Việc xác định giá trị bản thân dựa trên các lĩnh vực bên ngoài của sinh viên nhiều khả năng tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến hạnh phúc tâm lý bởi cách thức thiết lập các chiến lược bảo vệ giá trị bản thân không phù hợp. Do đó, việc làm rõ mối quan hệ này là điều cần thiết nhằm góp phần xây dựng những biện pháp thúc đẩy hạnh phúc không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả một cộng đồng.
Trang 1ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY
Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/
M ỐI QUAN HỆ GIỮA NHỮNG LĨNH VỰC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
BẢN THÂN BÊN NGOÀI VÀ HẠNH PHÚC TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN
The relationship between external contingencies of self-worth
and psychological well-being of students
ThS Nguyễn Minh Quân
Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
TÓM T T
Sinh viên có th ể xác định giá trị bản thân dựa trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Theo đó,
m ột số lĩnh vực xác định giá trị bản thân phụ thuộc vào những hành vi có kết quả từ môi trường bên
ngoài, ch ẳng hạn như sự công nhận từ người khác, sự cạnh tranh, năng lực học tập và ngoại hình
Nghiên c ứu trên 728 sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy giá trị bản thân dựa trên những
ngu ồn bên ngoài có tương quan nghịch với hạnh phúc tâm lý
Từ khóa: hạnh phúc tâm lý, lĩnh vực giá trị bản thân bên ngoài, sinh viên
ABSTRACT
Students can base their self-worth on many different areas of their life Accordingly, some
contingencies of self-worth are dependent on the behaviors from the external outcomes such as approval
from others, competition, academic competence and appearance Research results on 728 students in Ho
Chi Minh City show that self-worth based on external resources is inversely correlated with
psychological well-being
Keywords: external contingency of self-worth, psychological well-being, student
1 Đặt vấn đề
Mô hình hạnh phúc đã được quan tâm
nghiên cứu từ sớm trong các ngành khoa
học xã hội Theo cách tiếp cận eudaimonic,
hạnh phúc tâm lý được định nghĩa như là
cảm nhận của cá nhân hướng về một cuộc
sống có ý nghĩa và toàn vẹn chức năng con
người (Hidalgo et al., 2010) Theo đó, có
nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến
hạnh phúc tâm lý chẳng hạn như điều kiện
kinh tế, môi trường sống hay các đặc điểm
sinh lý và tâm lý cá nhân
Cách thức mà cá nhân xây dựng và
bảo vệ giá trị bản thân là một trong những
yếu tố có liên quan đến hạnh phúc tâm lý,
đặc biệt trong giai đoạn thanh niên sinh viên khi đây là thời kì phát triển mạnh mẽ các đặc điểm tâm lý cá nhân Giá trị bản thân của sinh viên có thể được dựa trên bảy lĩnh vực bao gồm: 1) sự công nhận từ
người khác, 2) sự cạnh tranh, 3) năng lực
học tập, 4) ngoại hình, 5) sự hỗ trợ từ gia đình, 6) phẩm chất đạo đức và 7) niềm tin tôn giáo (Crocker, Luhtanen, Cooper, &
Bouvrette, 2003) Các lĩnh vực này được
sắp xếp thành một dải liên tục trải từ những lĩnh vực bên ngoài đến những lĩnh vực bên trong dựa trên mức độ giá trị bản thân phụ thuộc vào những hành vi có kết quả từ môi trường bên ngoài Theo đó, các lĩnh vực
Trang 2xác định giá trị bản thân bên ngoài của sinh
viên có thể bao gồm sự công nhận từ người
khác, sự cạnh tranh, năng lực học tập và
ngoại hình (Crocker, Luhtanen, Cooper, &
Bouvrette, 2003)
Việc xác định giá trị bản thân dựa trên
các lĩnh vực bên ngoài của sinh viên nhiều
khả năng tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến hạnh
phúc tâm lý bởi cách thức thiết lập các
chiến lược bảo vệ giá trị bản thân không
phù hợp Do đó, việc làm rõ mối quan hệ
này là điều cần thiết nhằm góp phần xây
dựng những biện pháp thúc đẩy hạnh phúc
không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả một
cộng đồng
2 Th ể thức nghiên cứu
2.1 Công cụ nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thang đo Những
lĩnh vực xác định giá trị bản thân (CWS)
của Crocker, Luhtanen, Cooper và
Bouvrette (2003) bao gồm 35 câu đo lường
7 lĩnh vực quan trọng đối với giá trị bản
thân của sinh viên Thang đo 7 mức độ
được tính như sau: 1 - hoàn toàn không
đồng ý, 2 - không đồng ý, 3 - không đồng ý
một phần, 4 - phân vân, 5 - đồng ý một
phần, 6 - đồng ý và 7 - hoàn toàn đồng ý Điểm số được tính ngược lại cho các câu 4,
6, 10, 13, 15, 23 và 30 Bài viết này chỉ sử
dụng kết quả 4 tiểu thang đo các lĩnh vực bao gồm sự công nhận từ người khác, sự
cạnh tranh, năng lực học tập và ngoại hình
Để đo lường hạnh phúc tâm lý của sinh viên, nghiên cứu sử dụng thang đo hạnh phúc tâm lý (PWS) của Ryff (1989), bản
dịch tiếng Việt của Kiều Thị Thanh Trà (2018) Thang đo bao gồm 42 câu đo lường
6 chiều kích tự chấp nhận, quan hệ tích cực
với người khác, quản lý môi trường, tự chủ,
mục đích sống và sự phát triển cá nhân Thang đo 6 mức độ được tính từ 1 - hoàn toàn không đồng ý, 2 - không đồng ý, 3 - không đồng ý một phần, 4 - đồng ý một
phần, 5 - đồng ý và 6 - hoàn toàn đồng ý Điểm số được tính ngược lại cho các câu 3,
5, 10, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 23, 26, 27,
30, 31, 32, 34, 36, 39 và 41
Bảng 1 trình bày hệ số tin cậy các thang đo và bảng 2 trình bày phân chia
mức độ dựa trên điểm trung bình từng mặt
B ng 1 H s ố tin c y các thang đo
Thang đo (Cronbach's Alpha) H s ố tin c y
1 Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân của sinh viên (CWS) 0,814
B ng 2 Phân chia m ức độ dựa trên điểm trung bình từng mặt
Mức độ 1 lĩnh vực xác định giá trị bản thân 1 chiều kích hạnh phúc tâm lý Hạnh phúc tâm lý
Trang 32.2 Mẫu nghiên cứu
Với phương thức chọn mẫu ngẫu
nhiên, nghiên cứu khảo sát trên 728 sinh
viên các trường Đại học và Học viện trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm
Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Sài Gòn, Đại học Tài nguyên và Môi trường, Đại học Công nghiệp, Đại học Giao thông và Vận tải, Đại
học Sư phạm kĩ thuật, Đại học Hoa Sen và
Học viện Hành chính Quốc gia
3 K ết qu nghiên cứu
3.1 Những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài của sinh viên
B ng 3 Mức độ những lĩnh vực xác định giá trị b n thân bên ngoài của sinh viên
Lĩnh vực trung bình Điểm l ch chu Độ ẩn M ức độ
Kết quả khảo sát theo thang đo CWS
của Crocker và cộng sự (2003) cho thấy,
sinh viên xác định giá trị bản thân dựa trên
sự cạnh tranh và năng lực học tập ở mức
cao, trong khi dựa vào ngoại hình ở mức
trung bình Đáng chú ý, lĩnh vực sự công
nhận từ người khác có điểm trung bình
thấp nhất và chỉ đạt mức thấp nhưng có độ
lệch chuẩn cao nhất xét trong bốn lĩnh vực
xác định giá trị bản thân bên ngoài
Có thể thấy, mức độ xác định giá trị
bản thân dựa trên các lĩnh vực bên ngoài
của sinh viên có sự khác biệt giữa các lĩnh
vực Kết quả này phù hợp với nghiên cứu
được thực hiện trước đó trên sinh viên Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
(Nguyễn Minh Quân, 2018) Theo đó, xét
trong những lĩnh vực bên ngoài, sự cạnh
tranh và năng lực học tập đóng vai trò quan
trọng đối với giá trị bản thân của sinh viên
Việc dựa trên sự cạnh tranh làm cơ sở thúc
đẩy sinh viên hoạt động nhằm vượt trội
hơn người khác trong một cuộc thi đấu để
bảo vệ cảm nhận về giá trị bản thân Đối
với sinh viên có giá trị bản thân phụ thuộc vào năng lực học tập, cá nhân có thể tự đánh giá mức độ giá trị bản thân thông qua điểm số trên lớp, sự thành công hay thất
bại trong một nhiệm vụ học tập hay từ
nhận xét của giảng viên, từ đó thiết lập các chiến lược nhằm đạt được những cảm nhận
tốt về giá trị bản thân (Crocker, Luhtanen, Cooper, & Bouvrette, 2003) Bên cạnh đó, ngoại hình cũng được xem là một lĩnh vực quan trọng đối với giá trị bản thân trong giai đoạn lứa tuổi này khi sinh viên dựa vào sự đánh giá về những đặc điểm trên cơ
thể, cân nặng hay hình dáng để đánh giá mức độ giá trị bản thân (Crocker, Luhtanen, Cooper, & Bouvrette, 2003) Trong khi đó, sinh viên xác định giá trị
bản thân dựa trên sự công nhận từ người khác nhạy cảm hơn với những phản hồi
xã hội (Crocker, Luhtanen, Cooper, &
Trang 4Bouvrette, 2003), đặc biệt đối với những
phản hồi từ những mối quan hệ xã hội quan
trọng chẳng hạn như gia đình và bạn bè
Tuy nhiên, mặc dù có thể sử dụng những
phản hồi xã hội như công cụ để đánh giá
giá trị bản thân, sự công nhận từ người
khác lại có mức độ được sinh viên lựa chọn
sử dụng thấp nhất và có sự khác biệt nhiều
nhất giữa các sinh viên với nhau Điều này
có thể được giải thích bởi sự hạn chế của tính tự báo cáo trong thang đo CWS (Vonk, Radstaak, de Heus, & Jolij, 2019)
3.2 Hạnh phúc tâm lý của sinh viên
B ng 4 Mức độ h nh phúc tâm lý của sinh viên
Bi ến số trung bình Điểm l ch chu Độ ẩn M ức độ
Các
chi ều
kích
Kết quả khảo sát theo thang đo PWS
của Ryff (1989) cho thấy, hạnh phúc tâm lý
của sinh viên ở mức trung bình Xét từng
chiều kích, ngoại trừ hai chiều kích quan
hệ tích cực và phát triển cá nhân ở mức
cao, các chiều kích còn lại chỉ đạt mức
trung bình Đáng chú ý, chiều kích tự chấp
nhận có điểm trung bình thấp nhất nhưng
lại có độ lệch chuẩn cao nhất so với các
chiều kích còn lại
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu
trước đó trên sinh viên Thành phố Hồ Chí
Minh (Kiều Thị Thanh Trà, 2018) Điều
này có thể được giải thích bởi sự phát triển
về mặt tâm lý của cá nhân trong giai đoạn
thanh niên sinh viên Chẳng hạn như, đặc
điểm cởi mở trong nhân cách (Bleidorn &
Schwaba, 2017) thúc đẩy khả năng phát
triển tiềm năng của cá nhân cũng như sự
phát triển mạnh mẽ tình cảm trong các mối quan hệ xã hội (Hutchison, Leigh, & Wagner, 2016) đã góp phần giải thích mức
độ cao trong khả năng xây dựng và phát triển các mối quan hệ Bên cạnh đó, việc
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau liên quan đến những đặc điểm nhân cách hay môi trường sống của cá nhân khiến chiều kích tự chấp nhận được đặc trưng bởi mức
độ đánh giá về bản thân cá nhân với đầy đủ
những đặc điểm và sự kiện trong quá khứ
có sự khác biệt giữa các cá nhân nhiều nhất
so với các chiều kích còn lại
Trong khi đó, các chiều kích còn lại bao gồm quản lý môi trường, tự chủ và
mục đích sống chỉ đạt mức độ trung bình
Những thay đổi trong việc học tập, công việc, nơi ở hay các mối quan hệ xã hội cho thấy đặc tính không ổn định trong giai
Trang 5đoạn thanh niên sinh viên Sự không chắc
chắn về tương lai khiến cá nhân nhạy cảm
với những câu hỏi về bản thân hay những
điều có ý nghĩa trong cuộc sống nhiều hơn
so với các nhóm tuổi khác (Lally &
Valentine - French, 2019) Bên cạnh đó, do
vẫn còn phụ thuộc một phần vào gia đình cũng như chưa hoàn toàn gánh vác những trách nhiệm xã hội đặt ra cho người trưởng thành nên khả năng làm chủ điều kiện sống cũng như sự độc lập và tính tự quyết của sinh viên vẫn còn nhiều hạn chế
3.3 Mối liên hệ giữa những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài và hạnh
phúc tâm lý của sinh viên
B ng 5 Tương quan Pearson giữa các lĩnh vực xác định giá trị b n thân bên ngoài và
h nh phúc tâm lý c ủa sinh viên
Bi ến số S ự công nh n từ người khác c nh tranh S ự Năng lực h ọc t p Ngo i hình
Hạnh phúc tâm lý - 0,311** - 0,117** - 0,048 - 0,173**
Tự chấp nhận - 0,217** - 0,107** - 0,102** - 0,102**
Quản lý môi trường - 0,265** - 0,083** - 0,058 - 0,128** Quan hệ tích cực - 0,161** - 0,026 0,041 - 0,109**
Mục đích sống - 0,189** - 0,162** - 0,024 - 0,159** Phát triển cá nhân - 0,177** - 0,041 0,081* - 0,113**
(**) Có ý nghĩa với = 0,01; (*) Có ý nghĩa với = 0,05
Ngoại trừ năng lực học tập, các lĩnh
vực xác định giá trị bản thân còn lại đa
phần có tương quan nghịch với hạnh phúc
tâm lý ở mức thấp Xét trong từng lĩnh vực,
giá trị bản thân dựa trên sự công nhận từ
người khác và ngoại hình có tương quan
với tất cả các chiều kích của hạnh phúc tâm
lý Đặc biệt, sự công nhận từ người khác có
tương quan nghịch ở mức trung bình với
chiều kích tự chủ Bên cạnh đó, sự cạnh
tranh có tương quan nghịch không đáng kể
với đa phần các chiều kích hạnh phúc tâm
lý, ngoại trừ chiều kích quan hệ tích cực và
chiều kích phát triển cá nhân Đáng chú ý,
năng lực học tập tuy có tương quan nghịch
với chiều kích tự chấp nhận và tự chủ nhưng có tương quan thuận với chiều kích phát triển cá nhân, tuy mức độ tương quan không đáng kể
Nhìn chung, đa phần việc xác định giá
trị bản thân dựa trên những lĩnh vực bên ngoài của sinh viên có tương quan nghịch
với hạnh phúc tâm lý và các chiều kích
cấu thành Kết quả này góp phần củng cố
những phát hiện trước đó về mối liên hệ
giữa việc xác định giá trị bản thân dựa trên hành vi có kết quả từ môi trường bên ngoài với hạnh phúc cá nhân Việc lệ thuộc vào những phản hồi của người khác khiến cá nhân không thể hoàn toàn chấp
Trang 6nhận những đặc điểm của bản thân và né
tránh tương tác xã hội (Karaşar &
Baytemir, 2018), theo đó làm suy giảm
hạnh phúc tâm lý Chẳng hạn như sinh
viên xác định giá trị bản thân dựa trên sự
công nhận từ người khác có thể thực hiện
những hành vi nguy hại nhằm đạt được sự
chấp thuận từ nhóm xã hội (Howell et al.,
2014) hoặc với cá nhân sử dụng ngoại
hình làm cơ sở cho giá trị bản thân, việc
thiết lập những lý tưởng về ngoại hình có
thể dẫn đến sự không hài lòng về ngoại
hình bản thân và theo đó thúc đẩy việc né
tránh các tương tác xã hội (Dotse &
Asumeng, 2015) Bên cạnh đó, đối với
sinh viên có giá trị bản thân phụ thuộc vào
sự cạnh tranh phải tìm cách để đảm bảo
mức độ vượt trội bằng việc luôn phải so
sánh với những người khác Do đó thúc
đẩy tần suất thực hiện hành vi gian lận
trong việc học nhiều hơn so với các sinh
viên có giá trị bản thân dựa trên phẩm chất
đạo đức (Niiya, Ballantyne, North, &
Crocker, 2008) Có thể thấy, giá trị bản
thân phụ thuộc vào những lĩnh vực bên
ngoài có thể tác động đến những chiều
kích khác nhau của hạnh phúc tâm lý qua
việc xây dựng những cách thức để bảo
đảm mức độ giá trị bản thân
Đáng chú ý, mối liên hệ giữa lĩnh vực
năng lực học tập và hạnh phúc tâm lý của
sinh viên có sự khác biệt so với các lĩnh
vực còn lại Những sinh viên đặt giá trị bản
thân dựa vào năng lực học tập có khả năng
tự chấp nhận và tự chủ thấp hơn, có thể
chịu tác động tiêu cực và xuất hiện các
triệu chứng trầm cảm nhiều hơn khi có
thành tích học tập kém so với những cá
nhân có giá trị bản thân ít đầu tư vào lĩnh
vực này hoặc không gặp phải mối đe dọa
tương tự (Crocker, Sommers, & Luhtanen,
2002) Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng
cho thấy mối tương quan thuận giữa năng
lực học tập và chiều kích phát triển cá nhân Điều này có thể bởi năng lực học tập còn được xem như một động cơ thúc đẩy sinh viên trải nghiệm những hoạt động khác nhau nhằm khám phá những tiềm năng của bản thân
4 K ết lu n
Kết quả khảo sát trên 728 sinh viên cho thấy, xét trong các lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài theo thang đo CWS, sinh viên xác định giá trị bản thân
dựa trên các lĩnh vực theo thứ tự từ cao đến thấp bao gồm năng lực học tập, sự
cạnh tranh, ngoại hình và sự công nhận từ người khác Bên cạnh đó, hạnh phúc tâm
lý của sinh viên xét theo mô hình sáu chiều kích theo thang đo PWS chỉ ở mức trung bình, tuy có sự khác biệt về mức độ giữa các chiều kích cấu thành trong đó chiều kích quan hệ tích cực và phát triển cá nhân đạt mức cao Kết quả khảo sát còn cho
thấy đa phần việc xác định giá trị bản thân
dựa trên những lĩnh vực bên ngoài của sinh viên có tương quan nghịch với hạnh phúc tâm lý và các chiều kích cấu thành Tuy nhiên, mức độ và chiều hướng tương quan với hạnh phúc tâm lý có sự khác biệt
giữa các lĩnh vực
Nhìn chung, những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài và hạnh phúc tâm lý có mối quan hệ với nhau, tuy độ tương quan chỉ ở mức thấp Điều này có
thể bởi hạnh phúc tâm lý còn chịu tác động
từ nhiều yếu tố khác nhau không chỉ riêng
những lĩnh vực xác định giá trị bản thân bên ngoài Do đó, các nghiên cứu sau cần
tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa giá trị bản thân và các mô hình hạnh phúc khác nhau
nhằm góp phần xây dựng những biện pháp thúc đẩy hạnh phúc cá nhân và cộng đồng
một cách hiệu quả
Trang 7Bài viết phục vụ đề tài nghiên cứu "Mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hạnh
phúc tâm lý của sinh viên", luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học, Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
TÀI LI U THAM KH O
Bleidorn, W., & Schwaba, T (2017) Personality development in emerging adulthood In J Specht (Ed.), Personality development across the lifespan (pp 39–51) Elsevier Academic Press https://doi.org/10.1016/B978-0-12-804674-6.00004-1
Crocker, J., Luhtanen, R K., Cooper, M L., & Bouvrette, A (2003) Contingencies of self-worth in college students: Theory and measurement Journal of Personality and Social Psychology, 85(5), 894–908 https://doi.org/10.1037/0022-3514.85.5.894 Crocker, J., Sommers, S R., & Luhtanen, R K (2002) Hopes dashed and dreams fulfilled: Contingencies of self-worth and admissions to graduate school Personality and Social Psychology Bulletin, 28(9), 1275–1286
https://doi.org/10.1177/01461672022812012
Dotse, J E & Asumeng, M (2015) Relationship between body image satisfaction and psychological well-being: The impact of africentric values Journal of Social Science
Studies, 2(1), 320-342 http://doi.org/10.5296/jsss.v2i1.6843
Hidalgo, J L., Bravo, B N., Martínez, I P., Pretell, F A., Postigo, J M L., & Rabadán, F
E (2010) Psychological well-being, assessment tools and related factors In I E Wells (Ed.), Psychological well-being (pp 77-113) Nova Science Publishers
Howell, J L., Koudenburg, N., Loschelder, D D., Weston, D., Fransen, K., De Dominicis, S., Gallagher, S., & Haslam, S A (2014) Happy but unhealthy: The relationship between social ties and health in an emerging network European Journal of Social Psychology, 44(6), 612-621 https://doi.org/10.1002/ejsp.2030
Hutchison, B., Leigh, K T & Wagner, H H (2016) Young adulthood social-emotional development In D Capuzzi & M D Stauffer (Eds.), Human growth and development across the lifespan: Applications for counselors (pp 415-442) John Wiley & Sons Inc
Karaşar, B & Baytemir, K (2018) Need for social approval and happiness in college students: The mediation role of social anxiety Universal Journal of Educational Research, 6(5), 919-927 https://doi.org/10.13189/ujer.2018.060513
Kiều Thị Thanh Trà (2018) Psychological well-being of students in Ho Chi Minh City Proceedings: The 6th international conference on school psychology – The role of
school psychology in promoting well-being of students and family Hà Nội, Việt Nam Lally, M & Valentine-French, S (2019) Lifespan development: A psychological perspective (2nd ed.) College of Lake County
Trang 8Nguyễn Minh Quân (2018) Giá trị bản thân của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành
Thư viện Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Niiya, Y., Ballantyne, R., North, M S., & Crocker, J (2008) Gender, contingencies of self-worth, and achievement goals as predictors of academic cheating in a controlled laboratory setting Basic and Applied Social Psychology, 30(1), 76–
83 https://doi.org/10.1080/01973530701866656
Ryff, C D (1989) Happiness is everything, or is it? Explorations on the meaning of psychological well-being Journal of Personality and Social Psychology, 57(6), 1069-1081 https://doi.org/10.1037/0022-3514.57.6.1069
Vonk, R., Radstaak, M., de Heus, P., & Jolij, J (2019) Ironic effects of feedback on contingency of self-worth: Why self-reports of contingency are biased Self and Identity, 18(2), 183-200 https://doi.org/10.1080/15298868.2017.1406400
Ngày nhận bài: 01/10/2020 Biên tập xong: 15/8/2021 Duyệt đăng: 20/8/2021