1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài và hạnh phúc tâm lý của sinh viên

8 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 252,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xác định giá trị bản thân dựa trên các lĩnh vực bên ngoài của sinh viên nhiều khả năng tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến hạnh phúc tâm lý bởi cách thức thiết lập các chiến lược bảo vệ giá trị bản thân không phù hợp. Do đó, việc làm rõ mối quan hệ này là điều cần thiết nhằm góp phần xây dựng những biện pháp thúc đẩy hạnh phúc không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả một cộng đồng.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/

M ỐI QUAN HỆ GIỮA NHỮNG LĨNH VỰC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ

BẢN THÂN BÊN NGOÀI VÀ HẠNH PHÚC TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN

The relationship between external contingencies of self-worth

and psychological well-being of students

ThS Nguyễn Minh Quân

Trường Đại học Sư phạm TP.HCM

TÓM T T

Sinh viên có th ể xác định giá trị bản thân dựa trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Theo đó,

m ột số lĩnh vực xác định giá trị bản thân phụ thuộc vào những hành vi có kết quả từ môi trường bên

ngoài, ch ẳng hạn như sự công nhận từ người khác, sự cạnh tranh, năng lực học tập và ngoại hình

Nghiên c ứu trên 728 sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy giá trị bản thân dựa trên những

ngu ồn bên ngoài có tương quan nghịch với hạnh phúc tâm lý

Từ khóa: hạnh phúc tâm lý, lĩnh vực giá trị bản thân bên ngoài, sinh viên

ABSTRACT

Students can base their self-worth on many different areas of their life Accordingly, some

contingencies of self-worth are dependent on the behaviors from the external outcomes such as approval

from others, competition, academic competence and appearance Research results on 728 students in Ho

Chi Minh City show that self-worth based on external resources is inversely correlated with

psychological well-being

Keywords: external contingency of self-worth, psychological well-being, student

1 Đặt vấn đề

Mô hình hạnh phúc đã được quan tâm

nghiên cứu từ sớm trong các ngành khoa

học xã hội Theo cách tiếp cận eudaimonic,

hạnh phúc tâm lý được định nghĩa như là

cảm nhận của cá nhân hướng về một cuộc

sống có ý nghĩa và toàn vẹn chức năng con

người (Hidalgo et al., 2010) Theo đó, có

nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến

hạnh phúc tâm lý chẳng hạn như điều kiện

kinh tế, môi trường sống hay các đặc điểm

sinh lý và tâm lý cá nhân

Cách thức mà cá nhân xây dựng và

bảo vệ giá trị bản thân là một trong những

yếu tố có liên quan đến hạnh phúc tâm lý,

đặc biệt trong giai đoạn thanh niên sinh viên khi đây là thời kì phát triển mạnh mẽ các đặc điểm tâm lý cá nhân Giá trị bản thân của sinh viên có thể được dựa trên bảy lĩnh vực bao gồm: 1) sự công nhận từ

người khác, 2) sự cạnh tranh, 3) năng lực

học tập, 4) ngoại hình, 5) sự hỗ trợ từ gia đình, 6) phẩm chất đạo đức và 7) niềm tin tôn giáo (Crocker, Luhtanen, Cooper, &

Bouvrette, 2003) Các lĩnh vực này được

sắp xếp thành một dải liên tục trải từ những lĩnh vực bên ngoài đến những lĩnh vực bên trong dựa trên mức độ giá trị bản thân phụ thuộc vào những hành vi có kết quả từ môi trường bên ngoài Theo đó, các lĩnh vực

Trang 2

xác định giá trị bản thân bên ngoài của sinh

viên có thể bao gồm sự công nhận từ người

khác, sự cạnh tranh, năng lực học tập và

ngoại hình (Crocker, Luhtanen, Cooper, &

Bouvrette, 2003)

Việc xác định giá trị bản thân dựa trên

các lĩnh vực bên ngoài của sinh viên nhiều

khả năng tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến hạnh

phúc tâm lý bởi cách thức thiết lập các

chiến lược bảo vệ giá trị bản thân không

phù hợp Do đó, việc làm rõ mối quan hệ

này là điều cần thiết nhằm góp phần xây

dựng những biện pháp thúc đẩy hạnh phúc

không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả một

cộng đồng

2 Th ể thức nghiên cứu

2.1 Công cụ nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thang đo Những

lĩnh vực xác định giá trị bản thân (CWS)

của Crocker, Luhtanen, Cooper và

Bouvrette (2003) bao gồm 35 câu đo lường

7 lĩnh vực quan trọng đối với giá trị bản

thân của sinh viên Thang đo 7 mức độ

được tính như sau: 1 - hoàn toàn không

đồng ý, 2 - không đồng ý, 3 - không đồng ý

một phần, 4 - phân vân, 5 - đồng ý một

phần, 6 - đồng ý và 7 - hoàn toàn đồng ý Điểm số được tính ngược lại cho các câu 4,

6, 10, 13, 15, 23 và 30 Bài viết này chỉ sử

dụng kết quả 4 tiểu thang đo các lĩnh vực bao gồm sự công nhận từ người khác, sự

cạnh tranh, năng lực học tập và ngoại hình

Để đo lường hạnh phúc tâm lý của sinh viên, nghiên cứu sử dụng thang đo hạnh phúc tâm lý (PWS) của Ryff (1989), bản

dịch tiếng Việt của Kiều Thị Thanh Trà (2018) Thang đo bao gồm 42 câu đo lường

6 chiều kích tự chấp nhận, quan hệ tích cực

với người khác, quản lý môi trường, tự chủ,

mục đích sống và sự phát triển cá nhân Thang đo 6 mức độ được tính từ 1 - hoàn toàn không đồng ý, 2 - không đồng ý, 3 - không đồng ý một phần, 4 - đồng ý một

phần, 5 - đồng ý và 6 - hoàn toàn đồng ý Điểm số được tính ngược lại cho các câu 3,

5, 10, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 23, 26, 27,

30, 31, 32, 34, 36, 39 và 41

Bảng 1 trình bày hệ số tin cậy các thang đo và bảng 2 trình bày phân chia

mức độ dựa trên điểm trung bình từng mặt

B ng 1 H s ố tin c y các thang đo

Thang đo (Cronbach's Alpha) H s ố tin c y

1 Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân của sinh viên (CWS) 0,814

B ng 2 Phân chia m ức độ dựa trên điểm trung bình từng mặt

Mức độ 1 lĩnh vực xác định giá trị bản thân 1 chiều kích hạnh phúc tâm lý Hạnh phúc tâm

Trang 3

2.2 Mẫu nghiên cứu

Với phương thức chọn mẫu ngẫu

nhiên, nghiên cứu khảo sát trên 728 sinh

viên các trường Đại học và Học viện trên

địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm

Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Sài Gòn, Đại học Tài nguyên và Môi trường, Đại học Công nghiệp, Đại học Giao thông và Vận tải, Đại

học Sư phạm kĩ thuật, Đại học Hoa Sen và

Học viện Hành chính Quốc gia

3 K ết qu nghiên cứu

3.1 Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài của sinh viên

B ng 3 Mức độ những lĩnh vực xác định giá trị b n thân bên ngoài của sinh viên

Lĩnh vực trung bình Điểm l ch chu Độ ẩn M ức độ

Kết quả khảo sát theo thang đo CWS

của Crocker và cộng sự (2003) cho thấy,

sinh viên xác định giá trị bản thân dựa trên

sự cạnh tranh và năng lực học tập ở mức

cao, trong khi dựa vào ngoại hình ở mức

trung bình Đáng chú ý, lĩnh vực sự công

nhận từ người khác có điểm trung bình

thấp nhất và chỉ đạt mức thấp nhưng có độ

lệch chuẩn cao nhất xét trong bốn lĩnh vực

xác định giá trị bản thân bên ngoài

Có thể thấy, mức độ xác định giá trị

bản thân dựa trên các lĩnh vực bên ngoài

của sinh viên có sự khác biệt giữa các lĩnh

vực Kết quả này phù hợp với nghiên cứu

được thực hiện trước đó trên sinh viên Đại

học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

(Nguyễn Minh Quân, 2018) Theo đó, xét

trong những lĩnh vực bên ngoài, sự cạnh

tranh và năng lực học tập đóng vai trò quan

trọng đối với giá trị bản thân của sinh viên

Việc dựa trên sự cạnh tranh làm cơ sở thúc

đẩy sinh viên hoạt động nhằm vượt trội

hơn người khác trong một cuộc thi đấu để

bảo vệ cảm nhận về giá trị bản thân Đối

với sinh viên có giá trị bản thân phụ thuộc vào năng lực học tập, cá nhân có thể tự đánh giá mức độ giá trị bản thân thông qua điểm số trên lớp, sự thành công hay thất

bại trong một nhiệm vụ học tập hay từ

nhận xét của giảng viên, từ đó thiết lập các chiến lược nhằm đạt được những cảm nhận

tốt về giá trị bản thân (Crocker, Luhtanen, Cooper, & Bouvrette, 2003) Bên cạnh đó, ngoại hình cũng được xem là một lĩnh vực quan trọng đối với giá trị bản thân trong giai đoạn lứa tuổi này khi sinh viên dựa vào sự đánh giá về những đặc điểm trên cơ

thể, cân nặng hay hình dáng để đánh giá mức độ giá trị bản thân (Crocker, Luhtanen, Cooper, & Bouvrette, 2003) Trong khi đó, sinh viên xác định giá trị

bản thân dựa trên sự công nhận từ người khác nhạy cảm hơn với những phản hồi

xã hội (Crocker, Luhtanen, Cooper, &

Trang 4

Bouvrette, 2003), đặc biệt đối với những

phản hồi từ những mối quan hệ xã hội quan

trọng chẳng hạn như gia đình và bạn bè

Tuy nhiên, mặc dù có thể sử dụng những

phản hồi xã hội như công cụ để đánh giá

giá trị bản thân, sự công nhận từ người

khác lại có mức độ được sinh viên lựa chọn

sử dụng thấp nhất và có sự khác biệt nhiều

nhất giữa các sinh viên với nhau Điều này

có thể được giải thích bởi sự hạn chế của tính tự báo cáo trong thang đo CWS (Vonk, Radstaak, de Heus, & Jolij, 2019)

3.2 Hạnh phúc tâm lý của sinh viên

B ng 4 Mức độ h nh phúc tâm lý của sinh viên

Bi ến số trung bình Điểm l ch chu Độ ẩn M ức độ

Các

chi ều

kích

Kết quả khảo sát theo thang đo PWS

của Ryff (1989) cho thấy, hạnh phúc tâm lý

của sinh viên ở mức trung bình Xét từng

chiều kích, ngoại trừ hai chiều kích quan

hệ tích cực và phát triển cá nhân ở mức

cao, các chiều kích còn lại chỉ đạt mức

trung bình Đáng chú ý, chiều kích tự chấp

nhận có điểm trung bình thấp nhất nhưng

lại có độ lệch chuẩn cao nhất so với các

chiều kích còn lại

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu

trước đó trên sinh viên Thành phố Hồ Chí

Minh (Kiều Thị Thanh Trà, 2018) Điều

này có thể được giải thích bởi sự phát triển

về mặt tâm lý của cá nhân trong giai đoạn

thanh niên sinh viên Chẳng hạn như, đặc

điểm cởi mở trong nhân cách (Bleidorn &

Schwaba, 2017) thúc đẩy khả năng phát

triển tiềm năng của cá nhân cũng như sự

phát triển mạnh mẽ tình cảm trong các mối quan hệ xã hội (Hutchison, Leigh, & Wagner, 2016) đã góp phần giải thích mức

độ cao trong khả năng xây dựng và phát triển các mối quan hệ Bên cạnh đó, việc

phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau liên quan đến những đặc điểm nhân cách hay môi trường sống của cá nhân khiến chiều kích tự chấp nhận được đặc trưng bởi mức

độ đánh giá về bản thân cá nhân với đầy đủ

những đặc điểm và sự kiện trong quá khứ

có sự khác biệt giữa các cá nhân nhiều nhất

so với các chiều kích còn lại

Trong khi đó, các chiều kích còn lại bao gồm quản lý môi trường, tự chủ và

mục đích sống chỉ đạt mức độ trung bình

Những thay đổi trong việc học tập, công việc, nơi ở hay các mối quan hệ xã hội cho thấy đặc tính không ổn định trong giai

Trang 5

đoạn thanh niên sinh viên Sự không chắc

chắn về tương lai khiến cá nhân nhạy cảm

với những câu hỏi về bản thân hay những

điều có ý nghĩa trong cuộc sống nhiều hơn

so với các nhóm tuổi khác (Lally &

Valentine - French, 2019) Bên cạnh đó, do

vẫn còn phụ thuộc một phần vào gia đình cũng như chưa hoàn toàn gánh vác những trách nhiệm xã hội đặt ra cho người trưởng thành nên khả năng làm chủ điều kiện sống cũng như sự độc lập và tính tự quyết của sinh viên vẫn còn nhiều hạn chế

3.3 Mối liên hệ giữa những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài và hạnh

phúc tâm lý của sinh viên

B ng 5 Tương quan Pearson giữa các lĩnh vực xác định giá trị b n thân bên ngoài và

h nh phúc tâm lý c ủa sinh viên

Bi ến số S ự công nh n từ người khác c nh tranh S ự Năng lực h ọc t p Ngo i hình

Hạnh phúc tâm lý - 0,311** - 0,117** - 0,048 - 0,173**

Tự chấp nhận - 0,217** - 0,107** - 0,102** - 0,102**

Quản lý môi trường - 0,265** - 0,083** - 0,058 - 0,128** Quan hệ tích cực - 0,161** - 0,026 0,041 - 0,109**

Mục đích sống - 0,189** - 0,162** - 0,024 - 0,159** Phát triển cá nhân - 0,177** - 0,041 0,081* - 0,113**

(**) Có ý nghĩa với  = 0,01; (*) Có ý nghĩa với  = 0,05

Ngoại trừ năng lực học tập, các lĩnh

vực xác định giá trị bản thân còn lại đa

phần có tương quan nghịch với hạnh phúc

tâm lý ở mức thấp Xét trong từng lĩnh vực,

giá trị bản thân dựa trên sự công nhận từ

người khác và ngoại hình có tương quan

với tất cả các chiều kích của hạnh phúc tâm

lý Đặc biệt, sự công nhận từ người khác có

tương quan nghịch ở mức trung bình với

chiều kích tự chủ Bên cạnh đó, sự cạnh

tranh có tương quan nghịch không đáng kể

với đa phần các chiều kích hạnh phúc tâm

lý, ngoại trừ chiều kích quan hệ tích cực và

chiều kích phát triển cá nhân Đáng chú ý,

năng lực học tập tuy có tương quan nghịch

với chiều kích tự chấp nhận và tự chủ nhưng có tương quan thuận với chiều kích phát triển cá nhân, tuy mức độ tương quan không đáng kể

Nhìn chung, đa phần việc xác định giá

trị bản thân dựa trên những lĩnh vực bên ngoài của sinh viên có tương quan nghịch

với hạnh phúc tâm lý và các chiều kích

cấu thành Kết quả này góp phần củng cố

những phát hiện trước đó về mối liên hệ

giữa việc xác định giá trị bản thân dựa trên hành vi có kết quả từ môi trường bên ngoài với hạnh phúc cá nhân Việc lệ thuộc vào những phản hồi của người khác khiến cá nhân không thể hoàn toàn chấp

Trang 6

nhận những đặc điểm của bản thân và né

tránh tương tác xã hội (Karaşar &

Baytemir, 2018), theo đó làm suy giảm

hạnh phúc tâm lý Chẳng hạn như sinh

viên xác định giá trị bản thân dựa trên sự

công nhận từ người khác có thể thực hiện

những hành vi nguy hại nhằm đạt được sự

chấp thuận từ nhóm xã hội (Howell et al.,

2014) hoặc với cá nhân sử dụng ngoại

hình làm cơ sở cho giá trị bản thân, việc

thiết lập những lý tưởng về ngoại hình có

thể dẫn đến sự không hài lòng về ngoại

hình bản thân và theo đó thúc đẩy việc né

tránh các tương tác xã hội (Dotse &

Asumeng, 2015) Bên cạnh đó, đối với

sinh viên có giá trị bản thân phụ thuộc vào

sự cạnh tranh phải tìm cách để đảm bảo

mức độ vượt trội bằng việc luôn phải so

sánh với những người khác Do đó thúc

đẩy tần suất thực hiện hành vi gian lận

trong việc học nhiều hơn so với các sinh

viên có giá trị bản thân dựa trên phẩm chất

đạo đức (Niiya, Ballantyne, North, &

Crocker, 2008) Có thể thấy, giá trị bản

thân phụ thuộc vào những lĩnh vực bên

ngoài có thể tác động đến những chiều

kích khác nhau của hạnh phúc tâm lý qua

việc xây dựng những cách thức để bảo

đảm mức độ giá trị bản thân

Đáng chú ý, mối liên hệ giữa lĩnh vực

năng lực học tập và hạnh phúc tâm lý của

sinh viên có sự khác biệt so với các lĩnh

vực còn lại Những sinh viên đặt giá trị bản

thân dựa vào năng lực học tập có khả năng

tự chấp nhận và tự chủ thấp hơn, có thể

chịu tác động tiêu cực và xuất hiện các

triệu chứng trầm cảm nhiều hơn khi có

thành tích học tập kém so với những cá

nhân có giá trị bản thân ít đầu tư vào lĩnh

vực này hoặc không gặp phải mối đe dọa

tương tự (Crocker, Sommers, & Luhtanen,

2002) Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng

cho thấy mối tương quan thuận giữa năng

lực học tập và chiều kích phát triển cá nhân Điều này có thể bởi năng lực học tập còn được xem như một động cơ thúc đẩy sinh viên trải nghiệm những hoạt động khác nhau nhằm khám phá những tiềm năng của bản thân

4 K ết lu n

Kết quả khảo sát trên 728 sinh viên cho thấy, xét trong các lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài theo thang đo CWS, sinh viên xác định giá trị bản thân

dựa trên các lĩnh vực theo thứ tự từ cao đến thấp bao gồm năng lực học tập, sự

cạnh tranh, ngoại hình và sự công nhận từ người khác Bên cạnh đó, hạnh phúc tâm

lý của sinh viên xét theo mô hình sáu chiều kích theo thang đo PWS chỉ ở mức trung bình, tuy có sự khác biệt về mức độ giữa các chiều kích cấu thành trong đó chiều kích quan hệ tích cực và phát triển cá nhân đạt mức cao Kết quả khảo sát còn cho

thấy đa phần việc xác định giá trị bản thân

dựa trên những lĩnh vực bên ngoài của sinh viên có tương quan nghịch với hạnh phúc tâm lý và các chiều kích cấu thành Tuy nhiên, mức độ và chiều hướng tương quan với hạnh phúc tâm lý có sự khác biệt

giữa các lĩnh vực

Nhìn chung, những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài và hạnh phúc tâm lý có mối quan hệ với nhau, tuy độ tương quan chỉ ở mức thấp Điều này có

thể bởi hạnh phúc tâm lý còn chịu tác động

từ nhiều yếu tố khác nhau không chỉ riêng

những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài Do đó, các nghiên cứu sau cần

tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa giá trị bản thân và các mô hình hạnh phúc khác nhau

nhằm góp phần xây dựng những biện pháp thúc đẩy hạnh phúc cá nhân và cộng đồng

một cách hiệu quả

Trang 7

Bài viết phục vụ đề tài nghiên cứu "Mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh

phúc tâm lý của sinh viên", luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học, Trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

TÀI LI U THAM KH O

Bleidorn, W., & Schwaba, T (2017) Personality development in emerging adulthood In J Specht (Ed.), Personality development across the lifespan (pp 39–51) Elsevier Academic Press https://doi.org/10.1016/B978-0-12-804674-6.00004-1

Crocker, J., Luhtanen, R K., Cooper, M L., & Bouvrette, A (2003) Contingencies of self-worth in college students: Theory and measurement Journal of Personality and Social Psychology, 85(5), 894–908 https://doi.org/10.1037/0022-3514.85.5.894 Crocker, J., Sommers, S R., & Luhtanen, R K (2002) Hopes dashed and dreams fulfilled: Contingencies of self-worth and admissions to graduate school Personality and Social Psychology Bulletin, 28(9), 1275–1286

https://doi.org/10.1177/01461672022812012

Dotse, J E & Asumeng, M (2015) Relationship between body image satisfaction and psychological well-being: The impact of africentric values Journal of Social Science

Studies, 2(1), 320-342 http://doi.org/10.5296/jsss.v2i1.6843

Hidalgo, J L., Bravo, B N., Martínez, I P., Pretell, F A., Postigo, J M L., & Rabadán, F

E (2010) Psychological well-being, assessment tools and related factors In I E Wells (Ed.), Psychological well-being (pp 77-113) Nova Science Publishers

Howell, J L., Koudenburg, N., Loschelder, D D., Weston, D., Fransen, K., De Dominicis, S., Gallagher, S., & Haslam, S A (2014) Happy but unhealthy: The relationship between social ties and health in an emerging network European Journal of Social Psychology, 44(6), 612-621 https://doi.org/10.1002/ejsp.2030

Hutchison, B., Leigh, K T & Wagner, H H (2016) Young adulthood social-emotional development In D Capuzzi & M D Stauffer (Eds.), Human growth and development across the lifespan: Applications for counselors (pp 415-442) John Wiley & Sons Inc

Karaşar, B & Baytemir, K (2018) Need for social approval and happiness in college students: The mediation role of social anxiety Universal Journal of Educational Research, 6(5), 919-927 https://doi.org/10.13189/ujer.2018.060513

Kiều Thị Thanh Trà (2018) Psychological well-being of students in Ho Chi Minh City Proceedings: The 6th international conference on school psychology – The role of

school psychology in promoting well-being of students and family Hà Nội, Việt Nam Lally, M & Valentine-French, S (2019) Lifespan development: A psychological perspective (2nd ed.) College of Lake County

Trang 8

Nguyễn Minh Quân (2018) Giá trị bản thân của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành

Thư viện Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Niiya, Y., Ballantyne, R., North, M S., & Crocker, J (2008) Gender, contingencies of self-worth, and achievement goals as predictors of academic cheating in a controlled laboratory setting Basic and Applied Social Psychology, 30(1), 76–

83 https://doi.org/10.1080/01973530701866656

Ryff, C D (1989) Happiness is everything, or is it? Explorations on the meaning of psychological well-being Journal of Personality and Social Psychology, 57(6), 1069-1081 https://doi.org/10.1037/0022-3514.57.6.1069

Vonk, R., Radstaak, M., de Heus, P., & Jolij, J (2019) Ironic effects of feedback on contingency of self-worth: Why self-reports of contingency are biased Self and Identity, 18(2), 183-200 https://doi.org/10.1080/15298868.2017.1406400

Ngày nhận bài: 01/10/2020 Biên tập xong: 15/8/2021 Duyệt đăng: 20/8/2021

Ngày đăng: 17/04/2022, 11:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w