bảo hiểm) một phần rủi ro đã nhận đối với một đối tượng bảo hiểm nhất định trên cơ sở chuyển nhượng bớt một phần số phí bảo hiểm đã nhận
Chính vì vậy bản chất của tái bảo hiểm có thể được xem như là một cơ chế phân tán rủi ro giữa các nhà bảo hiểm với nhau trên cơ sở các hợp đồng Điều đó có nghĩa là các công ty bảo hiểm cũng muốn giảm bớt âu lo, tìm kiếm
sự an toàn cho sự tồn tại của chính họ bằng việc mua tái bảo hiểm Trong cùng một lúc dựa vào khả năng tài chính và mối quan hệ kinh doanh của họ trong thị trường bảo hiểm Từ góc độ kỹ thuật, hoạt động tái bảo hiểm cho phép các công
ty bảo hiểm phân tán bớt rủi ro cho các công ty bảo hiểm khác sau khi đã giữ lại phần rủi ro có thể đảm nhận Mặt khác, nhìn từ góc độ tài chính, khả năng giữ lại của một công ty bảo hiểm phụ thuộc rất nhiều vào sức mạnh tài chính của nó Phần vượt quá khả năng giữ lại đó cần phải được bù đắp, hỗ trợ của các công ty nhận tái bảo hiểm
Xuất phát từ bản chất trên mà khi xem xét chức năng của tái bảo hiểm cần phải được nhìn nhận dưới hai góc độ
Dưới góc độ các công ty bảo hiểm: Chức năng đối với các công ty nhượng tái bảo hiểm là loại trừ được những tổn thất lớn liên quan đến mình, phân tán được giữa những tổn thất lớn và những tổn thất nhỏ theo một biên độ
đã dự kiến trước Mặt khác tái bảo hiểm còn giúp cấu trúc được tỷ lệ phí giữ lại
và phí tái đi một cách hợp lý Còn đối với các công ty tái bảo hiểm, tái bảo hiểm
có chức năng là mở rộng kinh doanh để tăng doanh thu và ngoại tệ từ các dịch
vụ nhận tái Việc giúp ổn định kinh doanh cho công ty bảo hiểm gốc cũng chính
là giúp hoạt động kinh doanh của mình được ổn định
Trang 5Dưới góc độ Nhà nước: Bên cạnh việc tạo sự ổn định cho các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm cũng gián tiếp giúp các doanh nghiệp, các cá nhân, các chủ thể nền kinh tế tham gia bảo hiểm ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó đảm bảo ổn định và sự phát triển vững chắc cho nền kinh tế trong nước Ngoài
ra, tái bảo hiểm cũng giữ Nhà nước đảm bảo chức năng đối ngoại trong các nền kinh tế mở từ đó đảm bảo ổn định thu ngân sách và ngoại tệ
1.3 Lịch sử phát triển của tái bảo hiểm.
Một điều có tính quy luật là kinh tế - xã hội càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân càng cao thì nhu cầu về bảo hiểm càng lớn Như vậy, sự phát triển của bảo hiểm phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội Trong khi đó tái bảo hiểm lại là hoạt động gắn bó chặt chẽ với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, là một phần cơ bản trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Chính vì vậy mà lịch sử phát triển của tái bảo hiểm không thể tách rời được với sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi thời kỳ Theo đó, sơ lược phát triển của tái bảo hiểm
có thể được chia làm ba giai đoạn:
1.3.1 Giai đoạn đầu phát triển của tái bảo hiểm (từ giữa thế kỷ 17 đến giữa thế
kỷ 19).
Theo tài liệu mà các nhà nghiên cứu thu thập được cho đến nay có thể khẳng định nước Ý là nước đầu tiên chứng kiến sự ra đời của dịch vụ tái bảo hiểm Bản thoả ước cổ nhất có tính chất pháp lý như một hợp đồng tái bảo hiểm được ký kết vào năm 1370 nhằm đảm bảo cho chuyến hàng hoá vận chuyển trên biển có hành trình từ Genés đến Bruges Hợp đồng được ký kết giữa một bên hai thương nhân hoạt động với tư cách là nhà tái bảo hiểm với một bên là đại diện cho một nhà bảo hiểm Sau này cùng với sự phát triển rộng rãi của những mối quan hệ thương mại giữa các thành phố của nước Ý và giữa các nước Bắc Âu, đặc biệt là nước Anh, dịch vụ tái bảo hiểm ngày càng có điều kiện phát triển
Do đây là giai đoạn đầu của thị trường tái bảo hiểm nên mới được thực hiện chủ yếu với các nghiệp vụ như hoả hoạn, hàng hải và nhân thọ Và đặc điểm chủ yếu của giai đoạn này là hầu hết chỉ tái bảo hiểm trong nước với nhau
Trang 6với hình thức tái bảo hiểm chủ yếu là tuỳ ý lựa chọn Đồng bảo hiểm được áp dụng nhiều hơn tái bảo hiểm Ngoài ra quan hệ giữa công ty bảo hiểm gốc và các nhà nhận tái bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở pháp luật của quốc gia mà công ty nhượng tái bảo hiểm tiến hành Một đặc điểm nữa trong giai đoạn này là phương pháp tái bảo hiểm rất đơn giản, chủ yếu là tái bảo hiểm số thành và mức dôi.
Tuy nhiên, sau đó đã xuất hiện nhiều vụ lạm dụng có tính chất con buôn gây ra nhiều phản ứng chống lại bản chất của tái bảo hiểm Đó là những trường hợp mà các nhà tái bảo hiểm đã lợi dụng hình thức tái bảo hiểm để phân tán rủi
ro nhưng theo tỷ lệ phí thấp hơn nhiều so với phí bảo hiểm gốc để kiếm lời Đây
là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự ra đời đạo luật cấm các hoạt động tái bảo hiểm hàng hải ở nước Anh trong một thời gian dài từ 1746 – 1864 Đạo luật này
đã vô hình chung tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức Lloyd’s phát huy ảnh hưởng của mình bằng cách đồng bảo hiểm và sau 1864 đã nghiễm nhiên trở thành thị trường tái bảo hiểm quan trọng nhất thế giới
1.3.2 Giai đoạn từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20.
Giữa thế kỷ 19, nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa có những bước phát triển vượt bậc nhờ việc ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Giao lưu hàng hoá giữa các nước ngày càng mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường tái bảo hiểm trưởng thành và phát triển Nhiều tổ chức tái bảo hiểm chuyên nghiệp ra đời, mà đầu tiên phải kể đến là nước Đức với công ty tái bảo hiểm Kohn thành lập năm 1846 Sau đó hàng loạt các công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp có tên tuổi trên thị trường hiện nay cũng được thành lập như công ty tái bảo hiểm Thuỵ Sĩ năm 1863, Công ty tái bảo hiểm Luân Đôn năm 1869, Công ty tái bảo hiểm Munich năm 1880
Có thể nói đây là giai đoạn tái bảo hiểm phát triển rộng khắp ở các thị trường trên thế giới Trong đó các nghiệp vụ thường áp dụng tái bảo hiểm nhiều nhất là hàng không, kỹ thuật và dầu khí Mặt khác quan hệ giữa các công ty nhượng và các nhà tái bảo hiểm lúc này không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc
Trang 7gia mà đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu Mà thị trường Lloyd’s vẫn là trung tâm thế giới về bảo hiểm và tái bảo hiểm Giai đoạn này cũng chứng kiến sự xuất hiện đầy đủ tất cả các phương pháp và hình thức tái bảo hiểm.
Tuy nhiên với hai cuộc chiến tranh thế giới cùng với các cuộc khủng hoảng kinh tế và lạm phát đã làm tổn hại lớn đến sự phát triển của ngành bảo hiểm nói chung và ngành tái bảo hiểm nói riêng Bị tổn hại nhiều nhât là các công ty tái bảo hiểm của Đức Các giới tư bản độc quyền đã lấy vốn và quĩ tiền
tệ bảo hiểm của các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm để chi tiêu trong chiến tranh Chính vì vậy mà đến cuối giai đoạn này thị trường tái bảo hiểm thế giới bị trầm lắng hẳn
1.3.3 Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945 với thắng lợi thuộc về Hồng quân Liên Xô và các nước đồng minh Cục diện thế giới thay đổi: hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời, phong trào giải phóng dân tộc của nhiều nước thuộc địa giành thắng lợi, chủ nghĩa đế quốc lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế mới…Tất cả đã tác động sâu sắc đến nền kinh tế nói chung, ngành bảo hiểm – tái bảo hiểm nói riêng Sự kiện này đã ảnh hưởng lớn đến chiều hướng phát triển của tái bảo hiểm quốc tế Các nước xã hội chủ nghĩa đã thực hiện nhiều biện pháp mang tính độc quyền về tái bảo hiểm và hạn chế quan hệ với thị trường tái bảo hiểm tư bản chủ nghĩa
Tuy nhiên cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà qui mô sản xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng và những tài sản có giá trị lớn ngày càng tăng Những bất đồng trong chiến tranh ngày càng được đẩy lùi vào quá khứ làm cho quan hệ quốc tế phát triển nhanh chóng và mang tính toàn cầu Xã hội phát triển, nhiều ngành nghề mới ra đời nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Mặt khác một số dịch vụ liên quan đến con người có giá cả ngày càng đắt đỏ Đó là những nguyên nhân chính giúp thị trường tái bảo hiểm thế giới giai đoạn này phát triển nhanh nhất chưa từng thấy
Trang 8Đặc trưng chủ yếu của thị trường tái bảo hiểm giai đoạn này là thị trường tái bảo hiểm đi theo xu hướng toàn cầu hoá Các công ty tái bảo hiểm của CHLB Đức đã phục hồi nhanh chóng, sớm khôi phục lại địa vị truyền thống của mình
và thiết lập các mối quan hệ quốc tế rộng rãi Nhiều công ty tái bảo hiểm mới được thành lập và ngày càng có nhiều công ty bảo hiểm tiến hành đồng thời dịch
vụ tái bảo hiểm đã khiến cho thị trường tái bảo hiểm trở nên cạnh tranh rất gay gắt Tuy nhiên tổng kết lại có thể thấy năm thị trường lớn nhất trên thế giới là
Mỹ, Nhật Bản, CHLB Đức, Anh, Pháp và năm thị trường mới nổi là Trung Quốc, Brazin, Nga, Ấn Độ và Nam Phi Mặt khác trong giai đoạn này các công
ty bảo hiểm gốc và các nhà tái bảo hiểm có quan hệ chặt chẽ theo kiểu song phương và đa phương theo cấp quan hệ Chính phủ Điển hình là sự ra đời của các tập đoàn tái bảo hiểm như Tái bảo hiểm Châu Phi, Tái bảo hiểm Châu Á, Tái bảo hiểm Asean…Các tập đoàn này vận hành dựa trên cơ sở nhượng bắt buộc hay tự nguyện với nhau giữa các thành viên Cuối cùng thị trường tái bảo hiểm phát triển đã kéo theo sự phát triển của tất cả các hình thức và phương pháp tái bảo hiểm đặc biệt là các công ty nhượng luôn muốn kết hợp nhiều phương pháp tái bảo hiểm với nhau để thực hiện phân tán rủi ro nhanh hơn, giúp
ổn định hơn trong hoạt động kinh doanh
2 Các hình thức tái bảo hiểm
2.1 Tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn
Đây là hình thức tái bảo hiểm đơn giản và cổ điển nhất Theo hình thức này công ty nhượng có toàn quyền lựa chọn rủi ro cần phải tái bảo hiểm và ngược lại nhà tái bảo hiểm có quyền chấp nhận hay từ chối rủi ro đó Thông thường mỗi loại rủi ro đem tái đi hoặc chấp nhận có thể hình thành một hợp đồng tái bảo hiểm tách biệt
a Thủ tục tiến hành khi tái bảo hiểm theo hình thức này bao gồm các bước:
Trước hết công ty nhượng thông báo cho nhà tái bảo hiểm một dịch vụ bảo hiểm nào đó với các rủi ro có liên quan dưới hình thức là phiếu đề nghị có
Trang 9đầy đủ thông tin về số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm, phần giữ lại của công ty nhượng, thủ tục phí tái bảo hiểm…
Khi nhận được phiếu này, nhà tái bảo hiểm nghiên cứu, xem xét và có toàn quyền lựa chọn nhận toàn bộ hay một phần tỷ lệ nào đó trên cơ sở rủi ro được đề nghị Nếu chấp nhận, nhà tái bảo hiểm sẽ xác nhận phần tham gia của mình bằng cách ghi trực tiếp vào phiếu đề nghị và gửi lại cho công ty nhượng Tuy nhiên trước khi chính thức chấp nhận hay từ chối, nhà tái bảo hiểm có thể yêu cầu biết thêm chi tiết khác để đánh giá rủi ro mà mình sẽ nhận như bản sao hợp đồng bảo hiểm gốc, hoặc những chi tiết về định giá phí bảo hiểm…Và chỉ khi nào nhận được thông báo chấp nhận của nhà tái bảo hiểm thì dịch vụ tái bảo hiểm theo hình thức tuỳ ý lựa chọn mới coi như hoàn thành, trừ trường hợp có
sự thoả thuận khác giữa hai bên Dịch vụ tái bảo hiểm này cũng sẽ tự động chấm dứt hiệu lực nếu đến ngày mãn hạn của hợp đồng bảo hiểm gốc mà không có sự tái tục hợp đồng; tuy nhiên dù hợp đồng bảo hiểm gốc có tái lập thì cũng không
có nghĩa là nhà tái bảo hiểm buộc phải tiếp tục nhận hợp đồng tái bảo hiểm cho thời hạn kế tiếp, mà họ có quyền lựa chọn nhận hoặc từ chối không tham gia tiếp nữa, trừ trường hợp có những giao kết nào khác
b Ưu điểm của hình thức này là:
- Giúp công ty nhượng đặc biệt là những công ty mới thành lập còn non trẻ và ít kinh nghiệm có thể hoàn thành việc nhận bảo hiểm cho những đơn vị rủi
ro có giá trị lớn, vượt quá khả năng tài chính của họ bằng việc sử dụng chuyên môn cũng như khả năng của thị trường tái bảo hiểm quốc tế
- Giúp công ty nhượng cân đối được khả năng tài chính của mình bởi vì
họ rất chủ động tái đi những đơn vị rủi ro cần thiết, chủ động xác định mức giữ lại hợp lý
- Giúp công ty nhượng có thể loại bỏ được những rủi ro đặc biệt lớn hoặc nguy hiểm mà khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm có thể làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của mình trong năm nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt nào
đó Chẳng hạn như đối với các hợp đồng bảo hiểm cho những công trình lớn: đê
Trang 10điều, tổ hợp công nghiệp, công trình liên doanh…là những đối tượng được bảo hiểm có giá trị lớn với số tiền bảo hiểm tăng không ngừng, sự tập trung giá trị của tài sản ngày càng tăng và kéo dài, thời gian bảo đảm ngày càng thịnh hành bằng việc ghép các loại bảo hiểm với nhau như: bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm thiệt hại về lợi nhuận, khai thác do đó, buộc phải áp dụng hình thức tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn.
- Tạo điều kiện cho công ty nhượng có thể cải thiện vận may rủi trong việc đạt được những lợi ích tối đa theo các điều kiện qui định trong các hợp đồng tái bảo hiểm của họ (như điều kiện về chia lãi, thục tục phí tái bảo hiểm theo thang luỹ tiến, thủ tục phí tái bảo hiểm theo lãi…) Bên cạnh đó, vận may rủi được chia sẻ giữa các bên là hoàn toàn khách quan, không gò ép bởi vậy tạo điều kiện quan hệ lâu dài giữa công ty nhượng và tái bảo hiểm
c Nhược điểm của hình thức tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn:
- Do tiết lộ thông tin nên các nhà tái bảo hiểm có thể biết được chiến lược cũng như mục tiêu kinh doanh, ý đồ của công ty nhượng Điều này tạo sự bất lợi trong kinh doanh
- Không đảm bảo thời gian và sự chắc chắn trong việc phân tán rủi ro bảo hiểm Do đó công ty nhượng có thể sẽ mất cơ hội tranh thủ bảo hiểm hoặc không có khả năng để nhận bảo hiểm cho rủi ro có giá trị lớn, hay ít nhất cũng làm cho công ty nhượng mất uy tín vì sự chậm trễ trả lời người được bảo hiểm
- Chi phí hành chính thủ tục giấy tờ tốn kém do phải thường xuyên đàm phán tái lập lại hợp đồng trước khi quyết định ký kết hợp đồng bảo hiểm gốc với khách hàng làm ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh
- Trong nhiều trường hợp hình thức tái bảo hiểm này chỉ được thực hiện với mức phí cao hơn mức phí gốc hoặc buộc phải giảm bớt thủ tục phí tái bảo hiểm Ngoài ra khi thị trường tái bảo hiểm thế giới cung cầu đã bão hoà hay khả năng tiếp nhận rủi ro của thị trường đã gần đạt tới mức tối đa, dày đặc…thì tái bảo hiểm theo hình thức này sẽ rất bị hạn chế
2.2 Tái bảo hiểm bắt buộc
Trang 11Theo hình thức này công ty nhượng và các nhà tái bảo hiểm bắt buộc phải thoả thuận với nhau từ trước là công ty nhượng buộc phải tái đi cho nhà tái bảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc với hạn mức số tiền bảo hiểm hoặc
số tiền bồi thường nhất định Ngược lại, nhà tái bảo hiểm cũng phải buộc mình chấp nhận toàn bộ những đơn vị rủi ro đó
Bước cuối cùng là thực hiện cam kết Trong bước này, công ty nhượng
có toàn quyền định phí bảo hiểm, nhà tái bảo hiểm không được can thiệp
Về nguyên tắc mọi điều khoản trong hợp đồng đều phải bắt buộc hai bên thực hiện Nếu có thay đổi thì thông thường đến năm nghiệp vụ sau đó hoặc đến một kỳ tái tục bảo hiểm mới thì mới thay đổi
b Ưu điểm của hình thức tái bảo hiểm bắt buộc:
- Bên công ty nhượng có toàn quyền định phí nên viêc kí kết hợp đồng giữa công ty với khách hàng hoàn toàn chủ động, nhanh chóng
- Vận may rủi chia sẻ giữa các bên là hoàn toàn mang tính khách quan vì trước khi đặt bút kí kết hợp đồng, hai bên đã thoả thuận rất kỹ lưỡng
- Thủ tục kí kết hợp đồng trong hình thức tái bảo hiểm này được tiến hành nhanh chóng, tiết kiệm được chi phí, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm
Trang 122.3 Tái bảo hiểm lựa chọn - bắt buộc (Tái bảo hiểm để ngỏ)
Theo hình thức này, công ty nhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả dịch vụ mình có, ngược lại nhà tái bảo hiểm buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng tái cho theo đúng luật pháp của bên công ty nhượng
a Thủ tục tiến hành:
Trước hết, công ty nhượng tính toán, rút kinh nghiệm từ những năm trước
để chọn ra những dịch vụ bảo hiểm bất lợi cho mình đem tái đi
Sau đó, thông báo cho các nhà tái bảo hiểm và đương nhiên họ phải chấp nhận và hợp đồng phải được kí kết
Nhà tái bảo hiểm có thể trao đổi lại với công ty nhượng một số vấn đề mang tính chất kỹ thuật như quản lý rủi ro, định phí…
3 Các phương thức tái bảo hiểm
3.1 Tái bảo hiểm theo tỷ lệ
Trang 13Tái bảo hiểm theo tỷ lệ là phương pháp tái bảo hiểm mà trong đó trách nhiệm của công ty nhượng và các nhà tái bảo hiểm đối với các đơn vị rủi ro được bảo hiểm sẽ phân bổ theo theo tỷ lệ giữa các bên tham gia so với số tiền bảo hiểm.
Đặc điểm của phương pháp tái này là đơn giản, dễ hiểu, dễ tính toán vì quĩ bảo hiểm và số tiền bồi thường đều được chia sẻ theo tỷ lệ mà các bên đã cam kết trên cơ sở số tiền bảo hiểm Ngoài ra tái bảo hiểm theo tỷ lệ rất phù hợp với các công ty bảo hiểm còn non trẻ, mới thành lập Tuy nhiên thủ tục phí hay hoa hồng đôi khi rất khó thống nhất giữa các bên tham gia hợp đồng Có hai phương pháp cơ bản là: tái bảo hiểm số thành ( phân ngạch) và tái bảo hiểm mức dôi (thặng dư vốn)
3.1.1 Tái bảo hiểm số thành:
Theo phương pháp này, công ty nhượng giữ lại cho mình một tỷ lệ nhất định so với số tiền bảo hiểm, phần còn lại đem tái đi Chính vì vậy, phí bảo hiểm
và số tiền bồi thường cũng được phân bổ giữa các bên theo tỷ lệ tương ứng
- Trong tái bảo hiểm số thành các bên tham gia hợp đồng cũng có thể đưa
ra một giới hạn nhất định Căn cứ vào giới hạn này buộc công ty nhượng phải tìm kiếm những bạn hàng mới
Trang 14các phương pháp khác Đặc biệt nhà tái bảo hiểm có điều kiện tham gia vào mọi đơn vị rủi ro Đồng thời công ty nhượng hoàn toàn yên tâm khi khách hàng tham gia bảo hiểm gốc chuyển giao rủi ro cho mình.
- Hoa hồng tái bảo hiểm cao nhất
c Nhược điểm:
- Vì tất cả các đơn vị rủi ro đều đem tái đi nên công ty nhượng không giữ lại cho mình những đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm mà khả năng tài chính của mình hoàn toàn cho phép Do đó ít nhiều ảnh hưởng đến lợi nhuận và doanh thu của công ty nhượng
- Mức độ biến thiên của số tiền bảo hiểm và số tiền bồi thường đôi khi công ty nhượng không lường trước được
d Trường hợp áp dụng: từ những ưu nhược điểm trên phương pháp tái bảo hiểm này thường được áp dụng trong những trường hợp sau:
- Khi công ty nhượng mới bắt đầu triển khai một nghiệp vụ mà họ chưa có kinh nghiệm, thiếu thông tin thống kê và khả năng phân tích tiến triển của loại nghiệp vụ đó
- Khi công ty nhượng có ý đồ thu xếp tái bảo hiểm dưới hình thức trao đổi các dịch vụ với nhau để tạo ra những mối quan hệ đầu tiên
- Đối với những loại nghiệp vụ bảo hiểm mà công ty nhượng gặp nhiều khó khăn trong phân định rủi ro và đơn vị rủi ro (đặc biệt là trong bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm kỹ thuật)
- Nhằm mục đích giảm nhẽ khả năng nguy hiểm cho công ty nhượng đối với những hợp đồng bảo hiểm cho rủi ro thiên tai
- Đối với những nghiệp vụ bảo hiểm mà phạm vi hoạt động và qui mô của tổn thất không chắc chắn mặc dù các nhà bảo hiểm đã giới hạn trách nhiệm của mình
- Thường được áp dụng trong các nhóm liên doanh giữa các công ty bảo hiểm với nhau hoặc dưới hình thức chuyển nhượng tái bảo hiểm
3.1.2 Tái bảo hiểm mức dôi
Trang 15Theo phương pháp này, công ty nhượng giữ lại cho mình một số tiền bảo hiểm nhất định, phần còn lại đem tái đi cho công ty khác Bởi vậy phí bảo hiểm
và số tiền bồi thường (nếu có) cũng được phân bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhiệm
a Đặc điểm:
- Không phải đơn vị rủi ro nào cũng phải đem tái đi, mà chỉ tái đi những đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm vượt quá mức giữ lại Và mức giữ lại được xác định dựa trên khả năng tài chính của công ty nhượng, xác suất rủi ro đối với nghiệp vụ này trong những năm trước đó, mức lãi suất thu được của công ty nhượng và tình hình kiểm soát rủi ro về nghiệp vụ đó
- Mức giữ lại tối đa trên mỗi đơn vị rủi ro thường là bằng nhau nên công
ty nhượng luôn luôn khống chế được hạn mức trách nhiệm của mình một cách chắc chắn
- Tuy nhiên trong điều kiện ngày nay, đối tượng tham gia bảo hiểm thường có số tiền rất lớn và rất khác nhau trên mỗi đơn vị rủi ro Bởi vậy nếu áp dụng phương pháp mức dôi thì số tiền còn dư thừa trên mỗi đơn vị rủi ro là không thể tránh khỏi Để xử lý vấn đề này nhìn chung các công ty nhượng trên thế giới thường có 3 cách: Thứ nhất có thể tiến hành đàm phán lại, nếu các nhà tái bảo hiểm chấp nhận chúng ta lại phân bổ tiếp lần hai, lần ba…cho đến hết Trường hợp các nhà tái bảo hiểm không đồng ý, số tiền bảo hiểm dư thừa sẽ quay về công ty nhượng chịu trách nhiệm toàn bộ Ngoài ra để an toàn hơn, công ty nhượng có thể mở một hợp đồng tạm thời (hợp đồng để ngỏ)
b Ưu điểm:
- Phương pháp này khá đơn giản và dễ hiểu
- Công ty nhượng thường phát huy tối đa khả năng tài chính của mình do
có thể giữ lại cho mình những đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm nằm trong khả năng tài chính cho phép
- Mặc dù là một trong những phương pháp tái bảo hiểm cổ điển nhưng lại rất phù hợp với tất cả loại hình công ty bảo hiểm từ những công ty còn non trẻ đến những công ty đã kinh doanh được nhiều năm
Trang 16c Nhược điểm:
- Nhìn chung chi phí quản lý tốn kém hơn so với phương pháp số thành
- Những tổn thất nhỏ phần lớn rơi vào công ty nhượng phải gánh vác
- Đối với những nghiệp vụ bảo hiểm mà sự biến thiên về số tiền bảo hiểm,
số tiền bồi thường quá lớn thì áp dụng phương pháp mức dôi sẽ có nhiều hạn chế rơi vào công ty nhượng
d Trường hợp áp dụng:
Thông thường phương pháp này thường được áp dụng đối với các nghiệp
vụ bảo hiểm hoả hoạn và rủi ro đặc biệt liên quan, bảo hiểm tai nạn thân thể và bảo hiểm nhân thọ…vì số tiền bồi thường, số tiền bảo hiểm biến thiên không quá lớn
Để hiểu hơn về sự khác biệt giữa hai phương pháp trên ta có thể xem qua
ví dụ sau: Giả sử có 5 nghiệp vụ bảo hiểm, công ty nhượng đảm nhận 5 đơn vị rủi ro và thu xếp tái bảo hiểm theo một trong hai phương pháp số thành và mức dôi với mức giữ lại:
TBH mức dôi: công ty nhượng giữ lại 500.000$ /1 đơn vị rủi ro
TBH số thành: công ty nhượng giữ lại 50% /1 đơn vị rủi ro
Phân bổ trách nhiệm cho các bên theo hai phương pháp trên là:
3.1.3 Tái bảo hiểm kết hợp số thành - mức dôi
Thực chất đây không phải là phương pháp tái bảo hiểm thuần tuý theo tỉ
lệ mà là sự kết hợp giữa hai phương pháp với mục đích là nhằm phân tán rủi ro nhanh hơn,giúp công ty nhượng dễ dàng kí kết hợp đồng hơn, phù hợp với nhu
Trang 17cầu thực tiễn của ngành bảo hiểm là đối tượng tham gia bảo hiểm có số tiền bảo hiểm ngày càng lớn và rất đa dạng, mức độ biến thiên của từng nghiệp vụ ngày càng tăng.
Xét về mặt kỹ thuật, phải phân bổ theo hợp đồng số thành trước sau đó mới phân bổ theo hợp đồng mức dôi Nếu số tiền bảo hiểm còn dư thừa, nhìn chung đều quay về công ty nhượng gánh vác toàn bộ trừ trường hợp công ty nhượng tìm được một đối tác mới tin cậy và kí kết với họ những hợp đồng tạm thời
Ví dụ có hợp đồng tái bảo hiểm kết hợp sau đây:
Hợp đồng 1: Hạn mức trách nhiệm 1 trUSD, mức giữ lại 50%
0 500.000 500.000 0 0 0 0 02.500.000 1.000.000 500.000 1.000.000 100.000 40.000 20.000 40.000 850.000 425.000 425.000 0 0 0 0 0 3.000.00
0 1.500.000 500.000 1.000.000 0 0 0 0
Ưu điểm của phương pháp tái bảo hiểm kết hợp số thành, mức dôi là giúp công ty nhượng đảm bảo khả năng gia tăng về nhận trách nhiệm bảo hiểm cho khách hàng một cách tự do mà không ảnh hưởng đến mức giữ lại của bản thân mình Bên cạnh đó cũng giúp công ty nhượng kinh doanh ổn định hơn, đặc biệt
là quan hệ trên thị trường tái bảo hiểm rộng lớn để từ đó học tập kinh nghiệm của họ
Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là chi phí hành chính tốn kém, phức tạp hơn so với những hợp đồng thuần tuý Hơn nữa, hoa hồng công
ty nhượng thu được từ hợp đồng mức dôi thường thấp hơn so với hợp đồng số
Trang 18thành trong dạng kết hợp này và so với hợp đồng mức dôi thuần tuý Ngoài ra phần đem tái bảo hiểm cho hợp đồng mức dôi bao giờ cũng phải có bảng thông báo cụ thể.
Trong thực tế phương pháp kết hợp này thường được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm như hoả hoạn, xây dựng lắp đặt, thân tàu, hàng hóa, bảo hiểm tai nạn và sức khoẻ
3.2 Tái bảo hiểm phi tỷ lệ
Khái niệm: Tái bảo hiểm phi tỷ lệ là phương pháp tái bảo hiểm mà trong đó
công ty nhượng ấn định một giới hạn bồi thường bằng một số tiền mà họ có thể
tự gánh chịu cho những tổn thất là hậu quả của những rủi ro được bảo hiểm, phần tổn thất vượt quá giới hạn đó được chuyển cho các nhà tái bảo hiểm gánh chịu
- Tái bảo hiểm phi tỷ lệ cũng có hai phương pháp cơ bản là tái bảo hiểm vượt mức bồi thường và tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường
3.2.1 Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường
Theo phương pháp này, công ty nhượng giữ lại cho mình một số tiền bồi thường nhất định, phần vượt quá đem tái đi cho các công ty khác Mối quan hệ giữa các công ty ở đây liên quan trực tiếp tới mức tự bồi thường của công ty
Trang 19nhượng của công ty nhượng và các mức giới hạn trách nhiệm của các nhà tái bảo hiểm Nếu số tiền tái đi quá nhiều, công ty nhượng phải quan hệ với nhiều đối tác cùng một lúc Khi đó các nhà tái bảo hiểm phải được sắp xếp theo trật tự các lớp rất nghiêm ngặt.
Trình tự thu xếp tái bảo hiểm vượt mức bồi thường: Công ty nhượng sau khi ký kết hợp đồng bảo hiểm gốc với người được bảo hiểm sẽ tìm kiếm nhà nhận tái phần trách nhiệm bồi thường vượt quá mức giữ lại của mình Nếu như
có nhiều người nhận tái tham dự hợp đồng, trách nhiệm của những nhà nhận tái cũng được xếp thành các lớp Các lớp chính là mức nhận của mỗi nhà tái bảo hiểm, tương tự như trong tái bảo hiểm mức dôi, trách nhiệm bồi thường của các nhà nhận tái bảo cũng được xếp theo thứ tự lần lượt Các nhà nhận tái của lớp sau chỉ bồi thường nếu thiệt hại phải bồi thường vẫn tồn tại khi người nhận lớp trước đã hoàn thành trách nhiệm của mình
Chính vì vậy đặc điểm cơ bản của phương pháp tái bảo hiểm vượt mức bồi thường là:
Thứ nhất, quan hệ giữa các bên phải theo một trật nhất định không được thay đổi và mức bồi thường cao nhất của mỗi bên là cố định
Thứ hai, mối quan hệ giữa công ty bảo hiểm gốc và các nhà nhận tái bảo hiểm theo phương pháp này chỉ thông qua số tiền bồi thường, không qua số tiền bảo hiểm
Thứ ba, phí tái bảo hiểm được tính toán trên cơ sở hạn mức trách nhiệm
mà mỗi bên đảm nhận, xác suất rủi ro liên quan đến từng bên, thời điểm kí kết hợp đồng và thời hạn của hợp đồng liên quan đến từng nghiệp vụ bảo hiểm
Thứ tư, công ty tái bảo hiểm thuộc lớp nào thì khi tổn thất xảy ra sẽ bồi thường theo lớp đó Vì vậy các khoản phí tạm giữ, các khoản bồi thường tạm giữ, trả ngay… hoàn toàn do sự thoả thuận giữa công ty nhượng với các lớp
Chính vì vậy, trong phương pháp tái bảo hiểm này, công ty nhượng ngay
từ đầu năm nghiệp vụ phải đặt cọc cho các nhà tái bảo hiểm một số tiền nhất định gọi là phí đặt cọc Về cơ bản phí đặt cọc được tính toán dựa vào những cơ
Trang 20sở nói trên Nếu năm đó tổn thất không xảy ra công ty nhượng cũng không có quyền đòi lại số phí đặt cọc này Ngược lại, nếu tổn thất xảy ra quá lớn, có thể hai bên phải tính toán thêm một mức phí điều chỉnh để đảm bảo hài hoà lợi ích giữa các bên Cũng theo phương pháp này, các nhà tái bảo hiểm có thể đưa ra giới hạn nhất định hoặc vô hạn Trong trường hợp này công ty nhượng phải ứng
xử như sau: trước hết phải tìm hiểu kỹ lưỡng khả năng tài chính của nhà tái bảo hiểm Ngoài ra cũng phải tìm hiểu mối quan hệ của nhà tái bảo hiểm này với các công ty bảo hiểm, các thị trường bảo hiểm khác Cuối cùng là xem xét tình hình bồi thường của công ty này liên quan đến nghiệp vụ tái bảo hiểm của một số năm trước đó cũng như tiến độ bồi thường của công ty này nói chung
Thứ năm, công ty nhượng khi đàm phán kí kết hợp đồng với các nhà tái bảo hiểm cần phải xét đến thế mạnh của mỗi nhà tái bảo hiểm theo từng nghiệp
vụ Vì thế mạnh của họ giúp công ty nhượng học hỏi kinh nghiệm về đánh giá
và tính toán số tiền đặt cọc, quản lý rủi ro và mối quan hệ trên thị trường bảo hiểm nói chung
Thứ sáu, phí tái bảo hiểm vượt mức bồi thường thường được chia làm hai phần: phí đặt cọc và phí điều chỉnh
Phí đặt cọc là phần phí cơ bản nhất, được xác định trên cơ sở là tổng số tiền tổn thất trong một số năm nào đó và tổng số phí thu được trong các năm đó của từng nghiệp vụ riêng biệt Bộ phận này được các công ty bảo hiểm gọi là phí thuần
Tỉ lệ phí thuần : Tổng số tổn thất trong một số năm
T=
Tổng số phí thu được
Phí điều chỉnh được xác định nhằm hài hoà lợi ích giữa các bên tham gia hợp đồng; tính đến độ an toàn của các bên một cách hợp lý; giúp các bên xây dựng phương án, kế hoạch về chi phí môi giới, chi phí quản lý vì những khoản này trong thực tế đôi khi rất lớn Kết hợp cả phí thuần và phí điều chỉnh các bên
sẽ xây dựng được phương án tính phí hoàn chỉnh
Trang 21Tuy nhiên trong thực tế để đơn giản hoá, người ta tính tỉ lệ biến động như sau:
Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường gồm:
a Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ:
Là một dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ trong đó mức tự bồi thường của công
ty nhượng được ấn định sao cho khi một số nghiệp vụ tổn thất xảy ra thì nhà tái bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường Loại này được áp dụng trên cơ
sở từng đơn vị rủi ro và cũng chia làm hai hình thức:
Đảm bảo nghiệp vụ không hạn mức: Hợp đồng được áp dụng cho từng đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc hay không hạn chế số vụ cũng như tổng số tiền bồi thường cho các tổn thất, chúng đều được nhà nhận tái bảo hiểm đảm bảo bằng hợp đồng tái bảo hiểm Tuy nhiên phạm vi áp dụng cho loại hình này tương đối hẹp vì nó không có giới hạn trên cho trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm và mức phí tái bảo hiểm phải rất cao
Đảm bảo nghiệp vụ có hạn mức từng sự cố: Là loại “đảm bảo nghiệp vụ”
bổ sung cho loại trên, trong đó quy định trách nhiệm tối đa cho nhà tái bảo hiểm trong trường hợp tổn thất nặng nề hay quá nhiều rủi ro xảy ra dẫn đến giá trị bồi thường lớn
Trang 22Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo nghiệp vụ thường được sử dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng hóa và bảo hiểm hàng tàu kết hợp.
b Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo thảm hoạ
Là dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ để bảo vệ cho công ty nhượng tránh được những trường hợp tổn thất quá mức bình thường đối với những sự cố nằm ngoài khả năng kiểm soát bảo hiểm thông thường Mục đích trước hết của loại đảm bảo này là bảo vệ đối với sự tích tụ hay kết gộp nhiều tổn thất xảy ra từ cùng một sự cố hay sự việc có tính chất thật khốc liệt
Điểm tính mức bồi thường mà xuất phát từ đó các nhà tái bảo hiểm chịu trách nhiệm có thể thay đổi tuỳ thuộc một phần vào thực lực tài chính về mức tự bồi thường của công ty nhượng, nhưng thông thường loại tái bảo hiểm này dùng
để bảo vệ trong trường hợp sự cố xảy ra có liên quan từ hai đơn vị rủi ro được bảo hiểm trở lên Trên thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm thế giới, dạng tái bảo hiểm này được sử dụng rất rộng rãi trong tất cả các loại nghiệp vụ bảo hiểm
Các tổn thất mang tính thảm hoạ có thể là rủi ro thiên tai như động đất, sóng thần, lũ lụt hoặc thiên tai của nhiều xe ô tô cùng một vụ hay hai tàu cùng được bảo hiểm đâm nhau Trong một số trường hợp đó là những tổn thất của một sự cố có liên quan đến nhiều loại nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau do cùng một công ty bảo hiểm đảm nhận
3.2.2 Tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường
Theo phương pháp này, nhà tái bảo hiểm chỉ có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp kết quả toàn bộ nghiệp vụ của công ty nhượng có tỷ lệ bồi thường vượt quá tỷ lệ ấn định trước Tỷ lệ ấn định trước về cơ bản do công ty nhượng tự ấn định Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp do hai bên tự thoả thuận trước Và thông thường tỷ lệ này được xác định trên cơ sở doanh thu phí hàng năm của công ty bảo hiểm gốc, tình hình tổn thất của loại hình nghiệp vụ được bảo vệ, hoa hồng và các chi phí khác
Trang 23Đối với hình thức này, việc phân chia trách nhiệm bồi thường giữa người nhận và nhượng tái được xác định trên một tỷ lệ nhất định giữa tổng số tiền bồi thường và tổng số phí gốc thực thu (tính cho cả năm nghiệp vụ) Trên cơ sở này, người nhượng sẽ chịu trách nhiệm bồi thường trong phạm vi một tỷ lệ bồi thường nhất định Nhà tái bảo hiểm cũng sẽ nhận trách nhiệm bồi thường theo tỷ
lệ tương tự nhiều hay ít phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa hai bên Nếu trong năm nghiệp vụ thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm xảy ra nhiều, tỷ lệ bồi thường trên phí bảo hiểm gốc lớn hơn tỷ lệ mà người người nhượng giữ lại cho mình thì nhà tái bảo hiểm sẽ phải chịu trách nhiệm
Mục đích của dạng tái bảo hiểm này là bảo vệ công ty nhượng trước những sự cố hoặc thảm hoạ xảy ra trong một thời gian ngắn nào đó bất luận do nguyên nhân gì Khoảng thời gian hai bên thoả thuận thường nhỏ hơn một năm, còn tỉ lệ bồi thường bằng tỷ lệ phần trăm giữa số tiền tổn thất phải bồi thường và
số phí bảo hiểm thu được hoặc cũng có thể biểu thị bằng một mức tiền ấn định nào đó Hoặc có một số trường hợp giới hạn trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm vừa bằng số tuyệt đối vừa bằng số tương đối
Sử dụng hình thức tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường, những nhà bảo hiểm gốc có thể giữ cho kết quả tài chính của năm nghiệp vụ được ổn định ở mức độ cần thiết Tuy nhiên, hạn chế của tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường là ở chỗ khi áp dụng hình thức này người nhận tái có thể phải gánh chịu toàn bộ sai sót của người bảo hiểm gốc khi đánh giá, chấp nhận, quản lý rủi ro và định phí bảo hiểm gốc
Phí tái bảo hiểm là một trong những yếu tố then chốt của hợp đồng tái bảo hiểm Nếu tính phí quá cao so với thực tế, công ty bảo hiểm gốc sẽ bị thiệt hại
về tài chính Ngược lại, nếu tính phí quá thấp sẽ khó thu xếp hợp đồng tái bảo hiểm Chính vì vậy mà khi tính phí tái bảo hiểm ở đây cần căn cứ vào tài liệu thống kê của một số năm trước đó (thường là năm năm) và cũng cần tính đến hệ
số an toàn Tuy nhiên do tính toán phức tạp hơn mà trong thực tế phương pháp này rất ít khi được áp dụng
Trang 24Có thể đưa ra một ví dụ sau đây về hai phương pháp tái bảo hiểm vượt mức bồi thường và tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường.
Công ty nhượng thu xếp một hợp đồng tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu như sau:
- 60% TBH số thành với mức nhận bảo hiểm gốc tối đa là 41tr USD/1 đv RR
- thu xếp một hợp đồng TBH vượt mức bồi thường, đảm bảo thảm hoạ chung cho toàn bộ nghiệp vụ với hạn mức trách nhiệm là 10 tr USD vượt quá 3 tr USD cho mỗi sự cố với mức phí TBH bằng 5% so với phí bảo hiểm gốc
- để bảo vệ cho mình công ty nhượng quyết định kí một hợp đồng TBH vượt tỷ
lệ bồi thường trong trường hợp tỷ lệ bồi thường vượt quá 100% và mức bảo vệ tối đa là 50%, vượt quá 100% bồi thường tổn thất của công ty nhượng
- tỷ lệ phí bảo hiểm gốc là 2%
Giả sử trong năm có 5 đơn vị rủi ro gặp tổn thất thì việc phân bổ trách nhiệm và trách nhiệm bồi thường cho các bên có liên quan sẽ được tiến hành như sau:
Cty nhượng TBH ST
Cty nhượng
TBH VMBT
TBH ST
Xác định số tiền bồi thường cho hợp đồng số thành trước:
Đơn vị rủi ro 1: 24,6 * 0.5/45 = 0,273 tr USD
Tương tự đối với đơn vị rủi ro 2,3,4,5
Số tiền bồi thường của công ty nhượng: tính tương tự như số thành Riêng đối với đơn vị rủi ro 2, do số tiền bồi thường của công ty nhượng (khi chưa có TBH vượt mức bồi thường) là 40 – 16,4 = 23,6 tr USD > 3 tr USD nên nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường sẽ phải gánh chịu và tối đa bằng 10 tr USD
Trang 25Vậy công ty nhượng bồi thường cho đơn vị rủi ro 2 là 23.6 – 10 = 13,6 tr USD
Tổng phí = (45 + 60 +29 +10 + 35)* 0,02 = 3,58 tr USD
trong đó: của nhà tái bảo hiểm số thành là 1,872 tr USD
của công ty nhượng là 1,708 tr USD
Phí đặt cho nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường là 1,708 * 0.05 = 0.0854 tr $Phí còn lại của công ty nhượng là 1,708 – 0.0854 = 1,6226 tr USD
Tổng số tiền bồi thường của công ty nhượng là 16,627 tr USD
Tỉ lệ bồi thường của công ty nhượng là 16,627 * 100/106226 = 1024,71% > 100% nên nhà tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường cũng phải gánh vác cho công
ty nhượng là 50 * 16,627/1024,71 = 0,8113 tr USD
Số tiền bồi thường của: nhà tái bảo hiểm số thành là 20,873 tr USD
nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường là 10 tr USD
công ty nhượng là 16,627 – 0,8113 = 15,8157tr USD
3.2.3 Tái bảo hiểm kết hợp:
Có một điều không thể phủ nhận rằng thị trường tái bảo hiểm đang ngày một phát triển hơn trước rất nhiều Các công ty nhượng cũng như những công ty tái bảo hiểm không chỉ dừng lại ở một phương pháp tái bảo hiểm thuần tuý là số thành hay vượt mức bồi thường…Để đảm bảo kinh doanh an toàn trong điều kiện tổn thất diễn biến ngày một thất thường và đối tượng tham gia bảo hiểm có giá trị ngày càng cao…các công ty bảo hiểm đã sử dụng các phương thức tái bảo hiểm kết hợp nhằm đem lại hiệu quả cao hơn và an toàn hơn
a Tái bảo hiểm kết hợp số thành - vượt mức bồi thường
Theo phương pháp này nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường bảo vệ cho công ty nhượng hoặc công ty tái bảo hiểm số thành Việc phân chia trách nhiệm giữa các bên cũng được phân bổ theo tỷ lệ đảm nhận mỗi bên trong hợp đồng theo phương pháp số thành Sau đó nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường sẽ chịu trách nhiệm trong hạn mức trách nhiệm của họ đối với công ty mà họ bảo
vệ Nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường bảo vệ cho công ty nào thì đầu năm công ty đó phải đặt cọc cho nó Nếu năm đó tổn thất không xảy ra thì công ty đó
Trang 26cũng được đòi lại phí đặt cọc này Nó là lãi của tái bảo hiểm vượt mức bồi thường.
Ví dụ: Có hợp đồng tái bảo hiểm kết hợp số thành - mức dôi như sau:
Hợp đồng 1: tái bảo hiểm số thành với mức giữ lại 10% , tái đi 90%
Hợp đồng 2: tái bảo hiểm vượt mức bồi thường bảo vệ cho công ty nhận tái bảo hiểm số thành với hạn mức trách nhiệm là 4,5 tr USD vượt quá 1 tr USD
Giả sử trong năm nghiệp vụ có 3 đơn vị rủi ro gặp tổn thất, việc phân bổ trách nhiệm và trách nhiệm bồi thường giữa các bên sẽ được tiến hành như sau:
Đơn vị : 1000 USD
RR STB
H
HĐ ST STBT TNBT Cty
nhượng
TBH ST
Cty nhượng
TBH ST
TBH VMBT
Đối với đơn vị rủi ro 3:
Số tiền bồi thường của công ty nhượng là
Đối với rủi ro 1 và 2 cũng tương tự như trên
b Tái bảo hiểm kết hợp mức dôi - vượt mức bồi thường
Theo phương pháp này phải tiến hành phân bổ số tiền bảo hiểm cho hợp đồng mức dôi Khi tổn thất xảy ra, tái bảo hiểm vượt mức bồi thường sẽ bảo vệ cho công ty nhượng hoặc công ty tái bảo hiểm mức dôi trong hạn mức trách nhiệm của họ Nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường bảo vệ cho công ty nào thì đầu năm công ty đó phải đặt cọc cho họ
Trang 27Ví dụ: Có hợp đồng tái bảo hiểm kết hợp mức dôi - vượt mức bồi thường sau:
Hợp đồng 1: tái bảo hiểm mức dôi với mức giữ lại của công ty nhượng là 500.000 USD/ đvị RR, mức dôi là 800.000 USD
Hợp đồng 2: tái bảo hiểm vượt mức bồi thường bảo vệ cho công ty nhượng với hạn mức trách nhiệm 300.000 USD vượt quá 100.000 USD
Trong năm nghiệp vụ có 3 đơn vị rủi ro gặp tổn thất, phân bổ trách nhiệm
và trách nhiệm bồi thường sẽ được tiến hành như sau:
Đơn vị: 1.000 USD
Cty nhượng
TBH MD
Cty nhượng
TBH VMBT
TBH MD
Đối với đơn vị rủi ro 1:
Số tiền bồi thường của nhà tái bảo hiểm mức dôi là 800* 600/1.500 = 320 nghìn USD
Số tiền bồi thường của công ty nhượng là 600 – 320 = 280 nghìn USD >
100 nghìn USD nên nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường sẽ gánh vác cho công ty nhượng là 280 – 100 = 180 nghìn USD Do đó mà công ty nhượng cuối cùng chỉ còn phải bồi thường số tiền là 100 nghìn USD
Đối với đơn vị rủi ro 2: phân bổ trách nhiệm bồi thường tương tự như trên
Đối với đơn vị rủi ro 3: tương tự như cách tính trên thì:
Số tiền bồi thường của nhà tái bảo hiểm mức dôi là 200 nghìn USD
Số tiền bồi thường của công ty nhượng là 500 nghìn USD > 100 nghìn USD Do đó mà nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường sẽ phải gánh vác cho công ty nhượng nhưng chỉ tối đa bằng với hạn mức trách nhiệm là 300 nghìn USD Số còn lại là 200 nghìn USD sẽ do công ty nhượng gánh vác
4 Hợp đồng tái bảo hiểm
Khái niệm: Hợp đồng tái bảo hiểm là thoả thuận được kí kết giữa công ty
nhượng và nhà tái bảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm mà công ty
Trang 28nhượng phải gánh chịu trong hợp đồng khi sự kiện bảo hiểm xảy ra với điều kiện công ty nhượng phải chuyển giao một phần phí bảo hiểm tương ứng với trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm.
4.1 Các loại hợp đồng tái bảo hiểm
4.1.1 Hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời
Nét đặc trưng của tái bảo hiểm tạm thời là không có bất kỳ một sự bắt buộc nào trong việc nhượng và nhận tái Cả hai bên đều có quyền tự do lựa chọn
“nhận hay không” và “nhượng hay không”
Tái bảo hiểm tạm thời ra đời sớm và được sử dụng rộng rãi trong những trường hợp như có phát sinh các dịch vụ lớn, vượt khỏi giới hạn trách nhiệm bởi hợp đồng cố định; nó cho phép công ty bảo hiểm gốc nhận những dịch vụ nằm ngoài phạm vi khai thác thông thường theo yêu cầu đặc biệt của khách hàng hoặc khi nhà bảo hiểm gốc không hiểu biết đầy đủ về một loại rủi ro nào đó và phải yêu cầu nhà tái bảo hiểm giúp đỡ
Về mặt thủ tục, đối với mỗi dịch vụ muốn tái đi đều phải có thương lượng Công ty bảo hiểm gốc cung cấp tất cả những thông tin có liên quan đến dịch vụ tái thông qua trao đổi hoặc bản đề nghị tái bảo hiểm Người nhận tái có điều kiện xem xét từng rủi ro trước khi quyết định
4.1.2 Hợp đồng tái bảo hiểm cố định
Nét đặc trưng của loại hợp đồng này là việc nhượng và nhận có tính chất bắt buộc dựa trên loại nghiệp vụ quy định Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng tất cả những dịch vụ gốc phát sinh phù hợp với những thoả thuận trong hợp đồng tái đều được tự động chuyển vào hợp đồng, không cần có thương lượng gì thêm
Quan hệ tái bảo hiểm diễn ra theo nguyên tắc tin tưởng tuyệt đối Khi đó nhà nhận tái phải hoàn toàn tin tưởng vào mọi quyết định của công ty nhượng trong việc chấp nhận rủi ro, định phí bảo hiểm
Điểm hạn chế của hợp đồng cố định là với những thoả thuận cố định thì mọi sự thay đổi mong muốn về mức giữ lại, giới hạn trách nhiệm…đều cần có
Trang 29sự chấp thuận từ phía bên kia Hơn nữa, nhà nhận tái đôi khi cũng muốn hạn chế phạm vi hợp đồng cố định khi phải chấp nhận toàn bộ các dịch vụ có liên quan đến nghiệp vụ tái Do đó vẫn có những dịch vụ nằm ngoài phạm vi bảo hiểm của hợp đồng và những quy định cố định trong hợp đồng không phải lúc nào cũng là khuôn mẫu hợp lý cho mọi tình huống phát sinh trong thực tế kinh doanh.
4.1.3 Hợp đồng tái bảo hiểm mở
Nét đặc trưng của hợp đồng này là việc nhượng rủi ro của người nhượng
là tự nguyện, trong khi việc chấp nhận của người nhận tái lại có tính chất bắt buộc Nói cách khác, người nhượng có quyền lựa chọn rủi ro và sắp xếp đưa vào các hợp đồng tái bảo hiểm mở đã kí kết, ngược lại người nhận tái buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà người nhượng đưa vào hợp đồng
Hợp đồng này được sử dụng khi người nhượng muổn giảm bớt những bất lợi của một hợp đồng cố định Còn phía người nhận, dù có điểm bất lợi nhưng
có thể vì mối quan hệ lâu dài, hoặc vì lý do cạnh tranh nên vẫn chấp nhận loại hợp đồng này
4.2 Nội dung cơ bản của hợp đồng
4.2.1 Hoa hồng tái bảo hiểm - thủ tục phí tái bảo hiểm
a Khái niệm và đặc điểm
Hoa hồng tái bảo hiểm là khoản tiền mà nhà tái bảo hiểm phải trả cho công ty nhượng khi nhà tái bảo hiểm tham gia nhận hợp đồng tái bảo hiểm với công ty nhượng Số tiền này bằng tỷ lệ phần trăm của số phí tái bảo hiểm
Hoa hồng tái bảo hiểm thường xuất hiện trong các dạng tái bảo hiểm theo
tỷ lệ, rất hiếm khi xuất hiện trong các dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ Số tiền hoa hồng mà các nhà tái bảo hiểm trả sẽ giúp cho công ty nhượng điều hành chi phí bảo hiểm gốc Nên nó rất linh hoạt và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tỷ lệ bồi thường của nghiệp vụ đem tái, mức độ lãi của các nhà tái bảo hiểm, cung và cầu trên thị trường tái bảo hiểm cũng như bản thân thị trường tái bảo hiểm của từng nước Ngoài ra kết quả thực tế của năm tài chính đối với công ty nhượng cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ hoa hồng Cụ thể, nếu kết quả thực tế xấu hơn dự
Trang 30kiến công ty nhượng vẫn mong muốn có lãi nhờ hoa hồng Khi đó kết quả của các nhà tái bảo hiểm là chắc chắn rất xấu và ngược lại.
b Các loại hoa hồng tái bảo hiểm
Thực tế hiện nay trên thế giới người ta đang áp dụng các loại hoa hồng là hoa hồng cố định, hoa hồng theo thang luỹ tiến và hoa hồng theo lãi Tất cả các loại hoa hồng này đều được áp dụng linh hoạt ở tất cả các thị trường Tuy nhiên
áp dụng loại nào vào lúc nào, người ta thường căn cứ vào các yếu tố như phương thức tái bảo hiểm, phí tái bảo hiểm trên cơ sở phí bảo hiểm gốc và xem
đó là phí toàn phần hay có khấu trừ, trong phí tái bảo hiểm gốc có những qui định đặc biệt hay không, chi phí hành chính quản lý của công ty nhượng cao hay thấp, thống kê kết quả bồi thường của các năm nghiệp vụ và kết quả đầu tư phí nhàn rỗi
Hoa hồng cố định: là một khoản tiền mà nhà tái bảo hiểm phải trả cho công ty nhượng, được tính toán bằng tỷ lệ phần trăm cố định so với phí tái bảo hiểm
Hoa hồng theo thang luỹ tiến: Cơ sở để xác định loại hoa hồng này là lấy hoa hồng cố định làm chuẩn, dựa vào mức tăng giảm tỷ lệ bồi thường trong từng nghiệp vụ, sau đó xây dựng một thang luỹ tiến và thang này được khống chế ở mức tối đa, tối thiểu Theo đó, nếu tỷ lệ bồi thường càng thấp bao nhiêu thì tỷ lệ hoa hồng càng tăng lên bấy nhiêu và ngược lại
Hoa hồng theo lãi: đây là loại hoa hồng được tính toán phụ thêm cho hoa hồng cố định Theo phương pháp này, nhà tái bảo hiểm phải trả thêm cho công
ty nhượng một khoản lợi nhuận nhất định được tính bằng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận thực tế mà nhà tái bảo hiểm được hưởng khi kết quả của hợp đồng tái bảo hiểm có lãi
4.2.2 Phí tạm giữ
Phí tạm giữ là một khoản dự phòng riêng giúp cho công ty nhượng có thuận lợi trong việc giải quyết bồi thường cho nghiệp vụ bảo hiểm gốc trước khi quyết toán đòi bồi thường của nhà tái bảo hiểm
Trang 31Đây chính là một trong những điều kiện theo quy định của một số nước buộc công ty nhượng phải giữ lại một phần phí để dự trữ Tuy nhiên mức phí tạm giữ là bao nhiêu và thời gian tạm giữ là bao lâu còn tuỳ thuộc vào luật lệ của từng nước Thông thường khoản dự phòng này được tính bằng một tỷ lệ phần trăm cố định của phí tái bảo hiểm toàn phần ( khoảng 30 – 40 %)
Thời gian giữ lại thường được tính đến khi hợp đồng bảo hiểm kết thúc Tuy nhiên cũng có những trường hợp quy định cho đến hết năm nghiệp vụ bảo hiểm
Xác định phí tạm giữ cần xem xét đến mức độ rủi ro của nghiệp vụ bảo hiểm đó, mức độ phức tạp của nghiệp vụ…và thường được áp dụng với những nhà tái bảo hiểm có quan hệ lần đầu với công ty nhượng
4.2.3 Bồi thường tạm giữ
Đây là khoản tiền mà công ty nhượng tính toán trên cơ sở những vụ tổn thất đã xảy ra nhưng chưa được giải quyết trong năm Khoản tiền này công ty nhượng sẽ giữ lại mà không thanh toán cho người tham gia bảo hiểm vào thời điểm quyết toán năm tài chính Mục đích là để thanh toán cho các vụ tổn thất trong các kỳ tiếp theo
Phần bồi thường tạm giữ cũng phụ thuộc vào 3 yếu tố là khả năng và tiến
độ bồi thường của các nhà tái bảo hiểm cho công ty nhượng; quy mô mức độ tổn thất cũng như những dự báo tổn thất cho thời gian còn lại của chu kỳ sau; khả năng tài chính và thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của người tham gia bảo hiểm
4.2.4 Bồi thường trả ngay
Đây là khoản tiền bồi thường mà nhà tái bảo hiểm phải thanh toán ngay cho công ty nhượng Khoản tiền này không dùng để đối trừ trong các kỳ thanh toán mà phải thanh toán ngay Thông thường thời gian thanh toán trong vòng 15 ngày từ khi nhận được thông báo của công ty nhượng
Trang 32Khoản tiền này hoàn toàn phụ thuộc vào các qui định của nội bộ giữa các công ty bảo hiểm chứ không lệ thuộc vào pháp luật Tuy nhiên, thông thường các công ty nhượng qui định từ 50 – 70 % số tiền bồi thường.
II NĂNG LỰC NHẬN TÁI BẢO HIỂM CỦA DNBH
1.Năng lực nhận tái
Một doanh nghiệp bảo hiểm muốn thu hút các công ty nhượng đến với
mình thì năng lực nhận tái là điều kiện quan trọng nhất Và có thể hiểu năng lực nhận tái là khả năng của một DNBH có thể chấp nhận các đơn vị rủi ro từ phía công ty nhượng, tối ưu hoá mức giữ lại trên cơ sở đánh giá rủi ro và tiềm lực của công ty trên thị trường
Trước khi làm thủ tục nhượng tái bảo hiểm, các công ty này đều phải tiến hành một quá trình tìm hiểu kỹ lưỡng về năng lực nhận tái của từng công ty tái trên thị trường, xem các công ty này có khả năng thanh toán bồi thường khi hợp đồng bảo hiểm hay hợp đồng nhận tái bảo hiểm gặp rủi ro gây tổn thất Đây là điều đương nhiên cần thiết đối với bên nhượng đặc biệt khi họ là công ty bảo hiểm gốc Vì ngay cả khi các công ty nhận tái bảo hiểm không thực hiện nghĩa
vụ của mình đối với công ty bảo hiểm gốc vì một lý do nào đó, công ty bảo hiểm gốc vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với người được bảo hiểm, nếu không sẽ ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Vậy đâu là những tiêu chí chính để đánh giá năng lực nhận tái của một doanh nghiệp bảo hiểm được các công ty nhượng lựa chọn?
1.1 Khả năng tài chính
Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác trên thị trường, để thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp bảo hiểm đều phải có một số vốn nhất định Đảm bảo đủ vốn là vấn đề quan trọng để duy trì khả năng của doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện cam kết với bên mua bảo hiểm và bên nhượng tái bảo hiểm Khả năng tài chính của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng đều được nhìn nhận qua chỉ tiêu về vốn Hai nguồn
Trang 33vốn chủ yếu đối với hoạt động của một doanh nghiệp bảo hiểm là nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay.
cổ đông; đối với doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là do công ty mẹ ở nước ngoài chuyển vào để thành lập công ty; đối với doanh nghiệp liên doanh là phần đóng góp của các đối tác tham gia thành lập Trong quá hoạt động khi cần tăng vốn, tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà có các phương thức tăng vốn khác nhau, như doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước cấp bổ sung, công ty cổ phần
có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn…
Đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, khi thành lập doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu về vốn pháp định quy định tại Nghị định 45/NĐ/CP – 2007 như sau: Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là 300
tỷ VNĐ, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là 600 tỷ VNĐ
Tuy nhiên để có khả năng tài chính mạnh, từ đó mở rộng kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm thường có vốn lớn hơn rất nhiều so với vốn pháp định
b Nguồn vốn vay
Khác với các doanh nghiệp nói chung, nguồn vốn vay chủ yếu là nguồn vay tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại hoặc phát hành trái phiếu công ty Nguồn vốn vay của doanh nghiệp bảo hiểm gồm các khoản vay ngắn hạn và dài hạn, các khoản phải trả về hoạt động kinh doanh bảo hiểm như chi bồi thường, chi hoa hồng, chi giám định…đặc biệt doanh nghiệp bảo hiểm có nguốn vốn vay
là các quỹ dự phòng nghiệp vụ Do đặc thù của hoạt động kinh doanh, các
Trang 34DNBH thường không sử dụng vốn vay ngân hàng như các doanh nghiệp khác bởi vì có “nguồn vốn nhàn rỗi” từ các quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và doanh nghiệp được dùng để kinh doanh sinh lời Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm.
Các doanh nghiệp luôn muốn chiếm dụng vốn của người khác dưới hình thức nợ phải trả để tăng vốn kinh doanh của mình Tuy nhiên do các khoản phải trả lớn nhất của các DNBH là trả về kinh doanh bảo hiểm nên các DNBH không thể tìm cách chiếm dụng nguồn vốn này, họ phải có trách nhiệm giải quyết bồi thường hay chi trả đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời cho người được bảo hiểm khi
có sự kiện bảo hiểm xảy ra
Ngoài chỉ tiêu về vốn, tỷ lệ phí giữ lại cũng thể hiện khả năng tài chính của DNBH
Tổng phí bảo hiểm – phí nhượng TBH
Tỷ lệ phí giữ lại =
Tổng phí bảo hiểm
Riêng đối với doanh nghiệp tái bảo hiểm, tổng phí bảo hiểm sẽ là tổng phí nhận tái bảo hiểm Tỷ lệ này càng lớn thể hiện khả năng tài chính của DNBH càng cao và ngược lại tỷ lệ này càng nhỏ thể hiện khả năng tài chính của DNBH này càng thấp
1.2 Khả năng thanh toán
Một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự an toàn của DNBH là khả năng thanh toán Một DNBH được đánh giá là có năng lực nhận tái khi luôn tiến hành bồi thường đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời đối với dịch vụ bảo hiểm gốc cũng như đối với các hợp đồng nhận tái bảo hiểm mỗi khi có sự cố Để làm được điều
đó, DNBH phải luôn duy trì khả năng thanh toán, là một chỉ tiêu bắt buộc phải báo cáo định kỳ với các cơ quan quản lý nhà nước DNBH được coi là đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và có biên khả năng thanh toán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu và phải
Trang 35luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm là phần chênh lệch giữa giá trị tài sản có và các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp bảo hiểm
Biên khả năng thanh toán tối thiểu được quy định tuỳ thuộc vào điều kiện của từng nước cụ thể Ở Việt Nam hiện nay, biên khả năng thanh toán tối thiểu được quy định đối với DNBH phi nhân thọ bằng 20% tổng phí bảo hiểm thực giữ lại tại thời điểm xác định biên khả năng thanh toán
Ngoài ra còn có hai chỉ tiêu khác về khả năng thanh toán là:
Tổng tài sản lưu động - Tồn kho
Tỷ số thanh toán nhanh =
Tổng nợ ngắn hạn
Tỷ số này cho biết khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiêp, được tính toán dựa trên các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để đáp ứng yêu cầu thanh toán ngay
Để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong kinh doanh nhất là đảm bảo khả năng thanh toán, DNBH phải có cơ cấu vốn đầu tư hợp lý để đáp ứng yêu cầu về tiền mặt trong quá trình bồi thường hoặc chi trả Các DNBH bị quản lý và giám sát chặt chẽ khả năng thanh toán để đáp ứng các cam kết đối với bên mua bảo hiểm
1.3 Quan hệ hợp tác kinh doanh trên thị trường
Một DNBH có mối quan hệ tốt với các doanh nghiệp khác trên thị trường đặc biệt là các công ty bảo hiểm hàng đầu trong việc trao đổi dịch vụ nhận và
Trang 36nhượng tái bảo hiểm thì chứng tỏ rằng đây là một doanh nghiệp có uy tín cao, và
có thể đặt niềm tin vào họ khi chuyển nhượng tái bảo hiểm Bởi vì, khi chuyển nhượng tái bảo hiểm cho công ty tái, công ty nhượng luôn tin rằng đằng sau họ còn là những nhà tái bảo hiểm khác có năng lực tài chính cao trên thị trường, nên việc bồi thường khi tổn thất xảy ra là hoàn toàn không đáng lo ngại Mặt khác, việc nhận và nhượng tái bảo hiểm đôi khi là một hình thức trao đổi dịch vụ giữa các công ty bảo hiểm Bởi vậy, khi công ty nhượng tiến hành tái bảo hiểm cho công ty nhận và có mối quan hệ làm ăn tốt thì khả năng công ty đã nhận tái lúc trước sẽ lại trở thành công ty nhượng, và nhượng lại cho họ những hợp đồng béo bở mà họ khai thác được từ năng lực bản thân cũng như từ các mối quan hệ kinh doanh mà có Như vậy có thể thấy được việc tạo lập các mối quan hệ kinh doanh tốt cũng như không ngừng mở rộng hợp tác với các đối tác chiến lược trên thị trường cả trong và ngoài nước là hết sức quan trọng trong việc thu hút doanh thu phí nhận tái từ các nhà nhượng tái bảo hiểm
1.4 Trình độ chuyên môn của cán bộ tái bảo hiểm.
Có thể nói yêu cầu đối với một cán bộ hoạt động trong lĩnh vực tài bảo hiểm là khá cao hơn so với một cán bộ bảo hiểm thông thường Bởi ngoài những kiến thức cũng như kinh nghiệm về tái bảo hiểm trong việc lựa chọn hình thức, phương pháp tái bảo hiểm, cấu trúc mức giữ lại hợp lý, tỷ lệ hoa hồng nhận và nhượng tái…những người này cũng cần có những hiểu biết về bảo hiểm gốc trong việc đánh giá rủi ro, quản trị rủi ro, đề phòng và hạn chế tổn thất…để từ
đó có những đóng góp với công ty nhượng về kiểm soát rủi ro Mặt khác, tái bảo hiểm là nghiệp vụ mang tính chất quốc tế, nên với những am hiểu về thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm trong nước thôi là chưa đủ, họ còn luôn phải cập nhật những diễn biến về doanh thu cũng như tình hình tổn thất trên thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế
Chính vì vậy, một DNBH có một đội ngũ cán bộ tái bảo hiêm dày dặn kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao sẽ luôn được ưu tiên trong danh sách các công ty nhận tái dịch vụ bảo hiểm của các công ty nhượng
Trang 372 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực nhận tái bảo hiểm của DNBH
Cùng với doanh thu từ hoạt động tài chính như lãi đầu từ chứng khoán, cho vay thế chấp, góp vốn liên doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm là một trong hai nguồn thu chính góp phần vào tổng doanh thu của DNBH Đối với DNBH phi nhân thọ, ngoài thu phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc (phí bảo hiểm gốc…) còn có thu từ hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm (phí nhận tái bảo hiểm, hoa hồng nhượng tái bảo hiểm) Như vậy doanh thu từ phí nhận tái bảo hiểm có một vị trí đáng kể trong tổng doanh thu của một công ty bảo hiểm và việc tăng nguồn thu này sẽ giúp cải thiện tích cực tổng doanh thu Từ đó công ty
sẽ có điều kiện tăng khả năng thanh toán bồi thường cho khách hàng, chi cho hoạt động tài chính cũng như chi quản lý hoạt động kinh doanh…giúp nâng cao
vị thế của công ty trên thị trường Việc tăng doanh thu phí nhận tái bảo hiểm lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một công ty chuyên tái khi mà hoạt động chính của họ là kinh doanh nhận và nhượng tái bảo hiểm
Mặt khác khi thị trường bảo hiểm ngày càng trở nên sôi động, các DNBH
sẽ cạnh tranh gay gắt với nhau trong việc giành giật thị trường, nâng cao thị phần Và biện pháp thường hay được sử dụng nhiều nhất là giảm phí bảo hiểm Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến doanh thu phí bảo hiểm gốc cũng như doanh thu phí nhận tái bảo hiểm của các công ty tái bảo hiểm Chính vì vậy, nâng cao năng lực nhận tái từ các doanh nghiệp, các thị trường bảo hiểm sẽ giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực trên đến tổng doanh thu của một DNBH
Ngoài ra, khi cạnh tranh hội nhập ngày càng diễn ra một cách sâu rộng, các DNBH sẽ đều có xu hướng tăng vốn chủ sở hữu của mình Từ cơ sở đó sẽ tăng mức giữ lại, giảm mức nhượng tái bảo hiểm Điều này sẽ có tác động làm giảm doanh thu phí nhận tái của bên nhận tái bảo hiểm Chính vì vậy nâng cao năng lực nhận tái là một yêu cầu cấp thiết để đối phó với tình trạng trên của bên nhận tái
Cuối cùng nâng cao năng lực nhận tái để ngăn chặn dòng ngoại tệ lớn hàng năm chảy ra nước ngoài, đặc biệt đối với thị trường bảo hiểm còn non trẻ
Trang 38Bởi thực tế cho thấy ở các thị trường này, lượng dịch vụ giữ lại trong nước là rất khiêm tốn, nếu như không nói còn quá nhỏ trong khi đó phần lớn dịch vụ khai thác được lại được chuyển ra nước ngoài Nâng cao năng lực nhận tái của các DNBH sẽ cùng nhau góp phần nâng cao mức giữ lại trong nước, hạn chế dịch vụ chuyển nhượng ra nước ngoài
3 Các giải pháp nâng cao năng lực nhận tái bảo hiểm của DNBH
3.1 Huy động vốn, nâng cao chất lượng hoạt động đầu tư
Để tăng cường khả năng tài chính của DNBH thì bên cạnh công tác quản
lý sử dụng vốn có hiệu quả thì công tác huy động vốn có một vai trò hết sức quan trọng Huy động vốn có thể được tiến hành bằng nhiều cách như phát hành
cổ phiếu, trái phiếu, niêm yết trên thị trường chứng khoán…Ngoài ra ở các nước trên thế giới hiện nay, xu thế sáp nhập các công ty bảo hiểm thường xuyên xảy
ra để tăng vốn, tăng khả năng cạnh tranh, tạo niềm tin cho bên mua bảo hiểm
Ngoài ra do các DNBH luôn có trong tay một lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn phải đem đầu tư cho nên nguồn thu từ hoạt động tài chính là rất quan trọng Đa dạng hoá danh mục đầu tư phải đi đôi với nguyên tắc an toàn, hiệu quả
vì đây là tiền đóng góp của khách hàng dùng để chi trả bồi thường bảo hiểm Làm tốt công tác này sẽ giúp tăng vốn cho công ty vì gần như toàn bộ chi phí hoạt động và lợi nhuận là từ nguồn thu này Trên cơ sở đó sẽ góp phần nâng cao năng lực nhận tái của một DNBH
3.2 Tăng cường quan hệ với các DNBH trong và ngoài nước.
Mở rộng quan hệ hợp tác của DNBH trên thị trường gần như là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực nhận tái Bởi khi đó sẽ giúp cho DNBH đa dạng hoá được danh mục nhận tái bảo hiểm, giúp phân tán rủi ro tốt hơn giữa các dịch vụ trong công ty, giữa các doanh nghiệp trên cùng một thị trường và hơn nữa là giữa các thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm trên thế giới
Tăng cường quan hệ hợp tác không chỉ giúp các doanh nghiệp nhận tái tăng doanh thu từ hoạt động nhận tái mà còn giúp nâng cao hình ảnh, uy tín, vị thế của công ty trên thị trường cũng như trong mắt của nhà nhượng tái bảo hiểm
Trang 39Vì tái bảo hiểm mang tính chất quốc tế mà các công ty bảo hiểm không chỉ quan
hệ với các công ty trong nước mà còn phải mở rộng hợp tác với các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm trên thế giới, đặc biệt là các nghiệp đoàn hay các nhà bảo hiểm, tái bảo hiểm hàng đầu khu vực và thế giới
3.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tái bảo hiểm
Thường xuyên mở các khoá đào tạo, tập huấn về nghiệp vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm Ngoài hiểu biết về tái bảo hiểm, cần am hiểu cặn kẽ về bảo hiểm gốc đặc biệt là công tác đánh giá rủi ro, đề phòng và hạn chế tổn thất để tư vấn, hỗ trợ nhà bảo hiểm gốc quản lý tốt rủi ro Nắm bắt kịp thời những thông tin , tình hình tổn thất diễn biến trên thị trường bảo hiểm trong nước cũng như quốc tế để kịp thời đưa ra những quyết sách cho phù hợp, an toàn, mang lại hiệu quả cao
Đó là quyết định có hay không nhận tái, hoa hồng nhận tái, cơ cấu mức giữ lại/ tái đi, hoa hồng nhượng…Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình quản lý, trau dồi kiến thức về ngoại ngữ sẽ không chỉ là yêu cầu mà còn là mục tiêu phấn đấu của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và tái bảo hiểm nói riêng
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA VINARE GIAI ĐOẠN 2004 – 2007
Trang 40I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
1 Lịch sử hình thành và phát triển
Từ năm 1993, sau khi Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã được thành lập theo các hình thức khác nhau: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài…tạo được bước ngoặt lớn cho
sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam về sau
Sự phát triển với tốc độ cao, ổn định của nền kinh tế - xã hội đã làm tăng nhu cầu bảo hiểm toàn xã hội Với quy mô vốn vừa và nhỏ, đối với các dịch vụ bảo hiểm có mức trách nhiệm cao, các doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện chuyển tái bảo hiểm ra nước ngoài, nhằm san sẻ rủi ro và đảm bảo khả năng thực hiện trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm Do cạnh tranh, các doanh nghiệp bảo hiểm gốc trong cùng thị trường không thực hiện hoặc chi chuyển tái không đáng kể cho các công ty khác cùng một thị trường Trong bối cảnh như vậy, phần lớn dịch vụ bảo hiểm được chuyển ra nước ngoài
Trước tình hình mới, Chính phủ đã xúc tiến thành lập Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam nay theo Quyết định số 920/TC/QĐ/TCCB ngày 27/9/1994 của Bộ Tài chính, được phép hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh số 100104 ngày 06/10/1994 Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 với số vốn ban đầu 40 tỷ VND
Mục đích khi thành lập VINARE : là tổ chức duy nhất chuyên kinh doanh tái bảo hiểm, trung tâm điều tiết, trao đổi dịch vụ tái bảo hiêm, nhằm nâng phần giữ lại dịch vụ bảo hiểm trong nước Hạn chế tối đa lượng dịch vụ bằng ngoại tệ chuyển ra nước ngoài Ngoài ra, VINARE còn đảm nhiệm chức năng trung tâm thông tin thị trường bảo hiểm/tái bảo hiểm Tư vấn hỗ trợ các công ty trong thị trường trong việc thu xếp tái bảo hiểm Là một trong những