Tuyên truyền, triển khai và quán triệt Nghị quyết a Công tác tuyên truyền, triển khai thực hiện Ngay sau khi Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ được ban hành, UBND
Trang 1Số: /BC-BNN Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Dự thảo:
BÁO CÁO Tình hình thực hiện Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000
của Chính phủ về kinh tế trang trại
Ngày 02/02/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP về kinh
tế trang trại Sau 20 năm triển khai thực hiện, đến nay đã đạt được một số kết quả như sau:
I KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 03/2000/NQ-CP
1 Tuyên truyền, triển khai và quán triệt Nghị quyết
a) Công tác tuyên truyền, triển khai thực hiện
Ngay sau khi Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ được ban hành, UBND các tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ngành liên quan và UBND cấp huyện tổ chức triển khai quán triệt cho cán bộ, công chức trong đơn vị; thực hiện tuyên truyền, phổ biến, các chủ trương, chính sách đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: Tuyên truyền thông qua các báo, đài, trang website, tọa đàm, hội thảo, hội nghị, ; lồng ghép triển khai Nghị quyết và tuyên truyền thông qua các lớp đào tạo, tập huấn, dạy nghề cho lao động nông thôn, xây dựng nông thôn mới để cán bộ và nông dân biết, thống nhất nhận thức về tính chất và vị trí của kinh tế trang trại; quan điểm, chủ trương, chính sách của Nhà nước; các tiêu chí quy định về kinh tế trang trại và vận động nông dân tham gia thực hiện
Để hướng dẫn và tạo điều kiện cho các địa phương triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 27/2011/ TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 hướng dẫn tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Sau gần 10 năm thực hiện, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành rà soát, đánh giá và ban hành Thông tư số 02/2020/TT-BNNPTNT ngày 28/2/2020 quy định tiêu chí kinh tế trang trại thay thế Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011, theo đó bãi bỏ quy định cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại
b) Việc quán triệt thống nhất nhận thức về tính chất và vị trí của kinh tế trang trại
Nghị quyết số 03/NQ-CP về kinh tế trang trại đã đưa ra một số nhận thức về tính chất và vị trí của kinh tế trang trại, đó là: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới Quá
Trang 2trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn
Các địa phương tổ chức quán triệt nhận thức về tính chất và vị trí của kinh tế trang trại của Nghị quyết, đồng thời khẳng định thêm một số nhận thức trong tình hình mới như: Kinh tế trang trại đang phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa là chủ yếu; mức độ tập trung và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất như: đất đai, lao động và giá trị hàng hóa nông sản có qui mô cao hơn hẳn so với sản xuất của nông hộ Sản xuất của trang trại đang phát triển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững nhằm tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hoạt động của trang trại không chỉ dừng lại ở lĩnh vực nông nghiệp mà kết hợp các hoạt động phi nông nghiệp hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp như hoạt động du lịch nông nghiệp nông thôn; khai thác điện năng lượng mặt trời phục vụ sản xuất; sơ chế, chế biến nông sản tại chỗ; liên kết tiêu thụ nông sản cho nông dân trong vùng
Do đó, kinh tế trang trại cùng với kinh tế tập thể được xác định là mũi nhọn trong phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, góp phần nâng cao giá trị nông sản, thu nhập cho nông dân và xây dựng nông thôn mới Việc khuyến khích phát triển kinh
tế trang trại nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp với quy mô lớn, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Tạo điều kiện để mọi cá nhân, hộ gia đình đầu tư phát triển trang trại
2 Kết quả thực hiện một số chính sách hỗ trợ đối với kinh tế trang trại
Để thực hiện Nghị quyết, các Bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ đã tham mưu ban hành chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại lồng ghép trong các văn bản quy định chính sách hỗ trợ của Chính phủ; một số địa phương ban hành chính sách đặc thù để hỗ trợ trang trại và nông dân Kết quả cụ thể như sau:
a) Chính sách đất đai
- Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó quy định các chính sách hỗ trợ, ưu đãi về đất đai khuyến khích phát triển trang trại theo tinh thần của Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP, cụ thể:
Miễn, giảm tiền thuê đất: Trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm mà dự án
thực hiện tại vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, hải đảo, vùng có điều kiện KTXH khó khăn, đặc biệt khó khăn; đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất sử dụng làm mặt bằng SXKD của dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư, đặc biệt khuyến khích đầu tư thì mức tỷ lệ % giá đất để xác định đơn giá thuê đất một năm tối thiểu không thấp hơn 0,5% (trong khi mức tỷ lệ % tính đơn giá thuê đất đối với các dự án thông thường là 1%; mức tỷ
lệ % tính đơn giá thuê đất đối với đất thương mại dịch vụ tối đa là 3%) Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian XDCB tối đa là 03 năm; sau thời gian miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước XDCB thì thực hiện miễn tiền thuê đất; thuê mặt nước
Trang 3từ 03 năm đến cả thời hạn thuê đất nếu thực hiện dự án thuộc danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư, danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư
Miễn, giảm tiền thuế sử dụng đất: Chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp
hiện đang thực hiện theo quy định Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp số 23-L/CTN ngày 10/7/1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện đang được miễn đến hết ngày 31/12/2025 theo Nghị quyết số 55/2010/QH12, Nghị quyết số 28/2016/QH14, Nghị quyết số 107/2020/QH14 của Quốc hội, từ diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp
Miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Theo Luật số 106/2016/QH13 ngày
6/4/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế thì miễn thuế đối với hộ gia đình, cá nhân có số thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp hàng năm từ năm mươi nghìn đồng trở xuống
- Kết quả thực hiện ở các địa phương: Các tỉnh đều quan tâm thực hiện việc
giao đất hoặc cho thuê đất cho các hộ gia đình để phát triển trang trại Việc lập thủ tục xin thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các trang trại được UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn các trang trại lập các thủ tục đề nghị cấp đất theo quy định Kết quả, giai đoạn 2002 - 2020 đã có 11.006 trang trại (của 25 tỉnh báo cáo) được giao đất, cho thuê đất để mở rộng sản xuất phát triển trang trại (bình quân 550 trang trại/năm); trong đó hộ gia đình phi nông nghiệp thuê đất (của 04 tỉnh báo cáo) là 512 trang trại (bình quân 25 trang trại/năm); số trang trại được cho thuê đất vượt hạn mức (của 03 tỉnh báo cáo) là
344 (bình quân 17 trang trại/năm); số trang trại của người ở địa phương khác xã đến thuê, mua đất của 08 tỉnh báo cáo là 152 trang trại (bình quân 07 trang trại/năm) Số trang trại được cấp GCN quyền sử dụng đất trong 20 năm (của 16 tỉnh báo cáo) là 63.297 trang trại (bình quân 3.164 trang trại/năm) Có 60.857 trang trại (của 10 tỉnh báo cáo) được miễn giảm tiền thuê đất (bình quân 3.042 trang trại/ năm) với số tiền 20.223,9 triệu đồng
b) Chính sách thuế (không bao gồm tiền thuê đất):
- Bộ Tài chính đã chủ trì phối hợp với các Bộ ngành tham mưu Chính phủ trình Quốc hội và ban hành, sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật về thuế, trong
đó có những chính sách thuế trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn quy định mức
ưu đãi cao đối với lĩnh vực kinh tế trang trại theo tinh thần của Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP và các chủ trương khác của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn; cụ thể:
Thuế giá trị gia tăng: Luật thuế Giá trị gia tăng số 13/20008/QH12 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/2009 quy định sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thánh các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt ra và ở khâu nhập khẩu thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng; sản phẩm nông nghiệp chưa qua
Trang 4chế biến ở khâu kinh doanh thương mại trừ gỗ và măng hưởng mức thuế suất ưu đãi 5% (mức thuế suất thông thường là 10%) Bên cạnh đó, các hàng hóa chủ yếu dùng cho đầu vào hoặc liên quan đến dịch vụ cung cấp cho hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng thuộc diện không chịu thuế1 hoặc áp dụng mức thuế suất ưu đãi 5%2 Hàng hóa là nông, lâm, thủy sản xuất khẩu đều được áp dụng mức 0%, các cơ
sở sản xuất kinh doanh xuất khẩu được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào Kể
từ ngày 01/01/2015, theo Luật thuế Giá trị gia tăng số 71/2014/QH13 thì “Phân bón; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; tàu đánh bắt xa bờ; thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác” thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp và các văn
bản hướng dẫn quy định cho các địa phương thuộc địa bàn có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn là khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập cá nhân: Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham
gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường; thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao để sản xuất Cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân Người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu: Pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy
định ưu đãi thuế theo đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư (ngành, nghề và địa bàn ưu đãi đầu tư), cụ thể: tại khoản 11, 13 Điều
16 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định miễn thuế nhập khẩu
Thuế tài nguyên: Theo quy định tại Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12
có ưu đãi về thuế tài nguyên liên quan đến nông nghiệp như: Miễn thuế đối với hải sản tự nhiên; miễn thuế đối với cành, ngọn, củi, tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, vầu, lồ ô do cá nhân được phép khai thác phục vụ sinh hoạt; miễn thuế đối với nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp Tại Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 quy định nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thuộc đối tượng không chịu thuế tài nguyên Ngày 10/12/2015 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 điều chỉnh giảm mức thuế suất tài nguyên đối với gỗ nhóm V, VI, VII, VIII và các loại gỗ khác: từ 15% xuống 12%
- Ngoài ra, Bộ Tài chính đã tham mưu ban hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ các loại phí, lệ phí không hợp lý trong lĩnh vực nông nghiệp, cụ thể:
1 Giống cây trồng, vật nuôi, nạo vét kênh mương nội đồng.
2 Máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp như: máy cày, máy bừa, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi.
Trang 5Về lệ phí trước bạ: Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của
Chính phủ về lệ phí trước bạ; Nghị định số 20/2019/NĐ-CP ngày 21/2/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ về lệ phí trước bạ quy định miễn lệ phí trước bạ đối với: Đất thuê của Nhà nước theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê của tổ chức, cá nhân đã có quyền sử dụng đất hợp pháp Đất nông nghiệp chuyển đổi quyền sử dụng giữa các hộ gia đình, cá nhân trong cùng xã, phường, thị trấn để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật đất đai
Về lệ phí môn bài: Khoản 3, khoản 4 Điều 3 Nghị định số 139/2016/NĐ-CP
ngày 04/10/2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài và điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị định số 22/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP quy định miễn lệ phí môn bài đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, bao gồm: Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất muối Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá
Về phí và lệ phí khác:
Bộ Tài chính đã rà soát bãi bỏ hoặc trình cấp có thẩm quyền bãi bỏ các loại phí, lệ phí không hợp lý trong lĩnh vực nông nghiệp tại Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015, trong đó: Chuyển 06 khoản phí trong lĩnh vực nông nghiệp theo quy định hiện hành tại Nghị định số 24/2006/NĐ-CP sang thực hiện theo giá dịch vụ3 và bãi bỏ 09 khoản lệ phí trong lĩnh vực nông nghiệp theo quy định tại Nghị định số 24/2006/NĐ-CP4 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 113/2015/TT-BTC ngày 07/8/2015 sửa đổi 01 khoản lệ phí, bãi bỏ 13 khoản lệ phí5, bãi bỏ 21 khoản phí thú y (Phí kiểm dịch trứng gia cầm các loại; phí kiểm dịch sản phẩm động vật pha lóc, đóng gói lại, sơ chế biến;…)
Thông tư số 09/2018/TT-BTC Ngày 25/01/2018 của Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư số 284/2016/TT-BTC ngày 14/11/2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực quản lý chất lượng vật tư nuôi trồng thủy sản điều chỉnh giảm 02 khoản phí: Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận vật tư nuôi trồng thủy sản nhập khẩu: Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận lưu hành sản phẩm vật tư nuôi trồng thủy sản
Thông tư số 226/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 quy định: cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại tổ chức tín dụng để phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định tại Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 thì không phải nộp phí chứng thực hợp đồng thế chấp tài sản Thông tư số 250/2016/TT-BTC quy định miễn lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn Nghị định số
3 Gồm thủy lợi phí; phí kiểm nghiệm chất lượng thức ăn chăn nuôi; phí kiểm nghiệm thuốc thú y; phí kiểm định, khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật; phí chẩn đoán thú y.
4 Gồm lệ phí cấp chứng nhận kết quả giám sát khử trùng vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật; lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề xông hơi khử trùng; lệ phí cấp phép sản xuất kinh doanh thuốc thú y; lệ phí cấp phép khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật; lệ phí cấp giấy đăng ký thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam; lệ phí cấp cấp chứng chỉ hành nghề sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật; lệ phí cấp phép đối với các hoạt động phải có phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi; lệ phí cấp phép vận chuyển đặc biệt đối với động vật quý hiếm và sản phẩm của chúng.
5 Lệ phí cấp giấy chứng nhận vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh; lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật vận chuyển qua bưu điện
Trang 653/2020/NĐ-CP ngày 05/5/2020 về phí BVMT đối với nước thải quy định nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra và nước thải sinh hoạt của hộ gia đình ở các xã thuộc đối tượng không chịu phí BVTV đối với nước thải
Kết quả thực hiện ở các địa phương giai đoạn 2002 - 2020: Đã có 244.892
lượt trang trại (của 14 tỉnh báo cáo) được miễn, giảm thuế (bình quân 12.244 lượt trang trại/năm) với tổng số thuế được miễn giảm là 20.378,4 triệu đồng; trong đó
có 62.726 lượt trang trại (của 08 tỉnh báo cáo) được miễn thuế thu nhập (bình quân 3.136 lượt trang trại/năm) với số tiền 9.874,4 triệu đồng, 60.604 lượt trang trại (của
03 tỉnh báo cáo) được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (bình quân 3.030 lượt trang trại/năm) với số tiền 105 triệu đồng, 61.817 lượt trang trại (của 08 tỉnh báo cáo) được miễn thuế tài nguyên nước (bình quân 3.090 lượt trang trại/năm) với số tiền 10.199 triệu đồng, 59.745 lượt trang trại (của 03 tỉnh báo cáo) được miễn, giảm các loại thuế khác (bình quân 2.987 lượt trang trại/năm)
c) Chính sách đầu tư
- Về triển khai, hướng dẫn các địa phương xây dựng quy hoạch các vùng phát triển kinh tế trang trại:
Các Bộ, ngành đã tham mưu và triển khai xây dựng các quy hoạch: Quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch phát triển ngành điều đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020; Quy hoạch phát triển ca cao các tỉnh phía Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa giai đoạn 2014-2020; Quy hoạch phát triển sản xuất lúa Thu đông vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và tầm nhìn 2030; Quy hoạch phát triển sản xuất ngô toàn quốc đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn cung cấp cho thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quy hoạch vùng trồng cây thanh long đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
Xây dựng các đề án phát triển các loại cây trồng: Đề án “Phát triển nông nghiệp một số tỉnh phía Tây vùng Trung du và Miền núi phía Bắc theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Đề án phát triển các cây công nghiệp chủ lực đến năm 2030 (Phối hợp với
Bộ Công thương); Đề án phát triển các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung bảo đảm
an toàn thực phẩm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030; Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn tập trung, đảm bảo truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030; Đề án cơ cấu lại ngành gạo đến năm 2030
- Về quy hoạch phát triển hệ thống thuỷ lợi và nước sạch nông thôn:
Việc Quy hoạch phát triển hệ thống thuỷ lợi được triển khai đồng bộ thông qua Chương trình Xây dựng nông thôn mới, đến nay cơ bản các địa phương đã hoàn thành
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu trình Chính phủ và phối hợp với các
Bộ, ngành ban hành chính sách cho vay tín dụng ưu đãi thực hiện chiến lược quốc
Trang 7gia cấp nước và vệ sinh nông thôn6, trong đó cho vay hộ gia đình làm công trình cấp nước sinh hoạt, công trình vệ sinh, chuồng trại có gắn với biogas và doanh nghiệp đầu tư các công trình cấp nước tập trung; phê duyệt chiến lược quốc gia về chiến lược quốc gia cấp nước và vệ sinh nông thôn7 chính sách xã hội hội hóa đầu
tư cấp nước sạch nông thôn đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 20458 trong đó giao
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp vói NHCSXH và các cơ quan liên quan rà soát, tham mưu sửa đổi bổ sung chính sách tín dụng nước sạch
và vệ sinh nông thôn để tiếp tục thực hiện đầu tư xây dựng, cải tạo sửa chữa công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; sửa đổi bổ sung chính sách hỗ trợ tư nhân đầu tư các công trình cấp nước sạch nông thôn cho phù hợp với Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về khuyến khích đầu tư trong nông nghiệp, nông thôn
- Về quy hoạch phát triển cơ sở công nghiệp chế biến:
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển thương hiệu gạo đến năm 2020, tầm nhìn 20309; đề án Phát triển ngành chế biến rau quả giai đoạn 2021-203010 Triển khai Đề án Nâng cao Giá trị gia tăng hàng nông lâm thủy sản trong chế biến và giảm tổn thất sau thu hoạch11, trong đó nhiệm vụ đặt ra cho các địa phương thực hiện giải pháp “tổ chức sản xuất theo hướng tăng cường liên kết sản xuất nguyên liệu - chế biến - tiêu thụ” góp phần thúc đẩy kinh tế trang trại; phê duyệt và triển khai Kế hoạch cơ cấu lại lĩnh vực chế biến nông sản theo hướng nâng cao năng lực chế biến gắn với phát triển thị trường đến năm 2020, định hướng đến năm 203012; phê duyệt và triển khai
Đề án Phát triển mía đường đến năm 2020, định hướng đến năm 203013, đồng thời trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 14/7/2020 về các giải pháp phát triển mía đường trong tình hình mới
Kết quả thực hiện ở các địa phương:
Đa số các tỉnh đã quy hoạch và đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi, giao thông nông thông theo Chương trình xây dựng nông thôn mới nên có hệ thống kênh mương nội đồng, hệ thống cấp nước, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp tương đối tốt Một số tỉnh ven biển đã quy hoạch và thực hiện đầu tư gia cố, nâng cấp bờ bao, đê bao ngăn triều cường chống ngập, góp phần giảm thiểu thiệt hại do triều cường gây ra; triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, chế biến và lưu thông muối như: xây dựng đường giao thông và bãi tập kết muối; xây lắp đường dây điện trung, hạ thế và các trạm biếp áp phục vụ cho sản xuất Tuy nhiên, vẫn còn một số vùng nuôi trồng thuỷ sản chuyển đổi mục đích sử dụng
6 Quyết định số 104/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
7 Quyết định số 1978/QĐ-TTg ngày 24/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
8 Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg ngày 02/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 37/2014/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT ngày 31/10/2014 giữa Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bọ Tài chính – Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
9 Quyết định số 706/QĐ-TTg ngày 21/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ
10 Quyết định số 417/QĐTTg ngày 22/3/2021của Thủ tướng Chính phủ.
11 Quyết định số 1003/QĐ-BNN-CB ngày 13/5/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT.
Trang 8đất hoặc phát triển tự phát, chưa có vốn đầu tư để thực hiện quy hoạch nên các công trình thuỷ lợi phục vụ cấp, thoát nước phục vụ sản xuất còn hạn chế
Một số địa phương cấp huyện đã thực hiện quy hoạch và có chính sách hỗ trợ hạ tầng riêng cho vùng trang trại tập trung, đặc biệt là các khu chăn nuôi tập trung xa dân cư Bố trí kinh phí hỗ trợ cho các trang trại trong tỉnh xây bể Bioga để hạn chế chất thải ra môi trường, hỗ trợ xây dựng mô hình chuồng nuôi lợn tiết kiệm nước, xây dựng bể ủ phân Compos chống quá tải hầm khí sinh học, xây dựng
mô hình bể lắng và nhà ủ phân, nhà ủ phân và nhà nuôi giun
Kết quả, giai đoạn 2002 – 2020: Đã có 401 công trình kết cấu hạ tầng nông thôn (của 11 tỉnh báo cáo) được ngân sách nhà nước đầu tư (bình quân 20 công trình/năm); tổng kinh phí hỗ trợ 8.112.782 triệu đồng trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 3.770.215 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 4.342.567 triệu đồng Có 73 cơ sở chế biến thôn (của 05 tỉnh báo cáo) đã được ngân sách nhà nước
hỗ trợ đầu tư (bình quân 3,6 cơ sở/năm); tổng kinh phí hỗ trợ 38.269 triệu đồng trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 13.925 triệu đồng, ngân sách địa phương hỗ trợ 24.344 triệu đồng
d) Chính sách tín dụng
- Về chính sách tín dụng liên quan đến trang trại vay vốn chương trình giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo:
Trước năm 2015, chủ trang trại được vay vốn tín dụng ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm theo quy định tại Quyết định số 71/2005/QĐ-TTg ngày 5/4/20005
và Quyết định số 15/2008/QĐ-TTg ngày 23/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 và Nghị định số 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ ban hành thay thế quy định chủ trang trại đáp ứng tiêu chí trang trại được vay vốn tín dụng ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm
- Về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (trong
đó có kinh tế trang trại):
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 về một số chính tín dụng ngân hàng phục vụ nông nghiệp nông thôn14 Tiếp đó tham mưu Chính phủ ban hành các Nghị định thay thế như: Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 và Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 116/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP
Trong giai đoạn 2001-2020 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tham mưu triển khai các chương trình tín dụng đặc thù trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn như: Chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch15; trong đó Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại dành số tiền khoảng 100.000 tỷ đồng để cho vay đối với các
14 Các chính sách: (i) Cơ chế bảo đảm tiền vay phù hợp với từng đối tượng hộ gia đình, chủ trang trại, doanh nghiệp kinh doanh thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; (ii) Thời hạn cho vay theo chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, thời gian luân chuyển vật tư hàng hóa và khấu hao tài sản, máy móc, thiết bị; (iii) Có chính sách xử lý thiệt hại cho người vay và ngân hàng cho vay (xóa, miễn, khoanh, giãn nợ tùy theo mức độ thiệt hại) trong trường hợp vốn cho vay phát triển nông nghiệp và nông thôn bị thiệt hại do nguyên nhân khách quan bất khả kháng.
15 Theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ.
Trang 9khách hàng đáp ứng được tiêu chí sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với lãi suất cho vay thấp hơn từ 0,5% đến 1,5% so với lãi suất cho vay thông thường của ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp16 nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo các mô hình chuỗi liên kết giá trị, ứng dụng công nghệ cao và mô hình liên kết sản xuất phục vụ xuất khẩu với những cơ chế tín dụng đặc thù như: lãi suất cho vay thấp hơn từ 0,5%-1,5%/năm, tổ chức tín dụng có thể xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm đến 90% giá trị dự án, phương án sản xuất kinh doanh trên cơ sở kiểm soát dòng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành các Thông tư để hướng dẫn các ngân hàng thương mại nhà nước thực hiện Chính sách cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp17 trong đó có hỗ trợ lãi suất của Ngân sách Nhà nước để khách hàng mua máy móc thiết bị và thực hiện các dự án đầu tư dây chuyền máy, thiết bị nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai chương trình cho vay tái canh cà phê tại 5 tỉnh Khu vực Tây Nguyên (năm 2015) với lãi suất cho vay thấp hơn 2,5% so với lãi suất thương mại thông thường, áp dụng ưu đãi ân hạn trả nợ gốc và lãi trong thời gian tái canh người dân chưa có thu nhập; khách hàng vay vốn có diện tích cà phê cần tái canh thuộc quy hoạch và thực hiện đúng quy trình tái canh của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Giai đoạn 2011-2012, sản xuất thủy sản, nhất là ngành tôm và cá tra gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, thị trường tiêu thụ khó khăn, giá cả giảm sút ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai thực hiện các giải pháp theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ18: giãn nợ 24 tháng, cơ cấu lại nợ 36 tháng, khoanh nợ 3 năm đối với cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, chủ trang trạng nuôi tôm
và cá tra gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng; xem xét cho vay mới để người dân tiếp tục sản xuất theo quy định; ban hành Thông tư quy định việc tái cấp vốn đối với tổ chức tín dụng
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức tín dụng triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng thuộc lĩnh vực nông nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh như: Bão lụt miền Trung, hạn hán xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long, dịch tả lợn Châu Phi, dịch bệnh Covid19,… thông qua các biện pháp:
cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ, cho vay mới giúp người dân và doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ để tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh
Kết quả thực hiện ở các địa phương giai đoạn 2002-2020: Đã có 22.913
lượt trang trại (của 45 tỉnh báo cáo)được vay vốn (bình quân 1.145 trang trại/năm) với tổng số tiền 4.648.894 triệu đồng, trong đó: 2.153 trang trại (của 09 tỉnh báo cáo) được vay vốn chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo (bình
16 Theo Nghị quyết số 14/NQ-CP của Chính phủ, thực hiện trong 02 năm từ 2014-2015.
17 Theo Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg, Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg, Quyết định 6 số 8/2013/QĐTTg của Thủ tướng Chính Phủ.
18 Quyết định số 540/QĐ-TTg ngày 16/4/2014 và văn bản 1149/TTg-KTN ngày 8/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Trang 10quân 107 trang trại/năm) với tổng số tiền 111.896 triệu đồng; 802 trang trại (của 08 tỉnh báo cáo) được vay vốn Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển (bình quân 40 trang trại/năm) với tổng số tiền 861.511 triệu đồng; 19.107 trang trại (của 20 tỉnh báo cáo)được vay vốn theo chính sách hỗ trợ tín dụng phát triển nông nghiệp NT (bình quân 955 trang trại/năm) với tổng số tiền 3.430.849 triệu đồng; 851 trang trại (của
08 tỉnh báo cáo)được được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay (bình quân 42 trang trại/năm)
đ) Chính sách lao động
Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP, các chính sách về lao động bao gồm: (1) chính sách hỗ trợ chủ trang trại (khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, ưu tiên vốn vay để tạo việc làm cho lao động tại chỗ); (2) Hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động trang trại Tuy nhiên, hiện không có chính sách hỗ trợ riêng cho lao động trong trang trại mà chỉ có chính sách hỗ trợ cho lao động nông nghiệp nói chung, trong đó có lao động của trang trại, cụ thể chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động, chính sách hỗ trợ cho vay ưu đãi người lao động và người sử dụng lao động thực hiện lồng ghép thông qua các chương trình, đề án, chính sách gồm: Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm
và Dạy nghề giai đoạn 2011-2015 và Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm Tổng kinh phí ngân sách nhà nước bố trí từ nguồn kinh phí sự nghiệp giai đoạn 2010-2020 để thực hiện Đề tài đào tạo nghề nghiệp trong nông thôn là 9.541,28 tỷ đồng
Hoạt động đào tạo theo Chương trình khuyến nông của Bộ Nông nghiệp và PTNT: Trong 20 năm đào tạo được 23.200 lượt chủ trang trại (bình quân mỗi năm đào tạo 300 lớp tập huấn, trong đó 1.160 lượt chủ trang trại được đào tạo/năm) Nội dung đào tạo tập trung vào chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, sản xuất công nghệ cao, liên kết tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, sản xuất theo định hướng thị trường, nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu, Hàng năm tổ chức 5-7 các đoàn khảo sát học tập thành phần đoàn là cán bộ khuyến nông, các chủ trang trại thăm quan các mô hình khuyến nông, mô hình sản xuất hiệu quả, áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại ở các vùng sinh thái để trao đổi kinh nghiệm và nhân rộng sản xuất Từ năm 2020, xây dựng app mobile khuyến nông xanh; từng bước nâng cấp hoàn thiện để đào tạo từ xa trên nền tảng di động, truyền tải những công nghệ tiến bộ, thông tin thị trường, thời tiết là diễn đàn để các trang trạng, người sản xuất, chuyên gia trao đổi chia sẻ kinh nghiệm và thông tin sản xuất
Kết quả thực hiện ở các địa phương giai đoạn 2002 – 2020: Chỉ có 02 tỉnh
báo cáo 611 lao động ở vùng đông dân cư đến sản xuất tại địa bàn có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn (bình quân 30 lao động/năm) Có 416.207 lao động làm trong trang trại (của 26 tỉnh báo cáo) được hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp (bình quân