1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Du thao To trinh de nghi XD ND trang trai

15 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 177 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số: /TTr-BNN-KTHT Hà Nội, ngày tháng nămDự thảo: TỜ TRÌNH Đề nghị xây dựng Nghị định về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ Thực hiện quy

Trang 1

Số: /TTr-BNN-KTHT Hà Nội, ngày tháng năm

Dự thảo:

TỜ TRÌNH

Đề nghị xây dựng Nghị định về chính sách khuyến khích phát triển

kinh tế trang trại

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kính trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị xây dựng Nghị định về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại như sau:

I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH

1 Cơ sở pháp lý

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã đưa

ra các nhiệm vụ, giải pháp trong đó đã khẳng định “Có chính sách khuyến khích

phát triển các mối liên kết giữa hộ nông dân với các doanh nghiệp, hợp tác xã,

tổ chức khoa học, hiệp hội ngành hàng và thị trường tiêu thụ sản phẩm để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hoá lớn”.

Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Ban Bí thư về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn đã đưa ra một số chủ trương,

chính sách lớn về phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó khẳng định “Nhà

nước có chính sách khuyến khích phát triển hình thức trang trại gia đình như các loại hình sản xuất khác của kinh tế hộ gia đình Đặc biệt khuyến khích các

hộ nông dân các trang trại gia đình và các thành phần kinh tế khác liên kết với nhau, hình thành các tổ chức, các hình thức kinh tế hợp tác để mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, thu hút là hỗ trợ các hộ gia đình còn khó khăn”.

Quyết định số 255/QĐ-TTg ngày 25 tháng 02 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021 –

2025 tuy không nêu cụ thể về nội dung phát triển kinh tế trang trại nhưng trong

giải pháp thực hiện đã đề cập đến việc “Hoàn thiện chính sách pháp luật về đất

đai theo hướng bảo vệ và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, khuyến

Trang 2

khích và tạo điều kiện tập trung, tích tụ đất nông nghiệp, tạo điều kiện sử dụng linh hoạt đất nông nghiệp nhằm tổ chức sản xuất theo nhu cầu của thị trường và đảm bảo thích ứng với biến đổi khí hậu”.

Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Ban

Bí thư Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000

về kinh tế trang trại đã đưa ra những nội dung để thống nhất nhận thức về tính chất và vị trí của kinh tế trang trại; đồng thời đã đưa ra một số chính sách lâu dài của Nhà nước đối với kinh tế trang trại và một số chính sách hỗ trợ cụ thể đói với kinh tế trang trại về: Đất đai; thuế; đầu tư, tín dụng; lao động; khoa học, công nghệ, môi trường; thị trường; bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại và quy định nghĩa vụ của chủ trang trại Tuy nhiên, Nghị quyết ban hành đã 20 năm đến nay mới tổng kết đánh giá nên chưa được điều chỉnh hoặc ban hành văn bản khác cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trang trại hiện nay

Căn cứ Thông báo số 132/TB-VPCP ngày 29 tháng 5 năm 2021 Thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp về tình hình thực hiện nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các khó khăn, vướng mắc và nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới; trong đó giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện việc xây dựng Nghị định về trang trại theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại khoản 5 Điều 8 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn về “Quyết định chính sách cụ thể thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế về kinh tế, phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới”; Khoản 2 Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: Chính phủ ban hành nghị định để quy định:“Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ”

Từ những nội dung trên cho thấy có đủ cơ sở pháp lý để Chính phủ ban hành Nghị định về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Tình hình hoạt động của kinh tế trang trại

Hiện cả nước có 19.667 trang trại đạt tiêu chí quy định của Bộ Nông nghiệp và PTNT, trong đó có 4.325 trang trại trồng trọt, 12.013 trang trại chăn nuôi, 129 trang trại lâm nghiệp, 1.267 trang trại nuôi trồng thủy sản, 03 trang trại sản xuất muối, 1.930 trang trại tổng hợp Trong số các trang trại nông nghiệp, trang trại chăn nuôi chiếm tỷ lệ lớn nhất (chiếm 61,8%), tiếp đến là trồng trọt (22%) Các trang trại tập trung nhiều ở vùng Đông Nam Bộ bình quân

Trang 3

625 trang trại/tỉnh), Đồng bằng sông Hồng (bình quân 542 trang trại/tỉnh), Tây Nguyên (bình quân 441 trang trại/tỉnh) Bình quân diện tích đất của trang trại là 3,8 ha/trang trại Tổng số lượng lao động thường xuyên của trang trại bình quân 3,5 lao động/trang trại, trong đó chủ yếu là chủ trang trại và các thành viên trong gia đình; một số trang trại có thuê mướn lao động bên ngoài chủ yếu là vào thời

vụ gieo trồng, thu hoạch Thu nhập bình quân lao động thường xuyên đạt 4,9 triệu đồng/người/tháng Giá trị vốn đầu tư và vốn sản xuất kinh doanh bình quân năm 2020 là 3.520 triệu đồng/trang trại Tổng giá trị sản xuất của các trang trại bình quân năm 2020 đạt 2.860 triệu đồng/năm; trong đó trang trại trồng trọt cao nhất; trang trại lâm nghiệp thấp nhất

Các trang trại đã cung cấp một số lượng lớn giá trị sản phẩm nông nghiệp cho thị trường và đóng góp rất lớn cho nền kinh tế quốc dân Kinh tế trang trại

đã thúc đẩy việc khai thác diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi thuỷ sản, nâng cao hiệu quả sử dụng đất (nhất là ở các vùng Trung du, Miền núi và ven biển), cải thiện môi trường sinh thái Phát triển kinh tế trang trại góp phần tăng tốc độ phủ xanh đất trống đồi trọc, đồng thời thu hút được nguồn lực tài chính trong dân; tạo điều kiện cho các cá nhân có vốn, có trình độ chuyên môn mạnh dạn đầu tư hình thành trang trại để đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, góp phần giảm bớt

áp lực do thiếu việc làm ở nông thôn, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nhiều hộ nông dân Mô hình phát triển kinh tế trang trại đã giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo, vươn lên làm giàu

Việc sản xuất kinh doanh của nhiều trang trại đã áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, phù hợp với từng loại hình, đã tạo ra được quy mô sản xuất tập trung, tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm Sản phẩm hàng hóa và thu nhập của các trang trại ngày một nâng cao nhờ việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất Một số trang trại đã đi vào sản xuất hàng hóa chuyên canh sử dụng công nghệ cao tạo ra giá trị sản lượng lớn xuất khẩu cho thị trường trong và ngoài nước Chủng loại sản phẩm của trang trại ngày càng đa dạng, từ sản xuất chuyên canh một loại sản phẩm, thì nay đang dần chuyển hướng sang sản xuất

đa sản phẩm Việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất đã và đang được các trang trại tập trung đầu tư thực hiện và mang lại nhiều kết quả tích cực; tuy nhiên cơ giới hóa trong sản xuất mới dừng lại ở một số khâu, chưa đồng bộ tạo thành chuỗi xuyên suốt quá trình sản xuất Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, quản lý và điều hành đã được các trang trại quan tâm, áp dụng; tuy nhiên mới chỉ ở khâu sử dụng máy vi tính phục vụ sản xuất; việc quảng bá sản phẩm thông qua website và thương mại điện tử chiếm tỷ lệ rất nhỏ do quy mô, sản lượng sản phẩm từng trang trại chưa đủ lớn để xây dựng hệ thống thương mại điện tử Hiện nay nhiều trang trại không chỉ tổ chức sản xuất nông nghiệp đơn thuần mà còn phát triển các hoạt động phi nông nghiệp khác kết hợp như: Lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời để cung cấp điện phục vụ sản xuất và bán điện không sử dụng hết cho ngành điện; đầu tư cơ sở sơ chế và chế biến sản phẩm để nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm nông nghiệp; phát triển mô hình canh tác nông nghiệp kết hợp điểm tham quan du lịch, đây là mô hình có

xu hướng phát triển nhanh những năm gần đây, một số trang trại đã bắt đầu cung

Trang 4

cấp dịch vụ nghỉ dưỡng, lưu trú qua đêm, đã có những tác động nhất định đến sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn nói chung và kinh tế hộ gia đình nói riêng Nhiều trang trại đã liên kết với doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm đầu ra cho trang trại và bà con nông dân

2.2 Tình hình thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ kinh tế trang trại

a) Hiện trạng thể chế về chính sách ưu đãi, hỗ trợ kinh tế trang trại

Hiện nay, chính sách hỗ trợ riêng cho kinh tế trang trại đang thực hiện theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02 tháng 2 năm 2000 của Chính phủ, trong đó có một số nội dung chính sách hỗ trợ chung cho trang trại về: đất đai; thuế; đầu tư, tín dụng; lao động; khoa học, công nghệ, môi trường; thị trường; bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại, các Bộ, ngành đã tham mưu ban hành các chính sách hỗ trợ được lồng ghép trong các chính sách hỗ trợ chung cho các đối tượng khác có liên quan đến các chính sách hỗ trợ tại Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP như:

Các Luật: Luật đất đai số 45/2013/QH13 (Luật Đất đai số

35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung) và các văn bản hướng dẫn; Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14; Luật Thủy sản số 18/2017/QH14; Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14; Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14; Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14; các Luật về thuế (thuế Giá trị gia tăng; thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân; thuế xuất khẩu, nhập khẩu; thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; ); Luật phí

và lệ phí

Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 và Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 sửa đổi, bổ sung); Nghị định

44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất; Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về thu tiền

sử dụng đất và Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (Nghị định 135/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 và Nghị định 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 sửa đổi, bổ sung Nghị định

46/2014/NĐ-CP và Nghị định 46/2014/NĐ-CP ); Nghị định 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 về quản lý, sử dụng đất trồng lúa (Nghị định 62/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung) Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản; Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản (Nghị định số 89/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015, Nghị định số 172/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 và Nghị định số 17/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 sửa đổi, bổ sung) Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi Nghị định số156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường

2014 (Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 sửa đổi, bổ sung); Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ

Trang 5

môi trường; Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 về phát triển và quản lý chợ (Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/ 2009 sửa đổi, bổ sung) Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (Nghị định 116/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung) Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về khuyến khích đầu tư trong nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm (Nghị định số 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 sửa đổi, bổ sung)

Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04/9/2014 về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 – 2020 Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp Quyết định số 71/2005/QĐ-TTg ngày 5/4/20005 về cơ chế quản lý, điều hành vốn cho vay của Quỹ quốc gia về việc làm và Quyết định số 15/2008/QĐ-TTg ngày 23/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 71/2005/QĐ-TTg Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng; Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2011-2015 và Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Quyết định số 249/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển dịch vụ môi trường đến năm 2020 Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2010 phê duyệt Đề án Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 – 2015 và định hướng đến năm 2020 Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 7/5/2018 phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020;

b) Kết quả thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ kinh tế trang trại:

Trong 20 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương đã thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ kinh tế trang trại đạt được một số kết quả như sau:

Về chính sách đất đai: Có 25 tỉnh báo cáo đã có 11.006 trang trại được

giao đất, cho thuê đất để mở rộng sản xuất phát triển trang trại (bình quân 550 trang trại/năm); trong đó 04 tỉnh báo cáo đã cho 512 trang trại là hộ gia đình phi nông nghiệp thuê đất (bình quân 25 trang trại/năm); 03 tỉnh báo cáo có 344 trang trại được cho thuê đất vượt hạn mức (bình quân 17 trang trại/năm); 08 tỉnh báo cáo đã cho 152 trang trại trang trại của người ở địa phương khác xã đến thuê, mua đất của (bình quân 07 trang trại/năm) Có 16 tỉnh báo cáo số trang trại được cấp GCN quyền sử dụng đất trong 20 năm là 63.297 trang trại (bình quân 3.164 trang trại/năm) Có 10 tỉnh báo cáo 60.857 trang trại được miễn giảm tiền thuê đất (bình quân 3.042 trang trại/năm) với số tiền 20.223,9 triệu đồng

Về chính sách thuế: Có 14 tỉnh báo cáo cho 244.892 lượt trang trại miễn,

giảm thuế (bình quân 12.244 lượt trang trại/năm) với tổng số thuế được miễn

Trang 6

giảm là 20.378,4 triệu đồng; trong đó có 08 tỉnh báo cáo cho 62.726 lượt trang trại miễn thuế thu nhập (bình quân 3.136 lượt trang trại/năm) với số tiền 9.874,4 triệu đồng, 03 tỉnh báo cáo cho 60.604 lượt trang trại giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (bình quân 3.030 lượt trang trại/năm) với số tiền 105 triệu đồng, 08 tỉnh báo cáo cho 61.817 lượt trang trại miễn thuế tài nguyên nước (bình quân 3.090 lượt trang trại/năm) với số tiền 10.199 triệu đồng, 03 tỉnh báo cáo cho 59.745 lượt trang trại miễn, giảm các loại thuế khác (bình quân 2.987 lượt trang trại/năm)

Về chính sách đầu tư: 11 tỉnh báo cáo đã có 401 công trình kết cấu hạ

tầng nông thôn được ngân sách nhà nước đầu tư (bình quân 20 công trình/năm); tổng kinh phí hỗ trợ 8.112.782 triệu đồng trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 3.770.215 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 4.342.567 triệu đồng Có 05 tỉnh báo cáo 73 cơ sở chế biến thôn đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư (bình quân 3,6 cơ sở/năm); tổng kinh phí hỗ trợ 38.269 triệu đồng trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 13.925 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 24.344 triệu đồng

Về chính sách tín dụng: Có 45 tỉnh báo cáo 22.913 lượt trang trại được

vay vốn (bình quân 1.145 trang trại/năm) với tổng số tiền 4.648.894 triệu đồng, trong đó: 09 tỉnh báo cáo 2.153 trang trại được vay vốn chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo (bình quân 107 trang trại/năm) với tổng số tiền 111.896 triệu đồng; 08 tỉnh báo cáo 802 trang trại được vay vốn Quỹ hỗ trợ đầu

tư phát triển (bình quân 40 trang trại/năm) với tổng số tiền 861.511 triệu đồng;

20 tỉnh báo cáo 19.107 trang trại được vay vốn theo chính sách hỗ trợ tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn (bình quân 955 trang trại/năm) với tổng số tiền 3.430.849 triệu đồng; 08 tỉnh báo cáo 851 trang trại được được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay (bình quân 42 trang trại/năm)

Về chính sách lao động: Chỉ có 02 tỉnh báo cáo 611 lao động ở vùng đông

dân cư đến sản xuất tại địa bàn có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn (bình quân 30 lao động/năm) Có 26 tỉnh báo cáo 416.207 lao động làm trong trang trại được hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp (bình quân 20.810 lao động/năm) với tổng kinh phí hỗ trợ 1.240.828 triệu đồng, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 1.190.897 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 49.931 triệu đồng

Về chính sách khoa học, công nghệ, môi trường: Có 10 tỉnh báo cáo

338.491 công trình thuỷ lợi được xây dựng tạo nguồn nước cho phát triển sản xuất nông nghiệp (bình quân 16.924 công trình/năm) với tổng kinh phí ngân sách hỗ trợ 2.996.187 triệu đồng Có 20 tỉnh báo cáo 4.282 trang trại có liên kết với cơ sở khoa học, đào tạo, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật áp dụng vào trang trại

Về chính sách thị trường: Có 03 tỉnh báo cáo 133 cơ sở công nghiệp chế

biến ở vùng tập trung, chuyên canh được hỗ trợ xây mới, nâng cấp, mở rộng với tổng kinh phí ngân sách hỗ trợ 17.108,3 triệu đồng Có 16 tỉnh báo cáo 3.299 chợ nông thôn, các trung tâm giao dịch mua bán nông sản và vật tư nông nghiệp được hỗ trợ xây mới, nâng cấp, mở rộng với tổng kinh phí ngân sách hỗ trợ 937.596,6 triệu đồng Có 14 tỉnh báo cáo 6.877 trang trại được cung cấp thông tin thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật (bình quân 343 trang trại/năm) với

Trang 7

tổng kinh phí ngân sách hỗ trợ 1.451 triệu đồng; 15 tỉnh báo cáo 977 trang trại được tiếp cận và tham gia các chương trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm với tổng kinh phí ngân sách hỗ trợ 4.250 triệu đồng; 17 tỉnh báo cáo 7.034 trang trại tham gia liên kết với doanh nghiệp với hợp tác xã sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản

Chính sách hỗ trợ đặc thù khác: Có 14 tỉnh báo cáo đã ban hành và thực hiện chính sách hỗ trợ đặc thù khác đối với trang trại bằng nguồn ngân sách địa phương cho 6.919 trang trại (bình quân 345 trang trại/năm) với tổng số tiền hỗ trợ 196.262,5 triệu đồng cho các hoạt động bao tiêu sản phẩm, hỗ trợ lãi suất vay, hỗ trợ máy móc thiết bị, hỗ trợ trang trại tiêu biểu, hỗ trợ xử lý chất thải trong chăn nuôi, …

2.3 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:

a) Một số tồn tại, hạn chế:

Các trang trại hiện nay phát triển còn mang tính tự phát, không có quy hoạch bài bản, quy mô sản xuất (đất đai, lao động và doanh thu) của trang trại nhìn chung còn nhỏ, sản phẩm không đa dạng, hiệu quả kinh tế chưa cao

Chất lượng lao động trong các trang trại còn thấp1, việc tiếp cận và triển khai áp dụng khoa học kỹ thuật gặp nhiều khó khăn; phần lớn chủ trang trại còn thiếu hiểu biết về thị trường, khoa học kỹ thuật và quản lý nên lúng túng và chịu thua thiệt khi giá nông sản xuống thấp, tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn

Quy trình kỹ thuật sản xuất chưa hiện đại; đa số các trang trại sản xuất chủ yếu theo phương pháp thủ công truyền thống nên chất lượng sản phẩm hàng hoá nhìn chung chưa cao và không ổn định Việc đẩy mạnh cơ giới hóa trong nông nghiệp chưa được chú trọng do trang trại chủ yếu quy mô nhỏ, một số phân bố ở các vùng sâu, vùng xa, khó khăn dẫn đến sử dụng nhiều lao động thủ công (trong khi giá lao động nông nghiệp tăng nhanh thời gian gần đây), dẫn đến hiệu quả thấp Số lượng trang trại ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, đặc biệt ứng dụng tin học trong sản xuất, chế biến, bảo quản chưa nhiều, mới chỉ tập trung ở một số lĩnh vực và khu vực nhất định (chủ yếu là chăn nuôi)

Đa số các trang trại chưa xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, mã số, mã vạch nên sản phẩm hàng hóa chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường; sản phẩm bán ra chủ yếu dưới dạng thô hoặc tươi sống, chưa qua chế biến nên giá bán thấp, sức cạnh tranh yếu, giá cả sản phẩm đầu ra của trang trại lên xuống thất thường, không ổn định Việc lựa chọn một số cây loại cây trồng, vật nuôi của các trang trại thiếu hợp lý, chưa phù hợp với kinh tế thị trường, mất cân đối cung cầu, giá trị đạt thấp

Nhiều trang trại hiện nay không chỉ dừng lại ở việc sản xuất nông nghiệp

mà còn phát triển các hoạt động phi nông nghiệp như: Lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời, du lịch nông nghiệp, chế biến nông sản, … trong khi chưa có quy định cụ thể về các hoạt động này dẫn đến khó khăn trong khâu quản lý trang trại Do phát triển tự phát và thiếu hành lang pháp lý quy định nên sự kiểm soát

về an toàn lao động, điều kiện lưu trú, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực

1 Có 97% lao động trong các trang trại chưa qua đào tạo, số đã qua đào tạo chỉ chiếm 2,3% (trong đó, trình độ cao đẳng chiếm 0,2% và đại học, trên đại học chiếm 0,3%).

Trang 8

phẩm, xử lý môi trường, an ninh trật tự đối với các trang trại nông nghiệp có hoạt động du lịch hiện đang hoạt động là rất hạn chế

Đa số trang trại chưa được giao đất, thuê đất ổn định lâu dài và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Việc tích tụ, tập trung đất đai, dồn điền, đổi thửa ở nhiều nơi còn chậm và gặp khó khăn; không có quy hoạch đất đai cho phát triển trang trại nên đất đai trang trại manh mún Một số chính sách về đất đai còn bất cập như: Việc quy định về hạn điền2 làm hạn chế quy mô của trang trại, gây khó khăn cho các chủ trang trại có khả năng xây dựng trang trại quy mô lớn; một số diện tích được quy hoạch đất lúa thì không được phép chuyển đổi mục đích sử dụng sang các cây trồng vật nuôi khác hiệu quả hơn nhiều lần trồng lúa Quy định nghiêm cấm việc sử dụng đất không đúng mục đích trong Luật Đất đai khiến các chủ trang trại gặp khó khăn trong việc xây dựng cơ sở sơ chế, bảo quản hoặc phát triển du lịch đi kèm; từ đó dẫn đến việc nhiều trang trại

“lách luật” xây dựng các công trình “tạm bợ” vừa mất mỹ quan vừa hạn chế hiệu quả sử dụng

Chưa có quy định cụ thể về mật độ, kết cấu xây dựng công trình, xây dựng trên đất nông nghiệp; trong khi năng lực và hiểu biết về xây dựng phương

án sử dụng đất của các chủ trang trại hạn chế, dẫn đến tình trạng xây dựng công trình của trang trại sai phép

Do năng lực quản trị, khả năng tài chính của một số chủ trang trại còn hạn chế nên việc tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn còn gặp khó khăn

Các trang trại sản xuất chưa chú ý tới việc liên kết nhóm sản xuất để tạo nên vùng sản xuất tập trung, có sản lượng hàng hóa lớn Việc liên kết của trang trại với doanh nghiệp còn hạn chế, vẫn rời rạc ở một số khâu, chưa thực hiện được liên kết theo chuỗi giá trị

Các trang trại có tổ chức các hoạt động phi nông nghiệp khác kết hợp (sản xuất điện năng lượng mặt trời, sơ chế và chế biến sản phẩm, du lịch nông nghiệp nông thôn, ) gặp nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến quản lý nhà nước

do liên quan đến nhiều Bộ, ngành quản lý nhưng không có quy định và hướng dẫn cụ thể

Còn nhiều chủ trang trại chưa thực hiện tốt nghĩa vụ nên còn để xảy ra vi phạm về đất đai, xây dựng, sản xuất gây ô nhiễm môi trường và việc thực hiện chính sách đối với lao động làm thuê

b) Nguyên nhân:

Nhận thức về vai trò kinh tế trang trại của các cấp, các ngành chưa đầy

đủ Công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ và các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế trang trại chưa sâu rộng

2

Quy định về hạn mức chuyển nhượng lớn nhất không quá 10 lần hạn mức giao đất (tương đương ở miền bắc là khoảng 20 ha; Nam bộ và Tây nguyên là khoảng 30 ha) trở nên lỗi thời khi tỷ lệ lao động nông nghiệp đã giảm xuống dưới 40% và sự phát triển của khoa học công nghệ cho phép mỗi lao động có thể đảm nhiệm hàng chục hecta

Trang 9

Do sản xuất nông nghiệp chịu rủi ro cao của thời tiết, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, diễn biến bất lợi của thị trường ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm và hiệu quả kinh tế của các trang trại; dẫn đến việc các trang trại có xu thế đa dạng hóa lĩnh vực sản xuất, kinh doanh (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản…) khiến cho việc mở rộng quy mô và chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa khó thực hiện

Hệ thống cơ chế, chính sách phát triển kinh tế trang trại còn tản mạn, chưa

cụ thể, tính khả thi khi áp dụng trong thực tế thấp Chính sách ưu đãi, hỗ trợ kinh tế trang trại nằm rời rạc ở nhiều văn bản và lồng ghép với các đối tượng hỗ trợ khác nên khó khăn trong việc triển khai thực hiện của cơ quan thực thi chính sách và tiếp cận chính sách hỗ trợ của các trang trại Sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý Nhà nước để thực thi chính sách còn kém hiệu quả, thủ tục hành chính rườm rà, nhiều cấp trung gian gây khó khăn cho các trang trại tiếp cận; thông tin thiếu công khai, minh bạch về các chính sách khuyến khích, ưu đãi của Chính phủ

Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu, nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho vay còn thấp, huy động nguồn lực

xã hội hóa còn hạn chế Phần lớn diện tích đất trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chủ trang trại không có tài sản thế chấp, nếu có thì việc thẩm định tài sản thế chấp thấp hơn nhiều so với thực tế dẫn đến việc tiếp cận vay vốn tín dụng khó khăn

Công tác quản lý nhà nước về phát triển kinh tế trang trại còn nhiều bất cập: Một số địa phương chưa thực sự quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế trang trại, chủ yếu để trang trại phát triển tự phát Nhiều địa phương cấp huyện, xã chưa làm tốt công tác quy hoạch phát triển sản xuất, phát triển kinh tế trang trại,

cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và tiêu thụ; chưa có quy hoạch, kế hoạch hàng năm và dài hạn để phát triển kinh tế trang trại; một số địa phương còn nhiều trang trại hình thành từ trước nằm “ngoài quy hoạch” Một số địa phương có trang trại phát triển ở vùng sâu, vùng xa nhưng chưa làm tốt công tác quy hoạch sản xuất, thủy lợi, giao thông, điện nước sinh hoạt, thông tin liên lạc nên chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển trang trại ở khu vực này Đội ngũ làm công tác phát triển kinh tế trang trại chủ yếu kiêm nhiệm, chưa thật sự chủ động

và chưa làm tốt vai trò tham mưu công tác phát triển kinh tế trang trại về rà soát, quản lý, báo cáo và hỗ trợ trang trại phát triển, khả năng cập nhật thông tin, văn bản pháp luật mới còn hạn chế Công tác kiểm tra chưa được coi trọng dẫn đến nhiều chủ trang trại chưa thực hiện đầy đủ kê khai, báo cáo tình hình hoạt động

và còn vi phạm về đất đai, xây dựng và môi trường Chưa có sự phối hợp đồng

bộ giữa các Bộ, ngành và cơ quan chuyên ngành tại địa phương trong việc kiểm tra, hướng dẫn các trang trại hoạt động nông nghiệp kết hợp phi nông nghiệp

Từ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trên cho thấy sự cần thiết phải

có 01 văn bản quy định thống nhất khung khổ pháp lý về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại; trong đó có chính sách ưu đãi, hỗ trợ kinh tế trang trại thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ Do trang trại hiện nay không chỉ dừng lại ở hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn có cả hoạt động phi nông nghiệp kết hợp nên liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều

Trang 10

Bộ, ngành Trung ương nên việc ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện về kinh

tế trang trại vượt ra ngoài thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp và PTNT Vì vậy, cần thiết phải ban hành Nghị định của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại thay thế cho Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại của Chính phủ

II MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH

1 Mục đích

Tạo khung khổ pháp lý đầy đủ, thống nhất về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tính thống nhất trong việc quản lý kinh tế trang trại

Tháo gỡ khó khăn trong hoạt động của các trang trại để tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại phát triển theo đúng quy định của pháp luật như: Đất đai, xây dựng, tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng, áp dụng khoa học kỹ thuật

và các hoạt động phi nông nghiệp

Tạo điều kiện cho trang trại phát triển và đầu tư mở rộng quy mô, từng bước phát triển gắn với mục tiêu sản xuất qui mô lớn, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hoá, tạo ra nhiều vùng sản xuất tập trung; tạo tiền

đề thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và phát triển công nghiệp chế biến nông sản, đưa công nghiệp và các ngành nghề dịch vụ vào nông thôn; góp phần nâng cao đời sống, thu nhập cho nông dân, giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo, vươn lên làm giàu

Thúc đẩy việc khai thác diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi thuỷ sản, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cải thiện môi trường sinh thái

Thu hút và huy động nguồn lực tài chính trong dân, tạo điều kiện cho các

cá nhân có vốn, có trình độ chuyên môn mạnh dạn đầu tư hình thành trang trại để đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, góp phần giảm bớt áp lực do thiếu việc làm ở nông thôn, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nhiều

hộ nông dân Thúc đẩy việc đầu tư vốn, khoa học công nghệ vào sản xuất của các trang trại

2 Quan điểm xây dựng Nghị định

Các quy định trong Nghị định phải nhằm tạo điều kiện cho trang trại phát triển thuận lợi, không gây khó khăn, cản trở hoạt động hợp pháp của Chủ trang trại

Chính sách ưu đãi hỗ trợ khuyến khích phát triển kinh tế trang trại xây dựng theo hướng đáp ứng nhu cầu phát triển của trang trại nhưng cũng đảm bảo phù hợp với nguồn lực của ngân sách và định hướng phát triển kinh tế trang trại của Đảng và Nhà nước

Các nội dung của Nghị định được xây dựng trên cơ sở kế thừa các ưu điểm của Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ; không trùng chéo, mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; phù hợp với thực tiễn phát triển trang trại và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

Ngày đăng: 17/04/2022, 12:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w