1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá qui định của pháp luật hiện hành về hình thức của hợp đồng dân sự(1)

18 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 141,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Điều 402 BLDS 2005 quy định: Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây: • Ðối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc

Trang 1

I MỞ ĐẦU

Cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên hợp đồng chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí các bên phù hợp với quy định của nhà nước, trong đó có các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung của hợp đồng Với múc đích đi sâu và tìm hiểu về các quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng dân sự, em xin lựa chọn đề tài: “ Đánh giá qui định của pháp luật hiện hành về hình thức của hợp đồng dân sự”

Trong quá trình làm bài em đã cố gắng nhiều, song với trình độ hiểu biết vấn

đề còn hạn chế nên bài viết khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy em rất mong có thể nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn

II NÔI DUNG

1, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ:

1.1, Khái niệm

Hợp đồng dân sự là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự

và là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội

Khái niệm hợp đồng dân sự được đề cập tại Điều 388, BLDS 2005, theo đó có thể hiểu hợp đồng dân sự là: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

Qua khái niệm hợp đồng dân sự có thể thấy để hình thành hợp đồng dân sự phải có những yếu tố cơ bản sau:

Trang 2

- Hợp đồng dân sự phải có sự tham gia của các bên: Hợp đồng là sự thỏa thuận của các chủ thể liên quan đến xác lập các quyền, nghĩa vụ nhằm đem lại lợi ích cho mình hoặc đem lại lợi ích cho người khác Nếu như hành vi pháp lý đơn phương chỉ là sự tuyên bó ý chí công khai của một phía chủ thể thì khi tham gia quan hệ hợp đồng, ít nhất phải có hai chủ thể đứng về hai phía của hợp đồng Ngoài ra, trong một số trường hợp, việc tham gia quan hệ hợp đồng có thể có sự xuất hiện của bên thứ ba(hợp đồng vì lợi ích của bên thứ ba)

- Hợp đồng dân sự được hình thành dựa trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó: Thỏa thuận và thống nhất ý chí là yếu tố cốt lõi để hình thành quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể, thiếu sự thỏa thuận này thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực

- Hậu quả pháp lý của sự thay đổi giữa các bên trong quan hệ hợp đồng là nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự

- Sự thỏa thuận giữa các bên không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa,…

1.2, Phân loại

Để phân loại hợp đồng ta căn cứ vào các tiêu chí sau:

Căn cứ vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực pháp lý của hợp đồng, hợp đồng đươc chia thành: Hợp đồng chính và hợp đồng phụ

Căn cứ vào hình thức của hợp đồng thì hợp đồng dân sự được chia thành hợp đồng có hình thức lời nói, hình thức văn bản va hình thức hành vi

Căn cứ vào sự có đi, có lại về lợi ích vật chất giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng, hợp đồng được chia thành: Hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù

Trang 3

Căn cứ vào sự tác động qua lại về quyền và nghĩa vụ của các bên thì hợp đồng dân sự được chia thành: Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ

Căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng dân sự được chia thanh: Hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết và hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểm khác

Ngoài ra hợp đồng còn có thể bao gồm các loại sau: Hợp đồng dân sự vì lợi ích của người thứ ba, hợp đồng dân sự có điều kiện, hợp đồng dân sự hỗn hợp, hợp đồng dân sự theo mẫu,…

1.3 Nội dung của hợp đồng dân sự

Nội dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng

Tại Điều 402 BLDS 2005 quy định:

Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:

• Ðối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm;

• Số lượng, chất lượng;

• Giá, phương thức thanh toán;

• Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

• Quyền, nghĩa vụ của các bên;

• Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

• Phạt vi phạm hợp đồng;

• Các nội dung khác

Trang 4

Trong tất cả các điều khoản nói trên , có những điều khoản mà ở hợp đồng này các bên không cần thỏa thuận nhưng ở một hợp đồng khác, các bên lại buộc phải thỏa thuận, thì hợp đồng mới được coi là giao kết Mặt khác ngoài những nội dung

cụ thể này, các bên còn có thể thỏa thuận để xác định với nhau thêm một số nội dung khác Vì vậy, có thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành 3 loại:

• Điều khoản cơ bản: Là các điều khoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng nhằm xác định những nội dung chủ yếu của hợp đồng và nếu không thỏa thuận các điều khoản này thì hợp đồng không thể giao kết được Điều khoản cơ bản có thể do tính chất của hợp đồng quy định hoặc do pháp luật quy định, tùy theo từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể là đối tượng, giá cả, địa điểm,…

• Điều khoản thông thường: Là những điều khoản được pháp luật quy định trước Nếu khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận những điều khoản này, thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thực hiện như pháp luật quy định, ví dụ: Địa điểm giao tài sản động sản( đối tượng của hợp đồng mua bán) là tại nới cư trú của người mua nếu người mua đã trả tiền và trong hợp đồng các bên không thỏa thuận về địa điểm giao tài sản Khác với điều khoản cơ bản các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng

• Điều khoản tùy nghi: Khi giao kết hợp đồng ngoài những điều khoản phải thỏa thuận vì tính chất của hợp đồng và những điều khoản mà pháp luật đã quy định thì khi giao kết hợp đồng các bên có thể thỏa thuận để xác địnht hêm một số điều khoản khác nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được cụ thể hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng Như vậy, điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng tự ý lựa chọn và

Trang 5

thỏa thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên Ví dụ: Địa điểm trong hợp đồng mua bán sẽ là điều khoản tùy nghi nếu các bên đã thỏa thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thực hiện nghĩa vụ giao vật

1.4 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự và hợp đồng dân sự vô hiệu

Hợp đồng dân sự là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa quyền và lợi ích hợp pháp giữa các chủ thể tham gia quan hệ hơp đồng Ngoài ra, hợp đồng dân sự còn là căn cứ để tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác giải quyết tranh chấp phát sinh Tuy nhiên, để hợp đồng dân sự có hiệu lực pháp lý thì hợp đồng đó phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định

Như vậy, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự chính là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được xác định tại Điều 122, BLDS 2005:

“Ðiều 122 Ðiều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”

Hợp đồng dân sự không tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì được xác định là vô hiệu, tuy nhiên cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu Khi

Trang 6

xem xét hợp đồng vô hiệu cần lưu ý là trên nguyên tắc hợp đồng phụ là hợp đồng

mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính nên sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng trừ trường hợp có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính Quy định hợp đồng chính vô hiệu thì hợp đồng phụ cũng vô hiệu không được áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, điều đó có nghĩa là hợp đồng chính vô hiệu nhưng các biện pháp bảo đảm vẫn có giá trị thi hành, điều 15 của Nghị định 163/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy đinh:

“Điều 15

Quan hệ giữa giao dịch bảo đảm và hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm

1 Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác

2 Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác

3 Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu

đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác

4 Giao dịch bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác

Trang 7

5 Trong trường hợp giao dịch bảo đảm không chấm dứt theo quy định tại khoản 1

và khoản 3 Điều này thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình.”

1.5 Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự

Hợp đồng hợp pháp có hiệu lực pháp lý đối với các bên tham gia quan hệ hợp đồng Nếu bên nào vi phạm phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trước chủ thể phía bên kia Pháp luật luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đó chỉ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định – đó chính là thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 427 BLDS 2005:

“Ðiều 427 Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự:

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.”

Khi xác định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự cần lưu ý:

• Đối với hợp đồng dân sự mà các bên có thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng nếu hết thời hạn đó mà bên có nghĩa vụ không thực hiện thì ngày hết hạn thực hiện nghĩa vụ là ngày xảy ra vi phạm;

• Đối với hợp đồng dân sự mà các bên không thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa

vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu hết thời hạn đã được thông báo bên có nghĩa

Trang 8

vụ không thực hiện nghĩa vụ, thì ngày hết thời hạn đã được thông báo là ngày xảy

ra vi phạm;

• Trong trường hợp khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự, các bên có thỏa thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ đó, thì việc xác định ngày vi phạm căn

cứ vào ngày chấm dứt thỏa thuận của các bên;

• Trong quá trình thực hiện hợp đồng mà có vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng thì ngày vi phạm nghĩa vụ là ngày xảy ra vi phạm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Nếu một bên đơn phương đình chỉ hợp đồng thì ngày đơn phương đình chỉ hợp đồng là ngày vi phạm

2, HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005:

2.1 Khái niệm, phân loại

Những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Hay nói cách khác, hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau

mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể Tại điều 401 BLDS đã quy định:

“Ðiều 401 Hình thức hợp đồng dân sự

Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành

vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định

Trang 9

Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản

có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Hình thức của hợp đồng dân sự tương đối đa dạng tạo điều kiện cho các chủ thể ký kết thuận tiện Đối với những hợp đồng dân sự mà pháp luật qu định buộc phải giao kết theo một hình thức nhất định, thì các bên phải tuân thoe hình thức đó Ngoài ra, đối với những hợp đồng khác, các bên có thể chọn một trong những hình thức sau đây để giao kết:

• Hình thức miệng (bằng lời nói): Thông qua hình thức này, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đối với nhau Hình thức này thường được áp dụng trong những trường hợp các bên đã có độ tin tưởng lẫn nhau(bạn bè cho nhau vay tiền) hoặc đối với những hợp đồng mà ngay sau khi giao kết sẽ được thực hiện và và chấm dứt

• Hình thức viết (bằng văn bản): Nhằm nâng cao độ xác thực về nội dung đã cam kết,các bên có thể ghi nhận nội dung giao kế hợp đồng bằng một văn bản Trong văn bản đó, các bên phải ghi đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng

ký tên xác nhận vào văn bản Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý chắc chắn hơn so với hình thức miệng Căn

cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia Vì vậy, đối với những hợp đồng mà việc thực hiện không cùng lúc với việc giao kết thì các bên thường lựa chọn hình thức này Thông thường hợp

Trang 10

đồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản, coi như đã có trong tay một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình

• Hợp đồng được thể hiện bằng văn bả có công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép: Hình thức này thường được áp dụng đối với các hợp đồng dân sự mà đối tượng có giá trị lớn, đối tượng của hợp đồng mà pháp luật quy định cần phải được kiểm soát chặt chẽ rong lưu thông dân sự, đối tượng của hợp đồng có ý nghĩa đối với đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, Nếu pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng

ký hoặc xin phép thì các bên trong quan hệ hợp đồng phải tuân theo các quy định đó

• Hợp đồng có hình thức bằng hành vi cụ thể: Hợp đồng không có sự thỏa thuận giữa các bên mà mặc nhiên coi là có sự thỏa thuận khi một bên bằng hành vi của mình chấp nhận giao kết hợp đồng thông qua sự ấn định trước quyền và nghĩa vụ của bên kia Hình thức này cũng phổ biến trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi công nghẹ ngày càng phát triển với sự tự động hóa áp dụng ở nhiều nơi, đặc biệt là các thành phố, thị xã như bán hàng qua máy tự động, rút tiền ở các máy do ngân hàng đặt ở những vị trí khác nhau…

2.2 Ý nghĩa của việc quy định hình thức của hợp đồng trong giáo lưu dân sự

Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình thức nhất định của các chủ thể hợp đồng Thông qua cách thức thể hiện này, người ta có thể biết được nôi dung của hợp đồng đã được xác lập Pháp luật quy định về điều kiện về hình thức của hợp đồng để các chủ thể tham gia giao dịch và đồng thời quy định biện pháp biện pháp chế tài nếu các bên tham gia không tuân theo các điều kiện để hợp đồng dân sự có giá trị pháp lý Việc quy định này nhằm bảo vệ trật tự

Ngày đăng: 17/04/2022, 12:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Giáo trình Luật dân sự Việt nam, tập 2, Trường đại học Luật Hà Nội, Nxb.CAND, 2006 Khác
2.Giáo trình Luật dân sự Việt Nam , tập 2, TS. Lê Đình Nghị(chủ biên), TS.Nguyễn Thị Nga, ThS. Nguyễn Bá Bình, ThS. Vũ Thị Hồng Yến, Nxb. Giáo dục Việt Nam.3.Bộ luật dân sự 2005 Khác
4.Nghị định 163/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm Khác
5.Hình thức của hợp đồng dân sự và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vi phạm quy định về hình thức: Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thơm; Người hướng dẫn:TS.Nguyễn Minh Tuấn, Hà Nội, 2011 Khác
6. Trương Anh Tuấn, Bình luận khoa học bộ luật dân sự, Nhà xuất bản Lao động Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w